CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 25

Chủ đề: Ngày này 40 năm trước- 1975

  1. #1
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết

    Ngày này 40 năm trước- 1975

    Ngày 19.3.1975

    Đó là ngày Tiểu đoàn xe tăng 4, Lữ đoàn 203 nhận lệnh chuẩn bị xuất kích rời hậu cứ A Lưới đi chiến đấu. Nhiệm vụ của chúng tôi là chuẩn bị xe pháo, cố định khí tài, LTTP ... lên xe để chiều tối sẽ xuất quân. Sau này thì biết, đây chính là quả "tiền trảm hậu tấu" của tướng An. Khí thế đang sôi nổi thì có một sự cố xảy ra. Chuyện là thế này:


    Nửa đêm về sáng 19 tháng 3 năm 1975 đại đội tôi nhận lệnh lên đường chiến đấu. Lệnh trên quy định chiều 19 tháng 3 chúng tôi phải xuất phát và chậm nhất sáng sớm ngày 22 tháng 3 phải có mặt ở đỉnh Động Truồi (Tây Nam Huế) để tham gia đánh địch.
    Sáng hôm đó chúng tôi đánh xe ra khỏi hầm để kiểm tra kỹ thuật và cố định lương thực, khí tài. Lúc đó Lữ Văn Hoả- lái xe 386 phát hiện hiện tượng rò nước làm mát ở bơm nước. Sau khi kiểm tra đồng chí Phượng đại đội phó kỹ thuật xác định là bơm nước đã bị hỏng và quyết định phải thay ngay. Rất may trong kho khí tài vẫn còn một bơm nước dự phòng.
    Tuy nhiên khi Hoả tháo bơm xong thì không thể đưa ra ngoài được vì vướng vào cam điều độ của hệ thống dẫn động cần lái. Điều này cũng dễ hiểu vì xe chiến đấu nên phải tiết kiệm một cách tối đa không gian, do đó các chi tiết bố trí trong buồng động lực và truyền động rất sít sao. Loay hoay mãi các tư thế vẫn không lấy bơm ra được Hoả bất lực đành báo cáo đại đội phó Phượng. Lúc đó đã gần trưa.
    Sau khi kiểm tra, đại đội phó Phượng quyết định: “cẩu động cơ ra để thay bơm” và gọi xe tôi xuống- Tuấn mã sứt môi 380 của tôi có lắp một bộ cẩu tự tạo đủ khả năng cẩu động cơ mà. Đồng thời anh cho gọi tất cả lái xe trong đại đội đến để tập trung nhân lực giải quyết cho nhanh.
    Vốn đã đi phục vụ sửa chữa nhiều tôi nhẩm tính: “nếu phải cẩu động cơ ra thì có nhanh cũng mất một ngày đêm, làm cật lực thì cũng phải gần trưa mai mới xong”. Như vậy thời gian xuất kích của đại đội sẽ bị chậm lại gần một ngày và khả năng có mặt tại vị trí quy định chắc chắn sẽ bị chậm. Tuy nhiên tôi vẫn đưa xe đến và cho triển khai lắp cẩu.
    Nhìn cái bơm mới để trên buồng truyền động tôi để ý thấy nó gồm 2 nửa được lắp ghép với nhau bằng 6 con ốc 12. Một ý nghĩ loé lên trong đầu tôi: “một nửa tất nhiên phải mỏng hơn là cả” và tôi đề xuất ý kiến: “tháo từng nửa một”.
    Đồng chí Phượng lúc đầu phản đối rất quyết liệt, anh cho rằng: “có tháo ra được cũng không lắp vào được vì bản thân bơm nước phải tổ hợp ở bên ngoài theo một quy trình rất chặt chẽ, phải bôi sơn vào 2 mặt bích của bơm, sau khi sơn đã se mới được lắp…”. Tôi vẫn bảo lưu ý kiến của mình và đề nghị được làm thử. Vì sự thúc ép của thời gian cuối cùng đồng chí Phượng đồng ý cho tôi làm thử.
    Quả thật, sau khi tháo 6 con ốc ra tôi đã lấy được nắp bơm và tiếp theo là thân bơm ra ngoài.
    Để lắp bơm vào tôi cũng tách bơm mới ra thành 2 nửa. Trước khi lắp tôi bôi sơn làm kín vào 2 mặt bích của bơm. Đợi cho sơn se lại thì lắp thân bơm vào trước rồi lắp nắp bơm vào sau. Sau khi siết chặt 6 con ốc, đợi một lát cho sơn khô hẳn chúng tôi bổ sung nước vào hệ làm mát và nổ máy kiểm tra. Kết quả thật mỹ mãn: không một giọt nước nào bị rò rỉ. Tổng thời gian thực hiện chỉ mất khoảng 1 giờ và vài tiếng sau đại đội tôi đã xuất phát sớm hơn quy định.


    Tuấn mã sứt môi với 2 bệ lắp cẩu đây. Các bạn chú ý một đặc điểm nữa của 380: Tấm giáp trước phía dưới mũi xe có mấy hàng ốc 36 rất to. Đó cũng là một đặc điểm nhận dạng song không độc nhất vô nhị như 2 bệ cẩu. Cũng nhờ nó mà miềng nhận ra 380 trong nhiều tấm ảnh khác đấy.




    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. Có 3 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    Ngày này 40 năm trước- 20.3.1975

    Sau khi rời hậu cứ ở bắc SB A Lưới chúng tôi theo đường 14 khoảng hơn chục km rồi rẽ trái vào đường 73 để đi Nam Đông- Khe Tre.
    (Trích tý Hành trình đến dinh Độc Lập):
    "Đường 73 là con đường nối giữa đường 14 B với đường 14 cũ, hai con đường sẽ gặp nhau tại Nam Đông, nó vừa mới được ta tranh thủ mở sau hiệp định Pa- ri nên còn rất hẹp. Vắt ngang dãy A- Roàng từ thung lũng A- Lưới xuống bình nguyên Nam Huế nên cũng tương đối hiểm trở. Chỉ có điều sướng hơn năm 72 là không có máy bay, chạy được suốt ngày, còn đêm đến thì cứ bật đèn pha mà chạy.

    Từ A- Lưới vào đến hậu cứ cũ ở cây số 108 đường bằng phẳng, xe toàn chạy số ba số bốn, nhưng bắt đầu vào đường 73 chỉ còn chạy số một, số hai; con đường cứ dốc ngược lên, những cái cua gập như tay áo. Đi thứ ba trong đội hình nhiều lúc Trang (tôi) phát hoảng bởi nhìn thấy dưới băng xích xe 386 đằng trước đất đá cứ rơi lả tả xuống vực. Mấy cái chắn bùn được hàn vá tương đối chắc chắn nay lại va vào ta- luy rách tơi tả. Đã vào mùa khô, đất đá tơi vụn ra dưới hai băng xích thi nhau thốc vào mặt mũi cánh lái xe, mỗi lần nghỉ ngắn nhìn thấy nhau lại bò ra cười vì thằng nào thằng ấy cứ như hề.
    Chạy cật lực gần suốt đêm thì Thận cho đại đội dẹp vào một bên đường dừng nghỉ. Vừa hạ ghế lái xuống Trang đã ngủ luôn không kịp uống ca sữa Thọ pha. Cậu ta lẩm bẩm: “đúng là ăn pháo thủ, ngủ lái xe, sáng mai pha cho nó ca khác” rồi làm một hơi hết ca sữa.
    Sau bữa cơm cả đại đội lại tiếp tục lên đường, lại những con dốc ngất trời, những khúc cua chóng mặt, lại va vào ta- luy dương, đất đá lại lả tả lăn dưới những băng xích. Đến chặng nghỉ thứ nhất đợi mãi không thấy xe 382 và 389 tới nơi, Thận vội chui vào xe mở đài thì nhận được báo cáo của đại đội phó Phượng:
    - 82 gọi 86! Xe 382 bị hỏng giảm tốc sườn, do đường hẹp xe 389 cũng bị kẹt lại. Xin chỉ thị!
    Chẳng mật ngữ gì nữa Thận gắt:
    - Thế liệu có khắc phục được không? Mất bao nhiêu lâu?
    - Hiện tại không có khí tài thay thế ở đây, phải quay về A- Lưới lấy nên có lẽ hơi lâu- Tiếng Phượng vọng về từ xa tắp.
    - Thôi! Anh cứ ở lại với anh em, bao giờ xong thì đuổi theo đội hình. Có lẽ bọn tôi phải đi trước đây.
    Ra khỏi xe anh bảo Chỉnh đi gọi chính trị viên. Hai người chụm đầu bàn bạc một lúc, cuối cùng Thận bảo:
    - Cứ phải đi cho kịp đã, chúng nó đuổi kịp thì tốt, còn nếu không có xe nào đánh xe ấy.
    Thế là đại đội còn có 5 xe, trung đội Hai bây giờ còn mỗi xe trung đội trưởng."
    Năm ngoái về thăm lại A Lưới, con đường 73 hầu như không còn dấu tích gì. Nếu không có tấm bia tưởng niệm này thì cũng không thể nhận ra.




    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. #3
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 21.3.1975

    Vẫn tiếp tục hành quân theo đường 73. Tốc độ hành quân rất chậm vì đường vừa hẹp, vừa dốc. Nó hẹp đến nỗi xe không thể tránh nhau. Vì vậy, khi xe 382 bị hỏng thì 389 đi sau cũng không có cách nào vượt lên được. Đồng thời hàng trăm xe tải chở hàng cũng bị kẹt lại. Để thông đường, công binh mở rộng vào phía ta- luy dương. Đất đá đổ xuống gần như lấp hẳn con 382 thì xe mới vượt lên được. Còn dốc cũng không kém. Có một chỗ dừng nghỉ, mình nhìn thấy một giò phong lan tuyệt đẹp ngay trước mặt tưởng chừng như thò tay ra là lấy được. Hô mấy tên trong xe xuống lấy nhưng tất cả lắc đầu. Thì ra, trông thấy gần như thế nhưng thực ra nó ở trên một cái cây rất cao mọc ở sườn dốc đứng dưới chân mình.
    Tầm gần trưa hôm ấy thì bọn mình đến Nam Đông. Tại đây gặp một con sông khá rộng, không biết tên sông là gì- có lẽ là sông Truồi- nước trong vắt. Được nghỉ giải lao. Sau mấy ngày bụi bặm vất vả, nóng bức...từ quan đến lính nhảy tất xuống sông vùng vẫy thỏa thích.
    Từ đây chúng tôi đi theo đường 14 về hường bắc. Do đây là quốc lộ cũ nên đường tốt hơn nhiều. Lại tiếp tục lên đèo nhưng dốc đỡ hơn rất nhiều. Tối hôm đó, chúng tôi đến đỉnh Động Truồi. Ngay sau khi đến nơi thấy mấy chiến sĩ BB đến để hợp đồng công tác. Kệ cánh cán bộ với họ. Chúng tôi ăn xong là lăn ra ngủ không biết trời đất gì!
    Ảnh Nam Đông ngày nay


    Phong lan rừng nguyên sinh





    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  5. #4
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 22.3.1975

    Sáng sớm, đại trưởng Thận gọi Tráng- bt2, Tập- lái xe 390 và tôi đi trinh sát. Do trục trặc về hiệp đồng nên mãi đến quá trưa mới gặp được anh em trinh sát của sư 324 do bt Sơn dẫn đầu.
    Bốn anh em xe tăng và bốn chiến sĩ trinh sát nhập với nhau thành một đoàn, họ vừa đi vừa trao đổi về nội dung và phương pháp tiến hành trinh sát. Sự trục trặc về hiệp đồng đã lấy mất của họ một khoảng thời gian hết sức quý báu. Nếu không có gì thay đổi sáng sớm mai sẽ nổ súng tiến công Núi Bông mà giờ họ còn chưa đến vị trí trinh sát, vì thế Sơn luôn giục mọi người rảo bước.
    Đã đến đỉnh Động Truồi, từ đây trở đi chủ yếu là xuống dốc. Sơn bảo mọi người dừng lại giới thiệu khái quát địa hình toàn bộ khu vực, cuối cùng chốt lại:
    - Vấn đề mà các anh cần lưu ý nhất khi đi từ trên này xuống là giữ bí mật. Các anh đều biết ở trên cao này chỉ cần một que diêm thì dưới chân dốc nhìn đã rất rõ. Vì thế nếu các anh bật đèn thì địch sẽ phát hiện ra ngay và sẽ gọi pháo từ Mỏ Tàu, Phú Bài ngăn chặn quyết liệt. Vì vậy tôi đề nghị khi xuống dốc tuyệt đối không được bật đèn- Tập và tôi nhìn nhau, lè lưỡi. Sơn vẫn tiếp- Ngay cả bây giờ chúng ta cũng nên nép vào một bên mà đi, không loại trừ địch có những phương tiện trinh sát hiện đại có thể nhìn thấy chúng ta đang đi ở trên này.
    Thận nhắc nhở:
    - Tập với Trang chú ý nắm tình hình đường sá nhé. Đêm nay là đi “mò” đấy!
    - Vâng ạ!- Tập trả lời.
    Con đường đã lâu không có phương tiện cơ giới qua lại nên lau lách um tùm chờm hết cả vào lòng đường, cả tám người nép vào bóng đám lau lách vô tổ chức đó để đi. Càng xuống cuối dốc đường càng rộng và thoáng đãng hơn, từ đây đã nhìn thấy Núi Bông đứng sừng sững như một con voi lớn nằm phủ phục ngay bên đường. Rõ ràng đây là một cứ điểm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi nó kiểm soát cả một vùng rộng lớn và toàn bộ sự đi lại trên đường 14. Theo Sơn cho biết thì bộ binh đã đánh Núi Bông từ hôm 20 nhưng không ăn thua gì, nó vẫn “rắn” lắm.
    Xuống gần hết dốc thì đã ba giờ chiều, Thận bảo:
    - Nội dung trinh sát đường cơ động chỉ đến đây thôi. Bây giờ hai cậu quay về báo cho anh Toàn chỉ huy đại đội cơ động ngay, trước 5 giờ sáng mai phải xuống hết dốc này và sẵn sàng bước vào chiến đấu. Tớ sẽ đón đại đội tại chân dốc. Nhớ lời anh Sơn dặn đấy nhé, tuyệt đối không dùng đèn từ khi bắt đầu xuống dốc.
    - Rõ! cả Tập và tôi cùng trả lời.
    Mấy anh em bắt tay nhau rồi chia tay. Tập và tôi vừa đi vừa chạy, vừa ăn lương khô mà chập tối một lúc lâu mới về đến chỗ đại đội trú quân. Hai anh em vào báo cáo chính trị viên Toàn và đề nghị cho xuất phát ngay mới kịp.

    Chính trị viên Toàn tập trung đại đội phổ biến nhiệm vụ. Khi nghe đến đoạn phải đi “mò” cả hàng quân ồ lên. Đúng là trong điều kiện đường sá đèo dốc như thế này mà không cho sử dụng đèn để lái thì lạ thật, nhưng khi nghe Tập giải thích thì mọi người nhất trí ngay, thà đi chậm chứ tội gì mà gọi pháo bắn vào đầu mình. Tôi cũng xin có ý kiến:
    - Tôi để ý thây suốt dọc đường hai bên um tùm lau lách, vì vậy khi lái đêm chúng ta có thể nhìn lên trời để căn đường cũng được.
    Lại những tiếng “ồ”, tiếng ai đó: “lái xe sao lại nhìn lên trời mà lái được?”. Nhưng rồi sau khi trao đổi nhỏ với nhau cánh lái xe cũng nhất trí sẽ chú ý để vận dụng. Cuối cùng Toàn kết luận:
    - Đội hình hành quân sẽ như sau: tôi đi đầu, sau đó là xe 386, 381, 387 và cuối cùng là xe 380 của đồng chí Trang. Do trời tối lại đi không đèn nên giãn cách giữa các xe giảm xuống còn 25 đến 30 mét. Trường hợp xe bị hỏng hóc thì trưởng xe phải xuống xe để báo cho xe sau biết, tránh tình trạng đâm vào nhau. Các đồng chí rõ cả chưa?
    - Rõ!- Cả đại đội đáp đồng thanh.
    - Về xe! Chuẩn bị xuất phát.
    Đúng như Trang đã nói, ánh trăng non đầu tháng không đủ soi tỏ mặt đường, dẫu có căng mắt ra cũng không nhìn thấy hình hài con đường thế nào. Và thế là cánh lái xe cứ ngước lên trời để điều khiển xe đi giữa hai hàng lau lách.
    Hình như địch cũng phán đoán được các lực lượng ta đang áp sát hay để tự trấn an không biết mà thỉnh thoảng một vài quả pháo sáng được bắn lên từ phía Núi Bông, Núi Nghệ. Những lúc đó có thể chạy nhanh hơn một chút vì có thể lờ mờ nhìn thấy mặt đường. Còn pháo từ Mỏ Tàu thỉnh thoảng cũng bắn vài loạt lên đỉnh Động Truồi nhưng chắc là chúng bắn cầm canh.
    Xuống được hết dốc thì gần sáng. Bên đường đã thấy Thận và Tráng đứng đợi.

    Núi Truồi là một ngọn núi khá nổi tiếng ở vùng Nam Huế. Ơ đây có câu ca dao:
    Núi Truồi ai đắp mà cao
    Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?
    Theo Địa lý thì núi Truồi cao 1170 mét. Không biết con đường 14 có đi qua đỉnh không nhưng con đèo mà chúng tôi đi đêm đó thấy khá dài và cũng rất quanh co, hiểm trở.
    Một số hình ảnh về núi Truồi:



    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  6. #5
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 23.3.1975

    Mò mẫm đến 5 giờ sáng chúng tôi cũng đã tới được vị trí "điều chỉnh cuối cùng" cách chân Núi Bông chừng 3 km. Anh Thận và Tráng đã đợi ở đấy dẫn các xe vào dỡ cố định. Đúng lúc đó bầu trời như bị xé nát bởi hàng trăm quả đạn pháo, hoả tiễn H12 và cả cao xạ 37 ly hạ nòng bắn vào cứ điểm. Ngay lập tức chúng tôi được lệnh tăng tốc độ lên chiếm tuyển triển khai. Do không có thời gian đi trinh sát đường nên chúng tôi phải đi theo những vạch dấu của đơn vị trinh sát bộ binh để lại. Thành một hàng dọc- xe 386 của đại đội trưởng Thận dẫn đầu, xe 381 của b trưởng b1 Mai Hồng Trị chạy thứ hai, xe 380 của tôi chạy thứ ba, xe 387 của bê trưởng bê 2 Phạm Xuân Tráng chạy thứ tư và xe 390 của chính trị viên Vũ Đăng Toàn chạy sau cùng. Trời đã sáng rõ nên chúng tôi chạy với tốc độ cao nhất có thể và chỉ khoảng 15 phút đã đến "tuyến triển khai".
    Tuyến triển khai của xe tăng là nơi mà phân đội xe tăng chuyển từ đội hình hàng dọc thành đội hình hàng ngang để dùng hoả lực tiêu diệt các mục tiêu tiền duyên, sau đó sẽ xuất kích dẫn dắt bộ binh đánh chiếm mục tiêu bên trong. Hôm đó "tuyến triển khai" của đại đội tôi là một sườn đồi đối diện với Núi Bông, cách chân Núi Bông một dải đồi thấp chừng hơn 1 km. Ngay khi thấy 2 xe trước dàn đội hình, pháo thủ Thọ nhắc tôi: "Đi chân dầu to vào để mở ổn định". Tôi về số 2 tăng chân dầu. Ngay sau đó thấy Trưởng xe Luông hỏi Thọ: "Có nhìn thấy mục tiêu không?". Thọ trả lời: "Nhìn rõ". Luông bảo: "Thế thì bắn đi. Trực liên tục nạp đạn nổ nhé". Thực ra chỉ huy hoả lực như thế không thật bài bản cho lắm- nhưng đây là đánh nhau chứ có phải trên bãi tập đâu. Mấy giây sau tôi thấy "Uỳnh" một phát, tiếng vỏ đạn rơi loảng xoảng trong xe, chiếc xe của tôi hơi sựng lại một lát lại chồm lên; cứ vài chục mét lại bắn một phát.
    Mọi diễn biến của trận đánh đang diễn ra rất thuận lợi. Tôi tiếp tục tăng tốc độ để vượt một cái khe; đột nhiên tôi thấy gốc một bụi le chờm lên mũi xe và nằm chình ình ngay trước kính lái. Kinh nghiệm cho tôi hay xe đã đi vào một nơi nền đất yếu làm mũi xe xục xuống đội gốc le trượt lên, nếu tiếp tục đi tới sẽ lầy là cái chắc. Tôi vội dừng xe cấp tốc rồi vào số "lùi" và từ từ tăng ga vì biết rằng nếu ga to, xích guồng nhanh cũng có thể bị lầy ngay tại chỗ. Lùi hơn chục mét tôi nhích đầu xe sang trái tìm đường khác vượt qua thì nghe Trưởng xe Luông hét vào máy: "Dừng lại! Xuống là chết đấy! Cả 386, 381 bị lầy rồi". Tôi hé cửa nhìn sang phải thấy xe 381 đã bị ngập gần hết băng xích, còn xe 386 của đại đội trưởng Thận thì chỉ hở cái tháp pháo. Thật hú vía, nếu cứ dấn ga mạnh lên thì xe tôi chắc cũng đang vùng vẫy giữa đống bùn như hai xe kia.
    Lúc này xe 390 cũng đã đến, tôi nghe Luông hạ lệnh: "Tại chỗ diệt mục tiêu để yểm hộ xe 390 cứu kéo!". Tôi chọn chỗ đất trũng dừng xe, Thọ tiếp tục bắn từng phát chắc nịch. Lúc này tôi mới biết địch cũng đang bắn trả bọn tôi những không biết vì sao chúng toàn dùng pháo "chơm", loại đạn này với xe tăng thì chỉ như gãi ghẻ song rất nguy hiểm với bộ binh và sinh lực lộ. Loay hoay mất một lúc xe 390 mới kéo được 381 lên, sau đó cả 2 xe đấu vào mới kéo được 386 ra khỏi vũng lầy. Sau khi báo cáo lên cấp trên đại đội tôi được lệnh dừng tại chỗ dùng hoả lực chi viện bộ binh đánh chiếm cứ điểm. Đây là dịp để các pháo thủ trổ tài vì với khoảng cách như thế này, xe lại dừng tại chỗ thì có thể nói pháo xe tăng sẽ bắn "bách phát bách trúng". Làm lính xe tăng đã mấy năm nhưng quả thực đến hôm đó tôi mới có dịp thấy hết sức mạnh hoả lực của xe tăng. Cứ mỗi phát đạn pháo thì một công sự chiến đấu của địch trong cứ điểm lại tung lên; cánh lính BB nhiều anh khoái chí cứ nhảy lên reo hò. Thực ra bộ binh ta đã bắt đầu tiến công Núi Bông từ hôm 20 tháng 3; nhưng do đây là một cứ điểm án ngữ phía Tây Nam Huế nên địch đã tổ chức phòng ngự rất chắc chắn và hiểm hóc nên trầy trật mấy ngày ta vẫn chưa chiếm được; nay thấy có xe tăng đến tham gia tiến công, lại bắn phát nào trúng phát ấy họ sướng là phải. Đến lúc này chúng tôi cũng mới biết xe 387 của "bê trưởng bê 2" đã dính mìn bị hư hỏng nặng. Thế là "bê 2" coi như xoá sổ, cả đại đội còn có 4 xe!
    Đến gần trưa thì quân dịch trong cứ điểm không thể chịu đựng nổi và bắt đầu rút chạy. Chúng tôi muốn truy kích nhưng trên không cho và thông báo cho biết đoạn đường 14 dưới chân Núi Bông rất nhiều mìn.

    Chiều hôm đó chúng tôi phải nằm chờ công binh dò gỡ mìn. Tranh thủ thời gian chúng tôi bổ sung đạn dược, bảo dưõng xe máy và ra "xem" gỡ mìn! Thật chưa bao giờ tôi thấy nhiều mìn chống tăng đến vậy, không chỉ có mìn địch mà có cả mìn ta chất thành đống nhìn cứ rùng cả mình. Anh em công binh cho biết- sở dĩ có tình trạng như vậy vì trong chiến dịch K18 năm 1974 ta đã chiếm được vùng này; để chống địch nống ra ta đã gài thêm hàng loạt mìn chống tăng. Tuy nhiên, sau đó bị địch chiếm lại và chúng lại bố trí thêm một lượt mìn nữa. Thảo nào mà xe 387 của chúng tôi dính đến 2 quả mìn, khi lái xe Thanh đang loay hoay tiến, lùi khắc phục thì dính tiếp quả thứ ba đành phải huỷ xe vì không thể khắc phục nổi. Nhưng cũng lạ một điều: cùng trên con đường độc đạo đó, 3 xe chúng tôi chạy trước thì không sao, còn 387 chạy thứ tư lại bị?.
    Ảnh: Núi Bông bây giờ



    Xe tăng sa lầy

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. Có 2 người thích bài viết này


  8. #6
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 24.3.1975

    Do mìn quá nhiều nên mặc dù rất nóng ruột chúng tôi vẫn phải án binh bất động. Làm xong ký thuật thấy rỗi rãi mấy thằng rủ nhau đi xem công binh gỡ mìn. Họ cứ tỷ mẩn dò từng mét đường. Có lúc máy kêu rú lên. Họ cẩn thận khoét từng tý đất một nhưng đào lên lại chỉ thấy một miếng mảnh bom. Tuy thế, họ không dám bỏ qua chỗ nào. Tầm gần trưa, một chiếc xe ZIL57 chở một số cán bộ quân đoàn- trong đó có bác Hoàng Đan, Phó TL qd2- đến gần chỗ chúng tôi tạm trú. Sau khi số cán bộ xuống xe, lái xe quay đầu để chạy về thì "Ầm" một phát. Cả cái xe tải tung lên trời, lái xe hy sinh tại chỗ. Ai cũng bảo "cụ HĐ cao số!".
    Nằm chờ ở đây cũng có chuyện buồn cười:

    Trích HTĐ D ĐL:
    "Chỗ trú quân tạm thời của đại đội Bốn nằm ngay cạnh đường 14, chỗ này chẳng có cây cối gì mà chỉ nhiều cây dứa dại. Nhiệm vụ của đại đội là thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, khi công binh báo gỡ xong mìn là lập tức lên đường. Sau một đêm thức trắng hành quân và một buổi sáng chiến đấu căng thẳng nên khi về đến vị trí tập kết tên nào tên ấy nhai vội thanh lương khô rồi lăn ra ngủ.
    Chiều xuống, khi cái mắt đã được bù đắp đẫy đà thì đến lượt cái bụng kêu gào đòi quyền lợi. Thận bảo Trị:
    - Còn có bốn xe thôi, cậu tổ chức nấu ăn chung cho cả đại đội đi!
    Trị về gọi Hợp, Trực:
    - Hai cậu nổi lửa nấu cơm chung cho cả đại đội, tớ với Hạnh đi kiếm tý rau.
    Bụng đang cồn cào đói nên được lời như cởi tấm lòng, hai tên hào hứng bắt tay vào việc. Gạo, thịt hộp thì có rồi nhưng đi qua cả bốn xe vẫn không bói đâu ra cái nồi nào. Nguyên nhân là vì sáng nay lúc vội vã dỡ cố định, mạnh cái gì quăng cái nấy nên chẳng xe nào mang nồi, xoong theo cả. Thế mà từ đây về đến đó phải năm sáu cây chứ ít gì. Đang bí rì rì thì Hùng có sáng kiến:
    - Lấy thùng lương khô mà nấu!
    Hai cái thùng lương khô được đem ra, hai cái bếp dã chiến được nhóm lên. Đang mùa khô củi vừa nhóm đã cháy đùng đùng, lát sau nước đã sôi sùng sục. Trực gọi tất cả các xe đem bi đông đến lấy nước sau đó một thùng nấu canh, một thùng nấu cơm. Bốn hộp thịt kho cũng được cậu vùi vào than để nướng. Một lúc sau Trực hồ hởi gọi mọi người đến ăn cơm.
    Nồi canh lõng bõng vài ngọn tàu bay nhưng nhiều thịt hộp và mỳ chính nên cũng tạm được, Chỉnh múc cho đại đội trưởng Thận và chính trị viên Toàn mỗi người một bát. Cả hai xì xụp húp và gật gù khen ngon, cậu ta cười:
    - Bây giờ thì mầm đá cũng ngon chứ nói gì đến canh rau tàu bay, thịt hộp!
    Nhưng đến lúc mở nắp thùng cơm ra thì ai cũng nhăn mặt: một mùi khê nồng nặc bốc ra, lớp cơm trên cùng cũng ám khói vàng ươm, bới sâu xuống một chút thì thấy cả thùng cơm đã cháy đen cháy đỏ và mùi khê càng đậm đặc hơn. Không ai bảo ai đều cầm bát canh vừa đi vừa húp rồi lảng tất. Giữa lúc đánh nhau thế này bố thằng nào dám ăn cơm khê! Thấy mọi người bỏ đi hết Chỉnh bảo Hùng:
    - Sống chết có số chứ đâu phải vì cơm khê! Mày dám ăn không?
    - Sợ đếch gì! Ăn chứ!- Hùng bất cần.
    Thế là hai đứa ngồi bới cơm đánh chén ngon lành. Còn tất cả đại đội lại trệu trạo lương khô với nước lã.

    Thời gian chờ đợi bao giờ cũng dài, mới có một ngày mà tưởng như hàng tháng. Phía trước cánh công binh vẫn cần mẫn dò từng mét đường. Quả thật không thể chủ quan được. Mìn chôn đã lâu, sau một mùa mưa bị đất đá vùi lấp nên rất khó phát hiện. Mà cũng chẳng hiểu thế nào nữa. Cứ xem như cái đại đội này cùng chạy trên con đường độc đạo ấy mà ba xe chạy trước thì không sao, đến xe thứ tư thì bị mà bị những ba quả".
    Sau này chúng tôi phải hủy xe 387 vì không thể khắc phục được. 1kg TNT được cho vào nòng pháo nổ phá khẩu pháo, đại liên và đạn cùng một số khí tài thì dỡ ra mang đi dự phòng. Phần còn lại chắc sau này dân săn phế liệu giải quyết nốt.
    Minh họa: CB dò mìn



    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  9. #7
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 25.3.1975
    Cuộc dò gỡ mìn kéo dài đến quá nửa đêm 24.3. Ngay sau khi thông đường chúng tôi được lệnh chở theo bộ binh đi đánh La sơn. Tiểu khu La sơn nằm trên quốc lộ 1 và chỉ cách Huế hơn 20 km. Thực ra lúc đó chúng tôi không nắm được lực lượng địch ở đó như thế nào nên tiến rất thận trọng. Trời tang tảng sáng đại đội tôi đã đến sát La- sơn; một không khí vắng lặng hiện ra trước kính quan sát của chúng tôi: dường như không có một bóng người ở đó, những cái lô- cốt cũng im phăng phắc. Đoán là địch đã bỏ chạy chúng tôi ào lên chiếm La sơn. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không quên cái cảm giác khó tả của mình khi nhìn thấy con đường nhựa láng bóng, thẳng tắp hiện ra trước mắt mình. Cứ như là một giấc mơ!
    Nghỉ một lát ăn vội miếng lương khô xong chúng tôi thẳng tiến theo quốc lộ 1 về phía Huế. Huế đã gần lắm rồi! Nhưng những con chiến mã đang say máu của chúng tôi bỗng bị khựng lại- cầu An Nông (cấu Nong) đã bị địch phá khi rút chạy trước đó chưa lâu- một vài thanh gỗ mặt cầu còn đang nghi ngút khói. Con sông này không lớn nhưng rất sâu buộc chúng tôi phải tìm đường vòng tránh mãi đến trưa mới quay trở lại được đường 1.
    Tăng tốc độ chúng tôi bù lại thời gian đã mất. Dọc đường đã thấy ngổn ngang súng ống, quần áo rằn ri, có cả một cái xe tăng M48 đang nổ máy ình ình ngay cổng sân bay Phú bài. Thêm ít phút những căn nhà lúp xúp ngoại ô phía Nam thành Huế đã hiện ra trong kính ngắm; vẫn một không khí vắng lặng, bí ẩn bao trùm. Chúng tôi tiếp tục vượt cầu Phú Xuân vào chiếm thành Mang Cá. Đến đây chúng tôi mới biết cờ Giải phóng đã được treo trên Cột cờ bên Thành Nội từ trưa. Thật tiếc, nếu cầu An Nông không bị địch phá chúng tôi đã giải phóng Huế sớm được mấy tiếng đồng hồ. Ôi Cố đô! Thành phố mà chúng tôi đã nghe tên từ thời còn cắp sách tới trường; thành phố mà suốt gần 3 năm qua chúng tôi từng ngày, từng giờ mong ngày hội ngộ! Giờ đây tôi và đồng đội tôi đã thoả niềm mong; một cảm giác lâng lâng vui sướng, tự hào lan toả trong tôi.
    Nằm ở thành Mang Cá chừng non một tiếng chúng tôi được lệnh đi diễu quanh một số đường phố. Tôi đoán chắc cấp trên muốn biểu dương sức mạnh của Quân giải phóng nhằm làm yên lòng đồng bào và trấn áp những tên địch còn sót lại. Lần đầu tiên được thấy xe tăng Quân giải phóng đồng bào phấn khởi lắm- nhất là giới thanh niên, học sinh- xe đang chạy mà họ cứ sán vào vẫy cờ, vẫy tay; lúc xe dừng trước cửa Chợ Đông ba có một thanh niên dúi vào tay tôi một tập sách, liếc nhìn qua thấy toàn là chuyện "chưởng" tôi lắc đầu không nhận. Đến 3 giờ chiều chúng tôi nhận lệnh truy kích địch ra cửa Thuận an.
    Lực lượng tham gia truy kích địch ra cửa Thuận an gồm "xê 4" xe tăng của chúng tôi và một "xê" bộ binh. Nói là vậy nhưng thực ra chỉ có khoảng 20 tay súng lên ngồi sau xe tăng của chúng tôi. Qua cầu Tràng tiền chúng tôi hướng về phía Thuận an tăng tốc độ. Những làng quê ven đô đã lác đác có cờ giải phóng nên chúng tôi khá yên tâm. Nhưng càng đi thì đường càng vắng vẻ; chỉ thấy ven đường rải rác quần áo, súng ống của quân VNCH trút lại. Gần đến Thuận an- một quang cảnh hỗn độn hiện ra trước mắt chúng tôi- cả một bãi đất rộng như một cái sân bóng đá chất đầy các loại phương tiện chiến tranh: từ xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, cho đến xe tải, xe JEP, xe du lịch, xe Hon- đa..., có cái vẫn còn đang nổ máy ình ình nhưng tuyệt nhiên không có một bóng người.
    Do không có phương tiện vượt sông chúng tôi dừng lại ngay đầu bến phà Thuận an và triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu. Thực ra, với 4 chiếc xe tăng và 20 tay súng bộ binh- lực lượng chúng tôi quá là mỏng yếu nếu so với lực lượng địch đang tập trung cao độ ở quanh đó nên chúng tôi hết sức cảnh giác. Sau khi ổn định đội hình xe 386 hướng pháo ra phía biển bắn 1 phát pháo và 1 tràng đại liên 12 ly 7. Trong chạng vạng hoàng hôn đang tĩnh lặng đến nghẹt thở, tiếng nổ của pháo 100 như trầm vang hơn; còn tràng đạn 12 ly 7 nghe cũng chát chúa hơn. Nhưng tất cả vẫn yên lặng như tờ!.
    Biết rằng lính địch vẫn đang ẩn nấp đâu đây, đại đội trưởng Thận cuộn một miếng bìa làm loa gọi họ ra hàng. Sau ba bốn lần gọi lác đác những bóng người từ phía bờ sông đi lên, hai tay giơ cao lên đầu. Một người, hai người... rồi hàng đoàn lũ lượt từ nơi trú ẩn kéo ra, hầu hết đều cởi trần, chân đất; có người còn kéo theo cả bầu doàn thê tử, nhếch nhác và rệu rã đến tột cùng. Lúc đầu chúng tôi còn đếm, còn bắt tập trung thành từng nhóm rồi cho xe chở về Huế; sau đông quá nên chỉ biết phát cho mỗi người một dải băng trắng, bảo họ buộc lên cánh tay trái rồi cứ về quê đợi hôm sau ra trình diện với cách mạng. Chúng tôi không nhớ được hôm ấy đã tiếp nhận bao nhiêu người lính VNCH ra hàng mà chỉ biết là nhiều, nhiều lắm. Đến khoảng 9 giờ đêm lính chỉ còn lác đác, còn đại bộ phận là dân Huế bắt đầu cuộc "di tản ngược" về thành phố.
    Từ đó trở đi, tôi luôn đinh ninh là tỉnh Thừa Thiên Huế được giải phóng vào ngày 25.3. Không chỉ tôi mà nhiều CCB các đơn vị khác như 324, 325... cũng nghĩ vậy. Đến năm 2000 đi công tác qua đó dịp tháng 3 tôi hết sức ngỡ ngàng khi thấy họ trương biển kỷ niệm ngày GP vào 26.3. Về nhà viết thư gửi báo QĐND, Viện LSQS..., một bác ở Viện LSQS còn gọi điện xuống: "không chỉ một mình đc có ý kiến vậy, có rất nhiều người đã có ý kiến như thế. Sắp tới đây chúng tôi sẽ tổ chức hội thảo. Rất mong đc đến dự". Thế rồi mọi chuyện vẫn y nguyên từ đó đến giờ. Nhưng nói gì thì nói, với tôi ngày 25.3 đã trở thành một ngày vô cùng đáng nhớ trong cuộc đời.





    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  10. Có 2 người thích bài viết này


  11. #8
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 26.3.1975
    (trích Hành trình đến dinh ĐL)


    "Buổi sáng ở biển đến thật sớm, mới hơn 5 giờ đã thấy những tia nắng bình minh nhuộm đỏ chân trời đằng đông. Hình như chỉ đợi có thế những dòng người từ bên kia bờ lại lũ lượt kéo về. Khác hẳn tối hôm qua. Hôm nay đoàn người di tản trở về thành phố có đủ nam, phụ, lão, ấu, ai cũng tay xách nách mang. Xe 380 án ngữ ngay đầu bến phà, ngồi trong xe nhìn ra Trang nói nhỏ với cả xe:
    - Hình như dân thành Huế kéo nhau ra đây hết thì phải? Thảo nào hôm qua mình đến Huế thấy vắng như chùa Bà Đanh ấy.
    - Thì dân người ta cũng sợ chứ, hai bên đánh nhau thế nào chả có “tên rơi, đạn lạc”, chẳng biết thế nào cứ tránh đi là hơn- Luông có vẻ hiểu biết.
    - Có lẽ người ta sợ như hồi Mậu Thân ấy, hồi ấy mình đánh vào rồi thì bọn Mỹ ném bom. Lúc mình rút ra nó quay lại giết hết những người ở lại với giải phóng nên dân chết nhiều lắm- Trang đồng tình, cậu cũng đã tìm hiểu được nhiều tư liệu về Huế trong những năm nằm ở A- Lưới.
    Thọ đột ngột chuyển đề tài:
    - Cứ bảo con gái Huế đẹp nhưng từ hôm qua đến nay tớ chả gặp “em” nào đẹp cả.
    - Tớ cũng thấy thế, cứ nghe đồn đại mãi mà có phải thế đâu?- Trực cũng góp chuyện.
    - Bỏ nhà, bỏ cửa chạy ra đây nằm vạ nằm vật, nhịn đói nhịn khát mấy ngày thì tiên cũng thành cú vọ, còn đòi ai đẹp được- Trang gắt.
    Quả thật, những dòng người đang diễu qua trước mắt họ trông mới đáng thương làm sao, ai cũng tiều tuỵ, mệt mỏi như không còn sức sống. Anh em họ cũng muốn ra tay giúp đỡ họ nhưng biết là không xuể vì dân thì quá đông mà họ chỉ có một dúm người, lại còn lúc nào cũng phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu nữa chứ. Trang lại nhớ đến người thiếu phụ đêm qua, mặc dù còn trẻ nhưng cậu hiểu những gì mà những con người này đã trải qua trong mấy ngày vừa rồi.

    Thấy dòng người chủ yếu là dân thường Thận ra lệnh cho số lái xe đi thống kê sơ bộ các loại phương tiện mà địch đã bỏ lại đây, chủ yếu là tăng thiết giáp. Sau một hồi đếm đi đếm lại rồi leo vào tận nơi kiểm tra cả bọn kéo về xe 386, Hoả thay mặt bốn anh em báo cáo:
    - Báo cáo “đại trưởng”! Tổng số có hơn 60 xe tăng thiết giáp, đủ cả M48, M113, cao xạ tự hành và xe công trình. Còn lại ô tô, xe kéo pháo thì nhiều lắm, đếm không xuể.
    Trang còn chui vào xe nhặt về một lô quân kỳ của nguỵ. Những lá quân kỳ của lính thiết giáp ngụy thêu khá cầu kỳ với những hình thù rất dữ tợn, cậu vứt thành đống dưới băng xích xe:
    - Cả một thiết đoàn nguyên vẹn đấy, nó mà “chơi” thì đại đội mình “toi” hết chứ còn gì!
    - Đúng thế!- Thận xác nhận- Lúc mới đến đây tớ cũng nghĩ y như cậu, thế cho nên gom được ít nào phải cho về phía sau ngay, để chúng tập trung ở đây thấy có ba chục “mống” chúng mà hăng lên đánh lại thì “toi” cả nút thật"


    Còn về chuyện ngày GP Huế là 25.3 hay 26.3 cũng đã được nhắc đến ở nhiều chỗ rồi. Nếu cứ lý luận phải "hoàn toàn giải phóng" thì cho đến giờ miền Nam vưỡn chưa GP đâu. Lý do ư: vưỡn còn Hoàng Sa đấy, bị TQ chiếm từ 1974 cơ mà. Về nguyên nhân thì cơ bản như bác Tai Le đã com ở stt trước. Thực ra lúc đầu là người ta định ưu ái Trung đoàn 6- đoàn Phú Xuân, đứa con dứt ruột của TTH nên đã may cờ lớn (8x12met) trao cho nó để về cắm cờ. Song nó là đơn vị đánh chác kém nhất, khi khắp cả Bắc, Đông, Nam, Tây Nam Huế đã động binh rồi thì nó vẫn nằm án binh bất động, kiểu "tọa sơn quan hổ đấu ấy mà". Vì vậy, khi các đơn vị đã vào Huế rồi còn đuổi địch ra cả Thuận An từ 25.3 thì sáng hôm sau e6 mới mò về và kéo cờ lên kỳ đài. Thế là người ta lấy ngày đó làm ngày GP Huế.
    Thấy vô lý vậy nhiều người lên tiếng, trong đó có một GS ở ĐH Huế. Ông ấy tổng hợp từ Lịch sử đảng bộ các huyện trong tỉnh thấy huyện nào cũng GP vào 25.3 và đặt câu hỏi: "Tại sao tất cả các huyện trong tỉnh đã GP vào 25.3 mà tỉnh lại GP vào 26.3?". Bài này cũng đã được TC LSQS đăng song không ai trả lời câu hỏi ấy cả. Và lời mời dự HT của Viện LSQS với miềng cũng rơi tõm vào hư vô.
    Sau này miềng có dịp gặp gỡ với một số vị tướng đã từng CĐ ở TTH và đặt câu hỏi thì các bác ấy nói thế này: "Năm 75 ông TQ Thanh là trung đoàn trưởng của Trung đoàn 6, khi vấn đề xem lại ngày GP Huế được đặt ra thì ổng đang là 2/// TL quân khu 4. Vì vậy khi Viện LSQS nêu vấn đề tổ chức hội thảo ổng đã bằng mọi cách gạt đi". Nhưng lạ một điều là ổng đã "đi" lâu rồi mà người ta không tiếp tục làm rõ. Hay là "đã hóa bùn" rùi?

    Bãi CLP ở Thuận An đây (chú thích trong ảnh 4.75 là sai):

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  12. #9
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 27.3.1975
    Chúng tôi tiếp tục nằm ở Thuận An.
    "Dòng người kéo về thành phố vẫn lải rải lúc nhặt lúc thưa nhưng chỉ còn toàn dân thường nên đỡ căng thẳng hơn một chút, ngôi nhà trực của trạm viễn thông Thuận An được trưng dụng làm sở chỉ huy kiêm nhà bếp, nhà ăn của đại đội. Lúc mới mở cửa vào Trang đã hoa cả mắt lên vì những thiết bị không biết gọi tên là gì nhưng chắc là rất hiện đại, trong các hộc tủ thì đầy những bóng bán dẫn đựng trong những hộp nhựa xinh xinh, Thọ nhanh tay bốc luôn một nắm, cậu ta bảo “đem về tha hồ mà lắp đài”.
    Đẩy cửa vào một gian phòng có kê giường ngủ hai anh em lại hoa mắt lên lần nữa bởi xung quanh tường toàn là ảnh con gái khoả thân. Những cô gái Mỹ tóc vàng, mắt xanh trên người không một mảnh vải đang uốn ** như mời gọi. Đang say sưa ngắm thì chính trị viên Toàn bước vào, anh nghiêm sắc mặt:
    - Bóc ra! Đem đốt hết đi!
    Kể cũng tiếc nhưng hai tên phải gỡ hết tranh ảnh xuống đem ra sau nhà đốt. Mắt trước mắt sau thấy không ai để ý Thọ cuộn một bức khá to giấu vào người.
    Cánh pháo hai đã bắc bếp ngoài đầu hồi nấu cơm, hôm nay thì không phải ăn cơm sấy nữa nhưng vẫn chỉ có thịt hộp, xung quanh trống trơn chẳng bói đâu ra ngọn rau nào". (trích Hành trình đến dinh ĐL)
    Rỗi rãi rồi cả đại đội kéo nhau đi tập lái xe. Cánh lái xe bọn tôi thì lái tất: từ xe tăng M48, xe TG M113 đến xe Jeep, GMC, xe kéo pháo. Còn anh Thận với hội pháo thủ thì chỉ mê lái ô tô thôi. Khoảng đất rộng đầu bến phà ngày hôm đó cứ như cái bãi tập lái ấy. Công nhận lái xe Mỹ thích hơn xe ta nhiều, các cần kéo bàn đạp đều nhẹ nhàng chứ không tốn sức như xe ta.
    Việc luyện tập như thế có ích lợi tức thì. Tầm giữa trưa một đám cháy bùng lên ở giữa bãi xe và có nguy cơ lan rộng. Anh Thận lệnh cho chúng tôi vào lái hết xe tăng ra vì trong xe có đạn, để nó cháy sẽ rất nguy hiểm. Mấy anh em tôi lao vào bãi xe và đưa chúng tránh xa đám cháy. Khi tôi lái cái thứ ba ra thì xảy ra một chuyện mà đến giờ nghĩ lại vẫn thấy vừa tức vừa buồn cười.
    Số là khi tôi đang đưa chiếc M48 thứ ba lên đường nhựa thì thấy tiếng la thất thanh rồi mấy chiến sĩ BB vác AK ra đứng chặn ngay đầu xe. Tôi dừng xe thì mấy tay này hùng hổ lắm, các hắn văng tục tùm lum và quát tôi:
    - Lái xe kiểu gì mà như c. ấy! Làm chết người rồi kia kìa.
    Tôi hơi hoảng nên hỏi lại:
    - Sao vậy? Tôi có đâm vào ai đâu?
    Các lão vẫn xúm xít xung quanh tôi và chỉ về phía một anh chàng máu mê bê bết trên đầu:
    - Thì kia kìa! Ông đâm vào cái xe này- họ chỉ cái xe công trình M88 bên cạnh- nên quân tôi mới bị như thế.
    Tôi nhìn về phía sau thấy khoảng cách giữa 2 xe vẫn còn khoảng 30- 40 cm nên cứng cỏi:
    - Các ông nhìn kìa! Xe tôi có đâm vào xe đó đâu nào.
    Các lão cũng phải công nhận là tôi không đâm vào nhưng vẫn gặng:
    - Thế thì tại sao cái xe kia nó lại chạy?
    Đến lúc này tôi mới để ý đến cuộn dây thép gai bằng cổ chân bám vào bánh chủ động của xe mình. Thì ra, do không có đường nên tôi đi bừa qua hàng rào dây thép gai. Dây thép gai cuộn vào bánh chịu nặng và xoắn lại thành một cái dây như dây cáp. Khi tôi chạy trên đường cái dây đó kéo nhằng sang cái xe bên cạnh làm nó chạy theo. Mấy lão BB nằm tránh nắng dưới gầm xe thấy xe chạy sợ quá nhổm đầu dậy nên va vào bụng xe tóe máu đầu. Thôi thì cũng là lỗi của mình đành xin lỗi họ vậy.







    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  13. #10
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 28.3.1975
    Chúng tôi tiếp tục chốt giữ ở Thuận An.
    Nhân Đại lão hòa thượng gửi cho tấm hình Trạm viễn thông Thuận An xin kể thêm một chút về cái trạm này.



    Nếu để ý các bạn sẽ thấy trên ảnh có một vòng tròn xoe. Tại thực địa đó là một con đường rộng khoảng 3-4 mét, đường kính khoảng 1 km. Trên con đường tròn vành vạnh này họ xây 16 cái trụ bê tông to như 16 cái lô- cốt ấy. Toàn bộ con đường và 16 trụ đó chính là cái neo giữ cho một cột ăn- ten cao chừng 200 mét nằm ở tâm vòng tròn. Từ gần đỉnh cột và quãng giữa cột là 32 sợi dây cáp neo xuống 16 cái lô cốt kia. Với kết cấu ấy, cột ăn- ten cao vút kia đã đứng vững trước mọi cơn bão biển nhiệt đới rồi. Phải nói người Mỹ làm cái gì cũng hoành tá tràng thật. Còn chức năng nhiệm vụ của nó thì chắc ai cũng hiểu- để phục vụ cho TTLL mà thôi.
    Ở rìa vòng tròn, ngay sát con đường xuống phà Thuận An là một ngôi nhà sàn nhưng làm bằng bê- tông. Đó là nơi ở của bộ phận quản lý trạm VT này. Như đã nói, trong đó có rất nhiều bóng bán dẫn và trên vách thì toàn là... ảnh tươi mát mà thôi.

    Có một chuyện nữa cũng đáng nhớ ở TA. Ấy là tối hôm 27.3, khi bọn tôi ngồi hóng mát trên tháp pháo 380 thì thấy mấy con chó đang tranh giành nhau chỗ cơm thừa gần đầu xe. Ngứa mồm, tôi huýt lên một tiếng sao. Thật không ngờ, một con chó tách khỏi đám tranh ăn kia nhảy phốc lên đầu xe vẫy đuôi rất thân thiện. Dưới ánh lửa bập bùng của đống lửa bên cạnh tôi thấy con chó màu đen tuyền, nặng phải độ 30- 35 kg, đôi mắt nó sáng lấp lánh, cái đuôi to ve vẩy tỏ vẻ rất mừng rỡ... Anh em tôi đoán đây chắc là chó của lính tăng VNCH, lạc chủ mấy ngày nay rồi và ngay lập tức đi đến quyết định giữ nó lại để nuôi cho vui. Tôi lấy lương khô cho nó ăn và từ đêm đó, tấm bạt sau tháp pháo dường như là vị trí đương nhiên của nó.



    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  14. Có 2 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •