CHÀO MỪNG ĐỒNG ĐỘI VÀ BẠN BÈ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN KHÚC QUÂN HÀNH




Trang 3 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 71

Chủ đề: Hình ảnh một số vũ khí-trang thiết bị của QĐND Việt Nam

  1. #21
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

  2. #22
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Đoàn Tên lửa 64 (Sư đoàn Phòng không Hà Nội) là đơn vị quản lý tổ hợp tên lửa S – 300PMU1 hiện đại của Việt Nam. Dưới đây là những hình ảnh hiếm chưa từng công bố về kíp điều khiển tên lửa cơ động đến Trường bắn TB-1 trong hoạt động diễn tập bắt mục tiêu.
    Chúng tôi có mặt tại Đoàn 64 trước khi Sư đoàn Phòng không Hà Nội phát lệnh diễn tập. Vì đây là lần đầu tiên hành quân cơ động khí tài hiện đại đi xa nên Đoàn 64 đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Quân chủng Phòng không-Không quân (PKKQ) và Sư đoàn Phòng không Hà Nội. Đại tá Nguyễn Quang Tuyến - Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội là người trực tiếp bám sát theo dõi và chỉ đạo quá trình thu hồi, cơ động và triển khai khí tài của Đoàn 64.


    Giao nhiệm vụ điều hệ thống S - 300 cơ động tham gia diễn tập









    Nhanh chóng triển khai hệ thống tổ hợp tên lửa - ra đa dẫn đường chuẩn bị cơ động chiến đấu









    Thiếu tá Nguyễn Quốc Văn - Đoàn trưởng Đoàn 64 cho biết: “Cuộc diễn tập lần này có sự tham gia của gần nửa quân số của Đoàn gồm những người có trình độ, năng lực chuyên môn tốt, cùng với đó là lực lượng hơn 10 loại xe máy, 7 khí tài trang bị, trong đó có các khí tài tên lửa hiện đại lần đầu tiên hành quân xa. Để chuẩn bị cho cuộc diễn tập này, tại trận địa dã chiến, ngoài việc triển khai đào hầm hào công sự, Đoàn 64 đã tổ chức đóng hàng ngàn bao cát, chuẩn bị hàng chục tấm lưới nguỵ trang, mô hình giả nghi binh... để dựng trận địa dã chiến”.





    Xuất phát cơ động lên trận địa



    Khí tài tổ hợp tên lửa S - 300 cơ động trên đại lộ Thăng Long
    Đúng vào thời điểm Đoàn 64 tổ chức diễn tập thì thời tiết miền Bắc thay đổi, Hà Nội sau những ngày nắng ấm bỗng chuyển sang se lạnh kéo theo mưa lay phay. Cuộc hành quân bắt đầu, xuất phát từ Đoàn 64 cắt qua phía nam Hà Nội để đến Trận địa TB-1.
    Ở nhiều điểm chốt giao thông quan trọng lực lượng cảnh sát giao thông đã thức cùng cán bộ, chiến sỹ Đoàn 64 để phân luồng cho đoàn xe lưu thông thuận lợi nhất. Đến gần sáng Đoàn cơ động đến được điểm tập kết an toàn, đúng kế hoạch đã đề ra. Sau khi làm công tác chuẩn bị và triển khai Đoàn đã nhanh chóng đưa khí tài thực hiện nhiệm vụ.





    Triển khai khí tài trên trận địa dã chiến.











    Thực hành bắt mục tiêu và bắn bằng phần tử điện tử.
    Sau khi ổn định đội hình, vị trí chiến đấu, song song với việc lực lượng phòng không thực hành bắn đạn thật, Đoàn 64 cũng tổ chức bắt các mục tiêu M - 100CT, M - 96CT và thực hành bắn mục tiêu bằng tên lửa điện tử. Thiếu tá Nguyễn Quốc Văn - Đoàn trưởng Đoàn 64 cho biết: “Vinh dự là đơn vị được trang bị vũ khí phòng không hiện đại, cán bộ, chiến sỹ Đoàn 64 đã không ngừng phấn đấu, từng bước làm chủ khoa học kỹ thuật, làm chủ khí tài, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
    Đại tá Nguyễn Quang Tuyến-Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội cho biết: “Đây là đợt diễn tập lớn nhất của Đoàn Tên lửa 64 từ trước tới nay, là dịp để chúng tôi đánh giá trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng cơ động, thực hành đội ngũ chiến thuật, tổ chức chỉ huy, bảo đảm chiến đấu của Đoàn 64. Đồng thời, nâng cao chất lượng huấn luyện sát thực tế chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đoàn trong tình hình mới”.

    (theo Info.net)

  3. Có 1 người thích bài viết này


  4. #23
    Ngày tham gia
    07-01-2012
    Bài viết
    5
    Thích
    21
    Đã được thích 5 lần trong 2 bài viết
    Trích dẫn Gửi bởi baogt Xem bài viết
    Bác Tài tăng cho em hỏi cái này trong xe tăng "hiện đại" của ta là gì nhỉ? Em có thể đoán 100% là hồi chống Mỹ không có ;;).



    Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-.../90152.gd?i=13
    Đúng như bác lixeta nói đây là P - 173M nó được trang bị cho tăng-thiết giáp, pháo tự hành thế hệ 2
    Là VTĐ sóng cực ngắn thoại điều tần, có 10 kênh nhớ tần số, trang bị hệ thống triệt rào, triệt nhiễu xung, có hệ thống chuyển đổi tín hiệu số - tương tự nên có thể lắp đặt các thiết bị đầu cuối phục vụ cho truyền số liệu, truyền ảnh ( dùng để tối ưu hóa hệ thống chỉ huy tự động bằng cách lắp đặt thêm computer), cự ly liên lạc có thể lên tới 70km. Sử dụng đơn giản và hiệu quả hơn em P-123 ngày xưa rất nhiều.
    MỘT NGÀY MỚI BẮT ĐẦU TỪ ÁNH NẮNG MẶT TRỜI

  5. Có 2 người thích bài viết này


  6. #24
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Trong cuộc diễn tập bắn đạn thật tháng 12/2011 tại trường bắn quốc gia khu vực 1 (TB1), bên cạnh các loại tên lửa S-75M, 9K35 Strela 10, S-300, pháo phòng không. Việt Nam lần đầu công khai hệ thống tên lửa đất đối không nâng cấp S-125 Pechora-2TM.

    Pechora-2TM là gói nâng cấp hiện đại hóa hệ thống tên lửa đất đối không tầm trung S-125 do công ty Tetraedr (Belarus) thực hiện.

    S-125 do Liên Xô phát triển sản xuất năm 1963 chuyên dùng đánh chặn tiêu diệt mục tiêu ở tầm gần và tầm trung. So với S-75M, S-125 có khả năng tiêu diệt mục tiêu bay thấp tốt hơn và khả năng kháng nhiễu (môi trường tác chiến điện tử) mạnh hơn.

    S-125 được đưa vào biên chế trong Quân đội Nhân dân Việt Nam từ đầu những năm 1970. Thậm chí, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12 ngày cuối năm 1972), nó đã “có mặt” nhưng không tham gia chiến đấu.

    Hiện nay, S-125 Pechora là một trong những “rồng lửa” chủ lực của Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam.


    Tên lửa đất đối không S-125.


    Trong các cuộc xung đột sau này có sự tham gia của S-125, chiến công vang dội nhất mà loại tên lửa đạt được là năm 1999, tại cuộc chiến Kosovo lữ đoàn 250 Quân đội Nam Tư đã dùng S-125 bắn hạ máy bay ném bom tàng hình F-117 của Mỹ.

    Ngày nay, tuy S-125 đã được xếp vào hàng “tên lửa lỗi thời, lạc hậu”. Nhưng đối với những quốc gia có ngân sách chi tiêu quốc phòng còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế từ nền kinh tế như Việt Nam thì việc duy trì S-125 là cần thiết.

    Và để nâng cao khả năng chiến đấu thích ứng với môi trường chiến tranh hiện đại, giải pháp nâng cấp hiện đại hóa đưa yếu tố mới vào thiết kế cũ là việc làm tốt nhất để S-125 tiếp tục bảo vệ vững chắc vùng trời tổ quốc Việt Nam.

    Việt Nam đã lựa chọn Belarus – nước thừa hưởng thành tựu công nghiệp quốc phòng Liên Xô là đối tác nâng cấp S-125 lên chuẩn S-125 Pechora-2TM.

    Thành phần S-125-2TM

    Gói nâng cấp S-125-2TM thiết kế để tiêu diệt mục tiêu (kể cả loại kích cỡ nhỏ) trên không ở tầm thấp và tầm trung trong môi trường gây nhiễu điện tử cao. Ngoài ra, nó có thể phá hủy cả mục tiêu trên mặt đất hoặc mặt biển.

    Hệ thống nâng cấp có thể tác chiến phòng không độc lập hoặc nằm trong phòng không hợp nhất nhờ khả năng tương thích với mọi kiểu loại radar và các hệ thống thông tin chỉ huy phòng không.

    S-125-2TM được trang bị hệ thống định vị vệ tinh GPS cho phép định vị tọa độ, hiển thị vị trí trên bản đồ số. Điều này giúp rút ngắn thời gian thu hồi và triển khai hệ thống.


    Bệ phóng của hệ thống S-125-2TM Quân chủng PK-KQ Việt Nam trong đợt diễn tập bắn đạn thật TB1 2011.



    Đạn tên lửa 5V27 của S-125-TM rời bệ phóng lao thẳng tới mục tiêu.


    Thành phần của S-125-2TM gồm:

    - Đài radar điều khiển hỏa lực SNR-125-2TM gồm 2 xe: xe ăng ten UNV-2TM và xe điều khiển UNK-2TM. Đài này có khả năng theo dõi đồng thời hai mục tiêu cùng lúc, dẫn đường tiêu diệt cả hai mục tiêu bằng 2 tên lửa hoặc một mục tiêu bằng 2 tên lửa.

    - Bệ phóng 5P73-2TM: mỗi bệ đặt 4 đạn tên lửa, mỗi hệ thống trang bị 4 bệ.

    - Đạn tên lửa đối không có điều khiển 5V27 lắp đầu đạn nặng 70kg (33kg thuốc nổ và 4.500 mảnh).

    - Hệ thống tự cung cấp điện năng APSS-2TM

    - Đài trinh sát nhìn vòng và chỉ thị mục tiêu P-18T có cự ly hoạt động 360km, theo dõi cùng lúc 250 mục tiêu.

    - Thành phần bổ trợ đảm bảo chiến đấu: xe chở và nạp đạn TRV-2TM.

    “Lột xác” hoàn toàn

    Với gói nâng cấp S-125-2TM, nó đã cải thiện đáng kể sức chiến đấu của hệ thống phòng không này. Cụ thể, S-125-2TM có khả năng theo dõi, tiêu diệt đồng thời 2 mục tiêu cùng lúc so với 1 mục tiêu hệ thống cũ.

    Tuy cự ly bắn của tên lửa vẫn là 35km nhưng trần bay tiêu diệt mục tiêu có thể đạt 25.000m (so với 18.000m của S-125). Cự ly phát hiện mục tiêu tối đa 100km so với 80km hệ thống cũ.

    Đặc biệt, khả năng kháng nhiễu chặn tích cực là 2.700 W/MHz so với 24 W/MHz của S-125 (W/MHz nghĩa là cường độ nhiễu tính bằng công suất phát nhiễu W trên một đơn vị băng thông MHz, chỉ số W/MHz càng cao tính kháng nhiễu càng lớn).

    Nhờ cơ giới hóa mạnh mẽ, thời gian thu hồi triển khai hệ thống rất nhanh 25-30 phút , đây là yếu tố quan trọng trong chiến tranh hiện đại (giúp đơn vị di chuyển trận địa mới để đối phó địch phản kích).

    Các xe điều khiển radar thiết kế với “nội thất” tiện nghi cho kíp trắc thủ với các màn hình màu tinh thể lỏng có độ phân giải cao.

    Dưới đây là một vài hình ảnh về hệ thống tên lửa nâng cấp S-125-2TM:


    Xe rơ moóc đặt cụm ăng ten UNV-2TM của đài radar điều khiển hỏa lực SNR-125-2TM.



    Xe điều khiển UNK-2TM của đài SNR-125-2TM.





    Nội thất tiện nghi, bắt mắt trong xe điều khiển UNK-2TM.



    Bệ phóng 5P73-2TM với 4 đạn tên lửa.



    Đài radar nhìn vòng và chỉ thị mục tiêu P-18T đặt trên xe vận tải Kamaz.



    Bố trí bên trong xe P-18T cũng khá tiện nghi.

    No Avatar

    dongdoi_f2

     18:47, 3rd Mar 2012 #3975 

    LX/Nga có truyền thống đặt tên hệ thống TLPK theo tên sông: S-75 là Dvina, Vonga; S-125 là Pechora...



  7. Có 1 người thích bài viết này


  8. #25
    Ngày tham gia
    26-09-2010
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    1,596
    Thích
    568
    Đã được thích 254 lần trong 192 bài viết
    Đây là đâu các bác?




    No Avatar

    dongdoi_f2

     23:26, 5th Mar 2012 #3984 

    Hồi 10.2011, thấy 3 chiếc này đậu ở cảng gần NM Xi măng Chingfong, khu cảng Cát lái

    SaigonGuider's Avatar

    SaigonGuider

     21:31, 5th Mar 2012 #3983 

    Chỗ này gần quê em à nhen...


    " Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp.
    Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!"

    Chế Lan Viên

  9. #26
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

    Tờ Tân Hoa Xã số ra ngày 08/03/2012 đã có một bài viết nói về loại súng trường khá hiện đại của lực lượng đặc biệt của quân đội nhân dân Việt Nam với cái tên TAR-21. Một sản phẩm của nhà nước Do Thái


    Trong những năm gần đây, nhiều nước châu Á các lực lượng vũ trang đã được trang bị phổ biến loại súng trường tấn công TAR-21. Ví dụ, Ấn Độ, Thái Lan, đã mua và trang bị loại súng trường này và trang bị cho các đơn vị đặc biệt của họ. Bây giờ, Việt Nam cũng là theo kịp với tốc độ phong cách trang bị này. Gần đây, xuất hiện trên phương tiện truyền thông Việt Nam cho biết lực lượng đặc biệt của quân đội cũng đã được trang bị loại súng trường tấn công này. Các nước được trang bị loại súng này trên thế giới bao gồm: Israel, Azerbaijan,Ấn Độ,Bồ Đào Nha, Brazil, Colombia, Ethiopia, Gruzia, Guatemala, Nigeria, Philippines, Thái Lan, Ukraine,Việt Nam .

    Tờ Tân Hoa Xã cho biết: Hiện nay quân đội nhân dân Việt Nam đã đẩy mạnh công cuộc cải tổ và hiện đại hóa quân đội mạnh mẽ nhằm trang bị những vũ khí tốt nhất cho người lính trước khi ra trận

    Bản tiêu chuẩn của TAR-21 có trọng lượng 3.27 kg, chiều dài tổng cộng 720 mm, chiều dài nòng súng 460 mm, loại đạn 5.56x45mm chuẩn NATO, tốc độ 750-900 phát/phút, sơ tốc đầu đạn 910 m/giây (2,986 FPS), tầm bắn 550 m. TAR-21 sử dụng băng đạn STANAG mag. Súng có chế độ bắn đa dạng, bán tự động (semi-automatic mode), điểm xạ (burst mode) và chế độ bắn liên thanh (full automatic mode). Các mẫu đầu tiên của dòng súng này không có đầu ruồi (đầu ngắm), xạ thủ dựa vào hệ thống ngắm tiên tiến như hệ thống ngắm laser hay hệ thống ngắm điểm đỏ (red dot).


    TAR-21 hiện đại hơn M-16 của Mỹ rất nhiều, xạ thủ có thể lấy đường ngắm chính xác dù cách xa mục tiêu hàng trăm mét mà không yêu cầu cao thao tác phức tạp. Ưu điểm này này tạo lợi thế cho người sử dụng TAR-21 rất nhiều trong điều kiện chiến tranh tốc độ cao.

    GTAR-21có các đặc điểm giống bản tiêu chuẩn, chỉ khác là nòng súng được lắp thêm ống phóng lựu 40 mm M203.

    STAR-21 biến thể bắn tỉa với trọng lượng nặng hơn 3,67 k) và được kết hợp với những thiết bị hỗ trợ kèm theo như giá hai chân, ống ngắm quang học ACOG độ phóng đại 4x.

    TC-21 - loại chỉ có chế độ bắn semi-auto nặng 3,19 kg. Chiều dài tổng 670 mm, chiều dài nòng súng 410 mm

    MTAR-21 mini có trọng lượng nhẹ nhất, chỉ 2,95 kg, chiều dài tổng 590 mm, chiều dài nòng súng 330 mm, chuyển sang dùng loại đạn súng lục 9x19mm. Sử dụng chủ yếu trong lực lượng đặc nhiệm. Nhìn chung, TAR-21 đại diện cho dòng súng trường tấn công chính trên chiến trường hiện nay. Nó hội tụ tất cả các tính năng “hiện đại”. TAR-21 không những đáp ứng cả những yêu cầu tác chiến trên địa hình đồi nói mà còn cả trong đô thị, nơi mà các cuộc chiến hiện đại ngày nay đang diễn ra phổ biến hơn. Theo các chuyên gia Israel, TAR-21 có sơ tốc đầu đạn như súng trường và được đánh giá có độ chính xác còn tốt hơn cả họ M-16. Chiều dài súng ngắn, hỏa lực mạnh, thậm chí TAR-21 còn được miêu tả như là súng bắn tỉa.

    Khi nói đến TAR-21, người ta sẽ nghĩ ngay đến một loại súng trường tấn công được đánh giá là tiên tiến trên thế giới.

    Việt Nam đang chứng minh cho thế giới thấy quân đội nước này đang sở hữu khá nhiều vũ khí hiện đại không thua kém nhiều quân đội các nước tiên tiến trên thế giới
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 10-03-2012 lúc 03:43 PM.

  10. Có 1 người thích bài viết này


  11. #27
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Tên lửa đạn đạo tầm gần Scud-B của Việt Nam


    Scud là một serie các tên lửa đạn đạo chiến thuật được Liên bang Xô viết triển khai trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và xuất khẩu rộng rãi tới nhiều nước khác trên thế giới. Thuật ngữ này xuất phát từ tên hiệu NATO SS-1 Scud vốn được các cơ quan tình báo phương Tây gán cho loại tên lửa này. Những tên tiếng Nga của nó là R-11 (phiên bản đầu tiên) và R-300 Elbrus (những phiên bản phát triển sau này). Cái tên Scud đã được các phương tiện truyền thông và nhiều thực thể khác dùng để chỉ không chỉ những tên lửa này mà cả nhiều loại tên lửa khác được phát triển tại các quốc gia khác dựa trên thiết kế của người Sô viết. Thỉnh thoảng trên các phương tiện truyền thông đại chúng Hoa Kỳ, Scud được dùng để gọi bất kỳ một tên lửa đạn đạo của bất kỳ một quốc gia nào không phải phương Tây.


    Phát triển thời Sô Viết

    Thuật ngữ Scud được sử dụng lần đầu tiên trong tên hiệu NATO SS-1b Scud-A, để chỉ loại tên lửa đạn đạo R-11. Tên lửa R-1 trước đó được NATO đặt tên hiệu SS-1 Scunner, nhưng là một bản thiết kế khác hẳn, hầu như copy trực tiếp từ loại V-2 của Đức. R-11 cũng sử dụng kỹ thuật học được từ V-2, nhưng có một thiết kế mới, nhỏ hơn và có hình dáng khác biệt so với V-2 và R-1. R-11 được Makeyev OKB thiết kế và bắt đầu đưa vào sử dụng năm 1957. Cải tiến mang tính cách mạng nhất của R-11 là động cơ, do A.M. Isaev thiết kế. Đơn giản hơn rất nhiều so với thiết kế nhiều buồng của V-2, và sử dụng một van đổi hướng chống dao động để ngăn chặn chugging, nó là nguyên mẫu đầu tiên của những động cơ lớn hơn được sử dụng trong các tên lửa vũ trụ Nga sau này.





    Cấu tạo Scud-B


    Các biến thể phát triển thêm là R-300 Elbrus / SS-1c Scud-B năm 1961 và SS-1d Scud-C băn 1965, cả hai đều có thể mang hoặc đầu nổ quy ước có sức nổ cao, hoặc một đầu đạn hạt nhân 5 tới 80 kiloton, hay một đầu đạn hóa học (VX nén). Biến thể SS-1e Scud-D được phát triển trong thập niên 1980 có thể mang đầu đạn quy ước có sức nổ mạnh, một đầu đạn fuel-air, 40 runway-penetrator sub-munition, hay 100 × 5 kg quả bom chống cá nhân nhỏ.

    Tất cả các mẫu đều dài 11.25 mét (ngoại trừ Scud-A ngắn hơn 1 mét) và có đường kính 0.88 mét. Chúng được đẩy bằng một động cơ duy nhất sử dụng nhiên liệu kerosene và nitric acid với Scud-A, hay UDMH và RFNA (tiếng Nga SG-02 Tonka 250) với các mẫu khác.

    Tác chiến

    Tên lửa Scud (và cả các biến thể của nó) là một trong số ít các tên lửa đạn đạo đã được sử dụng trong chiến tranh thực tế, chỉ đứng thứ hai sau loại V2 về số lượng sử dụng (SS-21 là loại tên lửa đạn đạo duy nhất khác được sử dụng "trong chiến tranh"). Libya đã trả đũa các vụ tấn công không quân của Hoa Kỳ (Chiến dịch El Dorado Canyon) năm 1986 bằng cách bắn nhiều tên lửa Scud vào một trạm đồn trú bảo vệ bờ biển Hoa Kỳ tại hòn đảo Lampedusa thuộc Italia lân cận. Các tên lửa Scud cũng đã được sử dụng trong nhiều cuộc xung đột gồm với bên sử dụng gồm cả Liên bang Xô viết và các lực lượng cộng sản Afghanistan tại nước này, Iran và Iraq chống lại nhau trong cái gọi là "Cuộc chiến tranh của các thành phố" trong thời Chiến tranh Iran-Iraq. Tên lửa Scud cũng được người Iraq sử dụng trong Chiến tranh Vùng Vịnh chống lại các mục tiêu của Israel và liên quân tại Ả rập Saudi.

    Hơn mười tên lửa Scuds đã được bắn từ Afghanistan vào các mục tiêu tại Pakistan năm 1988. Một số lượng nhỏ tên lửa Scud cũng được sử dụng trong cuộc nội chiến năm 1994 tại Yemen và bởi các lực lượng Nga tại Chechnya năm 1996 những năm sau đó.


    Các quốc gia sở hữu tên lửa Scud-B


    Các nước sở hữu hoặc từng sở hữu tên lửa Scud-B gồm: Afghanistan, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Georgia, Kazakhstan, Iran, Iraq, Libya, Ba Lan, Slovakia, Turkmenistan, Ukraina, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Việt Nam, Yemen và Nam Tư. Cộng hòa Dân chủ Congo và Ai Cập đã đặt mua thêm các tên lửa Scud-C thêm vào số Scud-B họ đã có. Syria đã muốn đặt hàng loại Scud-D, và tên lửa Al Hussein của Iraq cũng có tầm bắn tương tự Scud-D. Bắc Triều Tiên cũng có các tên lửa Scud sau các cuộc thử nghiệm tên lửa năm 2006.

    Số lượng Scud của VN khoảng 50 quả, mua của Bắc Triều Tiên cùng 2 em tàu ngầm "Ông già gân" giá 100 mil USD. Nhược điểm là độ chính xác kém (khoảng 500m) và Vẹt nhà mình đã cải tiến tầm bắn lên được 500km

    Thông số kỹ thuật:

    Xuất xứ: Nga
    Loại: SRBM
    Chiều dài: 11.25 m
    Đường kính: 0.88 m
    Tồng trọng lượng: 5900 kg
    Lượng chất nổ: Một đầu nổ, 985 kg
    Đầu nổ: Nuclear 5-70 kT, HE, chemical
    Động cơ đẩy: Single-stage liquid
    Tầm hoạt động: 300 km
    Sản xuất: 1962

    Dưới đây là một số hình ảnh về tên lửa Scud-B của Việt Nam được đăng trên báo và các trang mạng Trung Quốc :


























  12. #28
    Ngày tham gia
    01-10-2010
    Bài viết
    579
    Thích
    62
    Đã được thích 152 lần trong 102 bài viết
    Tàu ngầm Kilo 636 MV của Hải quân Việt Nam: Sát thủ vô hình dưới mặt biển



    (Petrotimes) - Hạm đội tàu ngầm thể hiện một phần sức mạnh của quốc gia trên biển. Vừa qua, Việt Nam đã ký hợp đồng mua của Nga 6 tàu ngầm lớp Kilo 636. Đây là thế hệ tàu ngầm mới và thuộc loại hiện đại nhất hiện nay. Nằm ở cực Đông của bán đảo Đông Dương, với hơn 3.000km đường bờ biển, việc sở hữu đội tàu ngầm này là một bước tiến quan trọng trong kế hoạch hiện đại hóa hải quân của Việt Nam.


    Đôi nét sơ lược về tàu ngầm

    Tàu ngầm được chế tạo ra là để tiêu diệt các tàu đối phương trên biển bằng các quả tên lửa dẫn đường. Một số tàu cao cấp hơn sử dụng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân chiến lược chủ yếu có tính răn đe, bởi khả năng hủy diệt và tầm bắn có thể vươn tới mọi vị trí trên trái đất.
    Các tên lửa chiến thuật trên tàu ngầm có tầm bắn khoảng 110km, trong khi tên lửa hành trình đạt khoảng cách tới 2.500km. Tất cả chúng đều được phóng từ dưới nước mà không yêu cầu tàu phải nổi lên. Hơn nữa, các tàu ngầm chiến lược có thể trang bị vũ khí hành trình được dẫn đường từ xa và có tầm bay tới 7.400km, chứa nhiều đầu đạn khác nhau, mỗi đầu đạn lại có khả năng tiêu diệt những mục tiêu khác nhau.



    Tàu ngầm Kilo 636 được các nước phương Tây mệnh danh là “Kẻ sát thủ vô hình” hoặc “Lỗ đen”, bởi tính năng chiến đấu vượt trội so với các tàu ngầm cùng loại và ít phát sinh tiếng ồn, bảo đảm tính bất ngờ trong tác chiến rất cao



    Nguyên lý lặn và nổi của tàu ngầm là định lý lực đẩy Achimede. Khi một vật bị chìm trong nước thì nó sẽ bị tác động ngược lại một lực Achimede (lực này ngược chiều với trọng lực nên nó sẽ đẩy lên trên) với độ lớn bằng trọng lượng của phần thể tích nước bị vật đó chiếm chỗ. Nếu trọng lực lớn hơn lực đẩy thì tàu chìm, ngược lại thì tàu nổi.
    Đối với tàu ngầm người ta có thể điều chỉnh lực này theo ý muốn, nghĩa là có thể điều khiển độ lặn nông sâu, do một lớp đệm gọi là khoang dằn (ballast tank) ở giữa hai lớp vỏ. Khi khoang này chứa đầy không khí thì tàu nổi và khi chứa đầy nước thì tàu chìm. Thông thường tàu ngầm có hai lớp vỏ. Vỏ ở trong là vỏ chính và rất cứng rắn. Phía trong lớp vỏ thứ hai là khu vực Air flask chứa không khí nén. Ngoài ra, ở phía đuôi tàu ngầm còn có một bộ phận nhỏ chứa các “cánh” ngắn có thể di chuyển được để điều chỉnh độ sâu khi lặn mà người ta gọi là hydroplanes, bộ phận này được đặt ở những góc sao cho khi nước đi qua chúng thì đuôi tàu sẽ được “nhổng” lên, qua đó đẩy tàu chìm xuống.

    Để giữ cho tàu chìm xuống độ sâu mong muốn thì các kỹ sư điều khiển phải cân bằng được giữa lượng không khí và nước trong các khoang dằn. Tỉ lệ giữa nước và không khí ở một độ sâu nào đó phải ngang bằng với mật độ của nước ngoài môi trường xung quanh. Khi ở độ sâu mong muốn thì hydroplanes sẽ được nâng lên và nước sẽ đi qua nó mà không ảnh hưởng đến hướng của tàu. Người ta sẽ điều khiển tàu ngầm rẽ trái, phải bằng một bánh lái ở đuôi và hydroplanes dùng để điều khiển tỉ lệ giữa mũi tàu và đuôi của nó (nhoi lên hay chìm xuống). Một số tàu ngầm còn được trang bị một động cơ đẩy phụ có thể xoay 360o.
    Để tàu nổi lên, không khí nén được bơm xuống từ Air flask và nước bị đẩy ra khỏi lớp đệm giữa hai vỏ tàu cho đến khi mật độ chung của nó thấp hơn lượng nước của môi trường xung quanh. Các hydroplanes khi này lại được điều khiển sao cho nước đè lên nó và đưa đầu tàu nổi lên. Trong những trường hợp khẩn cấp thì khoang dằn sẽ nhanh chóng được bơm đầy khí ở áp suất cao để tàu nổi lên mặt nước, tạo năng lượng trực tiếp cho chân vịt hay nó cũng có thể sạc cho ắc quy có dung lượng cực lớn hoặc thực hiện cả hai chức năng đồng thời. Ắc quy này sẽ điều khiển trực tiếp chân vịt hoặc sẽ dùng đến khi xảy ra sự cố.
    Khi lặn xuống biển, tàu ngầm thường xuyên hoạt động trong những điều kiện rất tối mà mắt người gần như không nhìn thấy. Do vậy trên tàu ngầm được trang bị những hệ thống dẫn đường riêng biệt, nó dùng những hệ thống dẫn đường (inertial guidance systems) với gyroscope nhằm theo dõi hướng đi so với một điểm khởi đầu cố định. Hệ thống quán tính này chỉ chính xác trong khoảng 150 tiếng và sau đó thì nó phải được căn chỉnh lại với những hệ thống điều hướng riêng biệt sử dụng hệ thống SONAR (Sound and Navigation and Ranging) cả chủ động và bị động. Hệ thống định vị dưới mặt nước SONAR chủ động sẽ tự động phát ra những sóng âm di chuyển trong nước, chạm vào mục tiêu và quay trở lại báo cho tàu biết (khá giống trên bờ nhưng trên bờ thì ta dùng sóng radio). Máy tính sẽ dễ dàng tính toán được vị trí của địch dựa vào các thông tin của tốc độ, của âm thanh trong nước và thời gian mà sóng âm phản hồi. Đây cũng là cách mà cá voi, cá heo và dơi sử dụng để bắt mồi. Hệ thống SONAR cũng sẽ thu thập các âm thanh phát ra từ tàu địch và cũng được dùng để căn chỉnh lại hệ thống điều hướng quán tính của tàu.
    Khi gặp nạn, tàu ngầm sẽ phát ra những tín hiệu radio cảnh báo với trạm chỉ huy hoặc thả những chiếc phao nổi nhằm cho biết vị trí của nó. Tùy theo tình thế mà tàu sẽ phản ứng, chẳng hạn như tắt lò phản ứng hạt nhân và giảm thiểu tất cả điện năng tiêu thụ. Việc giải cứu tàu ngầm phải diễn ra trong vòng 48 tiếng kể từ khi gặp nạn. Các tàu giải cứu sẽ đưa những phương tiện nhỏ xuống để cứu hộ thủy thủ đoàn trước hoặc cố gắng kéo tàu lên càng nhanh càng tốt. Những phương tiện nhỏ này gọi là DSRV (Deep – Submergence Rescue Vehicles). Các DSRV sẽ di chuyển độc lập với tàu chính để tiếp cận tàu ngầm ở những khoang cứu hộ, tạo ra những khoang kín khí để mở cửa khoang và cứu tối đa 24 thủy thủ lên một lúc. Bản thân con tàu sẽ được cứu bằng cách sử dụng các cầu phao, kéo lên mặt biển. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc cứu hộ bao gồm độ sâu của vùng biển mà tàu đang gặp nạn, địa hình của tầng nước và điều kiện khí hậu trên mặt biển.

    Sức mạnh tiềm ẩn trong môi trường biển xanh

    Tại Thái Bình Dương, các hạm đội tàu ngầm và sự phát triển của chúng đã thay đổi nhanh chóng kể từ sau Chiến tranh lạnh. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, Nga đã đưa ra khỏi biên chế hầu hết tàu ngầm của họ và Mỹ cũng thu nhỏ quy mô lực lượng tàu ngầm của mình. Trong khi đó, Trung Quốc lại nhanh chóng mở rộng và nâng cấp lực lượng lực lượng dưới mặt nước. Để cân bằng cán cân quân sự, các nước khác trong khu vực Thái Bình Dương cũng đang tiến hành mở rộng và hiện đại hóa lực lượng tàu ngầm của mình.
    Mackenzie Eaglen và Jon Rodeback trong một bài viết trên tờ The Heritage Foundation đã viết: “Một số quốc gia chỉ có năng lực tác chiến hải quân giới hạn nay đang nhanh chóng đầu tư để mở rộng tầm ảnh hưởng và khả năng tung phóng sức mạnh nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của họ trên thế giới. Hải quân Mỹ cần phải vượt lên trước các đối thủ trong môi trường tác chiến biển xanh khi họ cố vươn tầm hoạt động. Điều này đòi hỏi chúng ta cần nâng cấp khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo và chống ngầm trong môi trường biển xanh để cải thiện khả năng đánh chặn chiến lược”.



    Kể từ sau Chiến tranh lạnh, Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLAN) của Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp đáng kể lực lượng của mình, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm, hiện đang được đánh giá là “sức mạnh tiềm ẩn” nhất của PLAN.
    Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đưa vào sử dụng 4 loại tàu ngầm mới tự thiết kế và đóng trong nước như: Jin hay Type 094 (SSBN), Shang hay Type 093 (SSN), Yuan hay Type 041/039A (SSP) và Song hay Type 039/039G (SSK). Thế hệ tàu tiếp theo của lớp Shang đang được triển khai. Có thể nhận thấy rằng, quy mô lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc sẽ rất lớn (khoảng 70 chiếc hoặc hơn) là một ước tính thực tế chính xác về cấu trúc lực lượng Hải quân Trung Quốc trong vài thập niên tới.
    Lực lượng tàu ngầm tiến công Trung Quốc đã tăng mạnh số lần tuần tra từ 2 lần năm 2006 lên 6 lần năm 2007 và tới 12 lần năm 2008. Đây là những bằng chứng cho thấy quốc gia này đang tập trung vào huấn luyện và thể hiện tham vọng “cho Hoa Kỳ thấy rằng, Trung Quốc là một thế lực, đối trọng của họ trên biển Thái Bình Dương”. Hai sự kiện gần đây có thể mô tả rõ xu hướng này. Vào ngày 26/10/2006, một tàu ngầm của Trung Quốc đã nổi lên gần biên đội tàu sân bay Kitty Hawk của Mỹ – đang hoạt động gần Okinawa trong khoảng cách có 5 dặm (khoảng 8km). Ngày 11/6/2009, một tàu ngầm của Trung Quốc đã va chạm với tàu USS John S. Cain’s có trang bị cảm biến mảng pha của Mỹ ngay ngoài khơi Philippines.
    Cho dù những sự kiện này, có thể hoặc chưa thể hé lộ những hạn chế trong khả năng chống ngầm của Hoa Kỳ và các thủy thủ tàu ngầm Trung Quốc vận hành thành thạo các cỗ máy chiến tranh thầm lặng dưới đáy đại dương – là những thông tin thực tế nhất, khẳng định một điều rõ ràng rằng, lực lượng tàu ngầm Trung Quốc đã vươn tầm hoạt động xa hơn và hoạt động hiệu quả hơn so với trước đây.

    Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã kết luận rằng: “Việc phát triển và đưa vào trang bị các tàu ngầm lớp Kilo, Song, Shang, và Yuan đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với khả năng đánh chặn và tác chiến dưới mặt nước của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa”.

    Điểm khác biệt của Kilo 636MV

    Tàu ngầm Kilo 636MV mà Nga bán cho Việt Nam có nhiều điểm khác biệt, trong đó đồn đoán lớn nhất là về vũ khí trang bị so với các thế hệ tàu ngầm cũng lớp Kilo 636 của Nga đã được xuất khẩu cho Trung Quốc trước đây là loại Kilo 636MK.
    Trước tiên, tàu ngầm Kilo của Việt Nam có thể sẽ được lắp đặt tên lửa hành trình tấn công đối đất 3M-14E loại mới nhất, có tầm bắn trên 200km. Ngoài Việt Nam, hai nước khác được Nga xuất khẩu tên lửa 3M-14E là Ấn Độ và Algeria.
    Bên cạnh đó, tàu ngầm Kilo 636MV còn được trang bị radar dẫn đường phức hợp đa tác dụng GE2-01 thế hệ mới. Loại radar này có ưu điểm lớn là giảm tối đa tạp âm trong môi trường nước và giúp đa dạng hóa biện pháp dẫn đường.
    Tàu ngầm Kilo 636MK của Trung Quốc chỉ được trang bị hệ thống SONAR MGK 400E loại cơ bản, trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636MV lại có thể được lắp đặt hệ thống SONAR MGK 400E loại cải tiến, được trang bị bộ xử lý tín hiệu tốc độ cao nhiều công năng và có mức độ số hóa cao hơn.
    Về kính tiềm vọng, tuy tàu ngầm Kilo 636MK và tàu ngầm Kilo 636MV đều được trang bị hệ thống thám trắc quang học, nhưng kính tiềm vọng sử dụng cho nhiệm vụ tấn công của tàu ngầm Kilo 636MV được lắp đặt thêm thiết bị đo cự ly bằng tia lade và hệ thống quan trắc TV, IR. Trong khi đó, tàu ngầm Kilo 636MK chủ yếu sử dụng quang học ngắm bắn và không có thiết bị đo cự ly bằng tia lade. Điều đó có nghĩa năng lực tác chiến ban đêm và độ chính xác của đòn đánh của tàu ngầm Kilo 636MV sẽ cao hơn tàu ngầm Kilo 636MK.
    Điểm khác biệt cuối cùng là hệ thống điều hòa mà tàu ngầm Kilo 636MV sử dụng thích hợp hơn với khí hậu, địa hình nhiệt đới.
    Bên cạnh những điểm khác biệt, tàu ngầm Kilo mà Nga bán cho Trung Quốc và tàu ngầm Kilo mà Nga xuất khẩu cho Việt Nam có một số điểm giống nhau như cùng được trang bị tên lửa chống hạm 3M-54E, cùng sử dụng ắc quy 476E loại cải tiến, tuổi thọ dài, đáp ứng được yêu cầu về nhiệt độ nước ở Thái Bình Dương.
    Do thời gian sản xuất của hai loại tàu ngầm trên cách nhau hơn 5 năm, nên công nghệ trang bị cho tàu ngầm Kilo 636MV tiên tiến hơn tàu ngầm Kilo 636MK là điều đương nhiên. Dù đều là tàu ngầm lớp Kilo 636M, nhưng khoảng cách về công nghệ giữa tàu ngầm Kilo 636MV và tàu ngầm Kilo 636MK chênh lệch chí ít là trên 10 năm.

    Tàu ngầm Kilo của Việt Nam có thể sẽ được lắp tên lửa hành trình tấn công đối đất 3M-14E loại mới nhất, có tầm bắn trên 200km. Ngoài Việt Nam, hai nước khác được Nga xuất khẩu loại tên lửa này là Ấn Độ và Algeria



    Trần Thế Vinh (Tổng hợp)
    Báo Năng lượng Mới số 107, ra ngày 30/3/2010

  13. Có 2 người thích bài viết này


  14. #29
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết
    Sát thủ diệt hạm” Kh-59MK trên Su-30MK2 Việt Nam

    Những chiến đấu cơ Su-30MK2 mà Nga bán cho Việt Nam trong năm 2011 có rất nhiều đổi mới và cải tiến để có được những khả năng ưu việt.

    Hiện nay, trong biên chế Không quân Việt Nam có khoảng 12 chiếc Su-27SK và 4 chiếc Su-27UBK. Năm 2008, Việt Nam đã đặt hàng thêm 6 chiếc Su-30MK2V và năm 2009 tiếp tục đặt hàng thêm 8 chiếc và đợt đặt hàng lớn nhất gần đây là 12 chiếc vào năm 2010.

    Tất cả các hợp đồng nói trên dự kiến sẽ chuyển gao đầy đủ cho Việt Nam vào năm 2012. Tính đến năm 2012, Không quân Việt Nam sẽ có khoảng 32 chiếc Su-30MK2, biến thể được thiết kế để thực hiện các nhiệm vụ tác chiến trên biển.




    Su-30MK2V của Việt Nam

    Những chiến đấu cơ Su-30MK2 mà Nga bán cho Việt Nam trong năm 2011 có rất nhiều đổi mới và cải tiến để có được những khả năng ưu việt.

    Đầu tiên phải nói đến cabin của loại máy bay này đã được cải tiến và hiện đại hóa một cách đáng kể, ca bin đôi đã được làm với mục đích làm giảm mệt mỏi cho phi công, tăng cường khả năng chiến đấu đa mục đích của loại chiến đấu cơ này.



    Su-30MK được trang bị vũ khí hiện đại
    Những chiếc Su-30MK2 này được trang bị nhiều vũ khí mới nhằm tăng cường sức mạnh cũng như sức chiến đấu.

    Do không chỉ thực hiện nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không, Su-30MK2 của Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ đối hải, cho nên nó được trang bị một loạt các tên lửa chống tàu tiên tiến như tên lửa siêu âm Kh-31 chống tàu tầm ngắn, tên lửa không đối hạm tầm xa Kh-59MK, một biến thể của tên lửa không đối đất Kh-59M.

    Kh-59 Ovod (tiếng Nga: Х-59 Овод, định danh NATO AS-13 Kingbolt) là một loại tên lửa hành trình dẫn đường bằng TV của Nga, với hệ thống đẩy nhiên liệu rắn hai tầng và tầm phóng là 115 km, do Viện Raduga thiết kế chế tạo.

    Tên lửa Kh-59 được thiết kế dựa trên loại tên lửa Kh-58 (NATO gọi là AS-11 Kilter). Raduga phát triển Kh-59 vào thập niên 1970 như một phiên bản tầm của Kh-25 (định danh NATO AS-10 Karen), như một vũ khí tấn công chính xác từ xa cho Su-24M và Mig-27.



    Tên lửa Kh-59M

    Kh-59 ban đầu được trang bị một động cơ nhiên liệu bột, và kết hợp với một máy gia tốc nhiên liệu bột ở đuôi. Bộ ổn định gấp nếp được đặt ở phía trước của tên lửa, với cánh và đuôi lái ở phía sau.

    Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện của động cơ phản lực RDK-300, người ta đã tạo ra các tên lửa hành trình tầm xa, tiêu thụ ít nhiên liệu hơn và hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng.

    Dựa trên RDK-300, Viện Thiết kế chế tạo máy Raduga đã đề xuất 1 biến thể tên lửa hiện đại của Kh-59 mang tên Kh-59M Ovod-M (tiếng Nga X-59M Овод – M, định danh NATO AS-18 Kazoo) để thay thế cho các tên lửa mang động cơ nhiên liệu rắn trước đây.



    Kh-59M

    Việc hiện đại hóa, như một tất yếu, đã dẫn đến việc tạo ra một hệ thống tên lửa mới có thiết kế gần như khác hoàn toàn với biến thể trước đó, và có hiệu suất cao hơn nhiều.

    Khi hệ thống dẫn hướng được giữ nguyên, sự thay đổi lớn nhất được thực hiện ở thân tên lửa, cộng với việc thay thế động cơ tên lửa nhiên liệu rắn trước đó bằng động cơ tuốc bin cánh quạt đẩy ở dưới thân và phía trước của cánh sau.

    Như bất kỳ tên lửa hành trình hiện đại nào, tên lửa Kh-59M có các bộ phận chính là vỏ lượn gồm thân, cánh, đuôi, động cơ xuất phát thường là động cơ tên lửa, động cơ hành trình thường là động cơ phản lực không khí và hệ thống điều khiển.



    Ở phần giữa thân tên lửa, người ta bố trí một khoang nhiên liệu có thể tích lớn với hệ thống thoát nước và cửa tiếp nhiên liệu.

    Ở phần phía sau vẫn giữ lại khối động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, hỗ trợ cho chế độ tốc độ cao sau khi tên lửa bắt đầu tách ra khỏi máy bay.

    Trước khi phóng, Kh-59M được nạp các dữ liệu cần thiết như bản đồ địa hình số hóa, ảnh mục tiêu. Khi có lệnh phóng, động cơ xuất phát đẩy nó rời khỏi ống phóng đến một độ cao nhất định rồi tách khỏi tên lửa, sau đó động cơ hành trình sẽ được khởi động để đưa tên lửa đến mục tiêu.

    Tên lửa có thể bay theo quĩ đạo hỗn hợp để tránh sự phát hiện và ngăn chặn của lực lượng phòng không đối phương.



    Sau khi được bắn đi, động cơ hành trình tên lửa được bảo vệ khỏi các yếu tố bên ngoài trong quá trình bay, và có thể bay xa hơn nhờ động cơ tuốc bin phản lực khí.

    Tính năng khí động học của Kh-59M được tăng lên do tên lửa có khối lượng và kích thước lớn hơn. Tên lửa di chuyển bằng lực nâng khí động học, ổn định quĩ đạo bằng hệ thống định vị và có thể chuyển hướng bất kỳ lúc nào khi cần thiết.

    Việc sử dụng động cơ động cơ tuốc bin phản lực không khí đòi hỏi phải có sự thay đổi của hệ thống điều khiển tự động, nhận được từ bộ điều khiển động cơ, thực hiện khởi động, duy trì và kiểm soát việc cung cấp nhiên liệu và điều chỉnh độ cao và tốc độ tên lửa.




    Với việc trang bị động cơ phản lực tuốc bin khí, tầm hoạt động của tên lửa có thể lên tới 140 km, tầm bắn hiệu quả lên tới 120 km.

    Kh-59M có thể được phóng từ độ cao thấp (100 m), và bay ở độ cao xác định (từ 50 đến 1000 m), được dẫn hướng bằng hệ thống điều khiển tự động và cao kế vô tuyến (radar đo độ cao). Thể tích của khoang chứa động cơ nhiên liệu rắn trước đây đã được sử dụng để chứa số lượng đầu đạn nhiều gấp đôi.

    Ngoài đầu đạn xuyên giáp có khối lượng 320 kg, tên lửa có thể sử dụng thêm loại đầu đạn chụm và phá mảnh có khối lượng 280 kg.

    Kh-59M có thể phóng đi với tốc độ 600 đến 1.000 km/h và có độ chính xác khoảng 2 đến 3 m. Kh-59M cũng được trang bị trên các biến thể của máy bay chiến đấu Su-27. Nó được gắn vào máy bay nhờ thiết bị treo AKU-58-1.



    Còn trong trường hợp trang bị trên máy bay tấn công ném bom Su-24M, Kh-59M được sử dụng với hệ thống điều khiển hỏa lực SUO-1-6M và thiết bị treo tên lửa PK-9 mà không có bất kỳ sửa đổi của máy bay.

    Thông số kỹ thuật của tên lửa không đối đất Kh-59M:

    Tầm bắn:

    - Tối thiểu: 10 -15 km

    - Tối đa: 100 – 115 km

    - Điều khiển tự động: 40 km

    Tầm hoạt động: 140 km

    Độ chính xác: 2-3 m.

    Tốc độ: 860 đến 1.000 km/h

    Độ bay cao so với mặt nước biển: 7 m

    Độ bay cao so với mặt: 50, 100, 200, 600, 1.000 m.

    Trang bị trên máy bay: MiG-29K, Su-30M, Su-24M

    Tốc độ máy bay: 600 – 1.100 km/h.

    Độ cao phóng: 0,1 – 5 km.

    Số lượng tên lửa mang: 2

    Chiều dài tên lửa: 5,69 m

    Đường kính tối đa: 0,38 m

    Sải cánh: 1,26 – 1,3 m

    Khối lượng: 920 kg (930 – 950 kg)

    Khối lượng đầu đạn: 320 kg.

    Thiết bị điều khiển:

    - Tầm hoạt động: 140 km.

    - Chiều dài: 4 m.

    - Đường kính:0,45 m

    - Khối lượng: 260 kg



    Kh-59MK
    Trên cơ sở của tên lửa không đối đất Kh-59M, Viện thiết kế chế tạo máy Raduga tiếp tục cho ra đời biến thể không đối hạm Kh-59MK có nhiều tính năng vượt trội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến trên biển. K-59MK đã được trình làng lần đầu tiên tại triển lãm MAKS-2001.

    Không giống như người anh Kh-59M, được trang bị với hệ thống dẫn hướng TV, Kh-59MK sử dụng đầu dò radar chủ động ARGS-59.

    Việc tăng cường máy gia tốc nhiên liệu cho phép tên lửa có thể bắn xa tới 115 đến 285 km. Tuy chỉ đạt tốc độ cận âm, nhưng uy lực công phá của nó thì vô cùng mạnh mẽ với đầu đạn 320 kg và một ưu điểm nữa là chi phí của nó ít hơn nhiều các tên lửa siêu âm.

    Theo các chuyên gia của Raduga xác suất bắn trúng một tàu tuần dương, tàu khu trục là 90 đến 96%, tàu, thuyền nhỏ – 70 đến 93 %.

    Tên lửa chống hạm Kh-59MK đã thông qua các cuộc thử nghiệm trên mặt đất và đã được sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài.

    Kh-59MK được trang bị trên các máy bay chiến đấu trong gia đình Su-27 trong đó có Su-30MK xuất khẩu cho Trung Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam.

    Do có khối lượng tương đối nhỏ - khoảng 930 kg, nên người ta có thể treo trên Su-30 tới 5 quả tên lửa này.

    Như vậy, Kh-59MK cùng với Kh-31 sẽ là cặp đôi tên lửa chống hạm hoàn hảo trên Su-30MK2 của Việt Nam, giúp cho máy bay chiến đấu siêu cơ động này phát huy hết khả năng khi tác chiến trên biển.
    Sửa lần cuối bởi trucngon; 10-04-2012 lúc 10:34 AM.

  15. #30
    Ngày tham gia
    02-10-2010
    Bài viết
    4,231
    Thích
    191
    Đã được thích 1,200 lần trong 819 bài viết

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •