CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 2 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 25

Chủ đề: Ngày này 40 năm trước- 1975

  1. #11
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 29.3.1975

    Một giờ sáng chúng tôi được lệnh đi đánh Đà nẵng. Đang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu nên chỉ ít phút sau chúng tôi đã lên đường. Thừa Thiên Huế đã giải phóng hoàn toàn nên chúng tôi rất yên tâm không phải vừa đi vừa nghe ngóng; đường sá lại tốt nên chúng tôi cơ động với tốc độ rất cao. Phải công nhận đường nhựa do Mỹ làm cực tốt, xe chạy hết tốc độ mà không hề hấn gì, chỉ để lại trên mặt đường hai vệt trắng do một tý bột đá bị xích xe cào lên. Con Gấu- chúng tôi đặt tên cho con chó là Gấu để nhớ về con chó bị bỏ lại ở hậu cứ A Lưới- vẫn nằm chồm hỗm trên tháp pháo. Chính xác nó là con chó của lính tăng rồi.
    Tuy nhiên không phải cứ đường tốt là không có vấn đề gì! Ngay sau khi đổ hết đèo Phước Tường tôi không nhìn thấy xe 386 đi đầu đâu nữa. Nghĩ thầm trong bụng "Sao hôm nay tay Hoả (Lữ VănHoả- lái xe 386) chạy ghê thế; mới thoáng cái đã mất hút!" và tăng tốc độ đuổi theo. Nhưng vừa hết đèo hơn trăm mét đã thấy đại đội trưởng Thận đứng bên đường, quần áo ướt lướt thướt vẫy tay ra hiệu cho bọn tôi dừng lại. Lúc đó bọn tôi mới nhìn thấy cái xe 386 đang chúc đầu xuống cống chỉ còn hở tý đuôi xe. Ngay lập tức công tác cứu kéo được triển khai và chỉ mười lăm phút sau xe 386 đã được kéo lên. Té ra do chạy tốc độ cao, không làm chủ được tay lái xe bị "phản chuyển hướng" và lao xuống cống. Thật hú vía- nếu dưới cống không có nước thì không biết kết cục thế nào. Thế là cánh lái xe chúng tôi lại có thêm một bài học.
    Tiếp tục lên đường- khoảng 9 giờ sáng chúng tôi đã đến Lăng Cô. Mặc dù phải tập trung sức lực và trí tuệ vào điều khiển xe tôi vẫn cảm nhận được vẻ đẹp đến nao lòng của một vùng quê mới lạ. Bên là núi biếc, bên là biển xanh, phía trước là Hải Vân cao vời vợi. Tôi tự nhủ: "Hoà bình rồi nhất định mình sẽ phải quay lại nơi đây ".
    Nhưng niềm phấn khích của chúng tôi bỗng bị "dội một gáo nước lạnh": cầu Thừa Lưu đã bị phá (sau này mới biết là do quân ta phá để cắt QL1). Tôi nhớ lại hôm đánh Huế mà lòng ngao ngán- cũng chỉ vì cây cầu An Nông bị phá mà chúng tôi đã mất 3-4 tiếng đồng hồ vòng tránh. Đại trưởng Thận ra lệnh :"Trong lúc chờ công binh khắc phục, toàn đại đội tranh thủ nấu ăn trưa và kiểm tra kỹ thuật!". Đúng lúc đó- đại đội 3- người anh em cùng tiểu đoàn 4 từ phía sau vượt lên. Vì đó là đại đội xe tăng bơi nên họ nhanh chóng vượt sông làm chúng tôi càng sốt ruột.
    Ăn trưa xong, xe pháo cũng đã kiểm tra ngon lành nhưng công binh vẫn chưa làm xong ngầm, những sọt đất đá đổ xuống sông cứ chìm nghỉm đi chẳng để lại đấu tích gì. Bỗng ai đó kêu lên: "Hay là cho xe đi qua cầu đường sắt". Nhìn về phía thượng nguồn quả nhiên có một cây cầu đường sắt nằm cách đó vài chục mét còn nguyên vẹn. Đại đội trưởng Thận dẫn chúng tôi lên xem; sau khi nghiền ngẫm một lúc anh quả quyết: "Cứ liều một cái xem sao chứ chờ công binh làm ngầm thì không biết đến bao giờ!".
    Quả thật đây là một quyết định khá liều lĩnh và có lẽ trong lịch sử sử dụng xe tăng chưa hề có tiền lệ. Nhưng cũng chính quyết định này đã cho phép chúng tôi vượt được sang bờ Nam để tiếp tục hành trình.




    Quá trưa chúng tôi đến chân đèo Hải Vân. Đã nghe nói khá nhiều về con đèo này nhưng cánh lái xe "xê 4" chúng tôi không hề "ngán" bởi những tay lái đã vượt Trường sơn thì sự hiểm trở của Hải Vân không nghĩa lý gì. Chỉ mỗi tội đèo dài quá nên những chiếc xe tăng hạng nặng của bọn tôi vượt qua khá vất vả. Do động cơ luôn làm việc quá tải nên hầu như lúc nào nhiệt độ dầu nhờn, nhiệt độ nước làm mát cũng trên 100 độ C; thỉnh thoảng lại phải dừng lại để xử lý. Lên gần đến đỉnh đèo thỉnh thoảng lại thấy một đám mây tràn xuống mặt đường làm tầm nhìn chỉ còn vài mét; ở những khúc cua biển hiện ra dưới sâu hun hút xanh ngắt một màu- thật không hổ danh "Đệ nhất hùng quan". Cho đến khoảng nửa chiều chúng tôi lên tới đỉnh đèo.






    Trên đỉnh đèo mấy cái lô cốt còn đang nghi ngút cháy, chúng tôi biết đó chính là chiến tích của đại đội 3 nên lập tức đổ đèo. Biết rằng đã có lực lượng ta ở phía trước nên chúng tôi hành quân với tốc độ cao nhất. Khoảng 5 giờ chiều chúng tôi đã có mặt ở ngoại ô Đà nẵng; lúc này chúng tôi được tin quân ta đã đánh chiếm được một số mục tiêu ở Đà nẵng, song đây là một thành phố rất lớn lại tập trung một lực lượng quân sự đông đảo của quân lực Sài gòn nên tình hình còn rất lộn xộn và chưa ổn định; cấp trên giao cho đại đội tôi chiếm Thương cảng Bạch đằng và bảo vệ khu trung tâm thành phố.




    Được bộ đội địa phương dẫn đường chúng tôi nhanh chóng đi sâu vào thành phố và sau gần một giờ đã đến đúng vị trí quy định. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là so với Huế- Đà nẵng lớn hơn rất nhiều và cũng lạ lẫm hơn nhiều; những ánh mắt nhìn chúng tôi có cái gì đó như dò hỏi, như nửa tin nửa ngờ. Nhưng bao trùm lên tất cả là niềm vui, niềm tự hào khi được đặt chân lên một địa danh lịch sử, một căn cứ quân sự khổng lồ mà Mỹ- nguỵ đã đổ bao tiền của để dựng lên. Cơm nước xong, được ưu tiên không phải gác- tôi hạ ghế, quay cánh cửa lái xe vào che sương rồi thiếp đi trong làn gió Sông Hàn mát rượi.
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  2. #12
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 30.3.1975
    Trích "Hành trình đến dinh Độc Lập":
    "Sáng được một lúc thì Thận nhận được lệnh cho đại đội đi diễu hành phục vụ quay phim, chụp ảnh. Thấy Thận không thoải mái lắm người sĩ quan đến truyền đạt mệnh lệnh ghé tai anh nói nhỏ:
    - Đi phục vụ quay phim chụp ảnh chỉ là phụ, còn thực chất là đi để biểu dương lực lượng đấy! Ông không biết chứ thành phố này phức tạp lắm, suốt từ khi Pháp đánh chiếm đến nay nó chỉ sống với cách mạng được mấy chục ngày hồi cách mạng tháng Tám, ngay cả năm Mậu Thân ta có đánh được vào đây đâu! Sau khi quay phim về các ông vẫn phải nằm lại nội thành này mấy ngày nữa đấy!
    Thôi thì nhiệm vụ nào cũng là nhiệm vụ, Thận bảo anh em xếp thành đội hình rồi đi diễu qua mấy phố trung tâm. Quả thật, người dân ở đây nhìn các anh với con mắt có phần e ngại, họ dứng nép thật sâu vào bên đường và không niềm nở vẫy chào các anh như ở Huế.
    Quay phim và diễu hành xong đã gần trưa, đại đội được phép lui vào một con ngõ nhỏ đối diện với thương cảng Bạch Đằng. Chưa biết nếp tẻ thế nào nên không dám vào nhà dân nhờ, Thận cho anh em nấu cơm ngay trên hè phố.
    Chắc rằng sự kiện có mấy chiếc xe tăng giải phóng nằm giữa phố đã kích thích những người hiếu kỳ kéo đến. Lúc đầu họ còn đứng xa xa nhìn ngó, bàn tán. Sau dần dần họ kéo đến từng xe, người thì lấy gang tay đo nòng pháo, người thì xúm lại xem giải phóng ăn cái gì. Cuối cùng thì mỗi anh lính đều bị một đám đông xúm quanh với hàng trăm, hàng nghìn câu hỏi.
    Có lẽ đây là một tình huống nằm ngoài dự kiến, những bài học chính trị về công tác dân vận ở vùng mới giải phóng chưa đủ để quân ta trả lời nhiều câu hỏi “hóc búa” đại loại như: “tại sao năm 54 chúng tôi đã trả cả miền Bắc cho các ông rồi mà các ông còn đánh vào đây?”, “cộng sản nghĩa là như thế nào, đem cộng hết cả tài sản của mọi người lại với nhau à?”, “giải phóng rồi thì có cho chúng tôi ở lại đây không?”…; một số cậu thấy “bí” quá đành chọn giải pháp lỉnh vào xe ngồi tịt luôn trong đó.
    Ở chỗ nấu cơm bà con cũng đang xúm đông xúm đỏ. Thấy nồi hai mươi cơm gạo trắng tinh bốc hơi nghi ngút và mấy hộp thịt đã được bổ ra một người chửi đổng:
    - Tổ cha chúng nó! Thế ni mà biểu giải phóng ăn toàn lá sắn, bảy người đu cọng đu đủ không gãy!
    Xung quanh chính trị viên Toàn và đại đội trưởng Thận là đông người nhất, chắc bà con cũng đoán ra đó là cán bộ nên cứ xúm lại hỏi han. Hai người tối tăm mặt mũi vì những câu hỏi được tuôn ra tới tấp. Tiếng Đà Nẵng đâu có dễ nghe, cứ phải hỏi đi hỏi lại hai ba lần mới hiểu lõm bõm, nhưng những câu trả lời của các anh đã làm bà con tương đối yên lòng.
    Trang ôm khẩu AK đứng ngay cạnh xe, nhiệm vụ của cậu là không cho ai được đến gần và trèo lên xe nhưng cũng phải luôn mồm trả lời những câu hỏi của một đám đông quanh nó. Một bà má đã già lắm rồi len sát vào Trang, bàn tay răn reo của má túm lấy cổ áo cậu vạch ra và nghển cổ lên nhìn chăm chú. Trang đứng bất động không hiểu bà đang nhìn gì, cậu nghĩ bụng: “chắc mặt mình bị nhọ”. Nhưng không phải, bà má đang hỏi gì đó, Trang phải hỏi lại hai ba lần mới hiểu:
    - Các con không có “mùng” à?
    Đã đọc nhiều sách và biết nhiều về phương ngữ nên Trang hiểu bà má muốn hỏi về cái màn, cậu vội trả lời:
    - Chúng con có ạ!
    - Có sao để “mọi” đốt thế ni?- Bà má đưa tay chỉ vào cổ cậu.
    Trang vội cúi xuống nhìn: cả một vạt từ cổ xuống đến ngực cậu dày đặc nốt muỗi cắn như một cái bánh đa vừng. Trang chợt nhớ lại đêm qua: vừa hạ ghế xuống là ngủ luôn, muỗi sông Hàn khủng khiếp quá. Chẳng biết làm sao cậu đành trả lời bà má:
    - Tại hôm qua con ngủ quên mắc “mùng”.
    - Lần sau phải nhớ nhé! “Mọi” ở đây nhiều lắm!
    - Vâng!- Mắt Trang rưng rưng, cậu chợt nhớ mẹ ở nhà.
    Một thanh niên tầm mười sáu, mười bảy lại cố len vào:
    - Có phải bộ đội giải phóng bị xích vào ghế ngồi trong xe không?
    - Bị xích thì chúng tôi đứng đây sao được- Trang điềm đạm trả lời.
    - Nhưng lúc đánh nhau cơ?- Anh ta vẫn cố gặng.
    Trang nhìn trước nhìn sau. Quy định là không cho ai lên xe nhưng trường hợp này thì hơi đặc biệt, cậu định tìm Thận để báo cáo nhưng thấy anh cũng đang bị vây bởi một đám đông đến mấy chục người nên quyết định:
    - Tôi sẽ cho anh lên xem có xích ở ghế không nhé! Nhưng chỉ một người thôi!
    Trang trèo lên xe đưa tay kéo người thanh niên vừa hỏi lên, cậu mở cửa trưởng xe và cửa pháo hai rồi đưa anh ta lại chỗ cửa lái xe:
    - Có thấy xích đâu không?- Trang hỏi lớn.
    - Không!- Anh ta trả lời và chửi đổng- Mẹ cha bọn chúng, toàn nói bậy.
    Đám đông chỉ vãn đi lúc chiều xuống, trừ mấy pháo hai phải lo việc nấu cơm và mấy tay ít lời chuồn vào xe ngồi, còn lại cổ đều khản đặc"

    Cũng chính nhờ cuộc quay phim chụp ảnh ấy mà "Tuấn mã sứt môi 380" mới được ghi vào lịch sử qua tấm ảnh "xe tăng tham gia giải phóng ĐN". Và cũng đến gần đây tôi mới biết tác giả bức ảnh này là PV Hoàng Thiểm. Hy vọng thời gian tới sẽ được gặp anh! Năm 2013 đi tìm lại chỗ chụp tấm ảnh này song ko thấy. Vẫn đang nhờ chú em 7083 khảo sát thêm.

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  3. #13
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 31.3.1975

    Ngày 31.3.1975- sau hơn một ngày trấn giữ ở Thương cảng Bạch Đằng, đại đội tôi lui về chốt giữ khu vực Bảo tàng cổ vật Chàm và Trường trung học Sao Mai. Xe tôi nằm trong một ngõ nhỏ phía bên phải Bảo tàng Cổ vật Chàm, trước một dãy nhà vách gỗ, mái tôn khá lụp xụp. Vừa đặt chân đến một thành phố mới được giải phóng sau hàng trăm năm sống dưới ách thống trị hết của Pháp rồi đến Mỹ như Đà nẵng, chúng tôi phải hết sức cảnh giác và tỉnh táo. Lúc nào trên xe cũng phải có người trực cảnh giới, toàn xe không được đi đâu xa, luôn sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, vào ban ngày chúng tôi thỉnh thoảng cũng vào ngồi nghỉ và đồng thời làm công tác dân vận ở một số nhà dân quanh chỗ xe đỗ.
    Trong ngôi nhà đối diện với nơi xe tôi đỗ có hai ông bà già, một cô con gái và hai thanh niên khoảng gần ba mươi tuổi. Cô gái là học sinh trung học, còn hai thanh niên tự giới thiệu là thợ điện, mặc dù chúng tôi đều ít tuổi hơn song họ cứ gọi chúng tôi là các anh Giải phóng và xưng em ngọt xớt. Trong những câu chuyện còn khá dè dặt, họ hỏi rất nhiều về miền Bắc, về Mặt trận giải phóng, về cách đối xử của chế độ mới với những người sống dưới chế độ cũ và chúng tôi đã giải thích cho họ những vấn đề cần thiết nhất.
    Khi đã tự nhiên hơn, các câu chuyện của chúng tôi đã mở rộng ra nhiều đề tài khác nhau. Hai thanh niên hỏi chúng tôi đánh vào Đà nẵng bằng đường nào, và khi biết chúng tôi đưa xe tăng vượt đèo Hải Vân để giải phóng Đà nẵng họ phục lắm. Bởi vì hồi đó đường qua đèo Hải Vân chưa mở rộng như bây giờ và nó vẫn là nỗi ám ảnh cho những ai có việc phải đi qua nó bằng đường bộ, trong khi những chiếc xe tăng lại nặng nề và to lớn thế kia.
    Thực ra, đối với chúng tôi- những lái xe đã đưa được xe tăng vượt Trường sơn vào chiến trường miền Nam thì việc lái xe tăng qua đèo Hải Vân chỉ là chuyện vặt. Mặc dù đèo có cao, vực có sâu, nhiều cua gấp song đường lại rộng, mặt đường láng nhựa tốt bằng vạn đường Trường sơn, nếu nói về độ hiểm trở còn thua cả Đèo Ngang. Nhắc đến đèo Ngang tôi bỗng cao hứng đọc luôn bài thơ Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh quan, lại còn “tiện mồm” bình luận vài câu nữa. Hai thanh niên chăm chú ngồi nghe, họ tỏ vẻ rất ngạc nhiên, sau đó một người dè dặt hỏi ”Chắc trước khi vào lính anh đã học qua văn khoa?”. Tôi giật mình vì sự quá đà của mình bởi trước khi đi bộ đội tôi mới chỉ học hết lớp 10/10, hồi học phổ thông môn Văn cũng chỉ tàm tạm nhưng được cái thuộc nhiều thơ. Trả lời như vậy rồi song họ vẫn không tin, họ nói ở trong này chỉ có học qua Văn khoa mới có thể bình thơ hay như thế! Thôi thì kệ họ muốn hiểu thế nào thì hiểu.

    Sau bữa cơm trưa , hai thanh niên ra xe mời bọn tôi vào nhà uống nước, họ có một vẻ gì đó rất trịnh trọng làm chúng tôi cảnh giác, nghe ngóng. Sau khi mời chúng tôi ngồi uống nước, một trong hai người đứng dậy, hai tay chắp trước bụng nói khẽ khàng “Thưa các anh Giải phóng, từ hôm qua đến nay chúng em đã nói dối các anh, chúng em không phải là thợ điện mà là thợ máy không quân Sài gòn, cả hai đều đã đi tu nghiệp ở Mỹ về và làm việc ở sân bay Đà nẵng. Từ hôm giải phóng về lánh tạm nhà bà con ở đây, mong các anh đừng bắt tội”. Chúng tôi hơi ngỡ ngàng vì từ hôm qua tới nay ra vào uống nước, nói chuyện mà có ai nghi ngờ điều gì đâu. Một lần nữa chúng tôi nhắc lại Lời kêu gọi của Mặt trận Giải phóng và khuyên họ đến Uỷ ban quân quản trình diện, họ hứa sẽ nghe theo và thu xếp đi ngay.
    Sự việc diễn ra quá nhanh làm mấy anh em xe tôi cứ bàn tán và đặt câu hỏi “Tại sao đến hôm nay họ mới ra trình diện”. Mỗi người một ý, còn riêng tôi, tôi biết: hai người lính ấy đã tin rằng chúng tôi- những người lính cách mạng- mà trong hành trang khi ra trận lại có cả thơ của Bà huyện Thanh quan chắc chắn sẽ không bao giờ làm hại họ.

    Bảo tàng Chàm mấy hôm ấy các nhân viên chạy đâu hết cả, cửa giả mở toang. Bọn tôi cũng vào xem nhưng chỉ hiểu lơ mơ và thấy rất nhiều thứ lạ lẫm với mình.







    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  4. #14
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 01.4.1975

    Chúng tôi vẫn nằm ở con hẻm nhỏ bên hông phải Bảo tàng Chàm. Đây là một khu nhà tạm bợ làm bằng đủ mọi thứ vật liệu- chắc là của bà con dân nghèo dưới quê chạy lên đây. Con chó Gấu vẫn ở với chúng tôi. Lúc thì nó nằm trong gầm xe, lúc trên đỉnh tháp pháo (thường là buổi tối), lúc chạy lung tung- chắc đi tìm bạn. Chúng tôi đã thử gọi nó bằng nhiều cái tên nhưng nó không tỏ ra phản ứng gì nên gọi nó vẫn chỉ bằng huýt sáo. May thằng Trực pháo hai có tài đút 2 ngón tay vào mồm làm cái còi rất to nên mỗi khi cần gọi nó về chỉ cần Trực huýt lên một tiếng thì chỉ lát sau nó có mặt ngay. Những ngày này cũng có chuyện vui vui:

    Tình hình thành phố đã khá yên ổn, nhịp sống đã trở lại tương đối bình thường nên bọn tôi cũng đỡ căng thẳng hơn và bắt đầu được phép đi thăm thú thành phố- một thành phố vô cùng xa lạ đối với những người lính miền Bắc chúng tôi. Thế là cái ba lô vùi sâu trong góc tháp pháo được dịp lộn ra, và những bộ quần áo mới nhất còn “thơm mùi chính phủ” được bóc tem đem ra chưng diện. Cả những đôi quân hàm binh nhất, binh nhì cũng được nâng niu cài lên ve áo. Những đôi quân hàm gần như còn mới tinh vì từ khi nhập ngũ cánh lính xe tăng chúng tôi gần như suốt ngày đêm lấm lem trong bộ quần áo công tác sặc mùi dầu mỡ lăn lộn ngoài baĩ tập, riêng tôi đôi quân hàm mới chỉ được dùng đúng một lần cái hôm đi chụp ảnh để gửi về nhà.

    Trang phục chỉnh tề rồi, vai khoác AK, cứ từng nhóm hai, ba người chúng tôi đi dạo phố. Thực ra cũng chẳng dám đi xa, chỉ loanh quanh vài dãy phố quanh đấy, trong khi đó tai cứ phải dỏng lên nghe ngóng tình hình.

    Nhưng có một điều không bình thường là chẳng hiểu sao mọi người nhìn chúng tôi với một cái nhìn rất lạ, họ nem nép lánh xa mỗi khi chúng tôi gần tới rồi xì xào với nhau điều gì đó, nếu không thể tránh được thì cúi chào rất lễ phép. Tệ hơn nữa, bọn tôi đều làng nhàng hăm hai, hăm ba tuổi mà họ cứ một điều ông, hai điều ông, khác hẳn với thái độ mà chúng tôi đã biết mấy ngày trước đó. Bởi vì từ hôm vào giải phóng Đà nẵng đến nay đại đội tôi vẫn chốt giữ xung quanh khu vực này, mấy ngày đó bà con đến tìm hiểu, thăm hỏi rất đông và mỗi chiến sĩ của đại đội tôi đều trở thành một “tuyên truyền viên bất đắc dĩ”, phải giải đáp hàng nghìn câu hỏi của bà con về đủ thứ trên đời. Qua mấy ngày tiếp xúc đó bà con đã bớt nghi ngại và tỏ ra khá thân thiện với chúng tôi. Thế mà hôm nay tình hình lại khác hẳn. Thấy vậy, chúng tôi quyết định quay về. Về đến chỗ đỗ xe cũng thấy khang khác, bác chủ nhà mà mấy hôm nay xe tôi vẫn xin nước nấu cơm, vẫn vào nhà uống nước cũng tỏ ra khúm núm và xa lạ thế nào ấy.

    Chúng tôi quyết tâm phải làm rõ vấn đề nên đi thẳng vào nhà, bác chủ nhà chắp tay khúm núm “ Mời các ông vào xơi nước”. Quái lạ, từ hôm vào đây đến giờ cả nhà bác vẫn gọi chúng tôi là các anh Giải phóng kia mà, sao hôm nay lại trịnh trọng thế. Chưa biết vào đề ra sao lại thấy bác xuýt xoa “ Nhiều tướng thế này Giải phóng làm gì chả thắng. Mà sao toàn tướng trẻ vậy.” Mắt thì cứ như dán vào ve áo bọn tôi. Chúng tôi ngớ ra nhìn nhau và chợt hiểu- đôi quân hàm binh nhất, binh nhì với ngôi sao bạc trên nền phù hiệu đỏ tươi trông quá giống, có khi còn oách hơn- quân hàm của tướng một sao, hai sao Quân lực Việt Nam cộng hòa. Chính vì vậy bà con tưởng lầm chúng tôi đều là tướng và điều đó giải thích tại sao họ có thái độ kỳ lạ vừa rồi. Nhưng làm sao đi giải thích với tất cả mọi người được. Thế là những đôi quân hàm lại được tháo ra và vùi dưới đáy ba lô.


    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  5. Có 1 người thích bài viết này


  6. #15
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 02.4.1975
    Chắc tình hình thành phố đã yên ổn rồi nên cấp trên cho chúng tôi về lại đội hình. Lúc này, Đại đội 3 cùng tiểu đoàn và Tiểu đoàn 1 đều đang ở bán đảo Sơn Trà. Vậy là buổi chiều muộn, cả đại đội hành quân qua cầu Trịnh Minh Thế sang bán đảo. Phải công nhận cây cầu khỏe thật. 4 chiếc xe tăng chạy với tốc độ cao mà nó chỉ hơi rung rung.
    Ngày đó, cả bán đảo Sơn Trà là một căn cứ quân sự khổng lồ. Chỉ có các dãy nhà doanh trại và kho tàng, nhà xe... nối tiếp nhau chứ không hề có bóng nhà dân và người dân nào cả. Cả đại đội tôi vào ở một dãy doanh trại trống không chả biết của sắc lính gì. Đó là một dãy nhà cấp 4, trong lòng khá rộng- kê được 2 dãy giường sắt, một số còn cả đệm với vải bọc màu cỏ úa. Tường phía trước có cửa sổ rất rộng- chắc để đón gió biển. Phía sau là khu phụ dành cho bể tắm công cộng và nhà vệ sinh.
    Đến nơi, sau khi nhận chỗ ở, dọn dẹp qua loa bọn tôi kéo nhau đi tắm một cái cho đã. Quần áo lúc này cũng mới được giặt giũ tử tế. Quên không kể chuyện mấy ngày nằm trong nội thành chúng tôi rất vất vả về khoản này. Trời thì nắng nóng, quần áo thì chỉ "nhất bộ" vì hôm 23.3- lúc dỡ cố định để đi đánh Núi Bông vội quá vứt cả ba lô xuống. Vì vậy, chúng tôi toàn phải đơi đến nửa đêm ra hứng nước ở vòi nước công cộng lau người qua loa thôi. Hôm nay ra đây mới được tắm cho ra tắm. Với lại chỉ có lính với lính nên giặt giũ xong quần đùi áo lót cũng được, thậm chí có tên còn tồng ngồng lên giường nằm chờ cơm vì giặt cả quần lót.







    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  7. #16
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 02.4.1975

    Đêm đầu tiên ở bán đảo Sơn Trà chúng tôi ngủ thật ngon. Phần vì gió biển mát rượi. Phần vì ra đây ở trong doanh trại, có vệ binh gác rồi nên không nơm nớp như mấy đêm trong phố nữa. Lại có giường nằm tử tế nữa. Sáng ra thật mát mẻ, dễ chịu. Mấy tên định rủ nhau đi xem biển nhưng chưa kịp đi đã có lệnh "không được đi lung tung! Từ hôm nay tập trung làm công tác kỹ thuật để đảm bảo SSCĐ". Quả thật là từ hôm xuất quân đến giờ chưa có dịp nào bảo dưỡng xe cho ra trò cả nên quyết tâm ấy là hoàn toàn chính xác. Còn chúng tôi cũng chẳng ngại gì.

    Tuy nhiên, thời tiết thay đổi rất nhanh. Những căn nhà mái tôn dù có trần song vẫn nóng hầm hập.Suốt ngày chung tôi cởi trần bổ sung nhiên liệu, dầu mỡ nước trong cái nắng nóng rất khó chịu.

    Về đây ở rồi mới lại sinh hoạt đại đội. Nghe chính trị viên Toàn thông báo tình hình thời sự, biết hàng loạt tỉnh miền Trung đã được GP chúng tôi rất phấn khởi. Vì vậy, chiều tối thấy có lệnh hành quân cả bọn xì xầm: "Chắc là đi tiếp vào phía trong!".

    Song không phải! Sau chừng gần 2 tiếng lúc chạy, lúc dừng bọn tôi tới một doanh trại khác. Nghe anh Thận bảo: "Đây là căn cứ sư đoàn 3 Khánh Sơn!". Lính tráng nghe vậy thì biết vậy, còn bây giờ nghe nói đó là Hòa Khánh. Có điều phấn khởi là vừa về đến Khánh sơn đã thấy anh Phượng, Tráng, Bùi, Khoa, và mấy anh em ở hai xe 382, 389 ra đón. Cả hai pháo hai Khoái và Lực trông đồ dưới chân Động Truồi cũng đã được đón về đây. Bọn tôi nhận lại cái ba lô nhăn nhúm của mình. Thì ra, trong thời gian chúng tôi nằm ở nội thành xe 382 đã sửa xong và đi theo đường khác về đây. Cánh Tráng với Khoái, Lực thì đi theo xe của d bộ. Mới xa nhau có một tuần mà đã có biết bao biến cố xảy ra làm cho người ta tưởng như đã xa nhau hàng tháng, hàng năm.

    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  8. #17
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 04.4.1975
    Doanh trại sư đoàn 3 Khánh Sơn được quy hoạch rất cơ bản và xây dựng rất chính quy- ấy là nói theo cách hiểu bây giờ chứ lúc ấy chỉ biết xuýt xoa: "Sao nó rộng thế, sao nó đẹp thế...". Không biết có lúc nào cả sư đoàn cụm lại đây không mà cái doanh trại này cần to đến thế. Mỗi chiều của nó chắc phải hơn 1 km. Trong đó là san sát nhà cửa- cũng kiểu nhà lính mà bên bán đảo Sơn trà chúng tôi đã ở. Tuy nhiên khu dành cho chỉ huy và cơ quan thì xây cất rất đẹp, chúng tôi ngó qua thấy bàn ghế sang trọng lắm. Đặc biệt ở đây có hệ thống nhà xưởng rất rộng rãi- tôi chưa thấy cái nhà nào to như thế- cả mấy chục cái xe tăng của bọn tôi đút lọt thỏm trong đó. Đường đi lối lại trong doanh trại thẳng tắp như ô bàn cờ và đều rải nhựa cả. Xung quanh doanh trại là mấy lớp rào dây thép gai, thỉnh thoảng lại có cái tháp canh nhô lên. Có lẽ doanh trại này cũng mới xây dựng chưa lâu nên cây cối quá ít và vẫn còn khả nhỏ nên rất nóng vì được xây dựng trên vùng đồi trọc toàn sỏi đỏ. Lang thang tìm hiểu tôi phát hiện ra một cái miếu nhỏ thờ "CHIẾN SĨ TRẬN VONG"- nằm khiêm tốn ở một góc hẻo lánh. Nghĩ bụng: "bọn này cũng tử tế phết nhỉ" song đến lúc thấy nó bày nải chuối giả với mấy bông hoa nhựa trên ban thờ thì tôi lại lầm bầm chửi: "Bọn đểu!".
    Buổi chiều, đại đội tôi họp tổng kết chiến dịch Huế- Đà Nẵng và bình công, báo công, chủ nhiệm chính trị lữ đoàn Lê Minh thay mặt Đảng uỷ chỉ huy lữ đoàn xuống dự. Sau phần báo cáo chung của ban chỉ huy đại đội là rút kinh nghiệm, có mấy ý kiến đều phàn nàn về công tác bảo đảm cơ động. Giá như hai cây cầu Phú Bài và Thừa Lưu được khắc phục kịp thời thì đại đội đã hoàn thành nhiệm vụ được tốt hơn, sớm hơn. Đến phần bình xét khen thưởng, tất cả số lái xe và gần hết số cán bộ chiến sĩ tham gia đánh Huế và Đà Nẵng đều được đề nghị thưởng huân chương các loại.

    Chiều tối tiếp tục khảo sát thì thấy về tập trung tại đây có rất nhiều đơn vị của quân đoàn 2. Riêng xe tăng thì có 2 tiểu đoàn (d1, d4) và lữ bộ 203.








    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  9. #18
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 05+06.4.1975
    Chúng tôi vẫn nằm tại căn cứ Sư đoàn 3 Khánh Sơn. Những ngày này có mấy sự kiện đến với chúng tôi.
    Sự kiện thứ nhất là điều chỉnh biên chế của Lữ đoàn. Đó là Đại đội 4 chúng tôi không ở Tiểu đoàn 4 nữa mà chuyển về Tiểu đoàn 1. Kể cũng hơi bâng khuâng một chút vì hai đại đội 3 và 4 đã cùng chia sẻ mọi gian khổ, hy sinh từ thời A Sầu, A Lưới, đã sống với nhau như anh em một nhà mà nay lại phải chia tay nhau. Sau này mới biết, đó là chủ trương của các chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược nhằm mục đích sử dụng hiệu quả nhất lực lượng TTG có trong tay. Cụ thể là Tiểu đoàn 4 hiện còn Đại đội 3 xe tăng bơi nước sẽ nhận thêm 2 đại đội TG nữa để làm phân đội phái đi trước, có nhiệm vụ đánh địch mở đường cho đại quân cánh quân Duyên Hải. Còn Đại đội 4 tôi trang bị T59 nên đưa về Tiểu đoàn 1 làm lực lượng chủ lực của lữ đoàn. Thôi thì "đời thằng Mục" ở đâu chả thế. Chỉ hơi buồn khi phải xa mấy thằng Quê. Nói là chuyển sang Tiểu đoàn mới song lính tráng như bọn tôi cũng có biết cụ nào là cán bộ tiểu đoàn đâu, chỉ biết tiểu đoàn trưởng là ông Nhỡ (Ngô Văn Nhỡ) mà thôi.
    Sự kiện thứ hai là điểm nghiệm quân trang, kiểm tra chiến lợi phẩm. Trước đó, bác Toàn ctv có quán triệt: "Anh em có thu nhặt được bất cứ CLP gì thì tự giác nộp lại!". Xe khác thế nào không biết chứ xe tôi tôi biết mấy anh em cũng chẳng thu được thứ gì quý giá cả, ngoại trừ các thứ đồ ăn và mớ bóng bán dẫn ở Đài viễn thông Thuận An. Riêng tôi, vì thích chụp ảnh từ bé nên có nhặt một cái máy ảnh- hiệu gì giờ cũng đã quên. Vì vậy, sau khi nghe "quán triệt" xong đều vui vẻ nộp lại. Hình như thằng Thọ có giấu đi một ít bóng bán dẫn thì phải. Năm 1988 gặp lại thằng Khoa- lái xe 382 thấy nó đeo cái Selko cũ. Hỏi thì nó khai: "Tạo phải mở nắp hậu cái đồng hồ thời gian của xe rồi nhét vào đó mới giữ được đấy!". Té ra nó bé người mà khôn hơn mình! Sau đó, các cán bộ lại nhắc nhở rất nhiều về vấn đề này. Tôi còn nhớ CNCT Lê Minh có nói một câu rất thấm: "Các đồng chí hãy luôn nhớ rằng, chúng ta là đội quân giải phóng chứ không phải đội quân vơ vét!". Chính vì vậy cộng với cái tâm lý hơi hơi mê tín của lính chiến nên về sau chúng tôi hầu như dửng dưng với mọi thứ được gọi là CLP- kể cả khi quản lý 10 cái kho lớn ở cảng Sài Gòn. Cũng chuyện này, anh Thận vì có ít tiền nên mua được cái đồng hồ RADO. Mua cũng phải nộp và lại còn mất luôn cái HC vừa bình hôm trước.
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #19
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 07.4.1975
    Chúng tôi tiếp tục tập trung làm công tác kỹ thuật tại căn cứ Sư đoàn 3 Khánh Sơn để chuẩn bị hành quân đường dài. Theo quy định chúng tôi phải tiến hành bảo dưỡng cấp 2 và kiểm tra lại tất cả các cụm máy, chi tiết theo tiêu chuẩn kỹ thuật. Những lúc như thế này chỉ lái xe là vất vả nhất vì phải chủ trì về mặt kỹ thuật, các thành viên khác chỉ hỗ trợ thôi. Tuy nhiên, ngày hôm nay cũng có 2 sự kiện đáng nhớ:
    1- Biên chế xe 380 của tôi có sự thay đổi: Pháo hai Vũ Xuân Trực được điều sang làm pháo thủ xe 381. Thay chỗ Trực là Nguyễn Kim Duyệt từ Đại đội 3 chuyển sang. Chẳng biết khả năng của tay này thế nào song nhác qua thì thấy không thích hợp lắm với vị trí pháo hai.
    Trích "HT đến dinh ĐL":
    "Biết chặng đường hành quân sắp tới dài cả nghìn cây số nên cánh lái xe đại đội Bốn rất lo lắng về tình trạng kỹ thuật của xe. So với những cái T54B mới cứng của tiểu đoàn Hai và hai đại đội trong cùng tiểu đoàn này thì 6 cái T59 đã vào chiến trường từ năm 71 của bọn hắn chỉ đáng là đống sắt vụn. Cái nào cái ấy cóc cáy, mốc thếch bụi đường và khói đạn, cả đại đội không còn một lá chắn bùn nào nguyên vẹn… Vì vậy cả đơn vị tập trung làm thật đầy đủ các nội dung bảo dưỡng cấp Hai theo quy định, ngoài ra còn làm thêm một số nội dung nữa mà họ thấy cần thiết, đặc biệt là đối với hệ thống điều khiển và vận hành. Ở xe 380 còn mệt hơn vì thiếu người, công việc đang ngập đầu ngập cổ thì đại đội lại điều mất pháo hai Trực đi. Cậu ta được điều về xe 381 và “lên chức” pháo thủ, trong khi đó người thay thế chưa thấy tăm hơi đâu. Đã thế Luông lại suốt ngày họp hành, Thọ thì vừa tranh thủ bảo dưỡng vũ khí vừa cơm nước nên chỉ có một mình Trang lúi húi ngoài xe suốt hai ngày nay. Mà sao thời tiết kiểu gì không biết, giữa mùa Xuân lại oi bức đến thế.
    Đang chúi mũi vào buồng truyền động Trang bỗng giật mình vì có tiếng ai đó gõ gõ vào thùng dầu ngoài, chẳng buồn ngẩng mặt lên cậu gắt:
    - Rỗi rãi thì đi chỗ khác chơi! Đang bận tối mắt tối mũi lại còn đến quấy!
    Im lặng một lát thì một giọng nói rất nhẹ nhàng cất lên:
    - Này! Cho tôi hỏi thăm một tý!
    Trang ngẩng bộ mặt nhem nhuốc của mình lên. Trước mắt cậu là một thân hình loẻo khoẻo khoác trên vai cái ba lô lép kẹp, trên vai là một cây đàn ghi- ta cũ đã bong tróc nhiều chỗ, Trang hất hàm:
    - Hỏi gì hỏi nhanh đi!
    - Đây là xe 380 do anh Luông làm trưởng xe phải không?
    - Phải! Có việc gì thế?- Trang hỏi trong khi tay vẫn nhoay nhoáy làm việc.
    - Tôi là Duyệt, được điều về xe này làm pháo hai.
    Trang hơi ngỡ ngàng, pháo hai gì mà người ngợm lại thế kia. Trong mỗi xe tăng thì đó là một trong hai vị trí mà công việc nặng nhọc nhất: cái buồng chiến đấu thì hẹp vanh vanh, mỗi viên đạn nặng hơn ba mươi cân người như thế kia thì làm ăn sao được. Hơi thất vọng về thành viên mới của xe Trang buông thõng:
    - Thế à!
    - Anh Luông có nhà không?- Vẫn cái giọng mềm mỏng ấy.
    - Ông ấy đi họp chi bộ, còn tôi là Trang lái xe. Thôi được rồi! Ông cất ba lô lên xe rồi lau mấy khẩu súng đi.
    Duyệt đặt cái ba lô và cây đàn lên xe, cậu ta nhún mình nhảy lên xe rất nhẹ nhàng, chỉ một loáng sau cậu ta đã lau và lắp đâu vào đấy khẩu 12 ly 7 và hai khẩu đại liên. Trang lại một lần nữa ngỡ ngàng, “tay này cũng được đấy chứ”- cậu nghĩ bụng. Đến bữa trưa thì cả xe đã thân thiện với nhau. Người mới đến là Nguyễn Kim Duyệt, dân Hà Nội gốc, nguyên sinh viên Đại học Nông nghiệp 1".

    2- Sự kiện thứ hai là Tiểu đoàn 4- đơn vị cũ của chúng tôi xuất phát "hành phương nam". Chúng nó đi cũng khí thế lắm, xe nào cũng cắt hai chữ "Thần tốc" dán lên tháp pháo và thành xe. Chúng tôi ra tiễn những người đồng đội đi trước mà không ngờ đó là lần gặp mặt cuối cùng đối với một số người trong đó vì chỉ hơn tuần sau là họ sẽ công phá "Lá chắn thép" Phan Rang- một trận đánh khá là ác liệt.
    # Nguyễn Kim Duyệt sau hy sinh ngày 28.4.1975 tại Nước Trong, Đồng Nai cách Sài Gòn chỉ hơn 40 km. Câu chuyện này tôi đã kể ở đâu đó (VMH hoặc KQH). Sự hy sinh của Duyệt để lại trong tôi bao đau xót và tiếc nuối. Thật bất ngờ Họa sĩ Lê Trí Dũng cũng quen biết Duyệt. Ngày ở QT, Duyệt đã tham gia lớp học vẽ do Dũng dạy. Chính anh đã ký họa chân dung Duyệt và giữ được tấm hình lớp học vẽ - trong đó có Duyệt. Từ tấm hình đó anh đã trích ra được tấm ảnh chân dung của Duyệt (đội mũ tai bèo). Còn tấm ảnh đầu tiên là do một người bạn khác giữ được.









    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  12. Có 4 người thích bài viết này


  13. #20
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    1,600
    Thích
    352
    Đã được thích 1,892 lần trong 1,021 bài viết
    NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 09.4.1975
    Chúng tôi vẫn nằm tại doanh trại Sư đoàn 3 Khánh Sơn và tối mắt tối mũi về các nội dung công tác kỹ thuật để chuẩn bị cho cuộc hành quân nghìn cây số phía trước. Pháo hai Nguyễn Kim Duyệt mặc dù vừa mới về xe song đã nhanh chóng chinh phục được tình cảm của anh em trong xe. Khác hẳn với thằng Trực pháo hai cũ vốn dân Lập Thạch chém to kho mặn, cốt đày bụng là được Duyệt rất chú ý đến cải thiện bữa ăn. Cũng vẫn khẩu phần tiêu chuẩn thế thôi song qua bàn tay chế biến của Duyệt bọn tôi ăn ngon hơn hẳn. Hơn thế nữa, buổi chiều- sau khi cơm xong Duyệt lại ôm cây ghi- ta cũ ngồi vắt vẻo trên tháp pháo bập bùng những bản nhạc trữ tình đày sức mê hoặc lòng người. Những bài Duyệt hay chơi là những bài dân ca Nga nổi tiếng như: Chiều Maxcowva, Cây thùy dương... và một số bản nhạc Việt như Bài ca hy vọng, Ngôi sao ban chiều... Lúc đầu chỉ mấy anh em trong xe ngồi nghe Duyệt đàn, sau thì phần lớn trung đội rồi đại đội đều kéo đến tụ tập ở xe tôi. Tất cả im lặng như bị thôi miên trước tiếng đàn của Duyệt và dường như những mỏi mệt của cả ngày vất vả bỗng chốc tiêu tan.
    Những ngày ở đó sẽ thật tuyệt nếu không có một sự kiện không vui xảy ra- con Gấu đen mất tích. Từ hôm về căn cứ sư đoàn 3 vì đã được ở trong nhà hẳn hoi nên Gấu đen cũng theo chúng tôi vào nhà. Nó cứ nằm ngay cửa ra vào, nếu có người lạ vào cũng không sủa một tiếng nhưng luôn dõi mắt nhìn theo. Có lẽ những ngày chúng tôi bận làm công tác kỹ thuật không có nhiều thời gian đùa nghịch với nó nên nó cũng buồn và tự đi tìm bạn hoặc thù vui nào đó của loài chó mà chúng tôi không biết. Song đi đâu thì đi cứ trước bữa ăn nó lại về. Tuy nhiên, trưa hôm nay đến giờ ăn vẫn không thấy nó về như mọi ngày, bọn tôi trổ hết tài huýt sáo gọi nó- kể cả thằng Trực thổi sáo váng cả tai vẫn không thấy nó về. Tự nhủ chắc nó mải chơi đâu đó nên bọn tôi ăn cơm trước. Ăn cơm xong vẫn không thấy nó xuất hiện. Sang chiều cũng vậy. Chúng tôi đoán có lẽ nó đã bị lính ta bắt mất rồi nên chia nhau đi tìm. Nhưng tìm đâu ra được. Cả một cái doanh trại rộng như thế, quân lính đủ loại đông như quân Nguyên... nên sau khi đi một vòng tất cả thất vọng về không. Dẫu không nuôi nó từ bé mà chỉ nuôi nó có hơn chục ngày song chúng tôi cũng buồn ngơ ngẩn mất mấy ngày.
    Và đây chính là lý do không thể viết cuốn truyện "Bốn chiến sĩ xe tăng VN và một con chó" như đề nghị của Tuan Bim.
    Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành!

  14. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •