CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 6 của 8 Đầu tiênĐầu tiên ... 45678 CuốiCuối
Kết quả 51 đến 60 của 71

Chủ đề: Hình ảnh một số vũ khí-trang thiết bị của QĐND Việt Nam

  1. #51
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Khám phá uy lực lưới lửa phòng không trên tàu chiến Việt Nam



    Các vũ khí phòng không trên tàu chiến Việt Nam trước đây có khả năng đánh mục tiêu bay cao khoảng 10km và ở cự ly 15km trở lại, nhưng nay đang được nâng dần lên...
    Tàu chiến Việt Nam được trang bị hỏa lực pháo phòng không - tên lửa bảo vệ tàu tiêu diệt mọi mục tiêu trên không (máy bay, tên lửa hành trình chống tàu) ở độ cao và cự ly từ 10km trở lại.
    Hệ thống pháo phòng không cao tốc Ak-630 trang bị trên các loại tàu chiến mới của Hải quân Việt Nam như: khinh hạm Gepard 3.9; tàu hộ tống tên lửa 1241RE, 1241.8, BSP-500; tàu pháo Svetlyak và TT400TP. Ak-630 được thiết kế chủ yếu để đánh chặn tên lửa hành trình chống tàu hoặc vũ khí chính xác cao. Dù vậy, nó cũng rất hiệu quả khi tấn công máy bay cánh bằng, trực thăng. Ảnh: QĐND
    Hệ thống pháo Ak-630 gồm các thành phần: pháo 6 nòng cỡ 30mm, hệ thống radar điều khiển hỏa lực MR-123-02 và tổ hợp ngắm bắn quang - điện SP-521. Trong đó, pháo 6 nòng cỡ 30mm có tốc độ bắn 4.000 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 4.000m, tầm bắn tối đa 8.100m. Trong ảnh là pháo Ak-630 khai hỏa tấn công mục tiêu (ảnh minh họa nước ngoài).
    Hệ thống pháo-tên lửa phòng không tự động Palma-SU trang bị trên khinh hạm Gepard 3.9 (HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ). Palma-SU thiết kế để tiêu diệt máy bay, tên lửa hành trình chống tàu, tàu cỡ nhỏ. Trong ảnh là tổ hợp Palma-SU lắp trên khinh hạm tên lửa Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam.
    Hệ thống Palma-SU thiết kế với 2 pháo 6 nòng cỡ 30mm AO-18KD và 8 tên lửa Sosna-R cho phép tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 200-8.000m, độ cao 3.500m.
    Pháo phòng không tự động AK-230 trang bị trên tàu cao tốc tên lửa Osa II, tàu phóng lôi lớp Shershen của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trong ảnh là tháp pháo AK-230 lắp trên tàu tên lửa Osa II.
    Pháo AK-230 lắp 2 nòng pháo cỡ 30mm cho phép tấn công tiêu diệt mục tiêu trên không ở cự ly 2.500-4.000m, tốc độ bắn 1.000 phát/phút.
    Pháo phòng không AK-725 trang bị trên tàu phóng lôi lớp Tuyra dùng để tiêu diệt các mục tiêu trên không (không hiệu quả khi chống tên lửa hành trình) hoặc khi cần có thể dùng để bắn phá mục tiêu trên biển. AK-725 thiết kế với 2 nòng pháo 57mm có tầm bắn 8.420m, tốc độ bắn 200 phát/phút.
    Pháo phòng không AK-726 (góc trái ảnh) trang bị trên các tàu hộ tống săn ngầm lớp Petya II/III. Pháo được trang bị 2 nòng cỡ 76,2mm có tầm bắn 15.700m, độ cao 11.000m. bắn kính sát thương mục tiêu máy bay 8m. Phía góc phải ảnh là các tháp pháo phòng không 37mm 2 nòng, thường được trang bị trên một số tàu pháo kiểu cũ của Việt Nam.
    Pháo phòng không 2 nòng 25mm trang bị trên tàu phóng lôi lớp Shershen có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 2.400-2.800m, độ cao 1.700m, tốc độ bắn 450 phát/phút.
    Pháo phòng không 2 nòng 25mm và 2 nòng 37mm trang bị trên các tàu pháo kiểu cũ của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
    Nhiều tàu chiến của Việt Nam, kể cả các tàu hiện đại đều được trang bị bổ sung thêm súng máy phòng không tầm thấp 14,5mm.
    Theo Kiến thức

  2. #52
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết

  3. #53
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết

  4. #54
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Uy lực chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam

    Cùng với tàu ngầm Kilo 636, chiến đấu cơ Su30MK2 và tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont của hệ thống Bastion-P, Gepard 3.9 sẽ giúp quân đội Việt Nam có được năng lực tiến công trên không, dưới nước và trên mặt nước.
    Cập cảng Cam Ranh ngày 5/3/2011 và được biên chế vào lực lượng hải quân Việt Nam ngay sau đó, chiến hạm "Đinh Tiên Hoàng” lớp Projekt 11661E Gepard 3.9 do nhà máy đóng tàu A.M Gorky ở Zelenodolsk của Nga đóng theo hợp đồng đã ký kết với Hải quân Việt Nam cuối năm 2006.


    Phía Nga và Việt Nam đã ký hợp đồng trị giá 350 triệu USD, đóng 2 chiến hạm lớp Gepard 3.9 của Viện thiết kế ZPKB ở Zelenodolsk. Đây là chiến hạm đầu tiên được khởi đóng tháng 7/2007. Theo đánh giá của ông Renat Mistakhov, Giám đốc công ty A.M Gorky, Gepard 3.9 đã thể hiện tính năng chiến - kỹ thuật cao trong suốt quá trình thử nghiệm trên biển Baltic.
    Tàu hộ vệ tên lửa Đinh Tiên Hoàng mang số hiệu HQ-011. Ảnh: Trọng Thiết.
    Cùng với tàu Lý Thái Tổ tiếp nhận sau Đinh Tiên Hoàng, đây là lần đầu tiên Hải quân Việt Nam sở hữu những tàu chiến mặt nước có lượng giãn nước trên 2.000 tấn. Nhờ đó, Hải quân Việt Nam đã "tạm biệt" thời đại hoạt động ven bờ, chuyển sang giai đoạn hoạt động ở khu vực biển gần.
    Gepard 3.9 sử dụng hệ thống chỉ huy, kiểm soát Sigma-E loại mới nhất của Nga, nên những tàu này đã nhất thể hóa được việc kiểm soát hệ thống hỏa lực. Ngoài ra, nhờ được trang bị hệ thống trinh sát, gây nhiễu điện tử thế hệ mới MP-407E nên Gepard 3.9 sẽ giúp Hải quân Việt Nam nâng cao đáng kể năng lực tác chiến điện tử.
    Cùng với tàu ngầm Kilo 636, máy bay chiến đấu đa năng Su30MK2 và tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont của hệ thống Bastion-P (có tầm bắn 300 km, đặt trên bờ), Gepard 3.9 sẽ giúp quân đội Việt Nam chính thức có được năng lực tiến công đa năng 3 trong 1 (trên không, dưới nước và trên mặt nước) ở khu vực biển gần, đặc biệt là việc nâng cao đáng kể khả năng chống ngầm.

    Với sự phối hợp tác chiến đa chiều, Việt Nam cũng cơ bản hình thành được năng lực phòng thủ biển gần tương đối hiệu quả. Năng lực kiểm soát và tấn công của Hải quân Việt Nam sẽ mở rộng, cho phép thực hiện chiến lược chống tiếp cận có chiều sâu.
    Hai tàu hộ vệ tên lửa hiện đại nhất Việt Nam trên quân cảng Cam Ranh: Ảnh: Nguyễn Nam Anh.
    Những năm đầu của thập niên 1980, lực lượng hải quân Nga yêu cầu thế hệ tầu tuần biển mới phục vụ cho nhiệm vụ quản lý biển và khu vực bờ biển. Đấy cũng là yêu cầu làm thay đổi thiết kế mẫu tầu tuần biển tên lửa frigate Nheustrasim dự án 11540 trong việc ra quyết định cuối cùng để giải quyết các nhiệm vụ trên biển, với mô hình tầu khu trục biển nhằm thay thế cho các tầu khu trục nhẹ dự án 1135 (Burevetnhik). Đồng thời, Trung tâm thiết kế tầu tại nước cộng hòa Tatarstan đã thiết kế loại tầu tuần biển nhỏ hơn mang tên lửa, đó là Dự án 11660 Gepard. Nhà thiết kế chính là Iu.A. Nhicol, sau đó là V.N.Kaskin nhằm thiết kế tầu tuần biển có khả năng chống ngầm và đánh chặn tầu nổi theo dự án 1124.
    Yêu cầu của Hải quân Liên bang và hạm đội là lắp đặt trên tầu một đài quét sonar công suất lớn, có khả năng thực hiện nhiệm vụ chống ngầm hiệu quả, đồng thời tăng lượng giãn nước của tầu lên đến hơn 2000 tấn bằng việc tăng các khoang chống thấm nước trên thân tầu. Thời điểm đó xuất hiện một dự án cạnh tranh là dự án 12441 của "Trung tâm thiết kế tầu biển Almaz” với các tên lửa chống tầu mạnh và khả năng mang theo máy bay trực thăng tuần biển và cứu hộ. Cuối năm 1988 Almaz đưa ra dự án tầu SKP 11660, nhưng được một thời gian, chương trình đóng loại tầu này đã khép lại do lý do tài chính.
    Kết quả, Trung tâm thiết kế tầu PKB Zeliondonsk đã thiết kế một số mẫu nâng cấp tầu tuần biển tên lửa, trong đó có những mẫu dành cho xuất khẩu - dự án 1166.1 Gepard. Trên cơ sở các thiết kế đã có trung tâm PKB tiến hành xây dựng mẫu tầu Gerpad 3.9 tại nhà máy đóng tầu Zeliondonsk mang tên Gorki. Chiếc tầu đầu tiên của họ Gepard được bắt đầu năm 1993 và năm 1995 tầu đã sẵn sàng đưa vào thử nghiệm, nhưng vì lý do tài chính, quá trình đóng tầu bị tạm dừng đến 1996. Năm 2001 tầu họ Gepard mang tên Tatarstan được biên chế vào hạm đội và trở thành tầu chỉ huy của hải đội biển Caspian, chiếc tầu thứ 2 của dự án 1166.1 Dagestan được hạ thủy năm 2007. Giai đoạn này, 2 chiếc tầu tiếp theo của mẫu tầu tuần biển Gepard 3.9 được đóng theo đơn đặt hàng của Hải quân Việt Nam từ 2009 đến 2011.
    Mô hình tàu Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam.
    Tàu tàng hình đa nhiệm

    Tầu tuần biển loại Gepard 3.9 lớp Tatarstan dự án 11661 được thiết kế thực hiện các nhiệm vụ chống tầu ngầm, tầu nổi và các mục tiêu trên không của địch khi thực hiện các nhiệm vụ hộ tống các tầu chiến, tầu vận tải, các đoàn tầu cơ động, tiến hành các nhiệm vụ cảnh giới biển, bảo vệ hải giới và thềm lục địa, bảo vệ các khu vực kinh tế biển và bảo vệ các khu vực biển gần. Vũ khí trang bị và phương tiện kỹ thuật của tầu cho phép thực hiện các nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao nhất. Đồng thời, các thiết kế kỹ thuật phải cho phép tầu có khả năng nâng cấp và cải tiến trên cơ sở thân tầu.
    Thiết kế của tầu được thực hiện với các mặt phẳng truyền thống với 12 khoang không thấm nước, khả năng tầu vẫn hoạt động tốt nếu có 3 khoang bị trúng đạn tách rời nhau, các thiết kế trên boong tầu được chế tạo từ vật liệu tổng hợp nhôm ma-gie có khả năng hấp thụ đến tối thiểu mức phản xạ hiệu dụng của sóng radar (công nghệ stealth) tầu được lắp động cơ nguồn diezen và 2 động cơ gas tuốc bin 2 trục cho công suất lên đến 29.000 mã lực. Hệ thống động lực kiểu CODOG bao gồm động cơ diezen loại 61D (8000 mã lực) đảm bảo cho tầu chạy ở tốc độ hành trình 18 hải lý/giờ, 2 động cơ tuốc bin khí gas có thể đẩy vận tốc tối đa của tầu lên đến 28 hải lý/giờ. Có 3 máy phát điện diezen 600 kWh cho mỗi máy phát.
    Để tăng cường khả năng cơ động và tác chiến độc lập của tầu trên biển, các nhà thiết kế đã tăng cường khả năng hải trình của tầu từ 9 ngày (không phải bổ sung nhiên liêu và cơ sở vật chất) lên đến 20 ngày và tầm hoạt động (với tốc độ hải trình 18 hải lý/giờ) từ 2500 hải lý lên 3500 hải lý. Tầu được trang bị hệ thống tên lửa chống tầu thế hệ mới nhất XЗ5 3M24 Uran, tăng cường khả năng tác chiến của tầu so với các loại tầu tuần biển khác. Hệ thống sonar MGK-335EM-03 có góc quét 260 độ, phát hiện được tàu ngầm ở bán kính 10 - 12 km, thủy lôi ở cự ly 2 km và 2 thiết bị phóng ngư lôi cỡ nòng 533 mm.
    Thông số kỹ thuật của tàu Gepard 3.9

    Lượng giãn nước đầy tải: 2.100 tấn;
    Kích thước ngoài (dài x rộng x mớn nước): 102,2 x 13,1 x 5,3m;
    Tốc độ tối đa: 28 hải lý/h,
    tốc độ hành trình: 18 hải lý/giờ;
    Tầm hoạt động ở tốc độ hải trình tuần biển: 5.000 hải lý;
    Dự trữ nhiên liệu hoạt động: 20 ngày;
    Sử dụng vũ khí không hạn chế trong điều kiện biển động tới cấp 5;
    Động cơ chính: 2x11.000 hp;
    Thủy thủ đoàn: 103 người với 16 vị trí dự trữ dành cho hải quân đặc nhiệm.
    Theo GDQP-AN

  5. #55
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết

  6. #56
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Tên lửa Scud Việt Nam uy lực thế nào?

    TPO - Tổ hợp tên lửa đất đối đất cấp chiến dịch-chiến thuật 9K72 "Elbrus" (Scud–B) được thiết kế để tiêu diệt binh lực, sở chỉ huy, sân bay và các mục tiêu quan trọng, công trình quân sự khác của đối phương.
    Hiện nay trong khu vực Đông Nam Á, duy nhất có Việt Nam sở hữu tên lửa đạn đạo Scud. Một số nguồn tin cho biết Việt Nam sở hữu tên lửa Scud-B. Tuy nhiên, theo tài liệu Cán cân Quân sự năm 2012, của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) đã liệt kê mục “SSM Scud-B/Scud-C (báo cáo)” ở phần tên lửa Việt Nam.
    Báo QĐND cho biết Việt Nam đã thành công trong việc sản xuất một trong những thành phần quan trọng trong nhiên liệu lỏng sử dụng cho tên lửa Scud. Theo một số nguồn tin không chính thức, với sự giúp đỡ của chuyên gia nước ngoài, Việt Nam cũng đã cải tiến, nâng cấp tầm bắn tên lửa Scud lên từ 550-700 km và luôn duy trì tốt các đơn vị tên lửa này trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

    Tên lửa Scud Việt Nam triển khai ngoài thao trường.
    Một đơn vị tên lửa Scud của Việt Nam.
    Tổ hợp tên lửa Scud - B (9K72) được phát triển trong giai đoạn những năm 1958-1961 trong SCB-385 (Kỹ sư trưởng – V.P. Makeev) với một số Phòng thiết kế thử nghiệm (OKB) và các viện nghiên cứu (NII). Các nhà phát triển của các hệ thống chính của tổ hợp tên lửa đã được chỉ định gồm:
    NII-592 - hệ thống điều khiển trên thân xe (kỹ sư thiết kế chính – Semikhatov. N.A); OKB-3 – động cơ đẩy giai đoạn đầu của tên lửa bay thử nghiệm (kỹ sư thiết kế chính – D.D. Sevruk, kỹ sư chủ nhiệm thiết kế - NI Leontiev); OKB-5 - động cơ đẩy giai đoạn thứ hai của chuyến bay thử nghiệm (Kỹ sư trưởng – A.M. Isaev, kỹ sư chủ nhiệm thiết kế - N. Malyshev);
    NII-944 – bộ phận con quay hồi chuyển (thiết kế chính - V. Kuznetsov);
    NII-6 – khối nổ phá và các thiết bị, đầu đạn thông thường trong đầu tên lửa; NII-1011 MSM – khối nổ đặc biệt và thiết bị tự động hóa điện tử (chủ nhiệm khoa học - Khariton, kỹ sư thiết kế chính - S.G.Kocharyants); GSKB – hệ thống các thiết bị mặt đất (kỹ sư thiết kế chính – V.P.Petrov, chủ nhiệm thiết kế Vanin. S.S); 784 nhà máy Kiev SNX - các thiết bị kính ngắm ( kỹ sư thiết kế trưởng Parnyakov.S.P); OKBT nhà máy Kirov Leningrad – Thiết bị khởi động trên xe khung gầm bánh xích ( kỹ sư thiết kế chính – Z.Y .Kotin);
    CDB TM – Hệ thống khởi động phóng trên xe khung gầm bánh hơi ( kỹ sư thiết kế chính - N.A.Krivoshein).
    Vào thời điểm này quân đội Liên Xô đã sử dụng tên lửa 8K11 trên thiết bị phóng 8U218 và khi phát triển tên lửa 8K14 các nhà thiết kế tập trung vào việc sử dụng các thiết bị-bệ phóng trên mặt đất, được thiết kế cho tên lửa 8K11. Phương pháp sử dụng bệ phóng trên mặt đất này tiết kiệm đáng kể thời gian và tiền bạc cần thiết để xây dựng một phương tiện phóng tên lửa hoàn toàn mới (tên lửa 8K14 được phát triển chỉ trong 3 năm và 5 tháng). Tổ hợp 9K72 với tên lửa 8K14 trên bệ phóng 2P19 (sử dụng thân xe ISU-152K) đã được giới thiệu với Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết.
    Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô đã được thông qua ngày 24/3/1962 đã quyết định đưa vào biên chế trong lực lượng vũ trang Liên Xô. Khung gầm và thân xe bánh hơi không chịu đựng được tải trọng quá lớn của bệ phóng và tên lửa – điều kiện cần và đủ là phải gia cố và tăng cường khung chịu lực. Sau này đã tiến hành hoàn thiệt bệ phóng 9P117 trên thân xe bốn cầu "MAZ-543A" và được thông qua bởi Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô № 75-26 ngày 27.1.1967. Sau đó các bệ phóng 2P19 được thay thế bằng 9P117, nhưng sự thay đổi này đã không được thực hiện trên toàn bộ Lực lương Lục quân. Vào cuối những năm 1980-xx bệ phóng tên lửa 2P19 vẫn còn phục vụ trong các lữ đoàn tên lửa ở Kandalaksha và Caucasus, nơi xe bánh xích phù hợp hơn với địa hình.

    Trong những năm dài phục vụ, tổ hợp tên lửa liên tục nâng cấp. Tên lửa nâng cấp 8K14-1 (P-17M) được thay thế bằng các tên lửa 8K14 (R-17) và không khác biệt về các tính năng kỹ chiến thuật. Các tên lửa trên chỉ khác nhau ở khả năng mang các đầu đạn khác nhau. 8K14-1 có thể mang đầu đạn nặng hơn hình dạng khí động học khác có thể được lắp đặt các bình ắc quy (tên lửa các thế hệ sau - đầu đạn hạt nhân với các bình khí nén). Đồng thời cũng không có những khác biệt về bệ phóng đạn. Bệ phóng 2P19 và 9P117 (mọi phiên bản) hệ thống điều khiển thiết bị phóng hoàn toàn giống nhau, có thể hoán đổi cho nhau.
    Trong những năm 80 Trung tâm nghiên cứu khoa học tự động hóa và thủy lực (SIIG về tự động hóa và thủy lực) đã tiến hành nghiên cứu phát triển thiết kế thử nghiệm(R & D) chế tạo đầu đạn có thể tháo rời với hệ thống tự dẫn quang-điện tử cho R-17. Đã phát triển thuật toán phần mềm và phần mềm,các thiết bị hệ thống tự dẫn quang điện tử, hệ thống điều khiển thiết bị của đầu đạn trên tên lửa on-board, các trang thiết bị mặt đất xử lý hình ảnh mẫu chuẩn mục tiêu và các thiết bị nạp thông tin nhiệm vụ vào máy tính đường đạn ở phần đầu đạn của tên lửa. Tên lửa nâng cấp được phóng thử nghiệm trong năm 1984. Hệ thống mới được gọi là "aerophones" nhưng các lần phóng thử nghiệmcho thấy kết quả phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết tại khu vực địa hình phóng tên lửa và khu vực mục tiêu, chính vì vậy mà tổ hợp tên lửa nâng cấp không được đưa vào biên chế.
    Tổ hợp tên lửa được xuất khẩu rộng rãi sang các nước Hiệp ước Warsaw, Iran, Iraq, Libya, Syria, Yemen, Việt Nam và những nước khác. Theo Ủy ban Bộ trưởng Quốc phòng của khối Hiệp ước Warsaw trên 1989/01/30 tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw đã được biên chế 661 tổ hợp tên lửa R-17.
    9K72 hiện nay là lỗi thời, cồng kềnh, nhưng đủ độ tin cậy và vẫn còn trong biên chế, khai thác và sử dụng , mặc dù sản xuất tên lửa và các trang thiết bị, phụ tùng đã được dừng vào trong cuối thập niên 80.
    Khối quân sự NATO đã đặt tên hiệu của tổ hợp là "Scud"-B.
    Cấu tạo hệ thống tên lửa Scud Elbrus

    1- Tấm chắn luồng nhiệt bệ phóng.
    2- Bệ phóng 9N117.
    3- Chân đế ổn định xe bệ phóng tên lửa.
    4- Bảng điều khiển hệ thống chân đế ổn định và phóng đạn.
    5- Bình chữa cháy.
    6- Bảng điều khiển nâng/hạ bệ phóng.
    7- Hộp đựng dụng cụ.
    8- Chỗ ngồi cho trắc thủ trong buồng điều khiển.
    9- Buồng điều khiển công tác chuẩn bị phóng.
    10- Lưới lọc quạt thông gió.
    11- Chỗ ngồi của kíp trắc thủ tên lửa.
    12- Bình khí nén khởi động động cơ xe bệ phóng.
    13- Bậc thang lên buồng lái.
    14- Vị trí của lái xe.
    15- Đèn pha.
    16- Khoang động cơ.
    17- Phần trên của khung nâng đạn.
    18- Cửa hút không khí động cơ.
    19- An ten đài vô tuyến điện.
    20- Khoang kíp xe và đài vô tuyến điện.
    21- Ngoàm khóa giữ đạn của khung nâng - đang mở.
    22- Khung nâng đạn - đã hạ.
    23- Buồng điều khiển bơm.
    24- Thùng chứa chất ô xi hoá.
    25- Thùng chứa nhiên liệu.
    26- Khoang thiết bị hệ thống điều khiển số 1.
    27- Lượng thuốc nổ đầu đạn tên lửa.
    28- Đầu đạn 8F44F.
    29- Thiết bị kích nổ va chạm
    30- Bộ phận kích nổ đáy
    31- Khoang thiết bị hệ thống điều khiển số 2
    32- đường ống bọc cáp.
    33- Đường ống dẫn nhiên liệu xuống động cơ.
    34- Đường ống dẫn chất ô xi hoá.
    35- Máy nén tuốc bin tăng áp của động cơ
    36- Động cơ 9D21
    37- Khí nén dùng khởi động hệ thống nhiên liệu

    Bệ phóng đạn tên lửa nhìn từ phía sau.
    Biên chế của tổ hợp tên lửa 9K72 bao gồm:
    Các tên lửa 8K14
    Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ, trên tên lửa có thể lắp các loại đầu đạn khác nhau như:
    8F44, 8F44G1, đạn 269A trong vỏ đầu đạn 8F14, 3N8, đạn RA17 trong vỏ đầu đạn 9N33, RA104 trong vỏ đạn 9N33-1, RA104-1 trong vỏ đầu đạn 9N33, RA104-2 trong vỏ đầu đạn 9N33-1B.
    Phương tiện, trang thiết bị nâng hạ vận tải:
    2T3 (2T3M, 2T3M1) - xe vận tải đạn đường bộ.
    9F21MA (9F21MU) 2U662D (2U662DU) 2U662M (2U662MU) 9F223 – xe trở và lưu giữ, bảo quản tên lửa, vào những năm 80-x đã thay thế bằng xe vận tải đặc biệt loại 8M257U1, NG2V1, NG22V1 (được phát triển từ các xe vận tải đặc biệt siêu trường, siêu trọng)
    ZIL-157 (ZIL-131, Ural-4320) – xe vận tải được thiết kế để vận chuyển các tên lửa đã được lắp đặt đầy đủ trong container 9103-0.
    8T22, 9T31M (9T31M1) - xe cẩu đặc chủng (có thể sử dụng xe KS2573)
    9T37 – tổ hợp thiết bị cẩu
    9T55A – tổ hợp thiết bị giá vận chuyển tên lửa.
    Xe tiếp nhiên liệu với các thiết bị cấp nhiên liệu tên lửa:
    2G1U (2G1), 9G29 (9G29M) – Xe cấp nhiên liệu với thiết bị cấp nhiên liệu tự động hóa (dầu- xăng)
    8G17M1, 9G30 – Xe cấp nhiên liệu với thiết bị tự động hóa bơm oxy hóa (có thể sử dụng ASC-4-255B)
    8T311 (8T311M) – Xe được trang bị thiết bị vệ sinh-trung hòa chất o xi hóa khử.
    8G33U, UKS-400V - trạm nén khí hoàn chỉnh với thiết bị đồng hồ đo chỉ số độ ẩm 8SH31
    Thiết bị kiểm tra và thử nghiệm:
    2V11 (2V11M1) – xe máy thử nghiệm mặt phẳng ngang (IGI)
    9V41 (9V41M) – Xe máy thử nghiệm khả năng công tác của tổ hợp(MAI)
    8N01 (8N01M) – Xe máy phát điện bằng dầu diesen, có thể thay thế bằng trạm nguồn ESB-12-VS400 (máy phát điện diesel ESD-10)
    Thiết bị bệ phóng tên lửa:
    9P117 (9P117-1 9P117M, 9P117M1, 9P117M1-1 9P117M1-3) – Xe bánh hơi và trang thiết bị phóng đạn với thiết bị quang học ngắm và đo góc 8SH18.
    2P19 (2P19-1) - Xe bánh xích và trang thiết bị phóng đạn với thiết bị quang học ngắm và đo góc 8SH18.
    Các xe trang thiết bị phụ kiện và hỗ trợ hậu cần, kỹ thuật:
    2SCH1 (2SCH1M2) – xe mang thiết bị, phụ tùng và cơ sở vật chất thay thế.
    2T5 – thiết bị xe đẩy chứa tên lửa
    8G27 (8G27U, 8G27K) – máy sấy không khí
    8YU11 (8YU11U) - lều bạt có thiết bị sưởi
    8YU44 (8YU44M) - phòng thí nghiệm hóa học cơ động
    9V292 – Thiết bị máy "điều khiển" (Hoặc máy Polina)
    9T114 - Xe đẩy để vận tải hàng không(các đầu đạn tên lửa trong thùng tiêu chuẩn).

    9P117M xe vận tải và bệ phóng (phương tiện mang tênlửa “xe tên lửa”) được phát triển dựa khung gầm thân xe bốn cầu MAZ-543. động cơ diesel D12A-525 Mười hai xi lang làm mát bằng chất lỏng (nước hoặc chất lỏng chống đông) với công suất đầu ra 525 mã lực ..tốc độ quay là 2000 vòng/phút cho phép vận chuyển trang thiết bị phóng tên lửa và một tên lửa dày đã nạp đủ nhiên liệu và lắp đầu đạn sẵn sàng chiến đấu, di chuyển với tốc độ 15km / h trên đường đất và 45 km / h trên đường nhựa. Động cơ được đặt ở khoang trước của xe tên lửa.
    Ở hai bên của đầu xe là hai cabin ghế kép, được chế tạo bằng nhựa polyester gia cố bằng sợi thủy tinh. Chỗ ngồi trong cabin được đặt song song. Các bánh xe tên lửa đều là bánh chủ động, với một hệ thống điều chỉnh áp suất không khí trong lốp xe. Cặp bánh đầu tiên và thứ hai của xe là bánh lái. Tất cả các bánh xe có hệ thống treo giảm xóc độc lập.

    Tính năng kĩ chiến thuật của khung thân xe 9P117M:
    Trọng lượng:
    -- Bao gồm cả tên lửa đã nạp nhiên liệu: 37.400 kg
    -- Không có tên lửa 30.600 kg

    Kích thước chung
    - Chiều dài thân xe: 13.360 mm
    - Chiều rộng thân xe: 3.020 mm
    - Chiều cao khi cơ động: 3.330 mm
    - Chiều cao trong trạng thái chiến đấu : 13.670 mm
    - Phù hợp toa xe vận tải đường sắt:
    -- Theo tiêu chuẩn đường sắt Liên Xô : Toa xe cỡ 1V
    -- Theo tiêu chuẩn đường sắt phương Tây: Toa xe cỡ 02-T
    - Trọng tâm ngang theo trục dọc thân xe:
    -- Từ mặt đất : 1.720 mm
    -- Từ điểm xa nhất: 6.400 mm
    - Chế độ lái: lái bán tự động có trợ lực tay lái.
    Trang thiết bị thông tin liên lạc:
    -- với bên ngoài : đài vô tuyến điện R-123
    -- nội bộ : thiết bị đàm thoại nội bộ R-124
    - Động cơ diesel 12 xi lanh: D12A-525A
    - Công suất với tốc độ vòng quay trung bình 2.100 vòng/phút : 525 mã lực
    Xe có sat xi 8 cầu 8 bánh với hệ thống giảm xóc treo độc lập, hai cầu trước là cầu lái. Bánh xe có chế độ bơm hơi tự động.
    Khung xe cơ bản dài - 7700 mm
    Khoảng sáng gầm xe - 440 mm
    Khổ rộng thân xe - 2375 mm
    Tốc độ cơ động với tên lửa chưa nạp nhiên liệu và chưa lắp đầu đạn:
    - đến 60 km/h trên đường nhựa, đoạn đường hành quân đến 2000 km.
    - đến 40 km/h trên đường đất, đoạn đường hành quân 500 km.
    Tốc độ cơ động với tên lửa chưa nạp nhiên liệu và đã lắp đầu đạn: 10 km/h trên khoảng cách đến 15 km nhẹ nhàng.
    Tốc độ hành quân với tên lửa đã nạp nhiên liệu, có đầu đạn và không có đầu đạn 60 km/h đường nhựa, 40 km/h đường đất trên đoạn đường hành quân 2000 km.
    Dự trữ hành trình - 650 km (đường nhựa), 500 km (đường đất)
    Bán kính vòng xe - 13.5 m
    Vượt hào chướng ngại vật rộng: 2,5 m
    Thời gian nâng giá đỡ tên lửa không có đạn - 2.0-3.5 phút
    Thời gian nâng tên lửa vào vị trí phóng - 2.25-3.5 phút
    Thời gian hạ giá phóng tên lửa không đạn - 3.0-4.4 phút
    Thời gian hạ tên lửa về vị trí cơ động hành quân - 3.0-4.0 phút
    Góc phóng mặt phẳng ngang +80 độ.
    Tên lửa 8K14

    Đuôi đạn tên lửa.
    Thân tên lửa.
    Tên lửa 8K14 - là tên lửa đạn đạo với động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng (LRE), hệ thống điều khiển đạo hàng quán tính tự định hướng, hệ thống tự hủy đầu đạn khi có sự cố và các đầu đạn không thể tháo rời trên quỹ đạo bay. Động cơ nhiên liệu lỏng (LRE) đẩy tên lửa bay với tầm bắn tối đa là 300 km (bán kính tối thiểu - 50 km). Tầm bắn hiệu quả là - 275 km. Dự trữ nhiên liệu của động cơ-100s. Hệ thống điều khiển tên lửa 8K14 được thiết kế để chuẩn bị khởi động động cơ tên lửa, phóng tên lửa và điều khiển đường bay của tên lửa.
    Hệ thống tự hủy tên lửa trên đường bay(APR) được thiết kế để phá hủy đầu đạn trong không khí trong trường hợp tên lửa không bay đúng quỹ đạo điều khiển. Tầm cao tối đa của quỹ đạo của tên lửa - 86 km, tối thiểu - 24 km. Thời gian bay - từ 165s đến 313s. Hệ thống điều khiển tên lửa duy trì độ lệch trung bình theo hình trụ tròn xoay có chiều dài từ 180 đến 610m và chiều rộng từ 100 đến 350m. Bộ phận điều khiển đường bay tên lửa là các vòi khí động lực, đặt ở miệng ống phụt của vòi phun.

    Động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng.
    Hệ thống con quay hồi chuyển hướng thẳng đứng.
    Tên lửa được nạp nhiên liệu:
    AK-27 Chất oxy hóa "Melange" (trọng lượng - 2919 kg, mật độ - 1,596-1,613),
    Axit nitric đậm đặc - 69,8-70,2%
    đinitơ tetroxide N2O4- 24 - 28%
    Nước - 1,3-2%
    Muối nhôm - không quá 0.01%
    I-ốt - 0,12-0,16% (chất ức chế)
    Nhiên liệu chính TM-185 (trọng lượng - 822 kg)
    Polimerdistillyat - 56 + 1,5%
    Dầu nhẹ nhiệt phân - 40 + -1.0% (tăng mật độ và tăng cường khả năng chống oxy hóa bởi oxy)
    Trikrizol - 4 + -0.5% (chất chống đông ở nhiệt độ thấp)
    Nhiên liệu phóng TG-02 "Samin" (trọng lượng - 30 kg, mật độ 0,835-0,855)
    Xylidines đồng phân - 50 + -2%
    Triethylamine công nghiệp (Samin)- 50 + -2%
    Nước - 0,4%
    Khí nén (tính theo trọng lượng - 15 kg).
    Tên lửa 8K14 được trang bị đầu đạn hạt nhân 9N33 (PA-17), 9N33-1 (PA-104, PA-104-1, RA-104-2) hoặc 8F14 (269A) đương lượng nổ lên đến 10 kT (đạn loại RDS-4), đầu đạn 8F44 nổ phá , đầu đạn hóa học 8F44G1 (khối lượng khí gas V-555kg). Trọng lượng đầu đạn nặng - 987kg.
    Đầu đạn (MS) được gắn với thân tên lửa bằng 16 bu lông với đệm vênh khóa chống thôi ốc. Để đảm bảo kết nối chính xác giữa đầu đạn với thân tên lửa có hai vấu định vị. Khi hai mặt bích khới nối với nhau, khe hở được bịt kín lại và niêm phong bằng băng polyethylene với một lớp keo dính GOST 20.477-75. Để cung cấp nguồn điện với đầu đạn của tên lửa là các giắc cắp kết nối GSHR1, GSHR2, SH5A và 03. Thông qua các giắc kết nối GSHR1 và GSHR2 hệ thống thiết bị kiểm soát đầu đạn kết nối hệ thống mạch điều khiển tên lửa (thông qua giao diện hệ thống mạch điều khiển với đầu đạn tên lửa phần cứng).
    Mạng kết nối mạch điều khiển các thiết bị đầu đạn với mạch điện hệ thống điều khiển tên lửa được thiết kế để kiểm tra tình trạng ban đầu của đầu đạn trước khi phóng, kiểm tra mạch điện khởi động đầu đạn và mở khóa an toàn cấp độ 1 trong khi tên lửa bay. Sơ đồ hệ thống mạch điện điều khiển với đầu đạn tên lửa đối với tất cả đầu đạn là như nhau. Trong khi kiểm tra kỹ thuật tên lửa tại trạm kỹ thuật tiến hành việc kiểm tra hoạt động thông mạch khi kết nối với tương đương với mạng điện đầu đạn, trên bệ phóng – kiểm tra thông mạnh và hoạt động của mạng điện đầu đạn.

    Hệ thống mạng điện đầu đạn tên lửa thực hiện các nội hàm sau:
    Kiểm soát hoạt động của khóa an toàn cấp độ ;
    Kiểm soát hoạt động của khóa an toàn cấp độ 2;
    Tự động phục hội trạng thái của khóa an toàn cấp độ 1 trong trường hợp khóa an toàn đã khởi động;
    Kiểm tra thông mạch mạng điện đầu đạn bằng thiết bị kiểm đo mô phỏng tương đương trong khu kỹ thuật tên lửa;
    Tiến hành các thử nghiệm hệ thống điều khiển tên lửa khi đã lắp đầu đạn tên lửa vào tên lửa và tên lửa đang nằm trên vị trí chuẩn bị phóng đạn;
    Mở khóa an toàn cấp độ 1 trên quỹ đạo bay của tên lửa khi tên lửa tắt động cơ đẩy.
    Mạng điện của đầu đạn được thông mạch và chuẩn bị sau khi tên lửa rời khỏi bệ phóng trên xe tên lửa. 4 giây sau khi thiết bị 1SB12 ra lệnh tắt động cơ phản lực, phát lệnh tháo gỡ khóa an toàn cấp độ 1. Thông qua giắc cắm SH5A hệ thống APR của tên lửa kết nối với các thành phần của hệ thống APR trong các bộ phận của đầu đạn, đồng thời thông mạch mạng điện chuẩn bị mở khóa an toàn cấp độ 2. Khóa an toàn cấp độ 2 được mở khi tên lửa từ độ cao 5000 m hạ thấp đến độ cao 3000 m. Thông qua qua 03 ống cáp nối từ giắc cắm OSHO nối từ phần đuôi của tên lửa với mạng điện của hệ thống sấy đạn hạt nhân bên trong đầu đạn.
    Đầu đạn tên lửa 8K14 có thể được trang bị tùy chọn các đầu đạn được kích hoạt từ xa hoặc đầu đạn đã kích hoạt sẵn sàng chiến đấu. Ban đầu tên lửa 8K14 được thiết kế để được sử dụng với nhiều loại đầu đạn với thuốc nổ thông thường 8F44 (nổ phá), hoặc đầu đạn hạt nhân 8F14 (269A) với đạn uranium RDS-4 đương lượng nổ 10 kt. Khi xuất hiện vấn đề về khả năng tên lửa 8K14 mang đầu đạn hóa học, xuất hiện, tên lửa không thể lắp được đầu đạn hóa học, bởi vì đầu đạn cần có một nguồn năng lượng đủ để lưu giữ dài ngày chất nổ hóa học (ví dụ: pin ống). Cũng có vấn đề với việc lắp bình khí gas chiến đấu với gas –chất độc hóa học không vừa với kích thước của đầu đạn. Thiết kế đầu đạn hóa học 3N8 có khối lượng nặng hơn (1016 kg) và có cấu hình form khác (đầu đạn dưới cỡ tên lửa, nhưng dài hơn). Để sử dụng đầu đạn hóa học loại này đã phát triển thiết kế tên lửa loại 8K14-1.
    Với đầu đạn nặng và dài hơn, các nhà thiết kế đã thay thế khung kết nối nhôm đã sử dụng khung kết nối thép, nguồn điện sử dụng cho đầu đạn hóa học đã được lấy từ các bình điện ống của xe bệ phóng tên lửa và bình acquy của hệ thống SAPR của tên lửa – đưa đường ống không khi áp suất thấp khoang thiết bị và mặt bích kết nối của thân tên lửa với đầu đạn. Sau này ,đã thay thế đầu đạn 3N8 bằng các đầu đạn MS 8F44G, có kích thước và trọng lượng tương đương đầu đạn nổ thương. Các đầu đạn hóa học được nâng cấp và hiện đại hóa lấy mã tên là 8F44G1. Thiết bị điều khiển đầu đạn hóa học cho phép lựa chọn chiều cao để kíc hoạt thuốc hóa học.
    Thay thế cho đầu đạn hạt nhân 8F14 là đầu đạn hạt nhân 9N33 với đạn hạt nhân RA-17 (thuốc nổ plutonium nổ nén). Hiện đại hóa và nâng cấp đầu đạn hạt nhân 9N33-1 với các đương lượng nổ khác nhau (RA104 – đương lượng nổ hạt nhân 50 kt, RA104-1 – đương lượng nổ hạt nhân 100 kiloton, RA104-2 – đạn nhiệt hạch). Tất cả các đầu đạn hạt nhân đều được trang bị hệ thống sấy nóng đạn hạt nhân và kiểm soát nhiệt độ từ xa hiệu quả. Thiết bị điều khiển các đầu đạn hạt nhân cho phép tiển hành các vụ nổ khác nhau: trên đất, trên không hoặc trên không độ cao thấp. 8F44 đầu đạn thuốc nổ thông thường sẽ kích nổ khi chạm mặt đất.
    Trong biên chế của lữ đoàn tên lửa, biên chế các tổ hợp 9K72 Scud, các phân đội trong biên chế có khẩu đội khí tượng. Theo kết quả tổng hợp từ khí cầu dự báo thời tiết "Meteo-44", được sử dụng để tính toán phần tử bắn. Nếu các tiểu đoàn tên lửa hoạt động cô lập cách xa các lực lượng chủ lực (do khoảng cách quá xa, tiểu đoàn không thể sử dụng kết quả hệ thống "Meteo-44"), có thể sử dụng kết quả "Meteo-11" – thông tin khí tượng của pháo binh, thu được từ các đơn vị pháo gần nhất, với những thông số tính toán của "Meteo-11 " có thể đưa vào tính trong" Meteo-44 ". Dự báo Meteo-44 bao gồm: ngày và thời gian đo, chiều cao trạm khí tượng đang hoạt động trên mực nước biển, áp suất và nhiệt độ tại trạm thời tiết, nhiệt độ, hướng gió và tốc độ gió ở độ cao 24 km và 34 km, nhiệt độ ở độ độ cao 44 km, 54 km và 64 km.
    Các tính toán cơ sở cho phóng tên lửa bao gồm:
    Tọa độ của xe phóng tên lửa (tọa độ X, Y, và chiều cao so với mực nước biển);
    Tọa độ của mục tiêu (tọa độ X, Y, và chiều cao so với mực nước biển), (trong các tính toán sử dụng đầy đủ tọa độ x,y (kinh độ, vĩ độ, sau đó chỉ cần xem xét ảnh hưởng của vĩ độ và hướng phóng tên lửa so với trục quay của Trái Đất trên tầm xa của tên lửa).
    Tầm cao của vụ nổ(hạt nhân);
    Độ lệch của trọng lượng so với chuẩn khi lắp ráp tên lửa;
    Độ lệch của trọng lượng so với chuẩn khi lắp đầu đạn;
    Nhiệt độ của nhiên liệu, (nạp nhiên liệu được tính theo khối lượng – trọng lương ,trọng lượng nhiên liệu nạp vào tên lửa phụ thuộc vào nhiệt độ của các thành phần nhiên liệu – Thông số kỹ thuật tất cả các thành phần của tên lửa được tính ở nhiệt độ 15 ° C)
    Bảng khí tượng Meteo -44.
    Các phần tử được tính toán : A - góc phương vị với mục tiêu; N – khoảng cách đến mục tiêu; n – điều kiện để kích hoạt hủy tên lửa khẩn cấp.
    Đối với các tính toán phần tử bắn cho phóng tên lửa. Tiểu đoàn tên lửa sử dụng máy tính đường đạn 9V51B , các tính toán tương tự có thể được thực hiện thủ công có sử dụng bảng tính TR-550 và sử dụng một bảng tra cứu thông số sửa bắn PR-14 bằng đồ thị. Máy tính đường đạn 9V51B thiết kế cho 9K72, bây giờ đã lỗi thời và không đáp ứng yêu cầu hiện đại về độ tin cậy và tốc độ. Ngoài ra máy tính này rất cồng kềnh - nó chiếm một không gian rất lớn trong xe chỉ huy của tiểu đoàn 9S436-1. Để theo dõi kết quả của tên lửa, trong tiểu đoàn sử dụng hai chiếc xe chỉ huy 9S436-1, các thông số tính toán được thực hiện đồng thời trên hai máy tính 9V51B. Hiện nay, để thực hiện các phép tính phần tử bắn, có sử dụng các máy tính đường đạn, gọn và hiện đại hơn gấp nhiều lần.

    Xác định tọa độ phóng và hưởng phóng.
    Sơ đồ xác định điểm ngắm phóng.
    Tính toán phần tử bắn (ngắm – phóng) tên lửa 8К14 bao gồm nội dung nạp các thông số về tầm xa và hướng phóng đạn vào avtomat điều khiển bay trên tên lửa, có nghĩa là khớp mặt phẳng thẳng đứng của quỹ đạo đường đạn với mặt phẳng nằm ngang và hướng phóng đạn đến mục tiêu. Tính toán phần tử bắn và điều chỉnh bắn tên lửa được tiến hành triển khai ngay trên bệ phòng của xe tên lửa, bằng phương pháp quay bệ phóng đạn, góc quay được xác định bằng tổ hợp thiết bị ngắm – phóng 8S18, các thiết bị này nằm trong biên chế các trang thiết bị của xe tên lửa 2P19 và 9P117.
    Đặc trưng (ngắm – phóng) của tên lửa 8К14 Scud là: tên lửa được đưa lên mặt phẳng phóng đạn thẳng đứng, vuông góc với mặt phẳng của bệ phóng, thông thường mặt phẳng phóng đạn trùng với mặt phẳng của 2 cánh ổn định số 1 và số 3. Tính toán độ lệch của tên lửa khi bay được thực hiện bởi thiết bị đo góc, bố trí ở khoảng giữa cánh ổn định số 2 và số 3.
    Khi phóng đạn, tên lửa 8K14 được đưa vào tư thế phóng thẳng đứng bằng giá nâng vận tải mũi tên và ,tên lửa được gắn chặt vào bệ phóng bằng các bu lông chống gió đấy, giá nâng vận tải mũi tên được hạ xuống vị trí khi cơ động. Sau khi tên lửa đã ở vị trí thẳng đứng, kíp pháo thủ thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
    Kiểm tra hoạt động tổng thể hệ thống quản lý chung với mô phỏng khởi động động cơ đẩy bằng thiết bị 1SB12; Khởi động toàn bộ hệ thống chương trình vào trạng thái sẵn sàng khởi động; Chuẩn bị hệ thống APR cho phóng đạn; Thiết lấp chế độ kích nổ của đầu đạn; Nạp thông số tầm bắn vào hệ thống điều khiển tầm bắn tự động; Định hướng tên lửa về phía mục tiêu và kiểm tra định hướng (theo thiết bị IN-12/8K14); Nạp nhiên liệu phóng tên lửa vào tên lửa; Mở khóa 9V362M1; Kích hoạt các bình ăc quy trong tên lửa; Mở các bu lông gió của tên lửa;
    Phóng tên lửa.
    Điều khiển các đòn tấn công bằng tên lửa và duy trì thông tin liên lạc với chỉ huy cấp cao hơn được hỗ trợ bởi các phương tiện thông tin liên lạc trên sóng VHF và UHF, trên xe chỉ huy của tiểu đoàn với đài thông tin R-142, và các đài thông tin khác tại các khẩu đội tên lửa. Gần đây, quản lý điều hành tác chiến của tiểu đoàn tên lửa được thực hiện bằng hệ thống điều hành tác chiến tự động ACS "Pled" bằng phương pháp truyền dữ liệu thông qua đài thông tin truyền thông chuyển tiếp R-412 bằng mật mã dịch tự động.
    Trong lực lượng lục quân Liên bang Xô Viết, hệ thống tên lửa quân đội Liên Xô sử dụng tên lửa 9K72 nằm trong biên chế cấp lữ đoàn (RBR) của các quân đoàn bộ binh và các tập đoàn quân. Cơ cấu biên chế cơ bản của lữ đoàn tên lửa (RBR) 9K72 "Elbrus" như sau:

    Sở chỉ huy lữ đoàn và ban tham mưu RBG
    Ba tiểu đoàn tên lửa (ORDN)
    Khẩu đội điều hành tác chiến
    Khẩu đội khí tượng
    Khẩu đội bảo dưỡng tên lửa định kỳ và sửa chữa nhỏ (RDB)
    Đại đội công binh công trình,
    Trung đội phòng hóa,
    Trung đội xe vận tải,
    Trung đội hậu cần,
    Trung đội y tế .
    Mỗi một tiểu đoàn tên lửa có từ 4 – 6 tên lửa sẵn sàng phóng đợt 1.
    Ngoài các đơn vị tên lửa, còn có các đơn vị hậu cần kỹ thuật cơ động, có nhiệm vụ cung cấp và đảm bảo đạn tên lửa cho đợt phóng đạn tiếp theo, duy trì và bảo quản các đầu đạn tên lửa hạt nhân, hóa học.
    Video mô phỏng hoạt động chiến đấu của tên lửa

    Тính năng kỹ chiến thuật tên lửa
    Tầm bắn , km 50-300
    Trọng lượng cất cánh, kg 5862
    Khối lượng tên lửa chưa nạp nhiên liệu, kg 2076
    Chiều dài tên lửa, mm 11164
    Đường kính tên lửa, mm 880
    Sải cánh ổn định, mm 1810
    Trọng lượng xe tên lửa 9P117 với tên lửa, Tấn 37
    Dự trữ hành trình không bổ xung nhiêu liệu, km 500
    Kíp trắc thủ tên lửa 9P117, người 8
    Thử nghiệm và khai thác sử dụng
    Khi tiến hành các hoạt động tác chiến tại Afghanistan, tiểu đoàn 9K72 đã tiến hành hàng nghìn lượt phóng đạn thành công. Trong địa hình vùng núi, để thu được hiệu quả tác chiến cao nhất, tiểu đoàn đã nhiều lần phóng đạn sử dụng thuốc nổ thường 8K14 ở tầm bắn gần nhất. Khi tên lửa ngắt động cơ, trong các thùng nhiên liệu có khoảng 1 tấn rưỡi nhiên liệu phóng và không dưới 2 tấn ô xi hóa, hiệu quả của vụ nổ và gây cháy của tên lửa còn cao hơn gấp nhiều lần so với hiệu quả vụ nổ của thuốc nổ phá thông thường. Tên lửa 9K72 "Elbrus" (Scud –B) được biên chế trong lực lượng vũ trang nhiều nước và đã tham gia nhiều cuộc chiến tranh khu vực.
    Vào năm 1973 các đơn vị tên lửa Ai cập đã phóng tên lửa 8K14 vào các mục tiêu của Israel trên bán đảo Sinai.
    Iraq trên cơ sở của tên lửa 8k14 đx phát triển các tên lửa "El Hussein" và "El Abbas” giảm sức công phá của đầu đạn bằng cách giảm khối lượng thuốc nổ xuống còn 250 kg đầu đạn và 500 kg đầu đạn, đồng thời tối ưu hóa chế độ làm việc của động cơ. Tên lửa có thể có tầm bắn từ 550 km và 850 km, nhưng với tầm bắn xa như vậy, độ chính xác của tên lửa giảm rất thấp. Vào năm 1980-1988 trong cuộc chiến tranh Iran – Iraq, cả hai nước đã tiến hành những đòn tấn công tên lửa và các thành phố của nhau.
    Trong chiến dịch “Bão táp sa mạc”, Iraq cũng đã nhiều lần sử dụng tên lửa chống lại quân đội Mỹ và tấn công các mục tiêu ở Kuwait, Israel và Saudi Arabia. Ngay trong cuộc chiến tranh này, các lực lượng tên lửa phòng không hiện đại cũng không thể đánh chặn được loại tên lửa R-17 đã quá lạc hậu.
    Trịnh Thái Bằng

  7. #57
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết
    Súng diệt tăng khét tiếng trên chiến trường Việt Nam



    TPO - Súng SPG-9 là hỏa khí của lực lượng bộ binh, có nhiệm vụ tiêu diệt các phương tiện chiến tranh như xe tăng, xe thiết giáp, các ổ hỏa lực mạnh, vũ khí hạng nặng, xe cơ giới, các công trình quân sự.
    Súng chống tăng SPG-9 là loại pháo không giật cỡ nòng 73mm do Liên Xô chế tạo và được đưa vào phục vụ năm 1962 thay thế cho loại súng không giật 82mm B-10.
    Quân đội Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ sử dụng súng SPG-9 hiệu quả trong việc tiêu diệt các phương tiện cơ giới, tăng thiết giáp, phá hủy các công sự cố thủ, ngoài ra SPG-9 thực hiện nhiệm vụ yểm trợ bộ binh như 1 loại hỏa khí đi cùng bắn thẳng. Hiện súng vẫn nằm trong biên chế chính thức của lực lượng bộ binh và bộ binh cơ giới Việt Nam.
    Súng phóng lựu chống tăng không giật SPG-9


    Phân đội hỏa lực QĐND Việt Nam xạ kích bằng súng phóng lựu SPG-9.

    Súng phóng lựu chống tăng SPG-9 được biên chế vào quân đội Liên bang Xô Viết những năm 1960x, có mặt trong tất cả các lược lượng vũ trang của khối Hiệp ước Quân sự Vacsava và quân đội các nước anh em, trong đó có Quân đội Nhân dân Việt Nam (СПГ — chữ viết tắt của súng chống tăng có giá giữ súng) số hiệu 9 là mã số sản xuất của súng chống tăng tại nhà máy.
    Súng SPG-9 là hỏa khí đi cùng của lực lượng bộ binh, có nhiệm vụ tiêu diệt các phương tiện chiến trang như xe tăng, xe thiết giáp, các ổ hỏa lực mạnh của địch, các phương tiện chiến tranh như vũ khí hạng nặng, xe cơ giới, các công trình quân sự. Do đặc điểm của vũ khí trang bị cho tổ hỏa lực, vũ khí có khả năng mang vác và cơ động rất cao, đồng thời hỏa lực có thể tăng cường rất mạnh nhờ khả năng cải tiến không hạn chế của các loại đạn.

    1- Tay cầm mang vác súng; 2- Nòng súng; 3- Kính ngắm; 4- Nguồn điện của cò điện; 5 Buồng đốt; 6- Tay cầm mở khóa nòng; 7- Bộ phận khóa nòng; 8- Chốt bản lề bộ phận khóa nòng; 9- Loa phụt phản lực; 10- Tay hãm; 11- Tay quay hướng; 12- Ốp bọc nòng súng chống nóng; 13- Bản lề khóa nòng; 14- tay quay tầm; 15- Giá đỡ thân súng; 16- Tay hãm giá súng và càng chân súng; 17- càng chân súng trước; 18 càng chân súng phía sau..
    SPG-9 là hỏa khí bắn phát một, không giật, là tổ hợp vũ khí đạn phản lực không giật. Hiện tượng không giật của súng được hình thành từ cấu tạo khóa nòng mở, dưới dạng ống phụt, cho phép một phần khí thuốc phụt lại phía sau, ngược hướng với đường bay của đạn.

    Súng SPG trên giá bánh xe.
    Giá súng SPG 3 chân.
    Kính ngắm trên súng SPG.
    Ống kính ngắm ngày - đêm cải tiến của súng.
    Súng SPG-9 bao gồm có nòng súng với khóa nòng mở, giá giữ súng 3 chân, thiết bị điện để khai hỏa và thiết bị ngắm bắn.
    Nòng súng của SPG là súng nòng trơn không có rãnh xoắn, được lắp đặt tay cầm để kéo súng khi cơ động, đầu ngắm cơ khí, bộ gá khung thước ngắm và thanh trượt, bộ phận bọc nòng súng, tránh cho xạ thủ không bị bỏng khi bắn, bộ phận cơ khí để tháo đuôi ống phóng sau khi bắn, các bộ phận của thiết bị điện kích nổ liều phóng. Nòng súng được kết nối với bộ phận khóa nòng dưới dạng loa phụt và tay khóa bệ khóa nòng, cho phép mở khóa nòng nạp đạn và đóng khóa nòng.
    Giá giữ đỡ súng 3 chân có bộ phận điều chỉnh vị trí các chân súng, cho phép thay đổi đường ngắm bắn từ 390 đến 700mm. Trên giá đỡ súng có bộ phận quay tầm và hướng. Để lấy đường ngắm cho súng phóng lựu không giật sử dụng kính ngắm và thước ngắm quang học PRO-9 với độ phân giải lên đến 4x với trường nhìn là 10e, bộ phận kính ngắm được lắp trên giá thước ngắm trên nòng súng.
    Khai hỏa đạn phóng lựu súng SPG-9 được thực hiện bởi bộ phận cò - kim hỏa điện cơ, nguồn phát điện, khóa an toàn và bộ phận cò nằm ở bộ khung gá súng. Đồng thời, ở bộ phận cò kim hỏa còn có bộ phận chống nổ sớm, khi chưa đóng hết khóa nòng.
    Để xạ kích từ súng phóng lựu RPG-9 sử dụng loại đạn nổ phá tiêu chuẩn của súng OG-96 khối lượng là 5,5kg, đạn chống tăng hiệu ứng nổ lõm PG-9B khối lượng 4,4kg, đồng thời sử dụng các loại đạn huấn luyện phục vụ cho bắn tập chống tăng (có đầu nổ hoặc không có thuốc nổ) đạn tập và đạn huấn luyện khói khối lượng là 4,4kg. Đạn chống tăng với động cơ đẩy phản lực được phóng ra khỏi nòng súng bằng liều phóng với vận tốc ban đầu là 435m/s, trên đoạn đầu của quỹ đạo đường đạn đạn SPG khởi động động cơ phản lực và tăng tốc lên đến 700m/s. Đây là ưu điểm của loại đạn này nếu so với súng 82mm B-10. Khi bắn, phía sau của súng tạo ra một khoảng nguy hiểm do lửa phản lực của liều phóng với bán khính 30m và góc mở 90o.
    Các loại vũ khí cải tiến sau này, có ký hiệu là SPG-9N được lắp thiết bị ngắm đêm. Các súng dùng cho lực lượng bộ binh cơ giới SPG-9D (D- đổ bộ) – có giá lắp 2 bánh xe, giá khung lắp bánh xe kéo được lắp vào với bộ phận khung của nòng súng. Súng nâng cấp SPG-9M, được trang bị kính ngắm PGOK-9, tay kéo súng có thể gấp lại, chân trước của bộ giá đỡ súng 3 chân có thể được vặn nâng lên hạ xuống, cho phép tăng cường góc bắn đến 18o, loại súng dành cho lực lượng đổ bộ SPG-9MD có bộ khung càng bánh xe, được lắp vào vị trí lắp của hai càng sau của súng trên bộ giá đỡ súng.

    Bánh xe kéo của súng a- Trục bánh xe; b- Bánh xe; giá đỡ lắp vào gá lắp 2 cành chân súng sau; 1- Khung đỡ phía dưới; 2- Tấm thép hàn khung; 3- Lò xo giảm xóc; 4- Lò xo điều chỉnh; 5- Chốt lò xo; 6 – khung phía trên; 7- Lò xo khóa hãm; 8 – Trục hãm lò xo; 9- Vâu hàn; 10- Ống trục..
    Tính năng kỹ chiến thuật của súng SPG-9 và SPG-9M. (СПГ-9 và СПГ-9М):
    khối lượng (với kính ngắm và không có bánh xe kéo) kg 47,5 (49,7)
    Khối lượng giá đỡ súng 3 chân, kg 12 (12,5)
    Khối lượng giá kéo súng 2 bánh xe, kg 14,5 (14,8)
    Chiều dài đường nòng, m 2,11
    Khoảng rộng khi triển khai súng, m 0,99 (1,055)
    Chiều cao súng khi ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, m 0,8 (0,82)
    Góc bắn.:
    - Tầm (không thay đổi vị trí tư thế của giá 3 chân) từ -3 đến +7 (từ -3 đến +18)
    - Hướng 30
    Khối lượng đạn, kg:
    - đạn nổ phá mảnh 3,7
    - Đạn xuyên giáp 2,6
    Chiều dài viên đạn(liều phóng), m 1,115
    Chiều dài đầu đạn, m 0,775
    Tầm bắn hiệu quả của đạn xuyên giáp, m 1300
    Tầm bắn hiệu quả của đạn nổ phá mảnh, m 4500
    Thời gian chuyển trạng thái từ cơ động sang sẵn sàng chiến đấu và ngược lại , s 35
    Tốc độ bắn thực tế, phát./phút 5-6
    Biên chế, 4 (chỉ huy bắn, nạp đạn, xạ thủ chính và chiến sĩ vận tải đạn)
    Đạn phóng lựu chống tăng PG-9 (ПГ-9)

    Đạn phóng lựu chống tăng phản lực 73-mm PG-9B với lượng nổ hiệu ứng nổ lõm được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu xe tăng, xe bọc thép, tiêu diệt sinh lực địch và vũ khí trang bị địch trên tầm bắn đến 1300 m. Đạn sử dụng cho tất các các loại súng SPG-9 các thế hệ 73-mm SPG-9, SPG-9M, SPG-9D. (СПГ-9, СПГ-9М, СПГ-9Д).
    Các bộ phận chính của đạn PG-9B (ПГ-9В) bao gồm có:
    - Đạn đồng cỡ hiệu ứng nổ lõm PG-9 ПГ-9;
    - Liều thuốc phóng PG-9P (ПГ-9П);
    - Đầu nổ điện cảm ứng BP-9 (ВП-9).

    a- Bộ phận đầu đạn; b- Thiết bị đầu của bộ phận ngòi nổ; v- Bộ phận kích nổ của ngòi nổ; g- Động cơ phản lực nhiên liệu rắn với cánh ổn định; d- Liều phóng; 1- Vỏ đạn; 2- Chụp đạn khí động học; 3- Ống kim loại dẫn điện; 4- vành đai cách điện; 5- Phễu lõm; 6- Ống kim loại dẫn điện; 7- Khối thuốc nổ; 8- tấm chắn; 9- Vòng đệm kim loại; 10- Ống buồng đốt nhiên liệu; 11- Đáy đạn có tiên ren kết nối; 12- Thuốc cháy chậm dẫn lửa; 13- Nhiên liệu rắn-thuốc phóng; 14- Vách ngăn; 15- Sợi lynon; 16- Ống phụt phản lực; 17- Thanh lắp cánh ổn định chữ thập; 18- Cánh ổn định; 19- Sợi lynon; 20- Lỗ phụt khí thuốc; 21- Đuôi đạn; 22- Ống phụt chéo góc tạo lực quay ly tâm; 23- Ống thép; 24- Băng thuốc phóng; 25- Túi bọc ống phóng bằng vải mịn; 26- Đầu nối liều phóng với đạn; 27- Ống bên trong liều phóng; 28- Thuốc khói; 29- 2 điện cực; 30-Đĩa nhựa tổng hợp; 31- Đĩa chất dẻo senluloit; 32- Vách ngăn; 33- Vòng vành khuyên công tắc nối điện; 34- Lò xo công tắc điện kích nổ.
    Đạn chống tăng PG-9B có cấu tạo tương tự như đạn phóng lựu chống tăng PG-7B, có điểm khác biệt ở động cơ phản lực, thuốc phóng và đầu nổ. Đạn phóng lựu PG-9S, PG-9S1 có cấu tạo tương tự như đạn phóng lựu đã nâng cấp, cải tiến PG-7S, PG-7S1.

    Tranh mô phỏng đạn phóng lựu.
    Động cơ phản lực của đạn PG-9B ПГ-9В nhằm tăng tốc độ của đạn lên Vmax trên quỹ đạo bay và có các bộ phận sau:
    - Ống đốt nhiên liệu bằng kim loại được tiện ren đầu để lắp với đầu đạn và ống phụt;
    - Đầu nối để nối ống đốt nhiên liệu với đầu đạn;
    - Bộ phận phụt khí với bộ phận ổn định (bộ phận ổn định giá chữ thập có sáu cánh ổn định đường bay và 2 lỗ phụt khói vạch đường đạn:
    - Nhiên liệu rắn cho động cơ là thuốc phóng NDSI nitroglycerin-2k (НДСИ-2к);
    - Thuốc cháy chậm và bộ phận đánh lửa-VBF-9 (ВПЗ-9);
    - Đuôi đạn có 2 vấu khóa để lắp liều phóng PG-9P (ПГ-9П).
    Để định tâm cho đạn khi chuyển động trong nòng súng bộ phận đuôi đạn được làm nhỏ hơn cỡ nòng nhiều lần, ống phụt phản lực có vành loe và 4 lỗ thoát khí. Ống phụt của đạn được bít kín bằng đĩa và miếng đệm.
    Liều phóng PG-9P được sử dụng để tạo tốc độ ban đầu cho đạn phóng lựu, bao gồm có:
    - Ống đựng liều phòng, là ống được khoan nhiều lỗ thoát khí với đầu nối (vấu nối để nhanh chóng nối liều phóng với đạn phóng lựu) và đệm với vành khuyên cách điện định vị đạn trong nòng súng;
    - Kíp điện và hạt lửa DPG-2 (ДРП-2) (58 г) với hai điện cực nằm trong ống đựng liều phóng, một điện cực kết nối với miếng đệm (tiếp +) một điện cực tiếp xúc với vành đai cách điện của liều phóng;
    - Liều phóng: là thuốc phóng nitroglixerin NBL-62 nằm trong túi đựng bằng vải (khối lượng – 795 g);
    - Lớp đệm hãm cháy (bao gồm các miếng đệm đĩa nhựa tổng hợp và đệm xenlulo, được đặt giữa đệm đáy của liều phòng và liều thuốc phóng. Lớp đệm có tác dụng tạo lực đẩy ban đầu phóng đạn ra khỏi nòng súng.
    Bộ phận kích nổ VP-9 nằm ở đầu và cuối của đạn phóng lựu, kích nổ bằng nguồn điện phát sinh do va chạm (bộ phận sinh điện), nổ tức thời, với bộ phận khóa an toàn quán tính, bộ phận kích nổ chỉ mở khóa an toàn sau khi đã bay được từ 2,5 …20m ( có hai nấc khóa an toàn, thời gian tự hủy đạn nếu không nổ là từ 4 – 6 s sau khi bắn.

    a- Bộ phận sinh điện của ngòi nổ; b- Bộ phận sinh điện mặt cắt dọc. 1- Vỏ kim loại bộ phận sinh điện; 2- Đệm cao su; 3- Bộ phận sinh điện do va chạm; 4- Đệm cách điện; 5- Chụp màng bảo vệ; 6- Chụp an toàn bộ phận sinh điện; 7- Chốt khóa an toàn bộ phận sinh điện; 8- Đai rút chốt an toàn.
    a- Hình dáng chung của bộ phận kích nổ; b- Bộ phận kích nổ mặt cắt dọc; g- Sơ đồ mạng điện; 1- Kíp nổ điện; 2- Quả trục trọng lực; 3- Khóa hãm an toàn bằng thuốc cháy; 4- Thuốc cháy nén; 5- Thuốc nổ nhạy của kíp nổ; 6- Hạt lửa nhạy cháy; 7- Vỏ ngòi nổ; 8 Vỏ kíp nổ điện.

    Bộ phận khóa an toàn quán tính được sử dụng để khóa an toàn đầu kích nổ đạn, giữ cho quả trọng lực và các chi tiết của đầu nổ không hoạt động cho đến khi đạn được phóng ra khỏi nòng súng. Bộ phận khóa an toàn quán tính được lắp trong 1 ống nằm ở phía bên của vỏ bộ phận đầu nổ (ngòi nổ) và có:
    - Chốt hãm – thanh kim loại có xẻ rãnh;
    - Lò xo khóa an toàn;
    - hai viên bi an toàn: một viên nằm ở trong rãnh của thanh khóa an toàn, viên thứ 2 nằm ở khuyết lõm quả trọng lực:
    Hoạt động của đạn phóng lựu chống tăng PG-9V (ПГ-9В)
    Sau khi bóp cò, dòng điện từ bộ phận cò điện truyền qua vòng tròn cách điện và đệm sau đuôi đạn, truyền điện vào 2 điện cực làm cháy hạt lửa, hạt lửa qua các lỗ của ống hạt lửa đốt cháy thuốc phóng. Dưới áp lực khí thuốc cháy, đạn phóng lựu bị tách ra khỏi liều phóng và lao về phía trước theo nòng súng cùng với vận tốc tăng lên. Khi đó lửa của thuốc phóng bốc cháy sẽ đốt những miếng đệm ở đuôi liều phóng và thoát khí ga ra ngoài, khí thuốc qua ống phụt phản lực sẽ làm cân bằng áp lực của đạn giật về phía sau. Một phần khí thuốc, chạy qua các lỗ của đuôi đạn, sẽ làm cho đạn quay trong nòng súng.
    Khi đạn bay ra khỏi nòng từ 10 – 20 m, thuốc cháy chậm trong ống phóng động cơ phản lực sẽ dẫn lửa đến nhiên liệu rắn của động cơ phản lực, làm nhiên liệu bốc cháy, phản lực phụt về phía sau sẽ tăng tốc độ ban đầu của đạn là 435m/s lên đến tốc độ cực đại 700m/s. Tiếp theo đạn phóng lựu bay theo động năng quán tính, ổn định đường bay bằng cánh ổn định và quay xung quanh trục của đạn, cho đến khi đập vào vật cản và phát nổ.
    Hoạt động của bộ phận kích nổ VP-9
    Trong điều kiện thông thường thanh chốt quán tính được giữ ở vị trí trung gian bằng viên bi thứ nhất, viên bị được giữ trong rãnh của trục lò xo, viên bị thứ 2 hãm quả trọng lực với kíp nổ điện, viên bị được giữ không bị trượt xuống phía dưới bằng phần đầu của chốt lò xo.
    Khi đạn được bắn ra khỏi nòng súng, dưới tác dụng của lực quán tính, quả trọng lực sẽ lùi lại và viên bi thứ nhất sẽ rơi ra khỏi rãnh và rơi vào bên trong của bộ phận kích nổ. Sau khi lực quán tính kết thúc, quả trọng lực dưới tác dụng của lò xo sẽ đẩy lên phía trên, viên bi thứ 2 nằm trong rãnh trượt lên phía trên, giải phóng quả trọng lực (mở khóa an toàn thứ nhất). Khi thuốc cháy hãm an toàn bốc cháy hết, quả trọng lực di chuyển vào giữa và giải phóng khóa an toàn thứ 2) hoàn thành chu trình khởi động bộ phận gây nổ. Khi đạn đập vào vật cản, bộ phận sinh điện sẽ phát sinh nguồn điện áp và kích nổ kíp điện, gây nổ tức thời. Khi nổ phá, các mảnh đạn sẽ văng ra với bán kính lên đến gần 200m. Trong trường hợp không đập vào vật cản sau từ 4 đến 6 s, tia lửa sẽ đốt cháy hết thuốc cháy chậm trong bộ phận gây nổ sẽ kích nổ kíp và đạn nổ theo cơ chế tự hủy. Quá trình hoạt động của bộ phận gây nổ VG-9 tương tự như bộ phận gây nổ của đạn chống tăng VG7.
    Khi bắn, khí thuốc phóng và các mảnh của đĩa đệm nhựa tổng hợp sẽ bị phụt về phía sau, tạo ra một khoảng nguy hiểm có góc mở là 90o và bán kính là 30m. Phía sau 7m không được phép có vật cản. Các loại đạn PG9 (ПГ-9)
    Đạn PG9V ( ПГ-9В) (mã số GRAU-7P3 (ГРАУ — 7П3) với đạn nổ lõm PG-9 (ПГ-9)
    Đạn PG9S ( ПГ-9ВС (mã số GRAU-714 — 7П14) với đạn nổ lõm PG-9S ( ПГ-9С)
    Đạn PG9S1( ПГ-9ВС1) (mã số GRAU-7P20 — 7П20) với đạn nổ lõm PG-9S1( ПГ-9С1
    Đạn nổ phá mảnh OG9 (ОГ-9).


    Đạn nổ phá mảnh OG-9 được sử dụng để tiêu diệt binh lực, sinh lực đich, tiêu diệt các ổ hỏa lực của đối phương trên tầm bắn đến 1000m và tiêu diệt địch co cụm trên khoảng cách đến 4500 m. Các bộ phận chính của đạn phóng lựu OG-9V là:
    - Đạn nổ phá mảnh OG9 (ОГ-9);
    - Liều phóng OG-9P (ОГ-9П);
    - Bộ phận kích nổ GO-2 (ГО-2).

    Đạn phóng lựu nổ phá OG-9 (ОГ-9) có cấu tạo vỏ đạn làm từ gang dẻo phía trong có thuốc nổ phá khối lượng 735g loại TNT và bộ phận ổn định quỹ đạo đường đạn:
    - Ống thuốc phóng được khoan hàng lỗ thoát khí vuông góc với nhau và có tám cạnh cánh cố định nổi lên, trên cánh các đường cắt xiên để đạn quay quanh trục khi bay trong không khí;
    - Đuôi ống phóng có bộ phận mấu kết nối với liều phóng và vạch đường. Đạn phóng lựu OG-9M, ОГ-9М, khác với đạn OG-9, sử dụng gang có độ bền cao và thuốc nổ TNT (TD50) khối lượng 660g. OG-9M1 vỏ gang có độ bền cao sử dụng thuốc nổ loại TNT (690g).
    Liều phóng đạn OG-9P theo cấu tạo và hoạt động tương tự như liều phóng của đạn PG-9P, nhưng khối lượng thuốc phóng NBL-42 (НБЛ-42) nhỏ hơn– 780g.
    Để tăng cường khả năng giữ chắc đuôi đạn khi bay trong không khí, trên ống phóng đạn có đặt vòng xuyên kẹp với các khuyết hình chữ T. Tại vị trí lắp đai vòng xuyến có khoan 2 lỗ. Khi thuốc cháy của kíp nổ cháy, lửa sẽ phụt qua hai lỗ khoan, làm biến dạng các mấu của đai khóa vòng xuyến, khóa cứng đuôi đạn với đầu đạn của đạn OG-9. Đảm bảo khi đạn phóng ra khỏi nòng súng mang theo cả ống đuôi đạn đã khoan lỗ. Các loại đạn PG9P sau này cũng sử dụng các đai vòng xuyến như vậy để giữ đuôi đạn, không xảy ra trường hợp đạn đã phóng đi nhưng đuôi đạn bị cắt ở lại.
    Đầu nổ OG-2 là loại đầu nổ lắp trên đầu đạn, nổ tức thì và theo lực quán tính. Đầu nổ có 1 lần khóa an toàn bảo vệ, khóa an toàn được tháo và đầu nổ được kích hoạt khi đạn đã bay ra khỏi nòng súng từ 2,5 – 18m. Để bảo vệ độ kín khít của đầu đạn, trên đầu nổ có lớp màng bảo vệ, để bảo vệ lớp màng đó, trên đầu đạn có lắp chụp bảo vệ đầu đạn với chốt giữ an toàn. Trước khi nạp đạn cần tháo chốt khóa và tháo nắp bảo vệ đầu nổ. Ngòi nổ phá OG-9 bao gồm có:
    - Vỏ đầu nổ hình côn với kíp nổ;
    - Bộ phận khởi động đầu nổ tầm xa, chạm nổ và kích nổ xuyên chéo.
    Bộ phận cơ khí quán tính được sử dụng để kích hoạt đầu nổ sẵn sàng chiến đấu trong khoảng cách 2,5 – 18m tính từ mặt cắt của nòng súng và có: vỏ ngòi nổ với các rãnh cắt chuyên dụng, lò xo của vỏ đạn, bi khóa và 4 viên bi khóa an toàn. Các rãnh cắt trên thành của vỏ ngòi nổ có dạng hình ziczag, xuyên thấu qua và đường thẳng..
    Bộ phận kim hỏa được sử dụng để kim hỏa đập vào hạt lửa của kíp nổ khi va chạm với vật cản và có tác dụng hoạt động tức thì, quán tính. Bộ phận kim hỏa bao gồm có Nắp đầu kim hỏa, quả trọng lực với chốt khóa ngang và rãnh, kim hỏa, vỏ kim hỏa và lò xo hình côn.
    Bộ phận quán tính bao gồm có: bạc đệm, ống chưa kíp nổ và đệm bảo vệ.
    Bộ phận kích nổ xuyên chéo là là bộ phận dùng để kích nổ đạn khi gập vật cản với góc chéo va chạm lớn hơn 8 độ, bộ phận bao gồm có ống định hướng hình côn kết nối với ống chứa kíp nổ, vòng xuyến định hướng hình côn và thuốc nổ mồi. Để cho bạc quán tính không chuyển động, vòng xuyến được giữ bằng lò xo nén và cạnh của ống chứa kim hỏa.
    Hoạt động của ngòi nổ GO-2 (ГО-2)
    Để đảm bảo an toàn khi sử dụng, ngòi nổ được bảo vệ bằng 4 viên bi an toàn, giữ cho vỏ của ngòi nổ không tụt xuống phía dưới đập vào kim hỏa và kích nổ kíp nổ.
    Khi bắn, dưới tác dụng của lực quán tính, vỏ của bộ phận kích hoạt đầu nổ quán tính dưới tác dụng của lực nén sẽ thắng lò xo lực cản, chạy lùi xuống phía dưới, đồng thời chốt ngang chạy theo vỏ bộ phận quán tính theo rãnh trên quả trọng lực, chốt ngang sẽ chạy theo rãnh dọc trên vỏ của bộ phận ngòi nổ. Viên bi đỡ sẽ chạy theo vỏ của bộ phận kích nổ tức thời theo rãnh trên quả trọng lực và rơi vào bên trong bộ phận kích nổ.
    Khi lực quán tính kết thúc, vỏ bộ phận kích nổ tức thời dưới tác dụng của lò xo, sẽ được đẩy lên theo trục của quả trọng lực và giải phóng 4 viên bi khóa an toàn. Đồng thời chốt chặn, chuyển động theo đường thẳng, sau đó sẽ chuyển động theo đường dích dắc. Giữ chậm chuyển động của vỏ bộ phận kích nổ tức thời trong khoảng 0,01 – 0,02s, đảm bảo cho kích hoạt ngòi nổ khi đạn đã bay ra khỏi ngòi nổ không sớm hơn 2,5m. Sau khi 4 viên bi an toàn đã rơi khỏi vị trí, giữa đầu kim hỏa và hạt lửa của kíp nổ chỉ còn cách nhau có lò xo hình côn và đệm an toàn.

    1- Ca đáy ngòi nổ; 2- vành đai hãm có vấu; 3- Nắp chụp thuốc cháy; 4- Bạc quán tính; 5- Lò xo; 6- Liều cháy hạt lửa; 7- Vỏ hạt lửa; 8- Ống lót; 9- Lò xo; 10- chốt vành khuyên khóa hãm; 11- Vỏ kíp; 12- bi hãm; 13- Quả trục trọng lực; 14- Chốt kim hỏa; 15- Đệm chống nước; 16- Chụp an toàn ngòi nổ; 17- Chụp đệm; 18- Đầu kim hỏa; 19- Đai tháo chụp an toàn; 20- Lò xo an toàn; 21- Kim hỏa; 22- Đệm lót kim hỏa; 23- Bi khóa an toàn chống khởi động sớm; 24- Miếng đệm; 25- Bạc đệm; 26- Miếng đệm an toàn cho hạt lửa; 27- Vỏ ngòi nổ; 28- Ống lót dẫn hướng lửa; 29- Chụp thuốc cháy; 30- Ca thuốc cháy; Kíp nổ.
    Khi đạn đập vào vật cản, dưới tác dụng của lực va chạm, quả trọng lực chuyển động xuống phía dưới, nén lên lò xo côn, kim hỏa dưới tác động của quả trọng lực đâm vào hạt lửa, làm cháy thuốc nổ mồi, thuốc nổ mồi cháy sẽ xuyên qua khoảng cách giữa kíp nổ và ngòi nổ, kích nổ kịp và đầu đạn.
    Khi đạn chạm vật cản với góc chạm lớn hơn 8o, Bạc quán tính xoay chéo góc về phía hướng chạm, đè lên ống định hướng về phía kim hỏa, kim hỏa đâm vào hạt lửa và kích nổ kíp, kíp nổ gây nổ đạn.
    Khi bắn đạn không kịp mở nắp bộ phận gây nổ, bộ phận kích nổ sẽ hoạt động nhờ lực quán tính va đập, đẩy ống đựng hạt lửa – kíp về phía mũi kim hỏa, kích nổ đầu đạn phóng lựu.
    Các loại đạn OG-9 (ПГ-9)
    Đạn OG-9V ( ОГ-9В) (mã hiệu GRAU - 7P4 — 7П4) đạn nổ phá mảnh OG-9 (ОГ-9)
    Đạn OG-9VM (ОГ-9ВМ) (mã hiệu GRAU - 7P4M — 7П4М) đạn nổ phá mảnh OG-9M (ОГ-9М)
    Đạn OG-9VM1 (ОГ-9ВМ1) (mã hiệu GRAU7P4M1 — 7П4М1) đạn nổ phá mảnh OG-9M (ОГ-9М1)
    Trịnh Thái Bằng

  8. #58
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    2,360
    Thích
    484
    Đã được thích 210 lần trong 165 bài viết
    Đoàn tham quan một đơn vị thuộc Binh chủng Công binh, có ít ảnh up sẵn trên mạng em đưa về cho anh em xem:

    1. Nhà để xe:





    2. Vào trong xem thử:



    3. Ra thao trường:



    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  9. #59
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    2,360
    Thích
    484
    Đã được thích 210 lần trong 165 bài viết
    Và:






    muctau's Avatar

    muctau

     23:45, 1st Nov 2013 #23353 

    Có em gái vào buồng điểu khiển '' 33 ''


    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  10. #60
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    6,060
    Thích
    112
    Đã được thích 801 lần trong 586 bài viết

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •