CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 1 của 11 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 102

Chủ đề: Bắc Hải Vân xuân 1975

  1. #1
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Bắc Hải Vân xuân 1975

    BẮC HẢI VÂN XUÂN 1975
    KÝ SỰ
    Tác giả: XUÂN THIỀU
    NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN – 1977.
    Số hóa: baogt – khucquanhanh.vn

    I. Kể chuyện từ khu nhà thuộc về người chiến thắng

    Kể lại những điều hiểu biết về chiế dịch Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở Trị Thiên – Huế cho một nhà báo nghe, tôi chợt nhớ cách vài hôm trước đây, có một tin vắn đăng trên báo Nhân Dân. Tin về tên bại tướng Lâm Quang Thi đã xin được chân bồi bàn ở một tiệm rượu bên Mỹ. Tôi khoe cái tin này với các bạn bè trong phòng tác chiến chúng tôi. Lạ thay, không ai bình luận gì cả. Có anh đọc xong đoạn tin, tủm tỉm cười. Có anh ghé mắt nhìn qua một tý rồi dửng dưng làm việc mình. Có anh phũ phàng gạt tờ báo ra, chặc lưỡi coi chuyện Lâm Quang Thi làm bồi bàn là tất nhiên, tin này có gì mà quan tâm. Riêng tôi, tôi lại thấy thú vị. Thoạt tiên tôi bỗng buồn cười cho một kiếp người. Sau đó, tôi để trí tưởng tượng của mình bay đến một thành phố xa lạ, ồn ào với những ngôi nhà cao tầng, những dòng người và xe nườm nượp hối hả. Trong một khách sạn trang trí lòe loẹt, có một anh chàng bồi bàn da vàng trong tiếng nhạc giật cuồng loạn, tiếng dao, dĩa, cốc tách va vào nhau, tiếng cười nói la hét, huýt sáo của những người say:

    - Ê bồi! Thêm một “Mác ten”! Cho nhiều Sô – đa vào!

    - Ê, ông lỏi da vàng! Sâm banh mau lên!

    - Này! Vang trắng còn nữa không?

    - Ê!...

    Hắn quay cuồng, bận rộn, luôn mồm: Thưa ông, thưa cô, thưa ngài… Hắn đang học cách bưng khay làm sao cho đi đứng thật uyển chuyển như múa. Ở Mỹ, người da vàng hầu bàn, không ai ngạc nhiên. Dù sao thì với hình dáng nhỏ bé, tóc đen, mũi tẹt với màu da vàng đục, với cách phát âm tiếng Anh còn cứng, hắn cũng trở nên một thứ lạ mắt. Còn lạ mắt hơn là khi khách hang biết được rằng hắn vốn là tên tướng bại trận ở Việt Nam, một tướng ba sao cơ đấy. Người ta thích gọi hắn hầu bàn, nhất là tụi sỹ quan, lính tráng sống sót ở Việt Nam trở về. Hoặc vì tò mò: để nghe thằng da vàng nói năng ngô nghê cho vui. Hoặc vì muốn hả dạ, để thằng tướng xưa kia biết thế nào là hầu hạ kẻ khác. Hoặc vì thương hại, tội nghiệp anh chàng,v.v. Có điều là hầu như ai cũng gợi chuyện với hắn:

    - Thế nào? Anh là người Việt Nam à? Di tản sang chăng?

    - Thưa ngài, vâng.

    - Hồi ở bên nước, đằng ấy làm nghề gì?

    Hắn chỉ muốn quát vào mặt người đối thoại rằng, mày xỏ lá tao hả, mày coi thường ta hả? Tao đã từng là cấp tướng, gọi một tiếng là hàng trăm thằng như thứ mày chạy đến hầu hạ. Tao đã từng cụng ly thân hữu với các tướng lĩnh cao cấp Hoa Kỳ: Oét-mô-len, A-bra-ham,… Tao đã từng… chợt nhìn cái khay bưng trên tay, hắn sực tỉnh, hiểu ra thân phận mình lúc này. Hắn cười gượng:

    - Dạ, làm nhì nhằng thôi ạ!

    Hắn ỡm ờ đánh trống lảng, có quên quá khứ xấu xa, nhục nhã đi. Nhưng quá khứ chưa xa. Một bước ngoặt cuộc đời xảy ra cách đây sáu bảy tháng sao gọi là xa được? Hắn chưa quên thời kỳ vàng son của hắn – thời kỳ còn là trung tướng Lâm Quang Thi tư lệnh phó quân đoàn 1, quân khu 1, tư lệnh tiền phương vùng bắc Hải Vân – người chỉ huy cao cấp nhất ở Huế. Nói bước ngoặt cuộc đời cũng là thi vị hóa, chứ cái nghề làm tướng của Lâm Quang Thi thực chất cũng chỉ là anh bồi bàn cho thằng Mỹ mà thôi. Những thây kệ cuộc đời hắn. Cuộc đời làm tướng tay sai của hắn có gì mà quan tâm? Sở dĩ đọc xong cái tin kia, tôi thấy thú vị có thể do cá tính của tôi, một thứ cá tính không biết nên khen hay nên chê. Tôi là trợ lý phòng tác chiến quân khu, nhưng anh em hay chê tôi là người mơ mộng. Công việc ở phòng tác chiến là một công việc đòi hỏi tính cụ thể, chuẩn xác, khoa học, vậy mà anh em đùa như thế, nghe ra dễ bị mếch lòng, song tôi cũng biết không ai có ý châm biếm, chế diễu mình. Thú thật, chẳng qua thỉnh thoảng tôi cũng nổi hứng làm đôi bài thơ (thơ tôi là loại thơ vườn đến nỗi gửi sang báo Quân giải phóng Trị Thiên – Huế cũng thường được góp ý chứ ít khi được đăng. May phúc mà được đăng thì hầu như ban biên tập đã phải sửa đến nửa bài rồi). Tôi lại vốn là người đa cảm. Nghe một tiếng chim kêu thống thiết giữa trời hoàng hôn, nhìn những đợt sóng vỗ hoài vào ghềnh đá cam chịu, tôi thấy lòng mình chợt buồn, nỗi buồn của một người cô đơn. Đang đi giữa rừng bỗng thấy phía trước mở ra một thung lũng đầy nắng và hoa mua tím, tôi chỉ muốn reo lên. Cái cảm giác vui vẻ tràn dâng trong người khiến tôi chỉ muốn trở thành trẻ nhỏ, chạy tung tăng giữa nắng, nhắt những cành hoa, đặt lên lỗ hổng nắm tay, dùng tay kia đánh một cái bốp. Cánh hoa nay rách đã có cánh kia lo gì. Mỗi cánh hoa là một tiếng nổ. Tiếng pháo tuổi thơ đấy!

    Đầu óc tôi rất dễ liên tưởng. Đang vẽ bản đồ chiến lệ trận tập kích 235, chợt nhớ tới thằng bạn thân hy sinh trong trận ấy, thế là nước mắt cứ giàn giụa. Ngồi gói thủ pháo với anh em, tôi là người đầu tiên nhắc đến chuyện gói bánh chưng, bánh tét, và lẽ dĩ nhiên chính tôi cũng đâm ra nhớ nhà…
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  2. Có 1 người thích bài viết này


  3. #2
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    Ừ nhỉ! Tôi là người hay liên tưởng. Bởi vậy, đọc xong cái tin vắn về tên tướng bại trân Lâm Quang Thi đã thành anh bồi bàn kia, tôi lẳng lặng rời bàn làm việc, đi ra hành lang lầu hai, tỳ tay vào hành lang, nhìn ra toàn khu Mang Cá, nơi cách đây không lâu còn là sào huyệt của tên bại tướng Lâm Quang Thi. Nói đúng hơn, không phải là sào huyệt của riêng hắn mà của hàng lô hàng lốc tướng tá ngụy khác. Chẳng hạn như tên trung tướng Ngô Quang Trưởng – Tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1 – một thứ người hùng kiểu Mỹ, một tay đại bợm, đầu cơ chính trị và ma mãnh gian ngoan trong mánh khóe đề cao uy tín cá nhân. Với dáng nghề gày gò xấu xí, nét mặt lúc nào cũng lạnh như tiền, hắn rất ít nói; chỉ lúc cần ra quyết định, cần ra lệnh. Hắn không bao giờ nhắc đến cái tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), quê hương hắn với những cù lao Minh, cù lao Bảo với những nếp nhà lợp bằng lá dừa, dù để khoe khoang cái cơ nghiệp đại địa chủ của cha hắn mà hắn đã ăn xài thỏa thê lúc còn trẻ tuổi. Hắn cũng không bao giờ nói ra là bằng cách nào mà hắn cuỗm được vợ một tay đại úy về làm vợ mình. Ấy thế, nhưng hắn vẫn để cho người ta biết hắn còn mang một mảnh đạn trong phổi. Một mảnh đạn của Việt cộng nhức nhối trong người lúc hắn còn là trung úy. Và đáng lý hắn được giải ngũ, thì hắn tình nguyện ở lại quân đội, thề chống cộng suốt đời,và hắn đã ở lại với ba nguyên tắc sổng nổi tiếng bỉ ổi. Một là, bằng mọi giá phải làm vừa lòng cố vấn Mỹ, kể cả cố vấn cấp trên lẫn cố vấn đồng cấp (có lần hắn đã cõng một cố vấn Mỹ bị thương chạy thoát chết, và vì thế hắn lên chức rất nhanh). Hai là, biết, và dám nướng quân, thí quân lúc cần thiết cho một một đích nào đó (tất nhiên là vì mục đích cá nhân). Thí quân không hề thương tiếc, không mảy may động lòng. Ba là, biết hướng về binh lính, mà tìm cách vỗ về, phỉnh nịnh họ, vì họ là những con vật hy sinh. Với nguyên tắc sống tàn bạo và bỉ ối ấy, hắn dám gạt bỏ những ham muốn này để phục vụ cho ham muốn khác. Vì thế hắn đã gây được ấn tượng giật gân cho mọi người xung quanh.

    Ở Đà Nẵng, hắn vẫn thường bay trực thăng ra Huế, đáp xuống cái khu Mang Cá này để kiểm tra, đôn đóc, để ra lệnh, hội họp. Để cho mọi người phải hiểu ra rằng hắn là tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1, người có quyền sinh, quyền sát trong khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi.

    Bà con ở Huế vẫn nhắc đến Ngô Quang Trưởng với mùa hè năm 1972, khi ta tiến công giải phóng Quảng Trị, đuổi địch đến sông Mỹ Chánh. Hồi đó, Ngô Quang Trưởng được phái đến thay Hoàng Xuân Lãm đã bị gọi ra tòa. Tên tướng gian ngoan này đã lớn tiếng trên đài phát thanh Huế tuyên bố tử thủ, quyết tâm bảo vệ cố đô đến giọt máu cuối cùng. Giữa cái thành phố đã rã rời, hoảng loạn, tiếng nói của hắn ít ra cũng vỗ về trấn an được phần nào tụi ngụy quân, ngụy quyền. Tiếc thay, hồi đó ta chưa đủ mạnh để giải phóng được Thừa Thiên – Huế, nên bỗng nhiên lời nói của hắn hóa ra ứng nghiệm. Một số người nhẹ dạ tâng bốc hắn, cả đàn, cả lũ ác ôn đề cao hắn và hắn cũng biết cách đi bách bộ dọc đường Trần Hưng Đạo để đám thanh niên nuôi ria mép nửa say nửa tỉnh trong các quán rượu, quán cà phê đổ ra đường đứng nghiêm chào hắn, hò hét suy tôn hắn là bậc anh hùng.

    Bà con ở Huế nhắc tới năm 1972 để giễu hắn năm 1975 này. Giễu hắn vì “bé cái nhầm”, hắn lại huênh hoang tuyên bố “…dẫu có chết, hắn cũng sẽ sẵn sàng chết trên đường phố Huế”. Buồn cười thay, hôm 25 tháng 3 năm 1975 không có xác chết nào trên đường phố Huế cả, và hắn vẫn sống mạnh khỏe ở Đà Nẵng, chỉ phải uống một ly rượu mạnh, để tự trấn an tinh thần mình.

    Dưới trướng Ngô Quang Trưởng, ngoài Lâm Quang Thi còn nhiều tên khác: Tên thiếu tướng, tư lệnh phó quân đoàn phụ trách các tiểu khu (tức phụ trách bình định) Hoàng Vĩnh Lạc, tên đại tá Tham mưu trưởng quân đoàn 1 Hoàng Mạnh Đán, tên đại tá Hy tham mưu trưởng quân đoàn 1 tiền phương, tên đại tá Duệ tiểu khu trưởng Thừa Thiên, tên chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh, tên chuẩn tướng Bùi Thế Lân và đại tá Nguyễn Thành Trí chánh, phó tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến, tên chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng tư lệnh sư đoàn dù, tên đại tá Dũng, lữ trưởng lữ đoàn 1 thiết kỵ, tên… ồ, nhiều tên khác không thể kể hết. Những tên tướng tá bại trận ấy đã có một thời vênh váo vào ra cái khu Mang Cá này, cái hang ổ đầu não đủ để chỉ huy toàn bộ quân ngụy ở Trị Thiên – Huế mà chúng còn gọi là bắc Hải Vân. Giờ đây, thằng thì đã cao chạy xa bay sang nước ngoài, thằng thì đã vào trại cải tạo của ta, và có thằng đã xanh cỏ. Tôi đã bắt gặp chúng nó trong ngày Bộ tư lệnh quân khu về đóng ở Mang Cá. Chúng phơi mặt ra trên những tấm ảnh vương vãi khắp sàn nhà, cầu thang, hố xí, những chiến sỹ của sư đoàn 325, 324 của trung đoàn 6 đã lôi chúng ra từ những “an –bom” lưu niệm, từ những khung ảnh treo tường, từ những ngăn kéo, ô bàn, ô tủ,v.v; và sau khi chửi thề chửi đổng vài câu đã xé đôi, xé ba, xé tư, ném tung ra để cho những khuôn mặt béo phị đầy hãnh tiến của một thời, tha hồ ngắm đế giày, đế dép cao su của Quân giải phóng. Cùng vương vãi với những khuôn mặt nhớp nháp đó là cờ xí, quần áo rằn ri, kê – pi, bê – rê, mũ đồng; là những huy hiệu tạm nham mang hình chim ưng, trâu điên, hổ vằn, ngựa trắng…, là súng đạn các loại, là giấy tờ tài liệu, báo chí bay tung như bươm bướm mỗi lần gió qua; là chân dung tên bán nước Nguyễn Văn Thiệu bị gạch chéo hoặc bị chọc thủng mắt; là dây thép gai, vỏ đồ hộp mang nhãn hiệu Mỹ, Đài Loan hoặc Nhật Bản.

    Bây giờ, tất cả những thứ rác rưởi ấy đã được thu dọn từ lâu. Khu Mang Cá đã trở thành doanh trại Quân đội nhân dân Việt Nam. Bộ tham mưu chúng tôi làm việc ở đây. Cục chính trị ở kia, và đằng sau chúng tôi là cục Hậu cần, Cục kỹ thuật.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  4. Có 1 người thích bài viết này


  5. #3
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    Lúc này, vừa đầu giờ làm việc buổi sáng, doanh trại trang nghiêm. Các chiến sĩ vệ binh đứng gác, vài chiếc hon –đa tắt máy đi qua cổng. Phía ngoài cầu Kho là áo màu, là xe cộ nổ máy, là cuộc sống bình thường của nhân dân. Tiếng súng đã tắt, vĩnh viễn tắt rồi. Một cuộc sống hòa bình đang mở ra… Bất giác, tôi ngước nhìn lên và bắt gặp lá cờ đỏ sao vàng đang uốn lượn trên cột cờ giữa sân. Cái màu đỏ như có hơi thở ấy đang phập phồng in lên những đám mây màu xà cừ.

    “Đã ba mươi năm…” – Tôi thầm kêu lên. Đã ba mươi năm kể từ ngày tôi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên. Hồi đó, tôi chỉ là chú bé con bận quần xà lỏn chạy đi “coi” người lớn giành chính quyền ở huyện. Bây giờ tôi đã đến bốn mươi, lác đác vài sợi tóc bạc. Ba mươi năm qua, qua hai cuộc kháng chiến ác liệt để hôm nay lá cờ đỏ sao vàng bay lượn trên cột khu Mang Cá như một sự khẳng định chiến thắng. Niềm tự hào trào dân trong lòng, tôi đưa tay lên chấm những giọt nước mắt ứa ra trên mi, chỉ sợ ai trông thấy.

    Với một tâm trạng xúc động như thế, tôi cứ lững thững đi dọc hành lang, xuống cầu thang, đi dọc hành lang tầng dưới – nơi có những bao cát xế chồng lên nhau thành một bức tường bảo vệ. Có thể quyên đi cái hang ổ của tụi ngụy xưa kia, bời vì khu Mang Cá bay giờ gợi lại cho tôi cái cảm giác quen thuộc của khu doanh trại quân đội ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định – những khu doanh trại do Phá xây để lại, cổ lỗ, xấu xí, nhưng được cái chắc chắn, vững chãi. Lại vẫn cờ, khẩu hiệu, ảnh Hồ Chủ tịch trang trí ở các phòng. Lại vẫn những cán bộ bận quân phục “ga-bác-đin” hoặc vải chéo xanh, quân hàm đeo trên vai áo, ngồi làm việc hoặc đi lại bận rộn. Lại vẫn phích nước, ấm chén – và có khi còn có cái ống điếu thuốc lào bằng “duya – ra” máy bay Mỹ - đặt trên bàn uống nước. Lại vẫn những dãy giường cá nhân, chăn màn xếp gọn ghẽ, vuông góc và những chiếc hòm gỗ giản dị vừa là tủ vừa là bàn đêm.

    Cuộc sống của một doanh trại ổn định tạo nên cái không khí quen thuộc. Dấu tích của quân đội chiếm đóng và đội quân đánh thuê còn lại trên những chiếc tủ, chiếc bàn bằng kim loại nặng nề, trên những ghế nhựa có bánh xe, có trục xoay di chuyển tiện lợi, trên những chiếc quạt hai cánh của hãng “Giê-nê-rôn E-léc-tơ-rích” Mỹ to tổ bố, cao lênh khênh đặt ở góc phòng.

    Không- tôi tự đặt cãi mình – dấu tích của chúng còn khá nhiều, rải rác đó đây từ câu viết bậy trên hố xí đến lá cờ sọc dưa dùng làm giẻ lau xe đạp. Nhưng tập trung hơn cả, có lẽ là khu nhà hầm “trung tâm hành quân”. Đây là một thứ nhà hầm hình chữ nhật, khá rộng lớn, đắp nổi bằng nhiều tầng bao cát dày, đạn pháo 130ly không xuyên thủng, có hàng rào thép B40 bao quanh. Nhà “trung tâm hành quân” này bây giờ trở thành một thứ bảo tồn để nghiên cứu, để nhìn vào đó càng tự hào về chiến thắng của ta.

    Một ý nghĩ ham muốn lại chợt đến, mặc dù tôi đã quá quen thuộc với ngôi nhà này, tôi quay về phòng tác chiến mượn cái chìa khóa. Chẳng vì nhà này do phòng tác chiến chúng tôi quản lý. Đấy là nơi chúng tôi chứa mọi tài liệu quân sự của địch và tất nhiên cũng là nơi thuận tiện để chúng tôi cất hon-đa, xe đạp mỗi khi đi phép hoặc đi công tác xa không cần đến. Tính tôi hay hình dung ra như thế: khi mở khóa đánh tách một cái, là tôi hình dung ra tên đại tá Hy đang đứng thẳng người giơ tay lên vành mũ kê-pi chào bọn quan trên Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi,v.v. Hắn đứng chào ngay cạnh hàng lang nơi có dán bảng quy định cho tất cả các sỹ quan đi vào “trung tâm hành quân”. Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ khôi hài: “…Riêng tớ thì được miễn chứ”! Cái hành lang tối lờ mờ bỗng chốc sáng bừng lên khi tôi ấn vào công tắc bên tường. Liên tiếp các buồng khác được sáng đèn. Một mùi mốc vì thiếu hơi người. Những dãy bàn ghế trống không. Vẫn treo nguyên trên tường là các bảng theo dõi, thống kê, quy định nhiệm vụ sỹ quan trực chiến, các loại bản đồ được đánh dấu bằng bút chì màu. Chúng vẫn còn kia chăng? Những tên sĩ quan tham mưu trực tác chiến, tình báo, trực quân, trực pháo binh, công binh, thông tin, sĩ quan trực hải quân, tiếp liệu,v.v. những tên đeo hoa mai trên ve áo, tóc râu đều sức dầu thơm còn ngồi sau những chiếc bàn kia chăng? Thực ra, tôi đã gặp chúng trong các trại cải tạo, đang đánh trần ra chặt gỗ, dựng nhà, hoặc đang im lặng nghe bài giảng vỡ lòng đầu tiên: thế nào là nước Việt Nam, thế nào là đế quốc Mỹ.

    Thực ra trước đó tôi đã gặp chúng giơ tay đầu hàng dọc xuống cảng Tân Mỹ bên cạnh ngổn ngang xác xe tăng, xe giép, xe vận tải các loại – cái thì chổng kềnh dưới ruộng, cái thì bẹp gí, vỡ mặt, cái thì chảy ra màu gỉ đỏ. Thực ra bạn bè tôi đã tóm được chúng trên các nống cát dưới Hà Thanh, Hà Úc, Tư Hiền – những tên ngoan cố nhưng bất lực không thể chạy ra biển trong lúc tàu bè ngoài khơi trúng đạn pháo ta bốc cháy.
    Bây giờ chúng không thể nào còn ở trong ngôi nhà hầm này nữa, mà tôi vẫn tưởng tượng ra chúng.
    Nhưng lạ chưa, chúng trở nên bất động y như người trong cuốn phim dùng thủ thuật nào đó cho dừng hẳn lại. Khuôn mặt thằng nào cũng trở nên cứng đờ như đắp bằng thạch cao. Phải chăng cái ảo giác này là do từ không khí chết lặng của căn phòng mà thời gian dường như đã chấm dứt, đã dừng hẳn theo tở lịch treo tường chỉ rõ ngày 25 -03-1975.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  6. Có 1 người thích bài viết này


  7. #4
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    Tôi đứng trước những tấm bản đồ ở buồng chỉ huy được thiết kế như những cách cửa tủ xếp chồng lên nhau. Tấm bản đồ miền Nam Việt Nam đã được gạch xiên và khoanh viền lại bằng bút chì than ở toàn bộ Tây Nguyên, Tam Kỳ, ở Quảng Ngãi và Quảng Trị - đánh dấu những vùng đất đã mất vào tay quân ta. Đó là lần ghi cuối cùng của tên sĩ quan tham mưu trực chiến, sau đó chắc hắn không còn đầu óc nào mà ghi bản đồ nữa. Hắn lo thu xếp vợ con, gia đình và thu xế lấy cái thân hắn. Nhưng cũng chỉ mới chừng ấy khi nhìn lên bản đồ, cũng đã thấy Huế, Đà Nẵng trơ ra như một cù lao, lọt thỏm giữa những vòng vây thít chặt.

    Tôi lần lượt mở những cánh của tủ khác. Những tấm bản đồ Trị Thiên – Huế mỗi cái có một tác dụng theo dõi riêng cũng lần lượt hiện ra. Hầu như bản đồ nào cũng được ghi chép, đánh dấu vào những ngày đầu của chiến dịch. Sau đó, hoặc vì tự lừa dối để trấn an tinh thần ngay trong bộ tư lệnh tiền phương của chúng, hoặc vì không đủ minh mẫn sáng suốt để làm việc, chúng đành bỏ.

    Giờ đây, trên tấm bản đồ bố trí lực lượng của chúng đã chết lặng tất cả các ký hiệu những đơn vị, những sân bay, hải cảng, những căn cứ, sở chỉ huy chi khu quân sự,v.v. Đã chết lặng tất cả quân binh chủng của đội quân tay sai ngoại bang: bộ binh, pháo binh, dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp, không quân, hải quân, cảnh sát,… Đã chết lặng trên màu xanh bút chì những phiên hiệu quen thuộc: lữ 2 dù, lữ 147, 258, 369 thủy quân lục chiến, trung đoàn 1,3,51,54 thuộc sư 1 bộ binh, liên đoàn biệt động 15, 14, liên đoàn bảo an 913, 914, lữ 1 thiết kỵ, thiết đoàn 20,v.v. Có điều là những điều biểu thị lực lượng của chúng quả là dày đặc, chen chúc trên bản đồ từ Thanh Hội – Long Quang qua Tích Tường – Như Lệ về tây Hải Lăng, tây Phong Điền kéo xuống đường 12, đường 14 vào tận Lăng Cô, Hải Vân. Hãy tưởng tượng xem hơn bốn chục tiểu đoàn với trang bị hiện đại của Mỹ cùng với dăm vạn dân vệ, phòng vệ dân sự, tất cả gồm mười một vạn tay súng đã từng hành hoành trên mảnh đất Trị Thiên bé nhỏ này. Cảm giác của ta trở nên lạnh tanh, rợn người vì sự va chạm của sắt thép; cảm giác của ta trở nên chật chội khó thở vì đi đâu cũng vấp phải thằng người cầm súng. Vùng trời bị rạch nát vì những đường bay của hàng trăm phi vụ, những đường đại bác cháy bỏng không gian. Chen trong tiếng sóng vùng biển, trên các cảng Mỹ Thủy, Thuận An, Tư Hiền là tiếng động cơ của các loại tầu chiến và tiếng nổ đầu nòng của đại bác tầm xa…

    Sức mạnh của chúng hiển nhiên phơi bày ra như thế, vậy mà chi trong vòng hai mươi ngày (từ ngày 5 tháng 3 năm 1975 đến ngày 25 tháng 3 năm 1975) đã tiêu tan. Điều gì đã khiến cho một đạo quân hùng hùng hổ hổ như vậy, bỗng nhiên bị bẹp một cách nhanh chóng?

    Bất giác, tôi lật thêm một cách cửa tủ, và trước mắt tôi là một cái bản đồ ghi chép lực lượng của ta. Những ký hiệu kèm theo mũi tên đỏ từ Trường Sơn thọc xuống, từ phía bắc ép vào. Quả thật, thằng địch hiểu ta không sai mấy: sư đoàn 324, sư đoàn 325 thuộc quân đoàn 2 tấn công từ Mỏ Tầu đến núi Kim Sắc, Lưỡi Cái. Trung đòn 271 ở La Sơn, trung đoàn 6 ở núi Trúc Mao, đèo Sơn Na, trung đoàn 4 và phía sau là trung đoàn 46 ở tây Phong Điền, lữ xe tăng 203 ở A Lưới, tiểu đoàn 3 ở nam Cửa Việt, tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 10 ở tây Hải Lăng, tiểu đoàn 21, tiểu đoàn 5 ở Lăng Cô, Hải Vân,v.v. Tất nhiên chúng có sai một số chi tiết như có chỗ chúng đã đặt cả sư 308, sư 341 vào vùng Gio Linh- Cam Lộ. Đấy lại là chuyện khác, chuyện về công tác nghi binh tài giỏi của ta. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng không làm sao hiểu rõ và ghi chép được biểu hiện đầy đủ về sức mạnh. Sức mạnh của ta đâu chỉ riêng những sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn từ bàn đạp Trường Sơn thọc xuống mà còn hàng vạn nông dân đang làm ruộng, đốn củi, buôn bán, học hành, còn cả những người lính tỉnh táo trong hàng ngũ chúng. Sức mạnh của họ đều là những trái bom hẹn giờ. Sức mạnh đâu chỉ trong khẩu AK cầm tay, trong những viên đạn pháo 130ly, trong những chiếc T54, trong các loại A72, tên lửa… mà sức mạnh còn trong trái tim, khối óc những người làm chủ vũ khí chiến đấu. Sức mạnh không chỉ ở lực mà còn ở thế nữa – cái thế ta giành được phần ưu từng bước và vừa qua đã đến điểm áp đảo địch. Sức mạnh còn là sự tổng hợp của ba thứ quân, sự kết hợp chặt chẽ của ba mũi giáp công, sự nhịp nhàng giữa tiến công và nổi dậy, sự uyển chuyển của đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao,…

    Kẻ địch không làm sao hiểu nổi sức mạnh của ta, nên đã từ bàng hoàng, hoảng hốt đến tan rã nhanh chóng. Tan rã, thất bại hoàn toàn.

    Tôi lần lượt đóng những cánh cửa tủ lại, để cho những tấm bản đồ quân sự của một bộ tư lệnh bại trận nằm yên cùng với tờ lịch trên tường dừng hẳn trong ngày 25 tháng 3 năm 1975. Ngôi nhà “trung tâm hành quân” này trở thành một thứ nhà mồ. Dấu tích của một đạo quân tay sai của đế quốc Mỹ, một đạo quân gần 11 vạn tay súng ở Trị Thiên – Huế này đã chôn vùi trong đó.

    *
    * *
    Ngoài sân, nắng đã lên màu mật ong xua tan cái giá rét mấy hôm nay. Có tiếng cười, tiếng nói vui vẻ ở tam cấp nhà Bộ tham mưu. Tôi thấy đủ mặt các đồng chí trong Bộ tư lệnh quân khu: thiếu tướng Lê Tự Đồng, thiếu tướng Hồ Tú Nam, đại tá Dương Bá Nuôi, đại tá Nguyễn Chi, đại tá Trần Văn Ân… cạnh đò còn có đồng chí thượng tá tham mưu trưởng người đã mất cánh tay phải trong trận Thanh Lam Bồ hồi chống Pháp và suýt mất nốt cánh tay trái trong chiến dịch 1972 ở Quảng Trị. Đồng chí thượng tá cục trưởng cục Chính trị, một cán bộ vui tính mà chúng tôi hay gọi đùa là “nhà thơ mũi mác”. Và một số cán bộ khác nữa. Có lẽ vì nắng ấm và vì câu chuyện trong giờ giải lao quá vui vẻ, nên ai cũng cười nói rất tươi, nét mặt đỏ au. Bây giờ đã xóa hẳn dấu chân của tụi Ngô Quang Trưởng, Lâm Quang Thi, Hoàng Vinh Lạc,,, Trên sân Mang Cá này là những con người đại biểu của chiến thắng. Chợt nhớ tới những ngày Bộ tư lệnh quân khu phải nương nhờ bên đất Mường Noòng bên nước bạn, những ngày về đứng chân trong khu rừng Cao Bồi trên biên giới Việt – Lào. Những ngày mà anh em ở cơ quan Bộ tư lệnh chúng tôi mỗi bữa chỉ được một lạng gạo, chủ yếu sống bằng rau rừng mà vẫn đinh ninh một lời hứa son sắt, một lời thề nhất định có ngày sẽ trở về Huế. Chao ôi, niềm tin của chúng ta thật là mãnh liệt!
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  8. Có 1 người thích bài viết này


  9. #5
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    2. Sự tích niềm tin vào thắng lợi cuối cùng

    Dĩ nhiên, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của chúng ta không phải vô căn cứ. Chúng ta đã thắng từ những năm 1945, 1954, 1968, 1972, 1973,… thắng từng bước, những bước chắc chắn, vững vàng như thế đứng Trường Sơn. Nhưng trước mùa xuân năm 1975, chúng ta vẫn thường tự hỏi, bao giờ thì thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi vĩnh viễn; bao giờ thì ước nguyện cao cả của chúng ta là đất nước được thống nhất mở ra sau đại thắng của cách mạng Việt Nam? Bao giờ đây hở thời gian?

    Không ai tiên đoán trước được ngày 10 tháng 3 năm 1975 ta giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Mê Thuột buộc địch sau đó phải rời bỏ toàn Tây Nguyên. Không ai tiên đoán được ngày 25 tháng 3 năm 1975 nhiều mũi tiến công đã bao vây chia cắt rồi chọc thẳng vào Huế, cắm cờ lên cửa Ngọ Môn. Không ai tiên đoán được chỉ bốn hôm sau ngày 29 tháng 3 năm 1975 chúng ta lại tiêu diệt một đạo quân hàng chục vạn tên ở Đà Nẵng. Lại càng không thể tiên đoán được cái ngày rực rỡ nhất của dân tộc, ngày 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử; lá cờ vinh quang của ta đã phấp phới bay trên dinh “Độc Lập”, sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.

    Còn nhớ buổi chiều nắng nỏ ấy, tôi đang quét dọn vệ sinh ngoài đường, chợt thấy nhiều anh em chạy từ sân vào nhà trong tiếng gọi nhau ý ới: “Sài Gòn giải phóng rồi! Sài Gòn giải phóng rồi!”. Chúng tôi đứng im lặng vòng quanh chiếc đài bán dẫn nghe cô phát thanh viên với giọng xúc động khác thường đọc bản tin chiến thắng. Sau này tôi mới nhớ ra là giữa lúc tiếng vỗ tay hoan hô trong đài cứ vang vang, không hiểu sao anh em chúng tôi ngồi im như tượng. Cho đến khi một người bạn khóc lên vì sung sướng, mọi người mới sực tỉnh và hầu như sai cũng lau nước mắt. Bây giờ là đến không khí hả hê.

    -Trời ơi, tuyệt quá! Thiệt không ngờ!

    Thiệt không ngờ! Đấy là một tiếng reo. Không ngờ sự việc vĩ đại ấy lại xảy ra ngày hôm nay, xảy ra mau lẹ như thế! Thốt lên hai tiếng không ngờ vì cảm giác của ta vẫn còn gắn chặt với những ngày tháng cách đây chưa xa. Những ngày tháng còn chịu bom, chịu pháo trong những khu rừng sũng nước, lầy lội, những ngày phải chôn cất bạn bè, băng bó cho đồng đội. Những ngày chia nhau nửa bánh lương khô, nhường nhau hớp nước trong bi đông để đương đầu với một đội quân tay sai nước ngoài hàng triệu tên. Chao ôi! Chỉ trong một thời gian ngắn như thế ta đã đè bẹp hoàn toàn một đạo quân hàng triệu tên với trang bị hiện đại của Mỹ.

    Thốt lên hai tiếng không ngờ, vì thực ra không ai tiên đoán được cái mốc cụ thể của thời gian xả ra sự kiện lịch sử. Không tiên đoán được nhưng lại rất tin vào ngày thắng lợi hoàn toàn. Dường như ai cũng linh cảm được điều đó đã tới gần, tới mỗi lúc một gần. Tất yếu lịch sử sẽ như thế. Y như dòng sông nào cũng sẽ chảy về biển cả, như trái cây trên cành còn xanh tất một ngày kia sẽ chín… Có thể kể ra hàng trăm, hàng nghìn câu chuyện về niềm tin này. Trong hơn hai mươi lăm năm bộ đội, tôi đã nhiều lần chứng kiến những giây phút cuối cùng của đồng đội hy sinh, nhiều lần tiễn biệt bạn bè đi làm nhiệm vụ và cầm chắc sẽ không trở về. Trong những lời trăng trối, những lời dặn dò thật nhất ấy, tự đáy lòng nhất ấy bao giờ cũng lấp lánh niềm tin tất thắng.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #6
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    Quả thật, niềm tin không chỉ là khái niệm trìu tượng nữa, mà đối với chúng tôi, có khi hầu như quá cụ thể đến nỗi mình có thể nắm bắt được, sờ thấy được. Nó hiện lên trên khuôn mặt từng người khi nổ súng, giữa trận B.52, lúc đói khát, bệnh tật, lọt giữa vòng vây, khi nằm hầm bí mặt dưới mũi thuốn đi xăm của thằng địch… Nó còn hiện lên khuôn mặt từng người trên từng bước thăng trầm của cuộc chiến đấu ròng rã ba mươi năm nay. Ba mươi năm chiến đấu với những kẻ thù hung ác và tàn bạo nhất của loài người tiến bộ. Ôi! Thời gian! Qua bao nhiêu thắng lợi và đau thương, thời gian hằn lên trên trán ta những nếp nhăn của tuổi tác, nhưng đồng thời như một phép nhiệm màu – thời gian ưu ái dành cho ta sự rắn rỏi, chín chắn trong suy tư, củng cố bồi đắp niềm tin cho ta, dành cho ta sự tích lũy cần thiết về ý chí và năng lực để chiến thắng hoàn toàn.

    Lớp người tóc muối tiêu chúng tôi, khi rỗi rãi ngồi uống nước trà tán chuyện với nhau, thường gặp nhau ở một cảm giác chung. Hầu như ai cũng ngạc nhiên không hiểu sao mình còn sống tới ngày hôm nay? Có anh còn nói đùa rằng mình sống như vậy là có lãi. Đấy là một cách nói để so sánh với những người bạn đã hy sinh khi còn trẻ. Dẫu sao, chúng tôi cũng còn thời gian để lập gia đình, sinh con đẻ cái. Con cái chúng tôi đã có đứa trưởng thành. Ở cơ quan quân khu bộ, khối trường hợp hai cha con là đồng chí của nhau. Rõ ràng hai thế hệ, đấy là chưa kể trường hợp cá biệt, ba thế hệ cùng có mặt tại chiến trường. Thế mới biết thời gian để chiến đấu đã quá dài, thời gian đủ để sinh sôi hai hoặc ba lớp người. Lớp người đi trước giàu sức sống, giàu nghĩa tình. Lớp người trẻ tuổi đi sau sung sức và nhạy cảm. Hai lớp người hòa chung tiếng súng chiến đấu, hòa chung lời ca truyền thống cách mạng. Những lúc nằm đu đưa trên dây võng trong rừng, những lúc ngồi quây quần bên ngọn lửa đêm, chúng tôi – lớp người đi trước và lớp người đi sau thường kể về những tên đất, tên người quen biết tâm sự với nhau về vết sẹo trên mình, về những ấn tượng mạnh mẽ cuộc đời chiến sĩ. Tất cả những tâm sự, những nỗi niềm của chúng tôi đều là những kỷ niệm vui buồn gắn chặt với mảnh đất Trị Thiên – Huế thân yêu. Những lúc tâm hồn dễ rung động nhất, dễ nhạy bén nhất ấy, chúng tôi chợt hiểu rằng, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng không phải từ ý muốn chủ quan hoặc từ một sự truyền bá nào. Mà chính từ những kỷ niệm chiến đấu mình tích lũy được đã biến thành ý chí và tình cảm của bản thân. Mỗi người có những kỷ niệm đã trở thành vốn liếng tình cảm riêng, nhưng đồng thời lại có những kỷ niệm chung của cả vùng đất.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  12. Có 1 người thích bài viết này


  13. #7
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    Sau ngày Huế được giái phóng, rất nhiều đồng bào tới thăm bồ đội. Phổ biến nhất là các bà mẹ từ năm mươi tuổi trở lên. Hôm tôi đến công tác ở một đại đội thuộc trung đoàn Phú Xuân cũng gặp một bà mẹ cỡ tuổi như vậy đến thăm. Bà mẹ đã có vài sợi tóc bạc, ăn mặc khá lịch sự, dắt theo một cháu gái cỡ tám tuổi. Bà xưng hô với cán bộ chiến sĩ trong đơn vị bằng con rất tự nhiên, nhưng khi thấy tôi thì bà gọi tôi bằng cậu, xưng chị. Kể cũng phải. Điều đáng chú ý là lúc bà mẹ tặng quà cho đơn vị. Bà lấy trong làn ra một cái khảm bạc và đặt lên trên đó hai tút thuốc lá Cáp – tăng, rồi với một dáng dấp kính cẩn, bà nâng cái khay lên ngang tầm mắt y như người ta dâng rượu lúc cúng tế. Chính trị viên đại đội – một thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi, tỏ ra hết sức lúng túng và ngượng ngùng. Cuối cùng anh ta cũng đỡ lấy cái khay và kêu lên: “Cảm ơn mẹ! Mẹ đừng làm thế”.

    “Đừng làm thế”, nghĩa là đừng dâng một cách kính cẩn như vậy. Riêng tôi, tôi lại hết sức xúc động vì đã bắt gặp lại hình ảnh này trong buổi lễ thành lập chi đội Trần Cao Vân – lực lượng vũ trang đầu tiên của Thừa Thiên – Huế cũng như trong các buổi úy lạo bộ đội Nam tiến. Đi theo các đoàn đại biểu của mặt trận Việt Minh tỉnh và thành phố là các cô gái cỡ hai mươi. Các cô bận áo dài, tay bưng một cái khay, trên đó đặt một lá cờ và một cây kiếm. Sau lời chúc mừng của đại biểu là lễ dâng kiếm, dâng cờ. Các cô gái bước tới, tay nâng cái khay lên ngang tầm mắt. Anh đại biểu Vệ quốc đoàn trịnh trọng đến nhận tặng phẩm tượng trưng cho nhận một lời thề danh dự, thề hy sinh chiến đấu cho tổ quốc. Đấy là chuyện ngày xưa. Nhưng , phải chăng bà mẹ hôm nay là một trong những cô gái đi úy lạo Vệ quốc đoàn ngày xưa. Chắc chắn người mẹ cũng hết sức xúc động vì đã tìm lại được bóng dáng mình hồi con gái. Ngày xưa, đến thăm anh Vệ quốc quân đội mũ ca – lô đeo ngôi sao vàng thêu bằng kim tuyến, vai quàng xiên chiếc chăn đơn. Bây giờ tới thăm anh Giải phóng quân đội mũ tai bèo, khoác ba lô con cóc… Cái gạch nối thời gian ở giữa là ba mươi năm. Ba mươi năm sau, người con gái đã có cháu gọi bằng bà ngoại. Ba mươi năm … Bây giờ tôi có cảm giác như sực tỉnh: thế là mình đã trở về với Huế rồi, trở về thực sự rồi. Tôi đã đứng đây, trong ngôi nhà mà cách đây vài hôm còn là dinh tỉnh trưởng ngụy. Cờ ta đang bay trên cột cờ thành nội bên kia sông. Huế hoàn toàn yên tĩnh: ngoài kia, xe cộ và đủ các hạng người đi lại bình thường. Những nét mặt vui vẻ hân hoan, những nét mặt ngỡ ngàng và cũng có những mái đầu cúi xuống. Dẫu sao, tất cả đều yên tĩnh, đều trở lại bình thường… Các quân đoàn đang đánh sâu vào trong kia. Ba mươi năm… Những anh Vệ quốc quân chúng tôi và những anh chiến sĩ Giải phóng – lớp đàn em chúng tôi đều đã trở về với Huế thân yêu. Ôi, nào phải ba mươi năm nín lặng đâu, mà là ba mươi năm bão táp. Ta đã làm gì để hôm nay nói với Huế rằng, niềm tin tất thắng của ta là chính xác, hỡi những người anh em?

    Ba mươi năm là câu chuyện dài của một đời người. Ba mươi năm chiến đấu càng là câu chuyện quá dài của một vùng đất. Ba mươi năm chiến đấu cho niềm tin có ngày hôm nay thành sự thật là cả một sự tích lạ kỳ…
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  14. Có 1 người thích bài viết này


  15. #8
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết

    Re: Bắc Hải Vân xuân 1975

    * *
    *
    Câu chuyện về những sự tích lạ kỳ của vùng đất Trị Thiên - Huế muốn chép lại phải hàng pho sách, mà kỷ niệm của từng người trong anh em chúng tôi chỉ là những mảnh rời rạc. Thực sự, những mảnh rời rạc của từng người đều gắn chặt với những giai thoại đã thành truyền thuyết của hai cuộc chiến đấu chống Pháp và chống Mỹ trên đất Trị Thiên chúng ta.

    Khi Trị Thiên - Huế đã được hoàn toàn giải phóng, khi chúng tôi đã thực sự về với Huế rồi, tâm trạng của chúng tôi đôi lúc bất chợt xúc động quay về với những nỗi khuôn nguôi của mình: những kỷ niệm vui buồn cuộc đời chiến sĩ, những bước thăng trầm của cuộc cách mạng Trị Thiên - Huế. Những lúc được chút thời gian rỗi rãi, hoặc đi bách bộ trong khu Mang Cá, hoặc ngồi trong quán nước bên bờ sông Hương, hoặc trên đường đạp xe đi công tác xuống các đơn vị, chúng tôi lớp người ngoài bốn mươi thường nhắc tới chuỗi ngày quá khứ. Từ câu chuyện anh em tự vệ đường phố Huế đem rơm trộn ớt đốt nhà Mô - Ranh, hy vọng làm cho giặc Pháp cố thủ ở đấy sặc khói không chịu được phải mò ra, đến chuyện những anh Vệ quốc quân thuộc chi đội Trần Cao Vân chúng tôi dàn ra trên những chiến hào phòng ngự quá sơ sài ở đèo Phước Tượng, Mũi Né với súng trường "Mút - cơ -tông" và mã tấu, để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ từ bờ biển Cảnh Dương lên. Thời kỳ hào hùng và ngây thơ ấy được gợi lại với giọng điệu vui vẻ pha chút châm biếm. Để sau đó câu chuyện của chúng tôi trở lên nghiêm chỉnh khi nói về một thời kỳ tự hào và quật khởi. Đấy là câu chuyện về phong trào "ôm hè" - tay không giết giặc, khởi đầu từ những đội du kích Ba Lăng - Quảng Xuyên, đã nhanh chóng lan khắp nông thôn Bình Trị Thiên. Đấy là những chiến công lẫy lừng ở Thanh Lam Bồ, Dương Hòa, Thanh Hương, Đồng Dương, Ba Dốc, Xuân Bồ,,, và nhất là những đòn tiến công sấm sét trong chiến dịch mùa xuân năm 1954, phối hợp với Điện Biên Phủ. Trong câu chuyện của chúng tôi có cảnh tượng xác lính Pháp trôi đầy sông Dương Hòa, có lửa bom Na - pan ném xuống Kẻ Môn - Đại Lược, có tiếng reo vui khi kéo khẩu pháo 75 ly lấy được của giặc Pháp trong trận Ba Dốc, có những chuyến đò đêm từ Ba Lòng xuống Trấm; có những cuộc hành quân vượt phá Tam Giang. Chuyện gợi lại hồi đánh Pháp của chúng tôi thường không thể bỏ qua những ngày đói cơm, đói muối, chấy rận đầy người; những bộ quân phục bằng vải "xi - ta", những khẩu súng "tuyn", súng "mát". Lại không thể không nhớ tới những đêm lửa trại ở Phong Chương, ở Của; những ngày luyện tập nghỉ ngơi bên vùng biển Mỹ Lợi, Mỹ Á,... Cuối cùng, một người bạn trong số chúng tôi nhắc lại cảm giác của mấy tên Pháp tù binh. Đấy là những cảm giác hốt hoảng sợ hãi thường xuyên ám ảnh đầu óc tụi lính thực dân. Tưởng như trong từng cơn gió Lào cuốn theo cát bụi, có sức mạnh vô hình nào đó có thể lội chúng ra tuốt Thái Bình Dương. Chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao mảnh đất có nhiều cồn cát vàng, cồn cát trắng; có nhiều đầm, nhiều phá, có cố đô yên tĩnh, trầm mặc - cái xứ có nhiều cô gái duyên dáng nghiêng đầu dưới chiếc nón bài thơ, mảnh đất dịu hiền là thế mà không một chỗ đứng ấm chân, một bước đi thanh thản cho đội quân xâm lược nước ngoài.
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  16. Có 1 người thích bài viết này


  17. #9
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    115
    Thích
    1
    Đã được thích 8 lần trong 4 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi baogt Xem bài viết
    * *
    *
    .... Từ câu chuyện anh em tự vệ đường phố Huế đem rơm trộn ớt đốt nhà Mô - Ranh, hy vọng làm cho giặc Pháp cố thủ ở đấy sặc khói không chịu được phải mò ra, đến chuyện những anh Vệ quốc quân thuộc chi đội Trần Cao Vân chúng tôi dàn ra trên những chiến hào phòng ngự quá sơ sài ở đèo Phước Tượng, Mũi Né với súng trường "Mút - cơ -tông" và mã tấu, để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ từ bờ biển Cảnh Dương lên. .
    Gì chứ chuyện này là chuyện có thật từ thời đánh Pháp ở Thừa Thiên Huế.
    Những chiến sỹ đầu đội những thúng than hồng và phía trên đống than là ớt khô vận động áp sát chân tường thành Huế, khói cay bốc lên khiến cho lính Pháp cay mắt không mở nổi mắt ra mà thò súng xuống hào dưới chân thành bắn, những chiến sỹ khác vượt tường thành vào dùng mã tấu, kiếm chém giặc Pháp. Một kiểu chiến tranh "bán trung cổ" hiếm có ở Thế kỷ 20.
    Một chiến sỹ đánh Pháp mà tôi từng biết với những câu chuyện do ông kể lại về ngày đó.

    tuaans's Avatar

    tuaans

     08:47, 25th Aug 2011 #379 

    Ừ, quen thật!

    No Avatar

    ONGBOM-K5

     20:59, 20th Aug 2011 #288 

    ông cụ này nhìn thấy "quen lắm" , hình như cụ ở phía Bắc đèo Hải Vân



  18. #10
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    III. Cuộc chuẩn bị ba mươi năm - cuộc chuẩn bị ba mươi ngày

    Vâng, đang nói về mùa xuân năm 1975. Nhắc tới mùa xuân, ta lại có cảm giác thanh thản nhẹ nhõm, dẫu đang ở trên rừng. Tưởng như ngửi thấy mùi thơm hoa phong lan phảng phất trong tiếng hót ngọt ngào chim khướu, trong tiến róc rách suối chảy. Tưởng như có thể say sưa ngắm những ré nắng xuân xuyên qua đám sương màu lam...

    Thực ra, mùa xuân ở Trị Thiên bao giờ cũng là một mùa xuân ẩm ướt, buồn tẻ. Nếu như ở vùng đất hanh khô, mùa xuân đến mang theo cái không khí hiu hiu mát dịu - các không khí mơ màng của hơi sương, thì ở đây - trời vẫn mưa, một thứ mưa lai rai dai dẳng. Đất đỏ miền tây Quảng Trị dính bết vào dép cao su, còn ở miền tây Thừa Thiên, thứ đất pha lá mục, nom dễ đi nhưng hễ dẫm chân vào là nước đen tứa ra từ các kẽ chân, vừa bẩn vừa ngứa.

    Chiến sĩ Trị Thiên chúng tôi chào đón mùa xuân năm 1975 trên những nẻo đường rừng sũng nước như thế. Chúng tôi đã quen với rừng hàng chục năm nay, hàng hai mươi năm nay hoặc ít ra hàng dăm bảy tháng nay. Có gì mà phải bực bội với mùa xuân đẫm nước ở cánh rừng miền tây Thừa Thiên? Rất giản dị và yêu đời là chiến sĩ. Chúng tôi lọc ra niềm vui qua cái buồn của thời tiết, trong những sinh hoạt bình thường: mùa này, măng đang ngọt. Còn nấm, mối thì có thể bất thần nhú lên ở một đám đất ẩm ướt ngay cạnh ta. Mùa xuân, chuối rừng khoe hoa đỏ chót, hoa lim màu tím rụng vào những hốc đá đầy nước. Mưa, ừ thì có ướt át, nhớp nháp thật đấy, nhưng nếu qua suối rửa ráy tinh tươm, bước lên những bậc dốc lát bằng gỗ chẻ, vào trong nhà rũ áo mưa roàn roạt rồi hơ tay lên bếp lửa thì coi như đã gửi lại cái mưa gió ngoài rừng. Ở đấy, dưới mái lán lợp lá đoác, lá gồi, chiến sĩ ngồi hong tay nghe củi nổ lép bép trong tiếng gió giũ nước mưa đọng trên lá xuống suối, trong tiếng thác đổ xa xa... Để tâm hồn nhẹ nhõm và chợt nhớ về những miền quê xa xôi, về những kỷ niệm tuổi thơ, về những buồn vui đời chiến sĩ. Hoặc nếu thích cuộc sống sôi nổi ồn ào thì hãy lao vào đánh nhưng trận bài "tiến lên" vừa hò hét vừa trêu chọc lẫn nhau. Có thể bị vẽ râu hoặc bẹo tai, bóp mũi gì đó nếu thua cuộc, nhưng không sao, chỉ là đùa vui thôi mà - đời lính bao giờ cũng hướng về niềm vui, hướng về chiến thắng.

    Mùa xuân năm 1975 đến với chiến sĩ Trị Thiên có khác gì ngoài những niềm vui bình dị? Có gì khác năm 1974 và những năm trước kia? Thực ra mối quan tâm trước tiên đối với những chiến sĩ chúng tôi khi mùa xuân đến là điều có liên quan đến sứ mệnh của mình. Năm nay sẽ mở chiến dịch ở đâu? Ước nguyện sâu sa của người cầm súng là tự trả lời mình trước lúc lên đường nhập ngũ.

    Anh chiến sĩ sẵn sàng bên khẩu đại liên trên chốt Long Quang, o du kích nằm trong hầm bí mật giữa trằm Bầu Bông và vùng Phong Hòa, anh bộ đội địa phương gác nơi hòn Rẫm bên kia cửa Tư Hiền, cũng như chúng tôi- những cán bộ lớn tuổi công tác ở cơ quan quân khu - đều nghĩ về mùa xuân năm 1975 như hướng về ước mơ của mình. Chúng tôi nghe thời gian đi trong tiếng tắc kè điểm giờ, trong tiếng gà gọi sáng, trong bóc tờ lịch hàng ngày. Còn nghe thời gian khi nhìn mái tóc lốm đốm bạc của đồng chí chỉ huy, khi bất chợt tính với nhau rằng, thế là bác Hồ đã đi xa được sáu năm. Sáu năm không có thơ mừng xuân của Bác, nhưng dường như lúc nào lời di chúc của Bác cũng văng vẳng bên tai: "... Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta vẫn quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn...". Giữa ngày xuân, chiến sĩ chúng tôi chợt băn khoăn vì chưa thực hiện được trọn vẹn lời di chúc của Bác. Thưa Bác, thế là một mùa xuân nữa lại đến. Mùa xuân năm 1975. Bất giác vẫn thấy Bác đi trước hàng quân, cổ vũ chúng tôi, vẫy gọi chúng tôi. Tâm tư và ước ao của chúng tôi vẫn hướng về một trận thắng lớn. Chúng tôi nghe ngóng, phán đoán, thăm dò. Trí tưởng tượng của người lính chúng tôi tha hồ bay bổng, tha hồ tính toán về chiến dịch sắp tới.

    * *
    *
    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  19. Có 1 người thích bài viết này


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •