CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 63 của 65 Đầu tiênĐầu tiên ... 13536162636465 CuốiCuối
Kết quả 621 đến 630 của 643

Chủ đề: Cựu lão làng tôi

  1. #621
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    CHUYẾN ĐI THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN

    Cuối tháng 3 năm 1972, khi đang đi chuẩn bị chiến trường tham gia cuộc TTC 1972 thì Đại đội XT 4 thuộc Tiểu đoàn 512, Lữ đoàn 203 nhận lệnh cơ động độc lập vào địa bàn A Lưới nhận nhiệm vụ mới. Sau hơn 1 tháng hành quân, vượt qua gần 500 km đường Trường Sơn hiểm trở dưới mưa bom bão đạn của không quân Mỹ ngăn chặn- đầu tháng 5 năm 1972- Đại đội đã đến vị trí tập kết tại sân bay A Lưới. Tại đây, Đại đội sẽ chính thức rời khỏi đội hình Lữ đoàn 203 để trở thành đơn vị xe tăng trực thuộc Mặt trận B4 (sau này sẽ kết hợp với Đại đội xe tăng 3 của Trung đoàn 202 thành Tiểu đoàn xe tăng 408 trực thuộc mặt trận B4- Trị Thiên Huế). Nhiệm vụ tiếp theo của Đại đội sẽ tiến xuống Đường 12 (QL 49 bây giờ) để sẵn sàng làm mũi vu hồi từ phía Tây vào thành phố Huế khi có thời cơ.
    Trong khi cả đại đội đang chuẩn bị đón nhận nhiệm vụ mới thì ngày 07.5.1972, một trận bom B52 rải thảm bất ngờ đánh trúng đội hình. Xe tăng số 388 bị một quả bom tấn hất tung lộn ngửa bụng lên trời. Bốn chiến sĩ trên xe đã hy sinh ngay tại chỗ. Đó là các liệt sĩ:
    1- Pháo thủ Nguyễn Minh Luyến- Sinh năm 1952. Quê quán: Mộ Sy, Quất Thượng, Việt Trì, Phú Thọ
    2- Nạp đạn Lê Mạnh Hùng- Sinh năm1953. Quê quán: NamXuân, Diễn Xuân, Diễn Châu, Nghệ An
    3- Nạp đạn Vũ Ngọc Kiểm- Sinh năm 1949. Quê quán: Hoàng Kim, Yết Kiêu, Gia Lộc, Hải Dương
    4- Quân khí viên Lê Khả Mai- Sinh năm 1954. Quê quán: Đội 7, Xuân Thành, Thọ Xuân, Thanh Hóa.
    Ngay sau đó đơn vị đã tổ chức mai táng cho 4 liệt sỹ và cơ động vào Đường 12 làm nhiệm vụ. Tuy nhiên, sau khi Hiệp định Pa- ri được ký kết, đơn vị trở lại sân bay A Lưới trú quân thì mộ 4 liệt sĩ đã không còn. Vì là một trọng điểm đánh phá nên không biết bao nhiêu bom đạn Mỹ đã ném xuống đây, làm biến dạng cả địa hình không kém gì Ngã ba Đồng Lộc.
    43 năm sau- tháng 4.2015, cán bộ- chiến sĩ Đại đội xe tăng 4 mới có dịp thăm lại chiến trường xưa. Tất cả ngỡ ngàng trước sự thay đổi đến không ngờ của sân bay A Lưới. Trọng điểm đánh phá với la liệt hố bom nay đã trở thành phố xá, làng mạc khang trang, đẹp đẽ. Với sự giúp đỡ của bà con địa phương- nhất là cô giáo Nghiêu TC, anh em Đại đội 4 đã xác định chính xác vị trí chiếc xe 388 bị bom tại Xóm 2, thôn Quảng Vinh, xã Sơn Thủy. Hố bom tấn ngày đó đã được bà con cải tạo thành ao nuôi cá. Còn khu vực mai táng các liệt sĩ ngày xưa giờ cũng đã là làng xóm trù phú. Qua lời kể của bà con, quá trình xây dựng họ không gặp bộ hài cốt nào.
    Tại vị trí 4 chiến sĩ hy sinh, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Đại đội xe tăng 4 cùng đồng chí Nam Le Thanh- phó bí thư thường trực Huyện ủy A Lưới và đại diện bà con địa phương đã thắp hương cho các liệt sĩ và lòng đã hẹn lòng sẽ trở lại đây dựng lên một ngôi miếu nhỏ làm nơi cho hương hồn các liệt sĩ đi về. Vì thời gian quá ngắn nên hôm đó đoàn không gặp được bà con trong xóm.
    Mọi công tác chuẩn bị đang được tiến hành. Thể theo nguyện vọng của anh em Đại đội 4, Lữ đoàn XT203đã có công văn gửi Huyện ủy, Ủy ban và các cơ quan liên quan của huyện A Lưới để xin đất và tạo điều kiện cho anh em xây dựng miếu thờ. Địa phương đã đồng ý và giao cho xã tiến hành mọi việc.
    Trong lúc đó, tôi được cô giáo Nghiêu TC cho biết: “khi về dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày xây dựng quê hương mới cô có kể chuyện với bà con xóm 2, thôn Quảng Vinh về ý định của anh em chúng tôi thì bà con xóm 2 hết sức ủng hộ. Thậm chí, nếu chúng tôi muốn thì bà con có thể cho phép đưa các anh ấy vào nhà thờ của xóm để thờ cúng vì nhà thờ có 3 gian, gian giữa thờ thần linh, một gian thờ vong linh bà con trong xóm đã mất, còn một gian thờ các AHLS đã hy sinh trên mảnh đất này”. Nghe tin này, bản thân tôi phấn khởi vô cùng bởi nếu xây cái miếu rồi ra đi chẳng mấy khi có điều kiện quay lại thì rồi nó cũng trở nên hoang tàn, lạnh lẽo. Còn một khi đã được đưa về cho dân thờ thì các anh ấy sẽ được hương khói thường xuyên và mãi mãi. Vì vậy, tôi vội báo cáo với cv Vũ Đăng Toàn cùng anh em trong BLL và họa sĩ Lê Trí Dũng- người đồng đội thân thiết của cT4 chúng tôi. Mọi người đều hết sức phấn khởi và nhất trí cao với ý định đó, đồng thời cho rằng phải nhanh chóng về A Lưới để gặp gỡ bà con xóm 2 ngay.
    Và thế là đêm 26.11 vừa qua, tôi cùng HS Lê Trí Dũng lên đường. Đến Đông Hà, hai chúng tôi được anh Hồ Thoan Ho Thanh dùng xe riêng đưa lên A Lưới. Tại đó, phó BTTT Lê Nam Le Thanh và cô giáo Nghiêu TC đã chờ sẵn. Ngay sau đó chúng tôi lên đường vào xóm 2, Quảng Vinh. Mặc dù khá bất ngờ nhưng một cuộc họp mặt giữa các bậc trưởng lão và đội ngũ lãnh đạo của xóm với chúng tôi nhanh chóng được tổ chức ngay tại nhà thờ của xóm. Sau khi nghe tôi trình bày tâm nguyện của CB-CS Đại đội XT4, đại diện xóm cho biết bà con đã biết, đã thảo luận và ủng hộ nhiệt tình tâm nguyện này. Nếu chúng tôi muốn xây tại chỗ xe 388 lật (cách đó khoảng 50 mét) bà con sẽ vận động gia đình đó hiến đất; còn nếu muốn xây trong sân nhà thờ bà con sẵn sàng cho; và nếu muốn đưa các LS vào gian thờ liệt sĩ trong nhà thờ thì bà con cũng đồng ý! Như có một sự linh ứng nào đó, cả tôi và Lê Trí Dũng cùng khóc rống lên ngay trước ban thờ. Mất một lúc lâu chúng tôi mới trấn tĩnh được và xin bà con cho phép đưa linh vị của 4 anh em trên xe 388 vào gian thờ liệt sĩ và chăm nom hương khói giúp chúng tôi cùng thân nhân liệt sĩ. Về phía anh em chúng tôi sẽ có trách nhiệm đóng góp với bà con trong xóm nâng cấp gian thờ các AHLS và tôn tạo cảnh quan của nhà thờ. Nếu không có gì thay đổi, vào dịp kỷ niệm 45 năm ngày các anh hy sinh- 07.5.2017- chúng tôi sẽ đưa thân nhân các liệt sĩ vào cùng bà con làm lễ rước linh, an vị cho các liệt sĩ.
    Thật là một kết quả ngoài mong đợi của chúng tôi. Đồng chí phó bí thư TT Huyện ủy quyết định mời tất cả bà con và anh em chúng tôi liên hoan ngay tại chỗ. Cuộc vui thật giản dị song vô cùng chân tình, ấm áp thấm đậm tình cảm quân dân. Tôi đã uống như chưa bao giờ được uống.
    Và hôm nay, khi đang ngồi tại nhà mình viết những dòng này những cảm xúc vui mừng, biết ơn vẫn tiếp tục dâng trào trong lòng tôi. Xin ngàn lần cảm ơn các vị trưởng lão và bà con xóm 2 Quảng Vinh, cảm ơn chú LêNam Le Thanh, trưởng xóm Truyền, cô giáo Nghiêu TC và bà con A Lưới; cảm ơn các anh Thoan Ho Thanh, Khang Thaivinh, Lê Văn Hiến,... ở Quảng Trị đã nhiệt tình đón tiếp và giúp đỡ. Và thêm một lần tôi thấm thía hơn câu hát: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng... Để gió cuốn đi!”.
    Và cũng xin cảm ơn tất cả các bạn bè của tôi đã chịu khó đọc hết những dòng này! Rất có thể một lúc nào đó tôi sẽ phải nhờ đến sự giúp đỡ của các bạn đó!

    Hố bom tấn nay còn đó



    Nhà thờ của xóm 2 Quảng Vinh

















    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. Có 2 người thích bài viết này


  3. #622
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    GIẢI MẬT VỀ BÀI HÁT "NĂM ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC XE TĂNG"

    Có một bài hát về lính được rất nhiều người yêu thích. Nó không chỉ vang lên trên sân khấu mà còn vang lên ở mọi lúc, mọi nơi: từ các buổi sinh hoạt đơn vị tới các buổi tụ tập bạn bè, trong các phòng karaoke và ngay cả bên bàn tiệc nữa.Và, không chỉ lính xe tăng mà lính các quân binh chủng khác, cả dân chúng nữa- đặc biệt là giới trẻ cũng hát bài hát này một cách say sưa, thích thú... Đó chính là bài hát "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" - bài hát được mệnh danh là "Binh chủng ca" của Bộ đội Tăng Thiết giáp (TTG).
    Tuy nhiên, hiện vẫn có một số bạn còn thắc mắc: "Tại sao xe tăng chỉ có 3, 4 thành viên mà bài hát lại là 5?". Tất nhiên, cái gì cũng có lý do của nó!

    Xe tăng T-34 của Bộ đội Tăng thiết giáp

    Từ bài thơ viết vội giữa chiến trường

    Cuối năm 1970, nhận được tin tình báo cho biết phía VNCH đang chuẩn bị tổ chức cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm cắt đứt tuyến đường huyết mạch tiếp vận từ Bắc vào Nam, đồng thời phá hủy hệ thống kho tàng của ta ở dọc theo đường 9 - Bộ Tổng Tham mưu đã cho thành lập Mặt trận B70 và tiến hành mọi mặt công tác chuẩn bị để sẵn sàng đánh địch.Để tăng cường lực lượng cho B70, trên quyết định điều động 3 tiểu đoàn xe tăng vào khu vực đường 9. Đó là Tiểu đoàn 198 trang bị xe tăng PT-76, Tiểu đoàn 297 trang bị xe tăng T-54, T-59 và Tiểu đoàn 397 trang bị xe T-34.Các đơn vị này được lệnh ém quân ở nam và bắc đường 9 sẵn sàng đánh địch với yêu cầu phải tuyệt đối giữ bí mật để bảo toàn lực lượng.
    Trung úy Nguyễn Hữu Thỉnh lúc đó là trợ lý của Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị thuộc Binh chủng Tăng-Thiết giáp. Ông được giao nhiệm vụ vào chiến trường thâm nhập thực tế để viết bài, tin cho tờ báo Thiết Giáp của binh chủng cũng như các báo khác.Ngoài ra, ông còn có nhiệm vụ nói chuyện thơ đồng thời chỉ huy kiêm "thuyết minh" cho đội chiếu phim lưu động của binh chủng vào phục vụ bộ đội tại chiến trường.Đoàn công tác của ông lên đường vào chiến trường trong một buổi sớm mùa đông năm 1970. Hành trang đoàn công tác mang theo gồm 2 bộ phim, trong đó có bộ phim "Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn" và một số thư cùng quà Tết cho cán bộ, chiến sĩ.Ngoài ra, qua thư anh em gửi về biết trong chiến trường rất thiếu rau nên trên đường đi Hữu Thỉnh đã cho anh em mua 2 sọt bắp cải to vào để làm quà.
    Lúc này, chấp hành mệnh lệnh cấp trên tất cả các xe tăng đều được đào hầm và ngụy trang rất kỹ để tránh sự phát hiện của máy bay trinh sát OV-10, L-19 cũng như lực lượng biệt kích, thám báo của địch.Các kíp xe đào hầm ngủ dưới bụng xe, còn mỗi đại đội cũng đều có hầm sinh hoạt chung và cũng được ngụy trang, che chắn rất kỹ. Các buổi chiếu phim thường được tiến hành vào ban ngày và chiếu trong hầm. Mặc dù khá chật chội, nóng bức song bộ đội rất hào hứng, phấn khởi.
    Vào một buổi chiều, Hữu Thỉnh đến Đại đội 6 thuộc Tiểu đoàn 397 để chuẩn bị cho buổi bình thơ vào buổi tối. Ở đây ông có người bạn thân là Lê Đức Tuân đang phụ trách một trung đội xe T-34. Tuân kéo ông về trung đội ăn cơm chiều. Hãy nghe nhà thơ Hữu Thỉnh kể:"Tôi ăn thong thả, vừa ăn vừa nhìn mọi người. Và tôi ngắm chiếc T-34 nằm trong hầm, vươn chiếc nòng pháo ngạo ngễ qua đầu chúng tôi. Tôi nhớ đến hình ảnh sau lúc Tuân hô "ai còn thịt hộp mang tất cả xuống đây" cả 5 người nhảy phắt lên thành xe.Hình ảnh ấy đập mạnh vào tâm trí tôi. Một chiếc xe tăng mà có 5 người, chiếc xe tăng khi còn ở hậu phương nhìn ngắm mãi, quen thuộc rồi, nhưng sao vào đây nó uy nghiêm quá, oai vệ quá và thiêng liêng làm sao.
    Suốt bữa ăn tôi nghĩ lan man những ý tưởng xuất hiện dồn dập, những hình ảnh cứ tới tấp bay đến. Mấy anh em ngồi ăn bữa cơm đạm bạc với mình đây, ngày mai sẽ làm ra bao điều sấm sét xuống đầu giặc, có người còn, có người mất.Cuộc đời chiến đấu còn dài làm sao đoán được mọi sự bất ngờ. Tôi nghĩ vậy, và tự đáy tâm hồn, lòng yêu thương kính trọng cứ trào lên không ghìm lại được.Tôi buông đũa trước tiên, vội vã lục chiếc túi vải, lấy giấy ra ghi vội lấy cảm xúc của mình "Năm anh em trên một chiếc xe tăng", câu mở đầu rất thật, cứ thế câu trên gọi câu dưới, đoạn trước mở đoạn sau, tôi làm xong bài thơ.
    Vào chiến dịch tôi được phân công đi thâm nhập thực tế ở Đại đội 9 Đoàn 198 vừa chiến thắng giòn giã trên điểm cao 543. Đồng chí Thịnh và Tề đưa xe phim ra ngoài. Trên chiếc xe ấy có bản thảo của bài thơ "Trên một chiếc xe tăng" của tôi gửi ra cho đồng chí Lê Lộng trưởng ban Tuyên huấn của Binh chủng lúc ấy.Khi chiến dịch kết thúc tôi được đọc lại bài thơ in trên báo Nhân dân với bút danh thứ hai của tôi là Vũ Hữu, và được biết cả hai anh là Doãn Nho và Huy Thục đều phổ nhạc bài thơ này. Bài của anh Doãn Nho gửi đến Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị trước nên được dựng trước".

    Thật là kỳ diệu! Có lẽ những cảm xúc đó chỉ đến một lần trong đời và vào giây phút đó đã cho ra đời bài thơ đầy nhạc tính này. Và đọc đến đây chắc các bạn hết thắc mắc tại sao xe tăng bây giờ chỉ có 3- 4 thành viên mà bài hát lại là 5! Đơn giản thôi, xe tăng T-54, T-55 với kíp xe có 4 thành viên, còn T-34 mà tác giả bài hát lấy làm nguồn cảm hứng sáng tác thì có tới 5 thành viên.

    Nhà thơ Hữu Thỉnh.

    Đến sự đồng cảm của người nhạc sĩ

    Người ta có câu: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Một bài thơ hay nếu không được một tâm hồn đồng cảm thổi hồn vào để trở nên phổ biến và cuốn hút chắc cũng sẽ chẳng mấy mà bị lãng quên. Trong trường hợp này, giữa nhạc sĩ Doãn Nho và nhà thơ Hữu Thỉnh đã có sự đồng cảm sâu sắc và đó chính là nguyên nhân ra đời của bài hát này.
    Nhạc sĩ Doãn Nho sinh ra ở làng Cót, Từ Liêm, Hà Nội trong một gia đình trọng tiết nghĩa và văn hóa. Cha mẹ Doãn Nho sớm định hướng một đời sống văn hóa thẩm mỹ cho các con.nên ngay từ khi anh chị em ông còn nhỏ cũng đã được học nhạc.Mới 12 tuổi Doãn Nho đã tham gia Đội thiếu niên cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, dạy hát các bài ca cách mạng, tham gia Đội tuyên truyền lưu động Bắc Giang, đội Tuyên truyền xung phong Vĩnh Yên và sau đó nhập ngũ vào Trường Lục quân VN... Từ năm 1954 ông đã công tác ở đoàn văn công Tổng cục chính trị...Khi ông mới ngoài hai mươi tuổi, hợp xướng Sóng Cửa Tùng đã ra đời, tác phẩm lập tức ghi ấn tượng mạnh trong lòng người ở cả hai miền Nam Bắc (giai đoạn nước ta chưa thống nhất). Cùng với Tiến bước dưới quân kỳ, Sóng Cửa Tùng đã làm nên tên tuổi, phong cách Doãn Nho ngay từ những ngày còn rất trẻ đó.
    Về sự ra đời của bài hát "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" hãy nghe ông kể: "Mình hay đọc lắm, ngay cả thời bom đạn việc đọc mình cũng không sao nhãng. Một lần đọc bài Năm anh em trên một chiếc xe tăng thấy ý tứ của nó hay quá, hợp lòng mình quá thế là mình đặt bút ngay, hy vọng thêm cho nó một sức phổ biến nữa ngoài ngôn ngữ thơ.Lúc đó tác giả bài thơ đâu đã ký tên Hữu Thỉnh. Sau này, bài hát vang tới tai nhà thơ trẻ lính tăng ấy, và mãi rồi mình và Hữu Thỉnh mới gặp nhau... Không chỉ trong chiến trận, trong cuộc sống, sự đồng lòng đồng chí là rất quan trọng, rất thú vị, thơ Hữu Thỉnh đã nói lên điều đó.Bạn hát đi, sẽ thấy một triết lý sống đáng trân trọng, sẽ thấy các từ năm và một (chung/ riêng; cá nhân/ tập thể...) được nhắc đi nhắc lại hết sức có duyên và đầy cảm động...".Năm anh em trên một chiếc xe tăng, như năm bông hoa nở cùng một cội. Như năm ngón tay trên một bàn tay... đã lên xe cả năm người như một... Năm quả tim đập cùng một nhịp... Năm anh em mỗi đứa một quê nhưng đã lên xe là cùng một hướng..."

    Thơ hay, và nhận ra thơ hay đã là việc không dễ. Đưa âm nhạc vào thơ hoặc đưa thơ vào âm nhạc và làm cho cái hay cái đẹp thăng hoa lên một tầm mới, mở ra một hướng tiếp cận mới cho đông đảo người nghe là một việc càng khó.Doãn Nho đã làm được việc đó và một trong những thành công của ông chính là bài hát "Năm anh em trên một chiếc xe tăng".


    Nhạc sĩ Doãn Nho.


    Nguyên văn bài thơ "Trên một chiếc xe tăng" của Hữu Thỉnh (có một số câu và từ đã được nhạc sĩ Doãn Nho sửa cho hợp với tiết tấu và giai điệu bài hát):
    Năm anh em trên một chiếc xe tăng
    Như năm bông hoa xoè cùng một cội
    Như năm ngón tay trên một bàn tay
    Năm anh em chung một ngọn đèn.

    Vào lính xe tăng anh trước, anh sau
    Nết ăn, ở người thì lạnh, nóng
    Khi đã hát hoà cùng một giọng
    Một đứa đau tất cả quên ăn.

    Năm anh em mỗi đứa một quê
    Đã lên xe là cùng một hướng
    Đã lên xe là chung khổ sướng
    Trước quân thù nhất loạt xông lên.

    Năm anh em mang năm cái tên
    Đã lên xe không còn tên riêng
    nữa
    Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa
    Năm trái tim một nhịp đập dồn

    Một con đường đất đỏ như son
    Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng
    Một ý chí bay ra đầu ngọn súng
    Một niềm tin nghiến nát mọi quân thù.
    Hữu Thỉnh
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. #623
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    Dẫu có là "Thần Mã" cũng bị Thiết giáp ta bắt sống

    Xe thiết giáp M113 có tốc độ cao, nhưng với tay lái đã vượt Trường Sơn, khoảng cách giữa 2 xe ngày càng ngắn lại. Bọn địch lộ rõ vẻ hốt hoảng song vẫn ngoan cố không chịu hàng…



    Xe thiết giáp M113 do Mỹ sản xuất và có mặt trong chiến tranh Việt Nam với số lượng khá lớn. Chúng nổi tiếng vì có khả năng cơ động việt dã vượt mọi địa hình, đặc biệt nó có tốc độ rất cao và được mệnh danh là “Thần Mã”. Dẫu vậy, Thần Mã cũng có phen bị bắt sống bởi thiết giáp của ta!

    Từ tấm Huân chương trao muộn
    Một ngày đầu năm 1999, Phòng Cán bộ Binh chủng Tăng – Thiết giáp (TTG) nhận được một tấm Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất được gửi từ Phòng Chính sách, Bộ Tư lệnh quân khu 5 ra với một lời nhắn:“Sau chiến tranh, chúng tôi được biết đồng chí Bùi Tiến Hợp đã được cử đi học sĩ quan xe tăng. Vì vậy cho đến nay chắc đã trở thành sĩ quan quân đội. Vì vậy, kính nhờ cơ quan chuyển giúp tấm huân chương này đến tay đồng chí đó”.
    Nhìn thấy tấm Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất được Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ ký Quyết định số 1531/112 ngày 15-10-1975 trao tặng cho Trung sĩ Bùi Tiến Hợp mà đồng chí Trưởng phòng cán bộ binh chủng TTG hết sức xúc động.Như vậy là tấm huân chương đã được ký cách đây 24 năm mà vẫn chưa đến tay chủ nhân của nó. Anh thầm cảm ơn những người đồng đội đã giữ gìn cẩn thận tấm huân chương này và tự hứa sẽ phải tìm bằng được Bùi Tiến Hợp để trả lại vinh dự cho anh.

    Bùi Tiến Hợp trong buổi Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND.

    Tra cứu lại những tài liệu còn lưu trữ được, quả thật Trung sĩ Bùi Tiến Hợp, quê quán Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú, chiến sĩ lái xe của Lữ đoàn xe tăng 203 đã nhập học Khóa 2 Trường sĩ quan TTG. Tuy nhiên, sau đó một thời gian anh đã xuất ngũ vì lý do sức khỏe. Vậy là đầu mối đầu tiên đã mất!
    Căn cứ vào địa chỉ quê quán ghi trên huân chương, Phòng Cán bộ cho người tìm về Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc) để tìm song câu trả lời của địa phương là:“Đồng chí Bùi Tiến Hợp đúng là người địa phương này, nhập ngũ tháng 12 năm 1971 vào binh chủng TTG. Từ đó đến nay đồng chí đó không về địa phương, chỉ nghe nói giờ đang ở Hà Nội!”. Vậy là lại “bặt vô âm tín”!
    Chợt nhớ đến một số sĩ quan TTG khóa 2 hiện còn công tác trong binh chủng, họ đã tìm đến gặp và đã có câu trả lời: “Bùi Tiến Hợp hiện đang kinh doanh mặt hàng đồ gỗ và sơn mài ở Đê La Thành, Hà Nội”. Như trút được gánh nặng, phòng nhờ họ báo giúp cho Bùi Tiến Hợp vào nhận huân chương.
    Mấy hôm sau, hai anh em Bùi Tiến Hợp vào cơ quan Bộ Tư lệnh TTG nhận huân chương của mình. Ôm tấm bằng huân chương trước ngực Bùi Tiến Hợp vừa tự hào, vừa xúc động. Anh nghẹn ngào cảm ơn các đồng đội ở Quân khu 5, ở Binh chủng Tăng – Thiết giáp đã không quản khó khăn để trả lại nó cho anh.

    Xe tăng Lữ đoàn 574 (Quân khu 5) thực hành diễn tập.

    Đến câu chuyện của người bắt sống “Thần Mã”
    Là con trai út của một liệt sĩ thời chống Pháp nhưng chưa đầy 18 tuổi Bùi Tiến Hợp đã xung phong nhập ngũ khi đang học năm cuối của trường phổ thông. Có sức khỏe và với trình độ văn hóa như vậy anh được chọn đi học lái xe tăng, sau đó được điều về Tiểu đoàn xe tăng 177B để đi chiến đấu.
    Sau hơn 1.000 km hành quân vượt Trường Sơn dưới mưa bom bão đạn của Không quân Mỹ ngăn chặn, đơn vị anh đã có mặt tại chiến trường Quảng Nam và là tiền thân của Lữ đoàn xe tăng 574, Quân khu 5 sau này.Ngay khi vừa vào tới chiến trường, đơn vị của Hợp đã tham gia chiến đấu tiến công quận lỵ Tiên Phước và sau đó tham gia nhiều trận chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng trước và sau khi ký Hiệp định Pa-ri.Đặc biệt, trong cuộc Tổng Tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đơn vị và cá nhân anh đã lập công lớn trong các trận đánh giải phóng Thị xã Tam Kỳ ngày 24.3.1975.
    Trong trận này, Đại đội TTG2 được tăng cường cho một trung đoàn bộ binh (BB) của Sư đoàn 2 đánh vào thị xã theo 3 hướng. Trung đội Thiết giáp 1 trang bị các xe K-63, do trung đội trưởng Nguyễn Quốc Vinh chỉ huy tham gia trên hướng số 2. Quân địch chống cự điên cuồng, song trước sức mạnh của TTG và bộ binh ta, bọn chúng đã bị đẩy lui.Các xe thiết giáp K-63 của ta chở theo bộ binh nhanh chóng đột nhập vào trung tâm thị xã làm cho bọn địch càng hoang mang hoảng sợ và bỏ chạy tán loạn.Tuy nhiên, trong quá trình đánh địch hầu hết các chiến sĩ bộ binh và xạ thủ bắn 12,7 mm trên xe 046 đã hy sinh và bị thương, chỉ còn lái xe Bùi Tiến Hợp và trung đội trưởng Nguyễn Quốc Vinh là còn khả năng chiến đấu.
    Khi thấy một xe thiết giáp M113 tăng tốc chạy về phía nam, vừa chạy vừa bắn loạn xạ, Bùi Tiến Hợp lập tức tăng tốc đuổi theo. Trong lúc đó trung đội trưởng Vinh dùng 12,7 mm bắn vào xe địch.Xe thiết giáp M113 vốn nổi tiếng là có tốc độ cao nhưng với tay lái thuần thục đã từng vượt Trường Sơn của Hợp, khoảng cách giữa 2 xe ngày càng ngắn lại. Bọn địch lộ rõ vẻ hốt hoảng song vẫn ngoan cố không chịu hàng.
    Đến lúc này trung đội trưởng Vinh cũng bị thương không bắn 12,7 mm được nữa. Biết thế nhưng Hợp quyết định phải bắt kỳ được xe này. Anh nhấn thêm ga cho xe mình tiến lên gần ngang xe địch rồi kéo nhẹ cần lái bên phải ép xe mình vào xe địch. Xích sắt hai xe chạm nhau tóe lửa.Không chịu nổi sức ép của xe 046, chiếc M113 dạt xuống vệ đường rồi chết máy dừng lại, mấy tên địch trong xe lóp ngóp bò ra giơ cao tay xin hàng. Một lát sau, xe thứ hai của trung đội và một đơn vị bộ binh mới đến nơi. Hợp bàn giao tù binh địch cho bộ binh. Còn con “Thần Mã” M113 được đại đội trưng dụng để chở bộ phận phục
    vụ.

    Xe thiết giáp 113 thu được của VNCH tiếp tục phục vụ trong biên chế QĐNDVN. Ảnh: Hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia hành quân về nước.

    Sau khi giải phóng thị xã Tam Kỳ, đơn vị của Hợp còn tham gia tiến công Đà Nẵng và các căn cứ xung quanh thành phố. Kết thúc chiến dịch, trong khi bình công, báo công Bùi Tiến Hợp với thành tích bắt sống “Thần Mã” đã được anh em trong đơn vị bình bầu đề nghị lên trên tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.Đó chính là tấm huân chương anh đang ôm trước ngực hôm nay.
    Ngay sau đó, tiểu đoàn của Bùi Tiến Hợp được điều chuyển sang tăng cường cho Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 với phiên hiệu là Tiểu đoàn TTG 5. Nằm trong đội hình cánh quân Duyên Hải, Tiểu đoàn TTG 5 được phái đi trước mở đường cho quân đoàn 2 cùng với Tiểu đoàn TTG 4.Họ đã giải phóng Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân rồi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh đến tận dinh Độc Lập trưa 30.4.1975.
    Tiếp đó, tháng 7.1975, Bùi Tiến Hợp được cử đi học sĩ quan nhưng do không bảo đảm sức khỏe anh đã ra quân.
    Thêm hơn chục năm lưu lạc nước ngoài rồi về định cư tại Hà Nội. Đó chính là lý do tấm huân chương đã phải lưu lạc những 24 năm mới tới tay anh.
    Ngày 30 tháng 10 năm 2013, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Bùi Tiến Hợp.
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  5. Có 3 người thích bài viết này


  6. #624
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    Về giữa lòng dân chắc các anh sẽ thấy ấm áp hơn


    B-52 rải thảm. Ảnh minh họa.

    B-52 rải thảm bất ngờ đánh trúng đội hình, xe tăng số 388 bị một quả bom tấn hất tung lộn ngửa bụng lên trời. Bốn chiến sĩ trên xe đã hy sinh ngay tại chỗ.



    Cuối tháng 3 năm 1972, khi đang đi chuẩn bị chiến trường tham gia cuộc Tổng tiến công 1972 thì Đại đội xe tăng 4 thuộc Tiểu đoàn 512, Lữ đoàn 203 nhận lệnh cơ động độc lập vào tây Thừa Thiên Huế làm nhiệm vụ mới.
    Sau hơn 1 tháng hành quân, vượt qua gần 500 km đường Trường Sơn hiểm trở dưới mưa bom bão đạn của Không quân Mỹ ngăn chặn, đầu tháng 5 năm 1972, Đại đội đã đến vị trí tập kết tại sân bay A Lưới.

    A Lưới - mà các tài liệu của Mỹ và Việt Nam cộng hòa thường gọi là A Sho hoặc A Sầu - là một thung lũng trên sườn đông dãy Trường Sơn, án ngữ con đường huyết mạch đông Trường Sơn từ Bắc vào Nam nên được coi là một địa bàn chiến lược và là nơi hai bên giành giật nhiều lần.Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, A Lưới thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa và do một số đơn vị biệt kích trấn giữ. Năm 1966, Quân giải phóng miền Nam đã giành lại quyền làm chủ khu vực này. Năm 1969, Mỹ đã tung Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 ra hòng chiếm lại A Lưới.Giao tranh diễn ra ác liệt và sau khoảng 20 ngày đóng giữ, các đơn vị của Mỹ đã phải rút đi để lại những địa danh máu lửa như đồi A Bia mà phía Mỹ gọi là đồi Hăm-bơ-gơ (đồi Thịt Băm). Từ đó, A Lưới trở thành trọng điểm đánh phá của không quân cũng như các loại chất độc hóa học.Cả thung lũng, đặc biệt là khu vực sân bay A Lưới (chỗ thị trấn A Lưới bây giờ) chi chít hố bom. Rừng già đại ngàn cũng bị triệt hạ, những cây đại thụ cỡ vài người ôm bị rụng hết lá và chết chỉ để lại những cành khô khẳng khiu vươn lên bầu trời như những cánh tay đang cầu cứu mà thôi.Các bản làng của bà con Pa-kô bản địa cũng phải di dời lên đỉnh núi cao, thậm chí sang hẳn bên Lào để tránh giặc.
    Tại đây, Đại đội xe tăng 4 sẽ chính thức rời khỏi đội hình Lữ đoàn 203 để trở thành đơn vị xe tăng trực thuộc Mặt trận B4 (sau này sẽ kết hợp với Đại đội xe tăng 3 của Trung đoàn 202 thành Tiểu đoàn xe tăng 408 trực thuộc mặt trận B4 - Trị Thiên Huế).Nhiệm vụ tiếp theo của Đại đội sẽ tiến xuống Đường 12 (QL 49 bây giờ) để sẵn sàng làm mũi vu hồi từ phía Tây vào thành phố Huế khi có thời cơ.


    Bức ảnh lịch sử do phóng viên chiến trường người Pháp Françoise Demulder chụp khi xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.

    Với bom B-52, 36 tấn chẳng là gì cả

    Trong khi cả đại đội đang khẩn trương chuẩn bị cho nhận nhiệm vụ mới thì ngày 07.5.1972, một trận bom B-52 rải thảm bất ngờ đánh trúng đội hình. Cả một khu vực rộng lớn rung lên như động đất. Những chiếc xe tăng cũng chao đảo như đưa võng, khói lửa mù trời, cây đổ ngổn ngang.Xe tăng số 388 bị một quả bom tấn hất tung lộn ngửa bụng lên trời. Bốn chiến sĩ trên xe đã hy sinh ngay tại chỗ. Đó là các liệt sĩ: Pháo thủ Nguyễn Minh Luyến, Nạp đạn Lê Mạnh Hùng, Nạp đạn Vũ Ngọc Kiểm, Quân khí viên Lê Khả Mai.
    Ngay sau đó đơn vị đã tổ chức mai táng cho 4 liệt sỹ và cơ động vào Đường 12 làm nhiệm vụ. Sau gần 1 năm bám trụ chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, thêm 5 chiến sĩ nữa của đại đội anh dũng hy sinh.
    Tháng 4.1973, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết đơn vị trở lại khu vực xã Hồng Bắc, A Lưới trú quân. Đơn vị đã ra kéo cho chiếc 388 trở lại tư thế bình thường song do khả năng chuyên môn và dụng cụ còn hạn chế không khắc phục được nên chỉ tháo lấy một số phụ tùng.Tuy nhiên, điều đau đớn nhất là mộ 4 liệt sĩ đã không còn. Vì là một trọng điểm đánh phá nên không biết bao nhiêu bom đạn Mỹ đã ném xuống đây, hết đợt này đến đợt khác đã làm biến dạng cả địa hình và không thể tìm được nơi mai táng các anh nữa.
    Tháng 3.1975 Đại đội xe tăng 4 lên đường tham gia cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975. Sau khi giải phóng Huế, Đà Nẵng đại đội đã tham gia cuộc hành quân thần tốc dọc Quốc lộ 1 vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.Ngày 30.4.1975, đại đội đã dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến công Sài Gòn. Hai chiếc xe tăng 843 và 390 của Đại đội đã húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ giải phóng lên nóc dinh lúc 11h30 ngày 30.4.1975.

    Cuộc trở về sau hơn 40 năm

    Sau ngày đất nước thống nhất, cũng như các đơn vị khác Đại đội xe tăng 4 có rất nhiều biến động: người đi học, người chuyển ngành, số đông ra quân trở về với ruộng đồng, công xưởng... Những người còn ở lại phục vụ quân đội lại tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế rồi lại cơ động ra bảo vệ biên cương phía bắc.Người ở lại thì cuốn theo nhiệm vụ, người đã về vật vã mưu sinh chẳng mấy khi gặp được nhau. Mãi đến năm 2013, khi Đại đội xe tăng 4 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT, cán bộ chiến sĩ trong đại đội mới có dịp gặp nhau đông đủ nhất.
    Trong niềm vui được ghi nhận công lao họ vẫn không quên những người đồng đội đã hy sinh để mình được sống và có được vinh dự hôm nay.Họ hẹn với nhau nhất định sẽ phải về thăm chiến trường xưa để thắp cho đồng đội một nén nhang và cũng để tri ân đồng bào, đồng chí những nơi mình từng sống và chiến đấu đã cưu mang đùm bọc cho mình trong những tháng ngày gian khổ.
    Và rồi dịp đó đã đến! Kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước (30.4.1975- 30.4.2015), Ban tổ chức mít tinh cấp nhà nước mời thành viên 2 kíp xe 843 và 390 vào thành phố Hồ Chí Minh tham dự.


    Chiếm dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu.

    Số anh em còn lại trong đại đội nhờ sự giúp đỡ của một số nhà hảo tâm tổ chức chuyến đi về thăm chiến trường xưa bằng đường bộ với tiêu chí "ngày xưa xích lăn đến đâu thì giờ sẽ cố gắng đi đến đó" và điểm hẹn cùng các thành viên 2 kíp xe kia sẽ tại Sài Gòn.Trong hành trình đó, họ dành cho A Lưới, nơi họ đã sống những ngày gian khổ song cũng hào hùng nhất trong cuộc đời một quãng thời gian cần thiết. Một trong những nội dung hoạt động ở đây là đến tận nơi các đồng đội đã hy sinh để thắp cho anh em một nén tâm nhang.
    Vậy là 43 năm sau, cán bộ, chiến sĩ Đại đội xe tăng 4 mới có dịp trở lại chiến trường xưa. Tất cả ngỡ ngàng trước sự thay đổi đến không ngờ của sân bay A Lưới nói riêng và huyện A Lưới nói chung. Trọng điểm đánh phá với la liệt hố bom ngày xưa nay đã trở thành phố xá, làng mạc khang trang, đẹp đẽ.
    Bên cạnh niềm vui là nỗi bâng khuâng: Địa hình, địa vật toàn bộ khu vực đã thay đổi như vậy biết tìm đâu ra chỗ xe 388 trúng bom bây giờ? Nhưng rồi như có sự trợ giúp ngầm nào đó! Trong cuộc giao lưu với bà con xã Hồng Bắc họ đã tình cờ gặp cô giáo Trần Thị Nghiêu - Hiệu trưởng Trường mầm non của xã - người đã từng biết rõ vị trí chiếc xe tăng từ khi cô còn nhỏ và theo gia đình lên xây dựng quê hương mới ở đây.Sau khi nghe cô giáo mô tả sơ qua về vị trí, tất cả đều công nhận đó chính là khu vực trú quân của đại đội ngày 07.5.1972.
    Vậy là sáng hôm sau, sau khi thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện A Lưới, toàn đại đội cùng hành quân về Xóm 2, thôn Quảng Vinh, xã Sơn Thủy, nơi chiếc xe 388 bị trúng bom và 4 chiến sĩ của đại đội hy sinh năm xưa.Đối chiếu với những gì còn lại, các chiến sĩ Đại đội xe tăng 4 đã xác định chính xác vị trí chiếc xe 388 bị bom tại đây, bây giờ là đất vườn của một hộ dân. Hố bom tấn ngày đó vẫn còn và đã được bà con cải tạo thành ao nuôi cá.Còn khu vực mai táng các liệt sĩ ngày xưa giờ cũng đã là làng xóm trù phú, cây lá xanh tươi. Qua lời kể của bà con, quá trình xây dựng họ không gặp bộ hài cốt nào.
    Cũng qua lời kể của bà con xóm 2, khi chiếc xe tăng chưa bị đưa về tỉnh đội, một bác trong xóm có lần định tháo một bộ phận trong xe, lúc đưa cái búa vào để nậy ra thì chiếc búa kẹt cứng lại đó không thể nào gỡ ra được nữa v.v... Nghe chuyện của bà con, các chiến sĩ trong đại đội càng bùi ngùi xúc động.Họ thành kính thắp hương cho các liệt sĩ và lòng hẹn lòng sẽ quay lại nơi đây xây một cái miếu thờ để làm nơi cho hương linh các liệt sĩ đi về.Ý định đó cũng được báo cáo với địa phương và Ban chỉ huy Lữ đoàn xe tăng 203. Cả địa phương và đơn vị đều hết sức ủng hộ và những công tác chuẩn bị đầu tiên đã được tiến hành. Họ dự định sẽ hoàn thành công việc trước tháng 5.2017 để ngày 7.5, đúng 45 năm sau ngày 4 chiến sĩ hy sinh sẽ làm lễ khánh thành và rước hương linh các liệt sĩ về đó.
    Về giữa lòng dân, chắc các anh sẽ thấy ấm áp hơn

    Thể theo nguyện vọng của anh em Đại đội 4, Lữ đoàn xe tăng 203 đã có công văn gửi Huyện ủy, Ủy ban và các cơ quan liên quan của huyện A Lưới để xin đất và tạo điều kiện cho anh em xây dựng miếu thờ. Địa phương đã đồng ý và giao cho xã tiến hành mọi việc.
    Đối với bà con xóm 2, thôn Quảng Vinh, xã Sơn Thủy, nơi 4 chiến sĩ hy sinh, cũng hết sức ủng hộ ý định của cán bộ, chiến sĩ Đại đội xe tăng 4. Qua cô giáo Trần Thị Nghiêu, bà con thông báo đến đại diện Ban liên lạc của đơn vị:"Bà con xóm 2 hết sức ủng hộ ý định của anh em. Nếu anh em muốn xây miếu thờ ở đúng vị trí xe lật, bà con sẽ vận động chủ hộ hiến đất. Còn hiện tại, xóm đã xây dựng được một ngôi nhà thờ, nếu anh em muốn xây dựng trong khuôn viên nhà thờ thì bà con ủng hộ ngay.Thậm chí, nếu anh em muốn đưa hương linh các liệt sĩ vào thờ cúng trong nhà thờ bà con cũng đồng ý!". Thật là những tấm lòng thơm thảo và trọn nghĩa, vẹn tình!
    Thực ra, bà con Xóm 2 thôn Quảng Vinh đây vốn quê ở xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế và cũng chỉ lên đây xây dựng quê hương mới từ năm 1976. Lập nghiệp với gần như hai bàn tay trắng trên mảnh đất chi chít hố bom, bà con đã vượt qua muôn vàn gian khổ để dựng xây nên xóm làng trù phú như ngày nay.Vốn là người đất "Thần kinh", nên mặc dù gian khó trăm bề truyền thống trọng chữ nghĩa, lễ giáo... vẫn được giữ nguyên không hề mai một. Vì vậy, bà con rất chú ý đến việc dạy dỗ con cháu và khuyến khích con cháu học tập tu dưỡng.Một xóm nhỏ chỉ có hơn 70 nóc nhà mà đã có 26 cử nhân, 2 thạc sĩ và rất nhiều cháu đang học đại học. Không chỉ vậy, bà con còn vận động nhau đóng góp kẻ ít, người nhiều để xây dựng nên một ngôi nhà thờ làm nơi thờ tự và cũng là địa điểm sinh hoạt chung của xóm.Ngôi nhà thờ có 3 gian, gian giữa thờ thần linh, một gian thờ vong linh bà con trong xóm đã mất, còn một gian thờ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trên mảnh đất này.

    Nhà thờ của bà con Xóm 2 Quảng Vinh, xã Sơn Thủy, A Lưới.

    Khi nhận được tin này, nguyên chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn, người chỉ huy chiếc xe tăng 390 uy dũng đã xúc động nói: "Thế thì còn gì quý hơn nữa. Giả dụ anh em chúng ta có vào đấy mà xây lên một ngôi miếu thì rồi cũng phải để đó mà ra đi chẳng biết khi nào quay lại đó hương khói, sửa sang vì tất cả đã cao tuổi rồi.Bây giờ, được bà con trong đó mở lòng, bốn liệt sĩ sẽ được bà con hương khói đời đời thì tốt biết bao. Chả có ở đâu ấm áp, vĩnh hằng hơn ở giữa lòng dân cả!".
    Và thế là các đại diện của Ban liên lạc lập tức lên đường vào gặp bà con Xóm 2. Cuộc gặp gỡ diễn ra giữa các anh với đại diện bà con xóm 2 diễn ra đầy tình thân và cảm xúc. Tâm nguyện của các anh đã được bà con đáp ứng. Trước ngày 23 tháng Chạp năm Bính Thân này, linh vị của các liệt sĩ sẽ được an vị trong ngôi nhà thờ của xóm.Ở giữa lòng dân, từ nay chắc các anh sẽ thấy ấm áp hơn!

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. Có 2 người thích bài viết này


  8. #625
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    ĐÁM CƯỚI LÍNH TĂNG

    Bố lính tăng, mẹ lính tăng
    Con trai cũng lại hăng hăng mùi dầu
    Chúc cho hai cháu mau mau
    Tòi ra một đứa để vào lính Tăng.

    (Đám cưới thiếu tá XT Bùi Đức Mạnh, con trai Đại tá XT Bùi Văn Ngọ và Thượng tá XT Trần Oanh Lan)













    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  9. Có 1 người thích bài viết này


  10. #626
    Ngày tham gia
    31-12-2012
    Vị trí hiện tại
    Binh Duong new city
    Bài viết
    26
    Thích
    736
    Đã được thích 13 lần trong 11 bài viết
    Chúc hai cháu hạnh phúc tới ... đầu bạc, răng long

  11. #627
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    Thiện xạ "bất đắc dĩ", hạ gục 5 tăng địch, đập tan chiến thuật trâu rừng.

    Tiể
    u đoàn 1 (Lữ đoàn Xe tăng 203) triển khai đội hình thực hành huấn luyện. Ảnh: báo Bắc Giang.

    Phát bắn đầu tiên, đạn vẫn gần. Thái tăng thước ngắm lên 1.800, bắn phát thứ hai. Chiếc xe tăng địch bùng cháy cùng với thông báo từ Sở chỉ huy: "Đạn trúng!".

    Trong chiến tranh không hiếm những tình huống bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến. Song nếu có một bản lĩnh vững vàng người chiến sĩ vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình, thậm chí lập công lớn.
    Đó là chuyện thường gặp trong chiến tranh. Và một trong số đó là câu chuyện của Đại tá Nguyễn Văn Thái - nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Tăng Thiết giáp (TTG).

    Từ chức vụ đại đội trưởng bị "bỏ bom"

    Tháng 3 năm 1972, thiếu úy Nguyễn Văn Thái đang giữ chức vụ đại đội trưởng Đại đội 6, Tiểu đoàn 512, Trung đoàn xe tăng 203. Lúc này, đơn vị anh đang ở vị trí tập kết tại khu vực đập Cẩm Ly (Quảng Bình).Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, anh tham gia cùng đoàn cán bộ của Sư đoàn bộ binh 308 và Mặt trận B5 đi trinh sát chiến trường.Nhiệm vụ trinh sát chưa xong thì Nguyễn Văn Thái được lệnh quay ra để đón đơn vị vào. Đường quay ra do trinh sát của mặt trận dẫn. Lạ nước lại cái nên anh chỉ biết lẳng lặng đi theo họ. Đến phía bắc miếu Bái Sơn khoảng 4-5 km thì đoàn gặp một đơn vị xe tăng đang cơ động vào.


    Bộ đội Tăng – Thiết giáp quyết tâm lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc năm 1972.

    Thái mừng quá bèn vẫy cho chiếc xe đi đầu dừng lại định hỏi thăm Đại đội xe tăng 6 có đi cùng không và đang ở đâu. Không ngờ một người đang đứng trên cửa trưởng xe hỏi vọng xuống:"Đồng chí là Thái phải không?".
    Khi anh gật đầu xác nhận thì người đó nói luôn: "Từ giờ phút này đồng chí là đại đội trưởng Đại đội 7. Đây là đơn vị của đồng chí!".
    Thái thật sự ngạc nhiên! Sao lại có đoạn bổ nhiệm cán bộ như "bỏ bom" thế này? Chưa kịp phản ứng ra sao thì người đó lại tiếp luôn:"Nhiệm vụ của đại đội đồng chí là đi theo đường công binh mới mở để đánh vào Đông Hà. Đi cùng với đại đội đồng chí có xe của chính trị viên phó tiểu đoàn Đổng Quốc Sự ở phía sau kia. Còn tôi chỉ biết truyền đạt lại lệnh của Trung đoàn thế thôi!".Mãi sau này anh mới biết người truyền đạt mệnh lệnh cho anh đêm hôm ấy là Trợ lý Quân lực của binh chủng TTG.Vậy là Nguyễn Văn Thái đã chính thức trở thành đại đội trưởng Đại đội 7 trong hoàn cảnh như thế!
    Không chút ngần ngừ và cũng chẳng kịp hỏi vì nguyên cớ gì mà lại có chuyện bổ nhiệm bất ngờ như vậy, Nguyễn Văn Thái lên xe chỉ huy và thực hành ngay quyền đại đội trưởng đưa đơn vị đến vị trí tập kết chiến đấu theo quy định.Cho đến chiều hôm sau, trong buổi hội ý bàn kế hoạch chiến đấu anh biết chắc chắn là ở đại đội này mình chỉ biết duy nhất một người - đó là trung đội trưởng Tiếm, người đồng đội cùng quê, cùng nhập ngũ một ngày.
    Nhiệm vụ của Đại đội xe tăng 7 là tiến công Đông Hà từ hướng Bắc. Muốn vậy, trước hết phải "nhổ" được cứ điểm Quán Ngang.Sau khi nắm tình hình địch qua bộ binh và trinh sát sơ bộ vì thời gian chuẩn bị quá ngắn Thái quyết định tiến công Quán Ngang theo 2 hướng, trong đó hướng chủ yếu từ phía tây và hướng đón lõng ở phía nam.
    10 giờ sáng ngày 01.4.1972, trận đánh bắt đầu. Dưới áp lực dữ dội của pháo xe tăng và các loại hỏa lực của bộ binh, sau hơn 1 giờ chống trả quyết liệt quân đồn trú tại Quán Ngang buộc phải rút chạy.Tuy nhiên, ý định thừa thắng tiến công Đông Hà theo Quốc lộ 1 đã không thực hiện được vì dân chúng chạy loạn quá đông, sau đó địch lại đánh sập cầu Đông Hà biến con sông Hiếu thành một vật cản thiên nhiên lợi hại cản bước quân ta.
    Vậy là mới nắm đơn vị được chưa đầy 2 ngày, với bản lĩnh chiến đấu vững vàng Nguyễn Văn Thái đã chỉ huy đơn vị giành thắng lợi đầu tiên. Điều đó cũng giúp cho anh giành được sự tin cậy của cán bộ, chiến sĩ trong đại đội.


    Trung đoàn BBCG 202 tấn công vào sân bay Quảng Trị, ngày 1/5/1972.

    Đến pháo thủ "bất đắc dĩ"

    Sau những ngày đầu chiến dịch giành chiến thắng vang dội, cuộc tiến công trên mặt trận Quảng Trị bị chững lại trước sự kháng cự mãnh liệt của các lực lượng VNCH đồn trú ở đây. Đặc biệt, trong ngày 09 tháng 4 năm 1972, xe tăng ta bị tổn thất khá lớn trên tất cả các hướng.
    Sau khi nghiên cứu các thủ đoạn của địch các thủ trưởng Bộ Tư lệnh TTG và Trung đoàn xe tăng 203 rút ra kết luận: để chống lại sức tiến công rất mạnh mẽ của xe tăng ta, địch đã áp dụng chiến thuật "trâu rừng", đưa xe tăng ra các công sự ở tiền duyên phòng ngự để tạo thành lớp vỏ thép.Khi nằm trong công sự xe tăng sẽ nắm được lợi thế rất lớn là khó bị tiêu diệt, trong khi quan sát và tiêu diệt đối phương đang lộ diện rất dễ dàng. Để giảm tổn thất và giành thắng lợi, phía ta cần thiết và phải phá bằng được thủ đoạn này của địch trong đợt 2 của chiến dịch bắt đầu ngày 27.4.
    Dĩ độc trị độc, để phá chiến thuật này của địch bên ta cũng áp dụng biện pháp tương tự là "bí mật đưa xe tăng xuống các công sự bắn đã chuẩn bị sẵn trong tầm bắn hiệu quả" để diệt xe tăng, pháo chống tăng của địch.Khi thời cơ thuận lợi mới triển khai xung phong. Tuy nhiên, về phía ta thực hiện thủ đoạn này rất khó vì phải giữ bí mật khi làm công sự cũng như khi bí mật đến gần địch.
    Cái gì dù khó đến đâu cũng sẽ có giải pháp! Và chính từ quan sát, nghiên cứu thực tế ta sẽ tìm ra giải pháp. Và giải pháp đó là lợi dụng tiếng nổ của bom đạn địch để làm công sự.Do đây là giai đoạn hết sức ác liệt trên chiến trường Quảng Trị, không gian lúc nào cũng ầm ì tiếng bom đạn nên công binh trung đoàn đã lợi dụng điều đó dùng bộc phá đào công sự bắn cho xe tăng ở khoảng cách đến tiền duyên phòng ngự của địch chỉ khoảng 1.500 mét mà vẫn đảm bảo bí mật.
    Nửa đêm 26 tháng 4, Đại đội xe tăng 7 xuất phát. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thái chỉ huy trực tiếp trung đội 1 vào chiếm lĩnh trận địa bắn.Với chân dầu nhỏ và các biện pháp giữ bí mật khác, đơn vị đã vào chiếm công sự bắn lúc 5 giờ sáng ngày 27.4 mà địch ở cao điểm 37 và các cứ điểm xung quanh vẫn không hề phát hiện ra.Xe đại đội trưởng nằm chính giữa có nhiệm vụ diệt địch ở trung tâm. Xe đồng chí Vừa ở bên trái có nhiệm vụ diệt địch ở bên trái và điểm cao 35. Xe đồng chí Tiếm bên phải có nhiệm vụ diệt địch ở phía bên phải cứ điểm và hướng cầu Lai Phước. Bộ phận thông tin nối dây để ba xe có thể liên lạc hữu tuyến với nhau mà không cần mở đài.
    7 giờ sáng ngày 27 tháng 4, có lệnh nổ súng. Đại đội trưởng Thái ra lệnh cho các xe tập trung quan sát phát hiện xe tăng địch trong công sự để tiêu diệt. Pháo thủ Hồ trên xe của anh bắn liền 5 phát.Tuy nhiên, do bên phía địch cũng chống trả quyết liệt, lại có pháo từ nơi khác bắn về nên khói bụi mù mịt không thể quan sát được kết quả bắn.Lúc này, đạn pháo cũng làm đường dây điện thoại bị đứt nên Thái buộc phải mở đài vô tuyến điện để chỉ huy. Và cũng chính vì vậy anh mới được sở chỉ huy cho biết mấy phát đạn vừa rồi chẳng trúng mục tiêu nào cả.
    Kéo đầu pháo thủ sang một bên rồi ghé mắt nhìn vào kính ngắm, Thái chột dạ thấy cậu ta để thước ngắm có 1.200. Với lại khói bụi rất mù mịt nên nhìn sang phía địch rất mờ.Biết pháo thủ Hồ cũng mới nhập ngũ và mới chỉ trải qua lớp đào tạo pháo thủ ngắn ngày nên kinh nghiệm chưa nhiều, trong khi đó bản thân mình đã được huấn luyện bắn rất cơ bản ở ngoài bắc nên Thái quyết định tự mình sẽ bắn.Anh lệnh cho pháo thủ Hồ: "Sang buồng pháo hai vứt hết vỏ đạn ra ngoài và phụ cho pháo hai nạp đạn. Liên tục đạn xuyên nhé!".
    Hồ vừa thụp người xuống là Thái tuồn luôn xuống ghế pháo thủ. Anh tăng thước ngắm lên 1.500 rồi ngắm cẩn thận vào tháp pháo một chiếc tăng trong hầm địch đang ẩn hiện mờ mờ sau làn khói. Trước khi bóp cò, Thái bấm công tắc gọi Sở chỉ huy nhờ quan sát giúp đường đạn.Phát bắn đầu tiên, đạn vẫn gần. Thái tăng thước ngắm lên 1.800 bắn phát thứ hai. Chiếc xe tăng địch bùng cháy cùng với thông báo từ Sở chỉ huy: "Đạn trúng!". Thái bắn tiếp phát thứ ba, đạn tiếp tục trúng 1 xe nữa. Biết đây là thước ngắm chính xác, anh lên đài thông báo cho hai xe bạn cùng sử dụng.
    Từ lúc đó, hiệu quả bắn của Trung đội 1 tăng lên rõ rệt. Riêng Nguyễn Văn Thái với 7 phát đạn xuyên đã bắn cháy 5 xe tăng địch. Không chịu được sức ép quá lớn, lại bị mất lớp "vỏ cứng" tạo nên từ xe tăng nên quân địch phòng ngự trên dãy điểm cao 32, 37 kéo nhau bỏ chạy.Tuyến phòng thủ phía tây nam Đông Hà vỡ một mảng lớn, tạo điều kiện để quân ta giải phóng Đông Hà vào ngày 28.4.1972 và toàn tỉnh Quảng Trị mấy ngày sau đó.

    Thế mới rõ, nếu được huấn luyện bài bản và có bản lĩnh vững vàng thì dù hoàn cảnh có bất thường đến đâu người chiến sĩ vẫn có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

    Nguồn: http://soha.vn/thien-xa-bat-dac-di-l...8101732146.htm

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  12. #628
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    2 thành viên, 10 phát đạn "xơi tái" 1 tàu biệt kích


    Bộ đội xe tăng huấn luyện chiến đấu. Ảnh minh họa.

    Nhẩm lại các yếu lĩnh đã học, Hương quyết định sẽ hạ nó như khi bắn mục tiêu vận động trên cạn. Thời cơ đến, anh nhấn cò. Một tiếng "Ầm" vang lên, vầng lửa bùng lên ngay đầu nòng.


    Phòng ngự vững chắc

    Sau khi đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của địch nhằm chiếm Cửa Việt, đẩy địch về vị trí trước giờ hiệu lực của Hiệp định Pa-ri, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 của Lữ đoàn xe tăng 203 được giao nhiệm vụ chốt ở Nam Cửa Việt nhằm tăng cường lực lượng cho Sư đoàn 325 và các lực lượng địa phương bảo vệ vững chắc vùng giải phóng cả trên đất liền cũng như ngoài biển.
    Ngày 4 tháng 3 năm 1973, hơn một tháng sau ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực - tình hình khu vực Nam Cửa Việt vẫn khá yên tĩnh. Quân lính hai bên vẫn sinh hoạt bình thường và cư xử với nhau vẫn rất thân thiện, không có vụ chạm súng nào xảy ra.Sau bữa ăn sáng, trung đội trưởng trung đội 1 Ngô Tâm dẫn đại bộ phận đi lao động. Các anh đang phải khẩn trương hoàn thành lán xe theo quy định. Nhiệm vụ trực chiến và nấu ăn ở nhà được giao cho xe 912 gồm 2 thành viên: lái xe Liêm và pháo thủ Hương.Để mở rộng tầm quan sát, vị trí cảnh giới của Trung đội 1 được đặt trên đỉnh một gò cát cao nằm cách xe 912 khoảng 30 mét. Trên đó có một cái chòi dựng bằng ghi sắt, trên gác mấy tấm tôn che nắng. Trên một cột chòi có treo cái bình khí nén cũ làm kẻng báo động.
    Ngồi ở đó có thể quan sát toàn bộ khu vực giáp ranh giữa hai bên và vài km ngoài biển. Ngay sau khi trung đội kéo nhau đi, phó mặc cho Liêm đánh vật với mớ xoong nồi, Hương ôm khẩu AK và cái ống nhòm leo lên vị trí quan sát.Đã từng làm nhiệm vụ canh gác trên chòi quan sát này nhiều lần nên Hương gần như thuộc lòng cảnh quan và địa vật xung quanh. Về phía bắc, nơi có lá cờ giải phóng rất lớn đang tung bay trong gió sớm là cảng Mỹ. Đó chính là khu vực cửa sông Cửa Việt.


    Xác 1 chiếc xe tăng M48 của Mỹ nguỵ bị bắn cháy khi chúng nống ra hòng lấn chiếm vùng giải phóng của ta ở Cửa Việt – Quảng Trị năm 1973. Ảnh: Nhiếp ảnh gia Trung Thành.

    Theo sông này sẽ ngược lên được Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Vì vậy, đây cũng là một trọng điểm cần chú ý. Về phía đông là biển xanh bát ngát và những bãi cát ven biển trắng lóa. Đã vài lần các anh kéo nhau xuống tắm ở đó. Bãi cát rất sạch và thoải. Nếu không có chiến tranh đây cũng sẽ là một bãi biển đẹp không kém gì Sầm Sơn, Cửa Lò...
    Cũng vì vừa mới kết thúc chiến cuộc ở đây nên ngư dân chưa hồi hương và cả vùng biển mênh mông vẫn vắng ngơ vắng ngắt không một con thuyền, không một lá buồm. Nhìn về phía nam là nhấp nhô công sự của cả hai bên.Đã hơn một tháng trôi qua nên dãy cờ của hai phía đã nhạt màu và thưa thớt chứ không dày đặc như hôm Hiệp định Pa-ri có hiệu lực nữa. Giữa chiến tuyến là ngôi nhà "hòa hợp" nằm chơ vơ, tẻ lạnh. Còn phía tây vẫn là chập trùng những đồi cát bạc phếch, cằn cỗi chỉ có xương rồng là sống được.Tít mãi sâu trong đất liền mới nhìn thấy những hàng cây xác xơ của các thôn làng. Tuy nhiên, qua quan sát hàng ngày cũng có thể phát hiện thấy mỗi ngày lại xuất hiện thêm vài nếp nhà mới của bà con tản cư mới về dựng lên.

    Chỉ với 2 thành viên và 10 phát đạn, 1 tàu biệt kích phải nộp mạng

    Càng về trưa nắng càng gay gắt. Bãi cát trắng xung quanh phản chiếu ánh mặt trời muốn nhức mắt. Để chống lại cơn buồn ngủ đang kéo trĩu hai mi mắt mình thỉnh thoảng Hương phải đứng dạy đi loanh quanh cái khoảng bằng trên đỉnh đồi cát xung quanh chòi gác của mình.Chợt một vật thể lạ ở ngoài biển đập vào mắt anh. Giương ống nhòm lên chăm chú nhìn, Hương giật mình: "Hình như một con tàu đang rập rình ngoài đó!". Tiếp tục quan sát, con tàu rõ dần lên. Có lẽ nó đang vận động vào gần bờ.


    Các loại tàu hoạt động trên biển. Ảnh minh họa.

    Hương đã nhìn rõ lá cờ ba sọc phấp phới bay trên nóc tàu. Rõ ràng bọn địch đã vi phạm các điều khoản của Hiệp định Pa-ri về ranh giới trên biển. Không hiểu chúng định âm mưu gì song không thể để chúng như vậy được.Với kinh nghiệm của một pháo thủ xe tăng, Hương ước lượng khoảng cách từ tàu vào đất liền cũng còn khá xa - khoảng 3 km, song dù sao cũng phải phát tín hiệu báo động đã. Ai biết được chúng định âm mưu gì?Nghĩ vậy, Hương vung cái chốt xích gõ mạnh vào kẻng. Một hồi kẻng gấp gáp vang xa trên trảng cát. Đã thấy lố nhố bóng các chiến sĩ bộ binh ở tuyến chốt tiền tiêu xách súng chạy ra công sự. Tuy nhiên, nhìn về phía tây vẫn không thấy động tĩnh gì.Hương lại giương ống nhòm lên. Chiếc tàu đã rõ hơn nữa. Đã nhìn thấy rõ cái ụ súng phía trước tàu. Rõ ràng chúng vẫn càng lúc càng tiến vào gần hơn. Anh ngẫm nghĩ: "Rõ ràng chúng đang xâm phạm vùng biển của ta. Không rõ nhằm mục đích gì song không thể để chúng muốn làm gì thì làm. Súng bộ binh thì chịu rồi. Phải đưa xe tăng ra thôi!".
    Quyết định vậy, Hương gõ thêm một hồi kẻng rồi gác dùi và cắm đầu chạy về xe.Nghe kẻng báo động, dù chưa biết chuyện gì song Liêm vẫn quẳng rá gạo vừa đong xong chưa kịp vo cạnh bếp và chạy về xe mình. Vừa đúng lúc ấy Hương cũng về tới nơi. Không đợi Liêm hỏi, Hương đã hối hả giục: "Vào cho xe lên vị trí chiến đấu!"
    Biết là có chuyện nghiêm trọng, Liêm chui vội vào xe làm công tác chuẩn bị khởi động. Ở ngoài xe, Hương kéo vội mấy tấm tôn và tranh che cát ở phía trước hầm xe ra. Xe 912 nổ máy và từ từ bò lên khỏi hầm. Khi chiếc xe T-59 leo lên đỉnh gò cát thì Hương đã nhìn thấy cái tàu. Hình như nó đã vào gần thêm một ít nữa rồi.Đã được luyện tập phương án đối phó với quân địch trong các tình huống khác nhau, đồng thời lại đã được tập nạp đạn để có thể thay thế nhau khi cần thiết nên Liêm nhanh chóng rời ghế lái xe sang nạp đạn cho Hương bắn. Nạp đạn xong, anh nhô đầu ra ngoài giương ống nhòm quan sát điểm nổ.Trong thị trường kính ngắm, với độ phóng đại 7 lần Hương đã nhìn rõ mồn một các chi tiết của con tàu, đặc biệt là lá cờ vàng ba sọc đỏ. Vì trên biển không có vật chuẩn nào cả nên Hương đành phải phán đoán khoảng cách đến mục tiêu.Theo kinh nghiệm của mình, Hương quyết định lắp thước ngắm 2.600 mét và quay pháo ngắm vào mục tiêu. Biển hôm nay sóng khá to, con tàu lại chạy dọc vào nên diện tích mục tiêu khá nhỏ, lại cứ dập rình theo nhịp sóng nên rất khó bắn.Nhẩm lại các yếu lĩnh đã học, Hương quyết định sẽ bắn nó như khi bắn mục tiêu vận động trên cạn. Đợi đúng thời cơ anh nhấn cò. Một tiếng "Ầm" vang lên. Một vầng lửa bùng lên ngay đầu nòng, cát bụi bay mù mịt.


    Bộ đội xe tăng huấn luyện chiến đấu. Ảnh minh họa.

    Với lợi thế đứng ngoài xe nên Liêm đã quan sát được điểm nổ ở phía sau con tàu nên hô to: "Đạn xa!". Hương giảm thước ngắm bắn thêm phát nữa nhưng đạn vẫn xa. Lúc này, chắc bọn trên tàu biết là đã bị phát hiện và chúng cũng biết hỏa lực trên bờ của ta có cả pháo nữa nên đã chuyển hướng mũi tàu về phía nam. Chắc chúng định chạy về vùng kiểm soát của mình. Nhưng muộn rồi. Chiếc tàu quay ngang ra nên đã hở sườn và phát đạn thứ ba đã trúng thân tàu. Một đám khói đen ở cuối tàu đang bốc lên song chiếc tàu vẫn chạy được.Quyết không cho chúng chạy thoát, Hương tiếp tục bắn bồi vào đó. Đã có thước ngắm chính xác nên những quả đạn sau Hương bắn đều trúng đích.Tuy nhiên, chiếc tàu khá to và có lẽ có nhiều khoang nên không chìm ngay mà vẫn cố lết về phía nam dưới làn khói đen càng ngày càng to. Phải trúng đến phát đạn thứ bảy nó mới chịu dừng hẳn lại và từ từ chìm xuống.


    Pháo thủ Hương (trái) và lái xe Liêm bắn cháy tàu biệt kích.

    Đúng lúc đó, cả trung đội mới chạy về đến nơi. Trung đội trưởng Ngô Tâm vội giằng lấy cái ống nhòm từ tay Liêm. Chỉ đến khi nhìn rõ xác chiếc tàu đang vật vờ trên sóng anh mới gật gù: "Các cậu khá lắm! Xử trí tình huống rất linh hoạt".Ngay sau đó, sự việc được báo cáo lên trên. Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 đã gửi điện biểu dương tinh thần cảnh giác của bộ đội xe tăng. Còn pháo thủ Hương thì được tặng Huân chương chiến công hạng Ba.Xác chiếc tàu bị sóng đẩy sâu vào bãi biển cách bờ chỉ vài chục mét và nghiễm nhiên trở thành nơi cung cấp rất đắc lực vật liệu cho bộ đội ta xây dựng nơi ăn ở và công sự chiến đấu.

    Nguồn:
    http://soha.vn/ky-tich-xe-tang-viet-nam-chi-2-thanh-vien-khoang-xuong-bien-xoi-tai-tau-biet-kich-20170110112114504.htm
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  13. Có 2 người thích bài viết này


  14. #629
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    ĐÔI DÒNG TÂM SỰ



    Thưa toàn thể các bạn!
    Hôm nay, ngày 14.01.2017 tôi chính thức trở thành Hội viên Hội nhà văn VN. Nói thật lòng, đó là một niềm vui xen lẫn chút tự hào bởi đó là sự thừa nhận của Hội đối với những đóng góp dẫu vô cùng nhỏ bé của tôi- một kẻ ngoại đạo- đối với nền VH nước nhà và sẽ là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao đối với tôi trên chặng đường phía trước.
    Thưa các bạn!
    Sở dĩ tôi nói vậy bởi năm 1971, khi mới 17 tuổi tôi đã lên đường nhập ngũ vào binh chủng TTG- QĐNDVN. Ngay sau đó, năm 1972 vào chiến trường chiến đấu cho đến 30.4.1975 trong đội hình Đại đội 4 anh hùng của Lữ đoàn XT 203. Sau đó được cử đi học sĩ quan rồi gắn bó với nhiệm vụ HL- ĐT sĩ quan và chiến sĩ của binh chủng TTG cho đến năm 2008 mới nghỉ hưu sau 37 năm phục vụ QĐ.
    Đã đi qua một đoạn cuộc chiến tranh khốc liệt, đã chứng kiến bao đồng đội của mình ngã xuống giữa tuổi 20... được may mắn trở về dù không nguyên vẹn lắm, tôi luôn canh cánh trong lòng một món nợ tinh thần đối với những người đồng đội của mình. Món nợ đó thôi thúc tôi phải viết, phải kể cho hậu thế biết họ đã sống và chiến đấu thế nào để không bao giờ lãng quên sự hy sinh của họ. Chính vì vậy, mặc dù lúc nghỉ hưu sức khỏe còn tốt, bằng cấp cũng có song tôi quyết định sẽ không đi làm thêm ở đâu cả mà sẽ dành toàn bộ tâm trí và sức lực trong những năm còn lại của cuộc đời vào công việc viết lách để trả món nợ tinh thần ấy.
    Kết quả là, cho đến nay tôi đã có 8 đầu sách in riêng và 1 đầu sách in chung được phát hành ở các nhà XB QĐND, NXB Trẻ và NXB Kim Đồng. Có thể tóm tắt cuộc đời và văn nghiệp của tôi trong mấy câu thơ sau:
    Cả đời làm bạn cùng cây súng
    Hưu rồi mới chập chững văn chương
    Trả món nợ tình- Bao đồng đội
    Vẫn còn nằm lại chốn sa trường!
    Thưa các bạn!
    Nói cho công bằng, tôi vốn không định làm văn chương. Tôi cũng chưa có vinh dự được qua bất kỳ một lớp đào tạo hay bồi dưỡng viết văn nào cả... Các tác phẩm của tôi đơn giản là “lính kể chuyện lính” mà thôi. Và rất may, những trang viết đó đã lọt vào mắt xanh các nhà xuất bản, lại được sự đón nhận, ủng hộ động viên của các bạn; rồi lại được các anh chị ở Hội đồng văn xuôi và Ban chấp hành Hội NVVN để mắt đến. Cũng có thể có một sự chiếu cố nào đó với một kẻ ngoại đạo chăng mà tôi có được vinh dự hôm nay. Và cũng vì thế, tôi cảm thấy trách nhiệm của mình lớn lao hơn trước mỗi trang sắp viết.
    Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Nhà XBQĐND, NXB Trẻ, NXB Kim Đồng đã in tác phẩm của tôi!
    Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, người thân và độc giả yêu quý đã đồng hành cùng tôi, đã động viên, nâng đỡ tôi những lúc nản lòng trong cái thời “cơm áo không đùa với khách thơ” này!
    Xin chân thành cảm ơn các anh, các chị trong Hội đồng văn xuôi và Ban chấp hành Hội NVVN đã để mắt đến TP của tôi và đã chấp nhận tôi!
    Xin cảm ơn tất cả các bạn đã chia sẻ cùng tôi những dòng tâm sự rất chân thành này!
    Xin cảm ơn ông bạn Bảng Trần đã kịp thời thông báo tin vui đến các bạn bè tôi trên FB!
    Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả!






















    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  15. Có 3 người thích bài viết này


  16. #630
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,899 lần trong 1,027 bài viết
    TẾT

    Quanh đi Tết đã đến sau lưng
    Dân chúng thì lo, khối kẻ mừng
    Chễm chệ ngồi chơi xơi bạc tỷ
    Mặc ai bạc mặt kiếm bánh chưng
    Dẫu cho Chính phủ ban lệnh cấm
    Việc chúng chúng lo vẫn đến mừng
    Riêng tớ vẫn thói quen đạm bạc
    Nên chi chỉ thấy dửng dừng dưng!



    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  17. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •