PDA

Xem bản đầy đủ : Tâm tình người lính Tây Nguyên!



Trang : [1] 2

litangu
02-04-2013, 11:02 AM
Viết ở đền Bến Dược

“Bến Dược miết rồi nghe cũng thành quen“


Giời ơi vui quá thể
Nghe em gọi bến Vượt giống thủa nào
anh chợt nhớ đêm theo cô du kích
Qua sông soi thủy triều lóng lánh sao

Lính nghe tên bến cần chi sai đúng
Chỉ nương theo giọng thiếu nữ vùng ven
Phía Sài gòn đèn đêm như trời ửng
Bến Dược miết rồi nghe cũng thành quen

Quân nườm nượp đêm này qua đêm khác
Bến từng in vạn dấu dép bết bùn
Em lén soi gương trong lùm đậu đũa
Sót vết bùn trên bến vượt nhà em

Đêm tiến về Đô thành trong tầm pháo nổ
dép còn in bùn nước bến ban chiều
Ngày Giải phóng em về xóm cũ
Bao Nấm mồ chưa mọc cỏ liêu xiêu

Những binh đoàn chỉ một đêm qua bến
Hương cỏ cứ đằm trong hương tóc hương bùn
Củ chi ươm anh một đời nỗi nhớ
Mấy chục ngàn người nằm ủ đất để mầm lên

Những linh hồn hai đầu bến sao quên ?
Vong bến Vượt xin gọi là "Bến Dược"
Chẳng thể mất tiếng của hồn dân nước
Như giữ máu xương mồ mả tổ tiên mình

Nay ghé ngôi đền trầm mặc uy linh
Sóng và gió tựa với sông với nước
Anh ngả mũ ban trưa nhớ một đêm bến Vượt
Em cũng hoa râm trước Bến “Dược“ quê mình

Củ chi ơi, ngan ngát mộ chiến binh
Một thế kỉ Củ chi hoang mạc
Nay trở lại xanh ngẩn ngơ sóng nước
Trưa nay sông tím thế Lục bình ?

Củ Chi 2012 LITANGU (ăn theo bác LIXETA)

litangu
11-04-2013, 11:35 PM
Hoa râm bụt



Tôi đi bộ đội về thấy làng quê sau mấy năm hầu như không thay đổi. Chỉ duy thấy ngỡ ngàng là gặp những đứa con gái phổng phao mười bẩy mười tám mà lúc mình ra đi nó còn loe hoe tóc đuôi gà sém nắng.
Đi trên đường, các bà làm dưới ruộng gọi ơi ới. Mày về đấy hả cu? mày về đấy hả cháu? rồi mày khỏe không con, có bị thương không? mình đi dọc cánh đồng mà trả lời cứ oang oang như gọi đò.
Mới về nhà hôm trước, hôm sau phải đi chào họ hàng trong làng ngoài xã. Cái tin anh Luân con ông Dụng trong B về cả làng ai cũng biết từ sáng tinh mơ. Mấy đứa bạn gái chăn trâu cắt cỏ cùng thì cứ ơ ớ: thế đằng ấy không có quần áo bộ đội à? chả là tôi về tới nhà là mặc ngay quần áo cũ của mình. Rõ dại, ngượng quá nên đánh trống lảng bảo tớ bán hết rồi. Chúng nó cười phá lên. Có một cô không cười bẽn lẽn quay đi. Con nhà ai thế nhỉ? mà mặt nó giống cái Thụ bạn mình xưa quá. Hỏi một đứa, nó bảo đúng đấy nó em cái Thụ đấy.
Em tên gì? nó bảo em là Thanh. rồi cầm cái nón quạt phây phẩy. Hồi anh chơi với chị thụ em em bé nhưng biết anh rồi, anh đi đại học chị Thụ hay viết thư cho anh em toàn mang bỏ thùng thư hộ chị ấy. Lúc chị ấy mất anh cũng viết thư về em cũng nhớ. Nó cúi mặt buồn rười rượi. Tôi chợt nhoi nhói buồn, nhớ năm 72 đang ở đơn vị trên Thái Nguyên nghe tin Thụ mất vì chó dại cắn. Chúng tôi thân nhau từ bé mày tao chí tớ cho tới lúc đi học ĐH vẫn thế. Lũ bạn đi xa rồi còn cô em của Thụ vẫn đứng lại dưới dặng râm bụt. Mùa đông, hoa râm bụt lưa thưa đỏ rừng rực. Cái màu đỏ của hoa râm bụt tươi hơn hớn. Người sành hoa bảo loài hoa này không thuộc loại hoa quân tử. Tôi chịu chả hiểu và cũng chả cần hiểu bởi từ bé con đường làng tôi dăng dăng hoa này và dẫu đi xa tôi vẫn yêu vẫn nhớ. Thanh ngắt một bông hoa đỏ cài lên nón rồi đội lên đầu: Thôi em đi làm đây rỗi anh xuống chơi với bố bầm em. Cô chạy ào đi theo chúng bạn, cái nón trắng có bông hoa râm bụt phấp phới.
Mấy ngày ở nhà trước khi trở về trường cũ tôi sửa lại hàng rào vườn nhà... Ở quê tôi, người ta hay cắm cây ô rô hoặc râm bụt làm hàng rào. Cái giống cây rất dễ sống và đan ken vào nhau xanh mươn mướt. Vừa cắm những cành cây phất cụt ngọn xuống đất vừa nghĩ cái bông hoa trên nón cái Thanh. Đứng cạnh mình mà cô ấy cài bông hoa lên nón mà cặp má thì cũng ửng lên. Gái quê mình hay thế nhỉ.

Rồi hàng rào râm bụt vườn nhà tôi ngun ngút xanh. Những kì nghỉ hè về quê nhìn cả một hàng dài hoa phấp phối đỏ. Cái dặng rào thật thích mắt. Lá râm bụt thì xang ngắt còn hoa thì đỏ chói. Thứ hoa rất nhiều mật nên đầy kiến và ong đậu trong cái loa kèn đỏ rực ấy. Nhìn ra vườn, ngắm bông hoa đung đưa lại nhớ đến cái cô Thanh ngày nào. Em gái tôi bảo nó lấy chồng tận Vĩnh yên lâu rồi anh ạ. Vài chục năm sau Tôi gặp Thanh ở Hà nội. Cô ấy đưa con xuống nhập trường đại học Tài chính. Nói chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện chị Thụ, chuyện quê cũ với nhau tôi cứ thấy hiện ra bông hoa râm bụt khiêm nhường giản dị như gái quê. Nó đỏ rực và má gái quê tôi rất hay ửng đỏ.

NTL

litangu
14-04-2013, 11:08 PM
Hoa râm bụt



Tôi đi bộ đội về thấy làng quê sau mấy năm hầu như không thay đổi . Chỉ duy thấy ngỡ ngàng là gặp những đứa con gái phổng phao mười bẩy mười tám mà lúc mình ra đi nó còn loe hoe tóc đuôi gà sém nắng .
Đi trên đường , các bà làm dưới ruộng gọi ơi ới . Mày về đấy hả cu ? mày về đấy hả cháu ? rồi mày khỏe không con, có bị thương không ? mình đi dọc cánh đồng mà trả lời cứ oang oang như gọi đò .
Mới về nhà hôm trước , hôm sau phải đi chào họ hàng trong làng ngoài xã . Cai tin anh Luân con ông Dụng trong B về cả làng ai cũng biết từ sáng tinh mơ . Mấy đứa bạn gái chăn trâu cắt cỏ cùng thì cứ ơ ớ : thế đằng ấy không có quần áo bộ đội à ? chả là tôi về tới nhà là mặc ngay quần áo cũ của mình . Rõ dại , ngượng quá nên đánh trống lảng bảo tớ bán hết rồi . Chúng nó cười phá lên . Có một cô không cười bẽn lẽn quay đi . Con nhà ai thế nhỉ ? mà mặt nó giống cái Thụ bạn mình xưa quá . Hỏi một đứa , nó bảo đúng đấy nó em cái Thụ đấy .
Em tên gì ? nó bảo em là Thanh . rồi cầm cái nón quạt phây phẩy . Hồi anh chơi với chị thụ em em bé nhưng biết anh rồi , anh đi đại học chị Thụ hay viết thư cho anh em toàn mang bỏ thùng thư hộ chị ấy . Lúc chị ấy mất anh cũng viết thư về em cũng nhớ . Nó cúi mặt buồn rười rượi . Tôi chợt nhoi nhói buồn , nhớ năm 72 đang ở đơn vị trên Thái Nguyên nghe tin Thụ mất vì chó dại cắn . Chúng tôi thân nhau từ bé mày tao chí tớ cho tới lúc đi học ĐH vẫn thế . Lũ bạn đi xa rồi còn cô em của Thụ vẫn đứng lại dưới dặng râm bụt . Mùa đông , hoa râm bụt lưa thưa đỏ rừng rực . Cái màu đỏ của hoa râm bụt tươi hơn hớn . Người sành hoa bảo loài hoa này không thuộc loại hoa quân tử . Tôi chịu chả hiểu và cũng chả cần hiểu bởi từ bé con đường làng tôi dăng dăng hoa này và dẫu đi xa tôi vẫn yêu vẫn nhớ . Thanh ngắt một bông hoa đỏ cài lên nón rồi đội lên đầu : Thôi em đi làm đây rỗi anh xuống chơi với bố bầm em . Cô chạy ào đi theo chúng bạn , cái nón trắng có bông hoa râm bụt phấp phới .
Mấy ngày ở nhà trước khi trở về trường cũ tôi sửa lại hàng rào vườn nhà . . Ở quê tôi , người ta hay cắm cây ô rô hoặc râm bụt làm hàng rào . Cái giống cây rất dễ sống và đan ken vào nhau xanh mươn mướt . Vừa cắm những cành cây phất cụt ngọn xuống đất vừa nghĩ cái bông hoa trên nón cái Thanh . Đứng cạnh mình mà cô ấy cài bông hoa lên nón mà cặp má thì cũng ửng lên . Gái quê mình hay thế nhỉ .

Rồi hàng rào râm bụt vườn nhà tôi ngun ngút xanh . Những kì nghỉ hè về quê nhìn cả một hàng dài hoa phấp phối đỏ . Cái dặng rào thật thích mắt . Lá râm bụt thì xang ngắt còn hoa thì đỏ chói . Thứ hoa rất nhiều mật nên đầy kiến và ong đậu trong cái loa kèn đỏ rực ấy . Nhìn ra vườn , ngắm bông hoa đung đưa lại nhớ đến cái cô Thanh ngày nào . Em gái tôi bảo nó lấy chồng tận vĩnh yên lâu rồi anh ạ . Vài chục năm sau Tôi gặp Thanh ở Hà nội . Cô ấy đưa con xuống nhập trường đại học Tài chính . Nói chuyện ngày xửa ngày xưa , chuyện chị Thụ , chuyện quê cũ với nhau tôi cứ thấy hiện ra bông hoa râm bụt khiêm nhường giản dị như gái quê . Nó đỏ rực và má gái quê tôi rất hay ửng đỏ

NTL

Một con đường đi không trở lại
Nguyễn Trọng Luân -






Con đường chúng ta hành quân
Chỉ một lần rồi chẳng bao giờ trở lại
Suốt Trường Sơn có bao nhiêu đồng đội
Vùi xác mình vào con đường lãng quên

Nơi con suối khô khói thở rát đá lèn
Nơi cánh rừng muỗi bu thân sốt rét
Nơi trở giấc trong hầm khuya pháo kích
Chạm má mình nước mắt bạn sang tôi

Một con đường cơn đói quặn như sôi
Thèm đến khóc bát canh chua của mẹ
Một con đường âm u thư không tem gửi vội
Người vào người ra ôm nhau giữa cổng trời

Một con đường đi chỉ một lần thôi
Người về cứ bâng khuâng đêm nhớ
Người nằm xuống nát hồn mơ quê cũ
Con đường xưa thăm thẳm nhói tim mình

Có một thời con đường ấy lung linh
Mắt trong mắt, những bài ca ra trận
Anh gặp em tóc xanh trùm súng đạn
Áo ngực em dăng hôi hổi cả cánh rừng

Một con đường leo núi vượt sông
Cột mốc là những nấm mồ chết trẻ
Tên những cánh rừng mang tên người không về nữa
Một con đường nước mắt tưới rưng rưng

Thôi kể làm chi những tên đất tên sông
Bởi ứa máu nhớ mà không trở lại
Truờng Sơn ơi, xin hương hồn đồng đội
Trở dậy dựng bia cho một con đường

Trở dậy đặt tên cho ngọn núi dòng sông
Hoa rừng trắng tận đời sau vẫn trắng
Cánh rừng cũ lá khô buông tĩnh lặng
Lá rơi buồn tiếng nấc thả vào đêm


Chẳng thể trở về nên buốt nhói trong tim
Nối tim bạn với tim mình bằng đường hành quân trong trí nhớ
Lá vàng rơi chiều nao bên suối nhỏ
Chiều nay...
...lại rơi trên tóc bạc chúng mình



Sáng 27/7/2011

litangu
15-04-2013, 11:52 PM
Ở bờ sông Sài gòn trên phần đất Củ chi. Cuối tháng 4/75 chúng tôi có mười ngày từ 19/4 đến đêm 28/4 náu quân, làm mọi chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Mười ngày ấy mà thật nhiều nỗi nhớ ,thật nhiều háo hức bồi hồi, thật nhiều kỉ niệm để đến bây giờ nghĩ về Củ chi lại vẫn cứ bồi hồi.
Bài thơ Nỗi nhớ hoa Cỏ may là thế. Đầu đề bài thơ nghe nhàm chán quen quen. Nhưng tôi không biết đặt tên nào khác bởi vì tôi nhớ thật.




Nỗi nhớ hoa Cỏ May

Tặng một người con gái Củ Chi


Biết bao giờ về lại với dòng sông
Để anh lặn ngụp vào tuổi trẻ
Lục bình xanh mê mải
Hoa tím chiều Củ chi

Bao giờ về để có ngày xưa
Nhặt hoa cỏ may trên gấu quần con gái
Ngày mai vào trận mới
Bồi hồi nắm phải tay em

Hoa cỏ may bịn rịn đêm
Bìm bịp kêu nhuộm màu sông tím ướt
Em bảo đưa anh về Nhuận Đức
Má khêu đèn chờ... em ngồi gỡ cỏ may

Sông thổn thức, lục bình trôi thổn thức
Hương cỏ đêm như cất thành men
Mai đánh Đồng Dù rồi trở lại tìm em
Hoa cỏ phía bờ sông em ủ kĩ

Anh biền biệt mấy chục năm lúc quên lúc nhớ
Chỉ cỏ may bờ sông chẳng vô tình
Hoa găm ngược vào tiếng sóng
Đêm Bến Đình em gỡ nhớ ngày xưa


NTL

litangu
16-04-2013, 07:47 AM
Chuyện về bông hoa Pơ lang


Chuyện thì buồn. Nhưng chuyện buồn đâu phải không nên kể. Có khi kể ra rồi lòng thấy thảnh thơi hoá vui hơn. Chuyện tôi kể về hoa Pơ lang này như thế.
Bà bác sĩ ấy về hưu rồi. Cùng tổ dân phố lại sinh hoạt hội CCB phường với tôi. Mấy đứa con công tác và cư ngụ tít trời nam. Bà bảo hai vợ chồng son ngủ ít nên đi bộ ngoài hồ Hoàng cầu thì nhiều. Mấy ngày nay nắng nóng quá. Mấy gốc phượng vĩ ngoài hồ chật người ngồi trà đá, râm ran chuyện hội nghị Campuchia không ra được thông cáo. Bà nói với tôi anh cũng là lính B3 nên tôi kể, chuyện một thời của lính của tuổi trẻ của B3 mà thôi. Nhìn bà, mái tóc bạc nhuộm lại và rất nét na. Hiểu ra người bác sĩ ở trong rừng thời xưa xinh phải biết.
..... “Đánh Kon tum ác liệt quá, tháng tư ta thắng, tháng 5 thấy chững lại rồi cuối tháng... mình yếu... rồi rút. Chúng tôi đón thương binh về toàn là anh em bị thương mấy ngày rồi. Mùa mưa Tây nguyên lại bắt đầu... các vết thương có ròi đến nhanh. Thương binh chết trên tay chúng tôi, thương binh đưa đến đội điều trị đã chết, thương binh nằm chờ đến lượt phẫu của mình thì chết. Con gái chân yếu tay mềm chúng tôi chỉ biết khóc, chỉ biết vuốt ve nắm chân tay các anh muốn truyền hơi ấm yêu thương của đồng đội tới nhau để thêm chút hi vọng sống. Các anh cũng biết, có người tắt thở rồi vẫn nhìn chúng tôi như muốn chào tạm biệt, muốn nhắn gửi một nhời gì đó về quê với mẹ với người thân.
Đầu mùa mưa, cuối mùa khô hoa Pơ lang xót lại lốm đốm đỏ. Đội điều trị ở một cánh rừng có mấy cây gạo to. Nó cao vượt lên hẳn những ngọn lồ ô xanh mướt mát. Lá thì ít mà hoa thì nhiều. Sao cái loài cây này nó không sống cho nó, nó cứ sống cho thiên nhiên nhiều hơn. Ngay cả vào mùa mưa lá nó cũng ít, dường như nó hút tinh tuý cao nguyên chỉ để vắt kiệt máu mình vào màu đỏ của hoa, vào những cánh hoa mỡ màng dầy dạn như những cánh diều hồng như máu? Còn chính thân nó thì khẳng khiu khô khốc những gai mốc thếch giữa nắng và gió.
Đội điều trị có một thương binh ở đoàn Đồng Bằng. Anh ấy quê xứ Đoài. Trung đội trưởng bắn DKZ. Mấy ngày đầu anh ấy nặng tai lắm. Cái vết thương thì xoàng thôi nên rất nhanh bình phục. Anh ấy nhao xuống giúp y tá chúng tôi đủ việc, mà việc nào anh ấy cũng tỏ vẻ như rất biết nghề. Anh cười hì hì, rằng bố anh là y tá ở trạm xá quê nhà. Mấy việc đun nước, tiêm chọc anh ấy biết cả, anh ấy còn khuyên chúng tôi nên trồng thuốc nam nữa.
Anh ấy đi cải thiện thức ăn cho thương binh, chui vào các lán bón cơm đút cháo cho đồng đội. Tối anh ấy dậy bọn tôi hát. Mà anh ấy hát hay lăm cơ. Con trai xứ Đoài tốt nghiệp cấp 3, không nhận giấy đi học nước ngoài mà nhận giấy nhập ngũ. Đã bốn năm theo đơn vị từ Quảng Trị, đường chín Nam Lào nay lại vào Tây nguyên... Tôi không thể nhớ hết chúng tôi đã nói chuyện gì với nhau ngày ấy. Nhưng mỗi chiều anh ấy đợi tôi xuống tiêm, thay băng cho thương binh để tặng tôi một cái cố giã gạo làm bằng ống lồ ô xinh xắn, anh ấy làm cái tượng cô gái TN đeo gùi bằng gốc nứa sao mà đẹp thế...
Một chiều, tôi đến sau lưng anh mà anh không biết. Anh nhặt ở đâu về rất nhiều bông Pơ lang. Anh lấy từng cánh hoa đỏ như máu xếp thành một cái tên, không! mà là hai cái tên Hà - Hồng. Tôi sững lại, anh xếp tên anh và tên tôi với nhau. Anh cười, anh có vẻ vui lắm và bỗng giật mình khi thấy có người đến gần anh xoá vội dòng chữ đỏ hồng đi nhưng chỉ mất chữ Hà còn lại nguyên chữ Hồng. Anh như đứa trẻ biết lỗi, tôi cũng đứng bên anh im lặng như mình có lỗi. Mùa mưa Tây Nguyên năm 1972 thật nhiều bom đạn, nhiều mất mát và cũng thật nhiều kỉ niệm với tôi.
Anh về đơn vị chiến đấu. Tôi và anh nhìn nhau chia tay tận ngoài bờ suối. Anh đi như chạy , anh nói xin lỗi tôi. Mà anh làm gì có lỗi. Hoa Pơ lang cứ đỏ, cứ là cái màu máu vốn có của nó. Chúng tôi rất trẻ và chúng tôi khao khát yêu, khao khát thịt da như cuộc sống vốn có của nó. Chúng tôi nuốt nước mắt vào lòng mà ao ước yêu.
.... Chua xót lắm anh ạ. Năm 1974 tôi lại gặp anh nhưng anh chả nhận ra tôi nữa. Anh bị thương sọ não ở đường 19 gần đoạn Thánh Giáo. Sau gần hai tháng mổ điều trị anh tỉnh và không nhận ra mình nữa. Anh cười ngô nghê, bắt tay đồng chí. Đồng chí có chồng chưa? đồng chí có hay về Sơn tây không? rồi à à... ờ ờ quê tôi ở gần sông Hồng đồng chí ạ.

Chiều, tôi xuống lán anh. Nhiều ngày nay tôi nhìn anh từ xa, tôi nhìn người bạn tôi hai năm trước bừng bừng khí thế. Bây giờ anh là một Đại đội trưởng nhưng không còn nhận ra tôi. Thật bất ngờ anh ấy ngồi bên một đống hoa Pơ lang xé từng cánh hoa xếp chữ HỒNG ngay ngắn. Thấy tôi anh cười nhỏn nhoẻn, chào đồng chí đồng chí thấy tôi sếp chữ đẹp không? tôi sếp chữ Đờ rát s vui che đấy. Chào đồng chí!
Tôi vụt chạy, tới gốc cây Pơ Lang tôi ôm mặt khóc, khóc như ngày tôi đi tòng quân nhớ mẹ. Một bông pơ lang rơi ngay dưới chân tôi. Tôi nhặt lên giữ chặt nó trong tay, tôi giữ mãi... giữ mãi...”
.... Bà bác sĩ ngồi nhìn ra hồ Hoàng Cầu. Mấy cái trụ đường sắt trên cao xây dở đứng chòi lòi giữa mặt hồ. Mấy ngọn sắt nhô lên trên trụ cầu có mấy con chim sẻ đậu im lìm như mấy nốt mụn ruồi... Bà kể tiếp
...... ”Rồi vài ngày sau anh ấy đi, người ta đưa anh ấy về hậu phương. Anh ấy lại chào các đồng chí. Trong cóc ba lô của anh ấy có vài bông hoa đỏ chói lói lấp ló. Anh ấy ngoái lại vừa cười thật hiền với tôi và những người ở đội điều trị. Tây nguyên lùi lại sau với anh. Còn tôi từ lúc ấy Tây nguyên nặng nề và day dứt.

Cách nay vài năm, một lần đoàn cán bộ sở Y tế thành phố về chống dịch một xã ven sông Hồng sau trận lụt. Chợt nhớ ra cái tên xã rất quen. Tôi mò mẫm vào làng. Bãi sông sau đận lũ, nước và phù sa ong óng vàng trên cây trên cỏ trên vườn. Gặp lũ trẻ chăn trâu tôi hỏi: Cháu biết nhà bác Hà thương binh không?
Lũ nhóc nhao nhao có có. Tôi mừng quá. Thở dồn dập. Ở đâu hả cháu?
Chúng nó chững lại, bác ơi ông “Hà Hồng” ấy chết rồi, chết hơn năm rồi. Thế bác biết ông Hà Hồng à? ông ấy hay lấy hoa gạo ngoài bờ sông về ngồi xếp chữ Hồng rồi khóc rồi lại cười ngộ lắm bác ạ. Tôi cứ im lặng, tôi quên mất lũ trẻ đang bu quanh tôi, tôi khóc, tôi không nhận ra, không lí giải được thế nào là tình yêu nữa. Tôi không nhận ra tôi một chiến sĩ Tây nguyên nữa... tôi cố hình dung ra anh, ngồi trên bãi sông Hồng nhặt từng cánh hoa Pơ lang (hoa gạo) lặng lẽ kết hình tên tôi. Có phải tên tôi không?

Bà bác sĩ quay sang tôi:
- Không biết anh có nghĩ như tôi không? Tôi lúc nào cũng thấy hoa Pơ lang là lửa. Còn những cánh hoa Pơ lang màu máu.

16/7/2012 Hoàng Cầu NTL

litangu
16-04-2013, 11:56 PM
Trung úy Thúng




Một hôm, bạn tôi làm biên tập ở một tờ báo thủ đô rủ tôi đi uống bia. Lạ là cái tay này gọi tôi đi uống bia vào buổi trưa. Hắn bảo, tao kể cho mày nghe chuyện sáng nay, sáng nay tao gặp lão Thúng. Tôi hỏi Thúng nào? bạn tôi xoe tròn mắt nhìn tôi. Thằng này mày quên nhanh thế? Cái lão trợ lí chính sách hồi xưa đã suýt cho tao với mày ăn đòn kỉ luật về tội tán tỉnh con gái Tây nguyên để xin thuốc rê đó. À, Thúng trung úy. Ông ấy gặp có chuyện gì vậy? hay ngày xưa ở trong rừng mày còn gì khuất tất. Hắn cãi ngay. Khuất lấp cái con khỉ. Ông ấy muốn đăng thơ, thơ trào phúng B3. Tốt quá, bây giờ sân khấu hài đang ăn khách. Hắn gãi đầu khổ lắm ông ấy nói liên hồi tù tì không để tao nói chen vào câu nào. Tai đeo cái nút nghe máy khiếm thính nhùng nhằng chả bù ngày xưa lão ấy oách thế. Tôi bảo ngày ấy oách bất thường, hình như ông ấy leng keng từ hồi trong rừng. Ai thì còn có thể chóng quên chứ ông Thúng thì bọn tôi nhớ đến cả những bài thơ của ông ấy đến bây giờ vẫn nhớ.
Hồi mới vào đơn vị. Có hôm nằm dưới hầm nghe mấy lính cũ ngâm thơ: Đế quốc Mĩ vô cùng chối tỉ / đem đạn bom dội giữa đường đi. Nhìn mấy cựu binh quần thủng đít ngồi bệt trong hầm lau súng đạn mặt lạnh tanh ngâm thơ mà thấy lạ. Tôi khen thơ hay thế? anh lính cũ ngẩng lên, chưa ăn thua còn nhiều bài hay hơn. Này nhé anh ta cất giọng: trông lên có ảnh có cờ/ hai ông tây với bác Hồ ngồi bên. Tôi bảo thơ trìu tượng. Anh lính cũ gườm: mày học hành mà chán quá, đấy là quang cảnh đại hội đấy ảnh Mác Lê nin bên cạnh bác Hồ hiểu chưa. Trung úy Thúng làm thơ tả thực, ông ấy cứ hồn nhiên thả vào thơ thậm chí cả chuyện tiêu hóa bài tiết. Ấy thế mà thơ của ông Thúng ai cũng nhớ và rất nhớ lâu. Trước khi đi bộ đội anh Thúng đã làm chủ nhiệm Hợp tác xã. Vào lính sẵn có thâm niên công tác anh Thúng tiến bộ rồi làm trợ lí chính sách trung đoàn. Một hồi lên làm lính tăng gia với E bộ thấy anh có cuốn sổ ghi toàn những kí hiệu tên tuổi cấp bậc mộ chí. Một hôm anh ngó vào mặt tôi rồi bảo đừng bao giờ có cái tên mày trong quyển sổ này nhé. Tôi lạnh toát cả người. Cũng dịp ấy chúng tôi ở gần bản đồng bào Tây nguyên tôi và anh bạn Biên tập bây giờ vào bản xin thuốc rê của đồng bào. Mấy cô thanh nữ mồm ngậm thuốc mà cứ: ”bồ đồi thông cảm mình không có thuốc. Nhìn cái gấu váy to như quả ổi tôi biết ngay là cục thuốc cô gái vẳn vào đấy tôi túm lấy vặn ngược ra cục thuốc rê rơi ra thì cái váy cũng tuột xuống. Cô gái túm được váy kéo lên thì hai thằng chúng tôi tóm ngay lấy cục thuốc đồng bào rồi rút thật nhanh. Chuyện ấy đồng bào vào tận sở chỉ huy để kiện. Cô gái nọ bị ông Thúng hỏi: Bộ đội có ngửi mồm đồng bào không? cô ta trả lời: Không chứ. Ông Thúng lại hỏi: Không ai đổ nác chứ? đồng bào lại trả lời nó lấy hót (thuốc lá) rồi nó đi luôn chứ, mình không kịp đổ nác chứ. Ông Thúng thở hắt ra. May quá. Đồng bào về đi, cán bộ sẽ quán triệt cái bộ đội. Cô gái về rồi ông gọi hai thằng tôi lên ông nói rất lâu về quan hệ quân dân cá nước về đạo đức cách mạng. Rồi ông véo cho tôi nhúm thuốc lào Vĩnh bảo quí hơn vàng. Lúc tôi ra về ông Thúng nói với theo mày nghiện ngập quá đấy!
Giải phóng Sài gòn, lại một lần nữa trung úy Thúng đì tôi. Sáng 1/5/75 tiểu đội tôi chạy xe đi gom xăng lại vô tình gặp ông Thúng. Ông ấy hỏi: Lệnh ai? Mấy thằng lính mới nói luôn anh Luân bảo đi gom xăng về để hành quân. Trung úy Thúng lại có dịp để quán triệt tôi lần nữa. Nhưng trong lúc cờ hoa rợp trời ông ấy nói rất văn vẻ nào là niềm vui chiến thắng sẽ không trọn vẹn nếu các đồng chí vi phạm kỉ luật khi vào thành phố. Tôi nhận lỗi rối rít trong khi ngoài đường người dân hô vang khẩu hiệu chào mừng quân giải phóng.
Vài tháng sau về đóng quân trên Củ Chi. Căn cứ sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới to như một khu công nghiệp. Nhà cửa kho tàng san sát lính tráng nhìn hoa mắt chả hiểu đâu là điện ba pha đâu là một pha... v.v. Do bất cẩn và cũng lại còn đang ngây thơ với thành phố với cuộc sống hiện đại lính ta gây cháy nhà. Sự hỏa hoạn rồi cũng bị kỉ luật khiển trách tới cấp tiểu đoàn. Người ta có thể quên chuyện cháy nhà nhưng thơ của ông Thúng thì nhớ tới bây giờ:
Thơ rằng:
Trời vừa tang tảng rạng đông
Khói lên nghi ngút Hưng công cháy nhà
Cối, Đác hốt hoảng chạy ra
Tuýt còi báo động tưởng là chiến tranh …
Hai ông Cối (trung đoàn trưởng) và ông Đác (chính ủy) cười mà méo cả miệng, chép mồm... cái lão Thúng chỉ xiên tạc.
Ông Thúng vẫn làm trợ lí chính sách. Cuốn sổ của ông dày cộp nay rất nhiều việc. Hậu chiến bao nỗi buồn nỗi thương nó nặng chình chịch trong cái túi mìn cờ lê mo ông đeo. Ông thì làm chính sách ở đơn vị còn ở quê cán bộ xa lo làm chính sách cho ông. Ông về phép đợt đầu, hai mươi ngày sau ông vào mặt héo như dưa. Vợ ông có con hai tuổi với thằng cha thủy lợi huyện và đã đi theo nó. Ông đóng cửa nhà rào vườn vặng chu đáo rồi quay vào đơn vị. Sài gòn cuối năm 75 biết bao việc cuốn hút người lính nó chộn rộn khiến đơn vị như nhà có đám cưới. Họ vừa vui vừa buồn vừa hi vọng đợi chờ sau chiến tranh đằng đẵng. Hòa bình rồi nhưng trung đoàn vẫn lập một trại tăng gia rau cỏ gà lợn ngoài Tân Phú Trung. Sự việc bắt đầu từ đây. Một buổi chiều chuẩn úy Chanh phụ trách tăng gia D8 cuốc vào quả phóng lựu. Chanh chết ngay còn hai thằng khác bị thương. Tội nghiệp quá, anh Chanh chưa về phép lần nào vợ ở quê đã có đứa con đẻ năm 72 đang hi vọng bố Chanh về. Trung đoàn cử trung úy Thúng đưa di vật về quê anh Chanh làm lễ truy điệu. Ông Thúng lại trở ra bắc lần nữa. Ông tìm đến nhà chị Một vợ anh Chanh. Ông thương chị Một quá. Xong việc ông vào đơn vị như người mất hồn. Năm sau trước khi đơn vị đi chiến đấu ở BGTN ông về Hà bắc cưới chị Một.

Anh Bạn tôi bảo mày biết vì sao tao gặp ông Thúng không? tôi bảo mày làm to nên người ta biết. Nó bảo không đâu, không phải thế. Một lần tao đi Hải Phòng nghe mấy tay cán bộ sở Văn hóa nói ở Vĩnh Bảo có nhà thơ lính tên là Một Thúng Chanh, thơ vui lắm mà lại là lính 320. Nghe tới 320 tao mò về liền trời ơi ra là ông Thúng. Tao hỏi sao lại là Một Thúng Chanh? Ông Thúng bảo vợ tao tên là Một, lại là vợ Chanh, tao là Thúng nên lấy luôn tên ba người cho nó có kiềng. Rồi cười cười ông ấy bảo giá mà là Một Thúng Gạo thì hay hơn Một Thúng Chanh. Ông ấy điếc lòi tói. Ông khoe điếc là sản phẩm hồi đánh Miên. Nói rồi ông ấy đọc thơ cho tao nghe, nói sẽ lên Tạp chí đưa bài. Tao toát mồ hôi với tập thơ của ông ấy, ai mà in được ra tạp chí… nhưng… mày ạ có bài thơ này hôm nay tao gọi mày ra cùng đọc.

Kính gửi anh Chanh

Tôi xin gửi tới anh Chanh
Tôi về tôi lấy vợ anh năm nào
Tuổi vợ anh cũng cao cao
Còn tôi lúc ấy xắp vào ba ba
Con tôi cộng con chúng ta
Bây giờ cả thảy đã là bốn tên
Phục viên đầu xuống đít lên
Bây giờ khấm khá tôi bèn lên ông
Vợ tôi giỗ bố giỗ chồng
Tai tôi tuy điếc tôi gồng tôi lo
Nhớ anh hồi ở làng Bò
Hay ăn mít luộc tôi kho một nồi
Anh Chanh là anh Chanh ơi
Anh về chứng giám vợ tôi lên bà
Con anh là con chúng ta
Nghĩa tình đồng chí cả nhà cùng vui
Năm nay hơn bẩy mươi rồi
Làm thơ tôi gửi tới người chồng vợ tôi …

Hai đứa tôi để nguyên cốc bia dở nhìn ra đường. Nắng thì vàng người Hà nội thì đẹp. Tôi thấy hiện về anh Chanh mặt rỗ huê cao lộc ngộc một thời làm trung đội trưởng rất dũng cảm, thấy ông Thúng khắc khổ mà tốt tính tốt tình. Chiến tranh đi qua từ lâu mà chuyện về chiến tranh cứ hiện hữu hàng ngày ngay trên cả bia cả rượu nơi thị thành.

Lại sắp đến 30/4
NTL

litangu
18-04-2013, 12:23 PM
Litangu tôi đang nhớ về tháng Tư 75. Vậy nên tôi gửi cái Kí này cho hợp với tâm tình người lính Tây nguyên các bác nhé.



Kí ức tháng Tư


Một hồi chuông điện thoại reo vang. Tôi vội cầm máy và lập tức nhận ra cái giọng khàn khàn của một người bạn đồng ngũ:
- Luân đấy hả? có nhớ hôm nay là ngày gì không?
Tôi vội nhìn vào cuốn lịch trên bàn làm việc
- Ngày cá tháng tháng tư, phải không? Hôm nay ông không lừa được tôi nữa đâu
- Khỉ khô? Ai nói chuyện cá mú với ông? Hôm nay là ngày Ôi cái đêm ta về với đồng bằng... ấy mà...
Tưởng tôi quên, hắn đã vội đem câu “thần chú“ ra doạ. Tôi liền cười vang
- Nhớ chứ sao lại không? Nhưng hôm nay ông là người gọi tôi sớm nhất đấy nhé. Dù sao cũng cám ơn ông đã nhắc nhở. Bố trí gặp nhau nhé.
Chúng tôi nhanh chóng thoả thuận được một nơi hẹn để gặp nhau. Năm nào cũng vậy, chúng tôi không thể không gặp nhau vào những ngày tháng tư không thể nào quên...

Mới đó mà đã gần ba chục năm, khoảng thời gian đủ để con người sinh ra rồi trưởng thành. Thời gian đã làm được nhiều điều kì diệu, trong đó có việc sàng lọc một cách nghiêm khắc cái kho kí ức của mỗi chúng ta. Có biết bao điều chúg ta đã quên đi, nhưng những gì còn được lưu giữ thì đã trở nên vô cùng bền vững.

Lại xắp tới tháng tư... bạn bè đồng đội bây giờ mỗi đứa mỗi nơi, mỗi người mỗi công mỗi việc mỗi số phận. Nhưng đã thành thông lệ, cứ tới những ngày này là chúng tôi tự động tìm tới nhau. Chuông điện thoại của tôi reo thường xuyên hơn, và câu hỏi mà tôi thường xuyên nhận được là: ‘Này, chiến hữu... có nhớ hôm nay là ngày nào không ?
... Vâng... tôi nhớ chứ hôm nay là ngày 1-4. Ngày Sư đoàn chúng tôi từ cao nguyên tràn xuống đồng bằng Trung bộ, giải phóng tỉnh Phú yên.
... ôi cái đêm ta về tới đồng bằng
Lồng ngực căng tràn hương lúa
Trăng hiểu lòng ta nên trăng rất tỏ
Gió hiểu lòng ta từng ngọn gió bồi hồi
Lau khô dần từng giọt mồ hôi
Mà nước mắt ta đã chảy dài trên má ...
Có một người đồng đội của chúng tôi đã viết được những câu thơ như vậy vào cái đêm chúng tôi ra kết thúc chặng đường truy kích địch từ cao nguyên xuống tới bờ biển Tuy Hoà. Lúc đó anh chỉ là một chiến sĩ, một người lính như mọi người lính của sư đoàn chúng tôi, chính vì thế mà những câu thơ của anh được chúng tôi truyền nhau đọc thuộc ngay lập tức và nhớ mãi tới hôm nay. Phải là những người đã từng sống và chiến đấu trong những ngày gian khổ, hiểm nguy, đói quay đói quắt trên những đỉnh núi cao vòi vọi, những cánh rừng tối tăm ẩm ướt của những mùa mưa Tây nguyên mới hiểu được nỗi vui sướng, hạnh phúc đến tột cùng của chúng tôi khi bất chợt thấy biển xanh ngời ngợi đã bày ra trước mặt. Sau những giây phút sững sờ, bỗng nhận ra đôi dép cao su dưới chân mình là đôi dép nhận lại từ đôi chân của người bạn chiến đấu đã hi sinh trong một trận ác chiến trên dãy điểm cao phía Tây sông Pô kô ngày nào.
.... Lại một cú điện thoại. Và ở đầu dây bên kia vang lên tiếng một đồng đội mà đã hàng chục năm nay tôi chưa hề gặp lại.
- A lô... Luân “đen“ đấy à... Đừng ngạc nhiên khi tớ tăm được số điện thoại của cậu nhé. Hôm nay là ngày nào, nhớ không?

Hôm nay là ngày 3-4... sao tôi có thể quên? Đó là cái ngày mà sư đoàn chúng tôi được lệnh rời Tuy Hoà quay lại Tây nguyên để bắt đầu cuộc hành quân lớn vào một chiến dịch lớn mà sau này chúng tôi mới biết là chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh! Chúng tôi lại hành quân ngược trở lại con đường 7 (bây giờ là QL25) hãi hùng và khủng khiếp, con đường chôn vùi vĩnh viễn số phận quân đoàn 2 nguỵ Sài gòn. Có lẽ đây là một cuộc truy kích vĩ đại nhất, triệt để nhất trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta cho đến ngày hôm nay.
Đi trở lại con đường này, chúng tôi không khỏi bàng hoàng vì sự điêu tàn, chết chóc của chiến tranh. Xác người thối rữa hai ven đường, cả trong rừng, bờ sông, bờ suối. Hàng vạn người di tản còn kẹt lại dọc con đường máu lửa. Xe tăng, xe ô tô cháy thui, đồ đạc ngổn ngang khắp bờ khắp bụi. Hàng trăm xe tăng, xe cơ giới, hàng chục khẩu pháo 155, 175 li vẫn còn ngổn ngang trên đường. Có lẽ việc thu dọn chiến trường, bao gồm cả việc thu chiến lợi phẩm phải kéo dài tới cả tháng trời. Khối lượng nặng nhọc nhưng vui vẻ ấy đã được giao lại cho các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương vùng mới giải phóng. Còn cánh lính chủ lực chúng tôi phải khẩn trương cho một cuộc hành trình mới. Chỉ có 3 ngày để làm mọi thủ tục, họp hành, giải quyết thương binh tử sĩ và lấy gạo, đạn để tiếp tục hành quân vào chiến dịch mới. Chúng tôi nhẩy cẫng lên reo mừng khi biết tin lần này toàn sư đoàn được hành quân bằng toàn xe cơ giới. Chuyện này ngày hôm nay mà nhắc lại chắc cánh lính trẻ sẽ cười thầm mà bảo rằng “Trời ạ... tưởng kí ức của các cụ có những chuyện gì ghê gớm chứ cái chuyện được đi ô tô thì có gì mà phải đáng nhớ!“ Nhưng bởi chúng tôi là những người đã vượt Trường sơn bằng chính đôi chân của mình, đã hành quân băng rừng từng truy kích đội hình tháo chạy bằng xe cơ giới từ Tây nguyên xuống tận bờ biển Đông, đến nỗi chân người nào cũng đều sưng tấy lên, tơ tướp ra, nên chuyện được hành quân bằng ô tô, với đội hình toàn sư đoàn là chuyện ghê gớm lắm! Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết bằng cáh nào mà bỗng chốc Bộ tư lệnh mặt trận kiếm được cả một rừng ô tô như vậy ?... Đêm xuống cả đoàn xe rùng rùng lên đường. Hình ảnh những đoàn xe phủ lá nguỵ trang rầm rập vượt qua những đỉnh núi lúc hoàng hôn mới hùng vĩ làm sao? Bỗng chúng tôi cùng cất tiếng hát. Hát hết bài này bài khác. Những bài hát nhiều khi chẳng ăn nhập gì với cuộc hành quân vĩ đại này cả, thậm chí có cả... bé bé bằng bông... bà còng đi đón cơn mưa... Kệ, cứ hát, chẳng quan trọng gì miễn là được hát vang giữa núi rừng và không nghe thấy cái khẩu lệnh quen thuộc vẫn phả vào tai nhau trong bao đêm tiếp cận “truyền xuống! lệnh của chỉ huy... tuyệt đối im lặng! Bây giờ thì ngược lại, hãy hét thật to lên các bạn!

Khuya, xe vào thành phố Ban Mê Thuột. Điện sáng, hàng quán nhộn nhịp, lẫn trong đông đảo sắc màu là áo lính. Lạ quá, một thành phố vừa mới được giải phóng mà đã gần gũi thân thương với chúng tôi đến thế. Ngàn bàn tay vẫy theo đoàn xe. Chúng tôi cũng hò reo vẫy lại, như để chia tay người thân. Anh nào anh nấy nhao ra nhìn con gái. Sao mà họ ăn mặc đẹp thế. Lại cả váy ngắn áo pun, ai nấy cứ nao nao cả người. Tạm biệt các em nhé, em gái Ban Mê. Bọn anh tặng các em thành phố vừa được giải phóng. Thành phố cao nguyên đẹp làm sao. Tuy vậy những dấu tích của chiến trận vẫn còn nguyên đó. Xác xe tăng, xe cơ giới nằm ngổn ngang. Nhiều dẫy nhà đổ nát. Sân bay Hoà Bình vẫn còn cháy âm ỉ. Những người không còn nhà cửa cắm lều lán nằm nhung nhúc ngoài vườn hoa, công viên và những công sở cũ. Chúng tôi biết rằng còn quá nhiều điều phải làm đối với một thành phố vừa qua một cơn binh lửa. Nhưng cuộc sống rồi sẽ hồi sinh. Ban Mê Thuột sẽ lại trở thành một hòn ngọc của cao nguyên trong tương lai không xa.
Chợt có tiếng ai đó thì thầm bên tai tôi
- Cậu có biết không? Có một tiểu đội đặc công của ta đã hi sinh đến người cuối cùng khi đánh vào sân bay này năm 1972.
Chúng tôi biết, hồi đó chúng tôi đang chiến đấu tại mặt trận Kon tum, những chiến sĩ đặc công đã đánh vào sân bay này để thu hút lực lượng địch, chia lửa với chúng tôi.
Tôi nói lại điều ấy với người đồng dội vừa nhắc tôi nhớ tới chiến công của 5 chiến sĩ đặc công. Nhưng thật bất ngờ, khi tôi nghe tiếng anh thoảng bên tai:
- Anh trai mình là một trong số năm chiến sĩ đặc công anh dũng đó!

... Khuya lắm, trên đường xuống Đức Lập xe ùn lại, chen nhau. Những đơn vị lính bắc mới vào dạt ra ưu tiên cho đoàn tôi tiến lên. Xa thành phố, trời vút lên cao đen thẫm. Gío lùa vào xe mát lạ thường. Tranh thủ ngủ mà không ngủ được. Nhìn lại phía sau, đèn pha vạch một đường đỏ quạch bụi đất. Đại bác vẫn nổ đì đùng xa xa. Chẳng hiểu đạn ta hay địch. Đêm nay là đêm thứ hai hành quân về phía nam. Tôi cứ có cảm giác những khu rừng già cứ lùi về phía sau, còn trước mặt cao nguyên dần thấp xuống. Bên cạnh tôi, anh Tuần ngủ rồi. Đầu ngoẹo vào vai tôi nặng trĩu. Trông lúc này anh ấy trẻ lại đúng với cái tuổi 26 của mình. Khuôn mặt thật hiền của chàng trai Kinh bắc chẳng giống như lúc nổ súng thoắt trở thành người tiểu đoàn trưởng già đanh lại. Chợt bật cười khi nhớ lại hình như tôi có đọc ở đâu đó một câu thơ nói rằng các anh đang trẻ lại cùng những chiến công. Bậy, người ta đang già đi qua mỗi chiến công thì có! Chỉ có những người bạn của chúng tôi đã ngã xuống trên cao nguyên này là trẻ mãi. Họ không bao giờ già thêm được nữa.

Bây giờ đại đội tô vơi đi quá nửa. Nhớ chúng nó quá. Đánh bao nhiêu trận cùng nhau, rồi tôi phải chia tay đại đội về làm A trưởng trinh sát tiểu đoàn thay cho Mạnh Tiêu bị thương hôm 23/3 ở Củng sơn. Cái hôm nghe Tiêu bị thương lũ lính Sinh viên buồn thiu. Buổi chiều hôm ấy, mặt trời đỏ như lửa, ăn bữa cơm chia tay với trung đội trong vạt rừng ô rô gần Hòn Một. Bữa cơm có cả một con lợn con nướng. Tôi đã phải bò ra cánh đồng dưới tầm đạn 12,8 li từ trực thăng địch đang bắn khống chế để mang về hai rùa nước cho chúng nó mổ lợn. Chập tối thì chia tay. Vậy mà bây giờ thằng Độ Thường tín, thằng Đàm Thái bình đã hi sinh. C7 mất ở đèo Cả mười ba đứa. Nghĩ tới chúng nó lòng tôi lại nôn nao.
Đêm ấy đêm đầu tiên dẫn tiểu đoàn vượt quốc lộ 1, bò dọc đường xe lửa qua cầu Giục Kinh vào chiếm lĩnh điểm cao chân đèo Cả. Đã mấy năm ở rừng, giờ mới thấy đồng lúa tít tắp. Và gió. Gió biển rười rượi như tưới vào da thịt khô nẻ bấy nay cái mát mẻ mằn mặn mùi biển. Lính căng lồng ngực mà hít. Cái mùi cỏ mùi bùn giống quê mình đến thế. Bất ngờ pháo địch ở cầu Bàn Thạch nã vào cánh đồng đội hình đang bò. May mà chả thằng nào chết, chỉ có thằng Thoa y tá c7 bỏ chạy tới sáng hôm sau cũng mò về được đại đội (sau này tôi biết nó ân hận lắm, tôi đã thấy nó khóc khi nhắc lại chuyện này). Đêm ấy nhiều muỗi thế, có thể bốc hàng nắm. Chỉ khổ mấy thằng lính thông tin ngồi cho muỗi thử máu. Hai ngày sau đánh dứt điểm Tuy Hoà. Thế là vùng duyên hải Phú yên hoàn toàn giải phóng... Nhưng chặng đường đuổi giặc từ Tây nguyên xuống ven biển cũng không ít hi sinh. Hôm chôn mấy đứa trong trận Tuy hoà, có thằng còn tếu táo nói “Nói gì thì nói những thằng này vẫn sướng hơn những đứa chết trên rừng Tây Nguyên cả ngàn lần! nằm đây coi như nghỉ mát muôn thuở rồi còn gì!”
Có lẽ đêm nay tất cả những thằng nằm trong những cánh rừng khộp, rừng le, hay trên những đỉnh cao chótvót của vùng bắc Kon Tum, trên những cánh rừng đuổi giặc, và kể cả những thằng được nằm bên bờ biển... đều thao thức dõi theo bước hành quân của sư đoàn vào chiến dịch Hồ Chí Minh. Nếu có điều gì đáng tiếc nhất với họ thì có lẽ chính là họ đã không được cùng chúng tôi tham gia vào cuộc hành quân kì vĩ này. (còn tiếp)
*
«

litangu
18-04-2013, 12:28 PM
Kí ức Tháng Tư ( tiếp theo)

Hôm nay là ngày 10/4. Đã nửa đêm rồi mà chưa thấy ai gọi cho mình là thế nào nhỉ?
...
Nửa đêm ngày 10/4 năm ấy chúng tôi hành quân tới Đức Lập, một huyện lị phía nam Đak Lak. Xe dừng ở một bãi gỗ. Đèn xe, đèn nhà dân, hàng quán đỏ quạch như một nhà ga thời chiến ngoài Bắc. Tôi tìm được một của hàng tạp hoá hỏi mua một ít rượu trắng. Đưa một ngàn, ông chủ hỏi: Mua cả à? Mua cả! Đựng vào đâu? Làm ơn kiếm dùm tôi cái gì đó... Cô con gái đưa ra một cái can loại mười lít. Trời ơi! Ai uống hết ngần này rượu lúc hành quân? Cả chủ và khách đều cười ồ. Đêm ấy cả xe say ngất ngư
Mười hai tháng tư, xe tới một cánh rừng bằng phẳng toàn cây cổ thụ. Những vạt rừng xanh ngắt như đốm vằn trên lưng hổ cao nguyên. Trời nắng to. Đoàn xe ẩn mình dưới tán lá cao vút. Ve kêu râm ran. Có tới hàng ngàn con ve sầu từ trên cao buông những âm thanh như có dây có dợ quấn vào nhau rối mù trong nắng gió. Lũ ve hễ kêu là đái. Nằm ngửa trên võng lấm tấm hạt mưa giữa trưa nắng vàng, thứ mưa của sự bài tiết tí xíu của loài ve. Nằm đó mà không ngủ được, đầu óc cứ ong ong, nghĩ mông lung về chiến dịch sắp tới. Sẽ là những trận đánh nhớ đời, nhất định rồi, nhưng đã phải là những trận đánh cuối cùng chưa thì chưa ai dám chắc?
Chiều tối hôm đó chúng tôi dừng chân ở Bù Đốp. Đây còn gọi là thủ đô của vùng giải phóng. Các cơ quan làm việc trong rừng nhưng chế độ giống như ngoài Bắc. Dân ở đây hầu hết là người dân tộc. Cũng có trường cấp 1, 2 mà giáo viên toàn là thầy cô giáo dậy giỏi đưa từ ngoài Bắc vào. Thật không thể tưởng tượng, sống ở đó có một đêm mà quên mất mình đang trên đường chiến đấu. Tôi và Ngô Thịnh vào một lớp học, hai đứa thay nhau đứa làm trò đứa làm thầy ngồi trước bảng đen cho đỡ nhớ trường lớp sau bốn năm xa cách. Trưa hôm sau xe tới ngã ba Lộc Tấn. Một cánh rừng cao su rộng mênh mông chứa tới cả ngàn xe ô tô, pháo lớn, xe tăng tụ hội. Đây mới thật là thần thái của câu thơ “đường ra trận vui như trẩy hội“, của nhà thơ nào nhỉ? Không nhớ nữa, hoặc giả chẳng phải là một câu thơ cũng nên!
Mười giờ trưa có lệnh gọi tôi quay về C7 để làm lễ kết nạp đảng viên. Hôm ấy có bốn đứa được vào đảng. Cờ đảng bé tí xíu được cài vào thân cây cao su. Mọi người ngồi dưới cỏ, bí thư chi bộ và những người được tuyên bố kết nạp thì đứng. Lễ kết nạp chỉ diễn ra chừng hai mươi phút rồi ai lại vào việc nấy. Giờ phút thiêng liêng của đời người chiến sĩ Cộng sản chỉ có thế thôi sao? Đang trên đường vào trận, vẽ vời mà làm gì? Khi đứng trước Đảng kỳ, nhìn những người bạn cùng vào sinh ra tử đang sánh vai cùng mình, lại nghĩ về những đứa đã nằm lại đâu đó trên cao nguyên mà Đảng chưa kịp ghi tên họ vào đội ngũ, mặc dù họ rất xứng đáng là những đảng viên, tôi biết từ nay mình sẽ phải sống xứng đáng hơn với họ...
Hôm ấy nhằm ngày 14/4/1975. Một ngày tháng tư đẹp nhất cuộc đời của mình, quên làm sao được? Tôi lật tờ lịch trên bàn làm việc, không thấy có cuộc hẹn nào với bạn bè. Chúng nó không thèm nhớ gì tới cái ngày tháng tư đẹp nhất của đời mình hay sao? Thế thì tệ thật. Đã vậy thì... đến lượt mình phải nhắc. Tôi nghĩ vậy và vội vàng cầm máy bấm liền hơn chục số điện thoại để tổ chức một buổi gặp mặt. Thời đại thông tin, cũng hay thật. Muốn gặp nhau chỉ cần bấm máy rồi tìm một kẽ hở thời gian...

Mờ sáng 15/4 /1975 xe dừng trong một khu rừng rậm nhưng cây cối chỉ bốn, năm mét. Lệnh hành quân bộ khẩn cấp để xe ô tô quay lại trước khi trời sáng rõ. Bộ đội hành quân không kịp dàn đội hình, cứ bám nhau đi như ma đuổi. Tôi chạy vượt lên đầu để cùng tham mưu trưởng dẫn đường. Lúc 7 giờ sáng gặp một đơn vị pháo binh 130 mới từ Bắc vào trông khí thế lắm, nhưng mất trật tự kinh khủng. Xe pháo chềnh ềnh giữa đường không thèm nguỵ trang. Lính tráng thì nằm ngồi ngổn ngang, lại còn lừng phừng đàn ghi ta nữa mới bỏ mẹ. Tôi túm lấy một tay trông có vẻ cán bộ nói: “ông nguỵ trang cho pháo đi, và cho lính tản ra, L19 nó đang soi trên đầu kia kìa “. Tay cán bộ khinh khỉnh. Kinh nghiệm cho hay phải tránh xa cái tụi lính ngố này ngay. Tôi vội bàn với anh Tuần ra lệnh: Tiểu đoàn 8 vận động! Thế là cả tiểu đoàn chạy thục mạng. Mới được hơn cây số đã nghe tiếng sèo sèo bụp, chết bỏ mẹ rồi - đạn khói. Bộ đội dạt vào rừng, chỉ năm phút sau pháo địch cấp tập giót ngay vào khu rừng mới đi qua... cánh pháo binh ăn đủ rồi. Đúng lúc ấy gặp thằng Viên và thằng Tiến US đi trước ra đón. Ba thằng quăng ba lô lao vào rừng, chúi mặt trên đất. Đại bác nổ inh tai. Cành cây rơi đè lên người. Nằm không ngóc đầu lên được. Thằng nào cũng tưởng chết đến nơi. Nửa tiếng sau, chúng nó mới ngớt bắn.
Từ trong đám cây đổ nát đặc quánh khói đạn chui ra, cả khu rừng lúc trước xanh um bây giờ trơ trụi. Cây cối như bị cầm cưa mà cắt ngang lưng. Một vài chiếc xe kéo pháo cháy nghi ngút... Cánh lính pháo binh bị thương khá nhiều. Tôi móc được ba lô xách súng nhằm phía rừng còn xanh mà chạy. Ra đến đoạn suối rộng thấy ngót một tiểu đội khoả thân chạy như bị trâu càn. Hoá ra tụi công binh 17 đến từ đêm, đào hầm cho Ebộ xong ra suối tắm thì gặp pháo kích. Không chú nào còn quần áo cứ thật thà mà chạy về đơn vị. May mắn nhất là anh chàng Hộ (người Lâm Thao) còn kịp nhặt cái xoong quân dụng úp vào bộ hạ chạy về tới kiềng vẫn líu cả lưỡi.
Ai bảo đường ra trận vui như trẩy hội nữa đi? Coi thường địch bao nhiêu cũng phải trả giá thôi!
Nơi đóng quân hôm nay là kiềng cũ của sư đoàn 9 chủ lực Miền. Khi chiến dịch Tây nguyên nổ ra họ cũng đã lật cánh đâu về mạn miền Đông. Chắc họ bám trụ ở đây cũng lâu, vườn rau vẫn còn tươi tốt lắm. Cà ớt rau dền nhiều vô kể. Hầm hố còn kiên cố và sạch sẽ, nhưng nước nôi thì khan hiếm. Ở đây họ dùng nước giếng. Có những cái giếng sâu tới 4, 5 mét đào theo kiểu miền bắc, kéo bằng cần vọt. Tối đến pháo lại bắn dữ dội ngoài trảng rừng lúc sáng. Kệ mẹ nó, bây giờ thì tha hồ cho mày bắn. Họp tiểu đội xong mắc võng đánh một giấc, nhưng tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Tụi nó tán phét tới khuya thì mưa to. Đúng lúc ấy có lệnh đi lấy gạo, đường thì tối om lại không thuộc địa hình ngã lên ngã xuống tới gần sáng mới về, ướt như chuột lụt. Lính tây ngyên dù lâu nay không còn bị đói nữa nhưng thấy gạo mắt cứ sáng lấp lánh quên cả mệt. Lạ thay đêm đó tôi chỉ nằm mơ toàn thấy gạo là gạo...
*
* *

Ngày 16/4. Không những có điện thoại mà buổi chiều lại còn cả một cuộc nhậu nữa. Có một thằng nào đó vừa được nhận tiền truy lĩnh thương tật (đến tận bây giờ mới chịu đi làm thẻ thương binh thì vĩ đại thật) nên mấy thằng trong nhóm thông tin trinh sát tiểu đoàn hẹn gặp nhau ở quán bia, chưa kịp đổ cốc nào vào họng bọn nó đã bắt đầu tranh nhau “hồi kí" về những ngày cuối cùng của tháng tư lịch sử ấy...

... Hôm đó trời nắng như lửa, nắng lổ đổ những đốm sáng trong rừng. May mà lá rừng dầy đặc nên cũng đỡ. Lúc 2 giờ chiều tôi mò ra ngoài xa gặp một bãi cà pháo, đang mê mải hái cà thì OV10 lượn vè vè trên đầu. Vơ vội cành lá úp lên đầu bò về. Lát sau 4 chiếc T28 tới ném bom. Hoá ra tụi nó ném bom vào chỗ lấy gạo đêm qua. Nhưng gạo thì lính đã khuân hết rồi. Thật uổng công, chúng chỉ đốt được mấy cái nhà kho trống rỗng. Thảo nào đêm qua tôi mơ thấy toàn gạo. Nhặt được trong hầm cũ một đôi giầy cao cổ Trung quốc mới tinh. Chỉ có lính mới từ Bắc vào mới có hành động “bất kính“ như thế này với giầy dép. Tôi lập tức quyết định thanh lí đôi giầy cũ nát của mình và cho phép đôi giầy mới này được hưởng vinh dự tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và được nện gót trên đường phố Sài gòn trong những ngày mới giải phóng.

muctau
18-04-2013, 01:36 PM
“ Nói gì thì nói những thằng này vẫn sướng hơn những đứa chết trên rừng Tây Nguyên cả ngàn lần ! nằm đây coi như nghỉ mát muôn thuở rồi còn gì !”
Lại nhớ chuyện của một người lính kể bên DN-GN. Đoạn văn nói về tâm trạng người lính nhìn dãy mồ đào sẵn trước khi vào trận.
Vậy đấy ! Lính cụ Hồ coi cái chết còn nhẹ hơn ý thơ Đồ Chiểu.
Đêm qua đi câu bị mưa. Lúc tránh mưa trong nhà chủ hồ tán chuyện. Loanh quanh lại về chủ đề chiến tranh với thời thế. Một cậu chừng ba mươi tuổi nói với một bác già ( có lẽ là CCB ) :
-Nếu chú nuôi một thằng con. Vì ước vọng cho nó thành người tử tế chú không từ đói khổ vất vả thậm chí là chết. Lúc lớn lên nó lại chửi lại chú thì chú ức không ?
Bác già nói :
- Loại con mất dạy thì để nó sống làm gì. Loại ấy coi như kẻ phản bội. Đòm phát cho xong!

VM 78
18-04-2013, 07:09 PM
"Vì ước vọng cho nó thành người tử tế chú không từ đói khổ vất vả thậm chí là chết. Lúc lớn lên nó lại chửi lại chú thì chú ức không ?"

Hề hề hề ! Nó bẩu là suy thoái , biến chất !
"- Loại con mất dạy thì để nó sống làm gì. Loại ấy coi như kẻ phản bội. Đòm phát cho xong!"
Đúng là Muctau@ !

litangu
18-04-2013, 08:02 PM
Kí ức Tháng Tư (tiếp theo)


Nhưng chuyện lạ của ngày hôm nay lại chưa phải là đôi giầy mà là chuyện tôi bỗng nhận được một lá thư. Không thể hiểu vì sao cánh quân bưu lại vẫn nghĩ tới chuyện đưa những lá thư thế này đuổi theo bọn lính ra trận? Dĩ nhiên là lá thư cũng đến khá chậm. Đó là lá thư của một cô bạn từ miền Bắc. Bạn thôi, không phải người yêu người iếc gì. Cô ấy kể về nỗi vất vả của những ngày đi thực tập kĩ sư. Bạn bè cùng lớp họ đã ra trường và đi nhận công việc. Bất giác tôi thấy tủi thân. Bao giờ thì được về, liệu có sống sót mà về hay không, nếu có về thì học hành ra sao... Đang miên man nghĩ ngợi thì chúng nó gọi sang giảng bản đồ địa hình cho mấy thằng lính mới. Tiểu đội trinh sát vừa được bổ xung hai chú lính Lào cai và cũng chia tay hai thằng “Hoà chọi“, “Nết răng vàng“ xuống bộ binh làm cán bộ trung đội tăng cường cho mũi chủ công c7. Ngày 19/4 có lệnh nhận bản đồ mới. Mấy thằng tranh nhau tìm đường ngắn nhất vào Sài gòn. Sao có vẻ ngon lành quá vậy? Nhưng dẫu sao thì cũng chuẩn bị vào trận rồi. Lần này thì Sài gòn sẽ là hướng chính diện. Tối hành quân. Mang khá nặng vì mới được phát thêm bộ quần áo mới. Ai thiếu dép nhận dép, ai thiếu khăn nhận khăn. Thậm chí lại còn cả mũ cối mới bổ xung cho cán bộ. Súng đạn, vũ khí nhiều, có vẻ còn thừa thãi chẳng bù cho các chiến dịch trước đây? Hôm ấy trăng sáng lắm. Hành quân chừng 4 tiếng thì tới sông Sài gòn. Đội hình ùn lại tới 3 giờ sáng mới sang sông. Thuỷ triều đã rút ra xa, cầu phao tụt ra ngoài mép nước khiến bộ đội phải ì ạch lội bùn một đoạn khá dài mới có cầu. Người mệt lử, áo đẫm sương và mồ hôi. Mải miết đi tới sáng thì tới Củ Chi. Lúc sang sông chúng tôi thấy nhiều đơn vị ngủ la liệt ven đường. Họ ngủ ngay trên bùn ướt, thế mà cứ ngáy như sấm, hay thật. Trời sáng dần. Một vùng đồi hoang sỏi đá lau sậy cằn cỗi. Củ Chi đây ư? Nhìn xuống dưới chân chỉ toàn là mảnh đạn và cát tút. Khắp vùng là hố bom và xác xe tăng hoen rỉ. Tịnh không một bóng người, không một tiếng chim. Chao ôi ! vùng đất đất này không còn gì để gọi là làng mạc được nữa mà là tử địa. Ngày còn ở ngoài Bắc, tôi đã đọc nhiều bài viết về đất thép Củ Chi, được nghe nhiều bài hát ca ngợi con người nơi đây và cả những bài báo người nước ngoài viết về vùng tam giác sắt. Nhưng hôm nay, một sáng tháng tư đẹp trời, đứng trên đất Hố Bò Nhuận Đức tôi mới hiểu thế nào là mảnh đất sắt gang của những con người thép. Họ đã giữ mảnh đất đầu cầu này để cho những sư đoàn chủ lực đứng chân chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng. Cái giá trị của hàng ngàn ngày bám trụ mảnh đất này chính là ở chỗ đó.


Mười giờ sáng cả sư đoàn phải ổn định xong chỗ trú quân. Ở đây không có rừng, chỉ còn những chòm cao su xót lại. Đồi đất trọc lúp xúp những vạt cỏ lau. Đơn vị nằm dọc sông Sài gòn. Khoét hầm vào những bờ cỏ ven sông. Những vạt rừng thưa thớt đông nghịt người, ngồn ngộn vũ khí. Nhiều trung đội chui vào trong cỏ, dẹp ra từng cái ổ nằm xuống mà sinh hoạt họp hành. Quân đông như kiến, xen lẫn chủ lực là những đơn vị biệt động. Tưởng biệt động thành ra sao hoá ra toàn các cô cậu học sinh trẻ măng, mười tám đôi mươi. Họ hăm hở và nhiệt tình đến khó tin. Trong số ấy nhiều người từ bỏ cuộc sống vật chất sung sướng nơi phồn hoa đô thị mà dấn thân vào kháng chiến.

Trong lúc nằm lại khu vực Hố Bò, họp hành, đợi chờ giờ nổ súng thì các đơn vị pháo binh lại nhiều việc. Đào hầm pháo, tải đạn, trinh sát và bắn thăm dò. Từ ngày 24/4 pháo binh bắt đầu bắn cầm chừng vào Đồng Dù, Hóc Môn và Tân Sơn Nhất. Cứ sau mỗi loạt đạn của ta chừng 5 phút sau thì địch lại phản pháo. Suốt ngày đêm đại bác rít qua đầu buốt óc, thỉnh thoảng có loạt rơi gần chỗ trú quân mảnh văng sèo sèo trên đầu. Nhưng mệnh lệnh là tuyệt đối bí mật. Cấm khói lửa, nổ súng, đi lại và bơi ra sông. Dù lệnh trên là như vậy, nhưng 4 năm không được đằm nước bây giờ nằm ngay bờ sông Sài gòn, mấy thằng trinh sát đội lục bình trên đầu bơi ra sông tắm.

Trời ở đây thật kì lạ. Ngày nắng và nhiều gió nhưng chập tối là đổ mưa. Mưa ngắn mà to. Những cơn mưa không thèm doạ dẫm sấm chớp cũng chẳng cần dây dưa lâu la. Ngạc nhiên nhiều nhất khi thấy phụ nữ không thèm trú mưa. Kệ cho ướt, áo bà ba bó chặt thân người cong ỏng, ướt rồi lại khô, thật đơn giản. Gái Củ Chi cô nào cô nấy chắc như củ khoai sọ. Nước da nâu thật là duyên, tóc gọn gàng bằng cặp ba lá. Hỏi các cô có cần gì không thì các cô nói chỉ thích lựu đạn và dép đúc Trung Quốc. Cô nào cũng khoái dép đúc của chủ lực, vì dép của du kích thường bằng vỏ ô tô đi đau chân lắm. Còn lựu đạn dùng làm gì thì mấy anh rành quá rồi còn gì?


Sáng 27/4 có lệnh: Tất cả cán bộ chiến sĩ đều phải khâu một miếng vải trắng trên ngực ghi vào đó phiên hiệu đơn vị. Mỗi chú một mảnh vải đỏ đeo vào tay áo như băng đội trưởng trong đấu bóng đá. Có một yêu cầu khá thú vị đặt ra: trận này tất cả phải mặc quần áo mới, phải quán triệt thái độ đối xử với đồng bào trong thành phố giải phóng. Chiều ấy trong cái nóng nực Củ Chi chúng tôi từng người đăng kí danh hiệu “Dũng sĩ thành đô trên đất thành đồng“. Trong phương án tác chiến mà trung đoàn phổ biến thì hướng của đơn vị tôi sẽ nhằm tới tận bộ chỉ huy đầu não của nguỵ quyền Sài Gòn. Cán bộ từ trung đội trở lên phải chuẩn bị cờ đỏ sao vàng để sẵn sàng cắm lên các cơ quan đầu não các công sở nguỵ quyền. Cả sáng hôm ấy chộn rộn, hối hả, tôi có cảm giác cứ ngứa râm ran cả người. Trưa, tôi quyết định xuống thăm lại đại đội 7. Đại đội cũ của tôi nay quá nửa là lính mới. Số lính cũ sứt mẻ sau hơn một tháng trời chiến đấu nhiều quá. Thằng Luật B trưởng lên C trưởng thay Kế lên làm tiểu đoàn trưởng. Thằng Chấn lên chính trị viên phó, chiến sĩ cũ hầu hết trở thành cán bộ cả. Trung đội của tôi nằm quanh mấy bụi tre cụt. Chúng nó đang cắt tóc cho nhau. Thấy tôi đến chúng nó reo lên: nhờ anh Luân giải quyết mấy cái đầu của bọn Cao bằng đi. Thì ra khi vào Chơn Thành có đợt tân binh Cao bằng bổ xung về trung đoàn. Tiểu đội trinh sát cũng có hai chú đó thôi. Cả hai đều là người dân tộc, rất ngoan, dễ thương, nhưng chậm lắm. Tôi rất lo khi vào trận mấy chú này sẽ lớ ngớ hỏng việc hoặc lại phơi ngực hứng đạn thì khổ. Linh cảm ấy có phần đúng. Ba đứa người Cao Bằng được tôi cắt tóc cho hôm ấy chẳng có đứa nào trở về trong trận đánh hôm sau.

Chiều xuống, tôi và Sỹ kêu anh Thuỷ chụp ảnh. Tuy không dám nói ra nhưng trong bụng đứa nào cũng nghĩ thầm: Nói dại nếu có chết ngày mai thì còn cái ảnh mà thờ.

Tôi chợt nhìn lên tường. Bức ảnh tôi chụp chung với Sỹ hôm đó thì vẫn còn, hiện hai đứa đều đem đi mông má, rồi treo lên tường như một thứ “hàng truyền thống“ của gia đình. Nhưng, tôi không dám nhìn lên những bức ảnh chụp chung với bạn bè chiều hôm ấy. Vì, trong số đó có nhiều đứa không về. Nụ cười trên môi họ còn nguyên vẹn đến hôm nay

... Đêm qua và cả sáng nay pháo binh ta bắn dữ dội. Hầu như các đơn vị pháo đều đã vượt sang phía nam sông Sài gòn, để sẵn sàng cơ động vào sâu hơn. Kể từ ngày váo chiến trường, đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy pháo ta có vẻ dư dả đạn. Từng loạt đại bác rít soàn soạt qua đầu bộ binh, tiếng nổ trái phá ầm ầm từ phía Đồng Dù vọng lại. Pháo địch cũng bắn trả nhưng không mấy hiệu quả. Trung đoàn đã lệnh bộ binh gói buộc ba lô đợi giờ xuất kích. Suốt ngày 27/4 chú nào cũng chỉ chừa cái võng bên ngoài, còn thì nai nịt gọn gàng. Đêm 27/4 qua đi nặng nề. Vẫn chưa hành quân...

Ngày 28/4, qua làn sóng đài BBC thấy quân ta đã chọc thủng Xuân Lộc đang tiến đánh Biên Hoà, Nước Trong. Cả trung đoàn bồn chồn sôi sục. 5 giờ chiều, vào đúng lúc trung đoàn được lệnh lên đường thì phía Đồng Dù nổ dữ dội. Khói đen bốc lên ngùn ngụt, rồi những tiếng nổ liên hoàn kéo theo. Cách xa 12 cây số mà vẫn thấy ngọn lửa vàng rực một góc trời. Sau này mới biết kho xăng Đồng Dù bị pháo ta thiêu cháy. Bốn năm qua những cuộc hành quân xuất kích đối với chúng tôi không còn mới mẻ gì. Nhưng chiều nay bước chân bồi hồi đến lạ. Đội hình đi xít lại nhau, mặt đứa đi sau gối vào ba lô đứa đi trước.

Bám sát vào nhau, hàng ngàn chiến sĩ lầm lũi tiến về phía Sài Gòn, nơi quầng sáng lung linh một góc trời. Trong lồng ngực có cái gì nghèn nghẹn. Cái cảm giác không giống bất kì một trận đánh nào mà tôi đã trải qua. Mũi tiểu đoàn 8 do tiểu đội tôi dẫn đường vòng phía đông quận lị Củ Chi, vượt qua đường 15 rồi men theo tỉnh lộ 8 vào chiếm lĩnh trận địa Tân Phú Trung. Nhiệm vụ được giao rất nặng nề. Phải đột kích tiêu diệt một tiểu đoàn ở ấp Chợ Tân phú Trung và Cầu Bông (Bây giờ gọi là cầu An Hạ). Lô cốt ấp Chợ cách cầu Bông gần km. Cây cầu dài ba chục mét có 2 đại đội cảnh sát và lính dù chiếm giữ. Điều cốt tử là đánh tan địch nhưng lại phải giữ được cầu , không cho địch nổ khối bộc phá 200kg để huỷ cầu. Nếu cầu Bông bị phá huỷ thì hướng tấn công tây bắc vào Sài gòn coi như thất bại. Đi cùng tiểu đội trinh sát chúng tôi là một cô biệt động còn rất trẻ, có cái tên khá đẹp - Mỹ Hạnh. Sở dĩ cô này được đi với chúng tôi vì cô ta quê Tân Phú Trung. Hạnh chừng 20 tuổi. Vóc người đậm, rắn chắc, da ngăm đen. Nghe gới thiệu cô ta rất giỏi võ. Võ thì chưa biết nhưng bơi lội thì tài. Lúc 9 giờ đêm khi đơn vị lội qua một con mương rộng chừng 15 mét nước quá đầu. Mấy chú tân binh vùng cao không biết bơi nhưng lại không dám kêu vì sợ lộ nên cứ giã gạo giữa dòng. Một mình Mỹ Hạnh lôi hai chú vào bờ lại còn mắng cho một trận làm bộ đội Bắc Việt vừa ngượng vừa khoái. Trung đoàn đã đi vượt qua căn cứ Đồng Dù rồi tiến sâu về phía Sài Gòn. Cả trung đoàn lội trên cánh đồng lúa đang kì trổ đòng. Bờ ruộng rất nhỏ. Lính ta ngã ì ụp, vì vậy tốt hơn cả là cứ giữa ruộng mà lội. Mỹ Hạnh luôn mồm than thở thương ruộng lúa nát nhừ vì hàng ngàn bàn chân dẫm đạp. Đêm ấy, những làng mạc vùng ven này không giống như mọi đêm khác. Tiếng lao xao í ới, tiếng chó sủa, tiếng động cơ xe máy xe ô tô chộn rộn. Mọi người đang hồi hộp chờ đợi một điều gì thật lớn lao xảy ra.


Vào lúc 2 giờ sáng, trăng bỗng sáng hẳn lên. Chúng tôi dẫn bộ binh tới giữa cánh đồng cách chợ Tân phú Trung chừng 2 cây số. Bộ đội nằm lại ngoài đồng chờ trinh sát lên bám địch lại lần nữa... Trời đã bàng bạc đằng đông, đúng lúc ấy, phía Đồng Dù tấn công thì đồng loạt DKZ, cối 82, cối 120 ở đồng Tân Phú phát hoả. Ngay loạt DK đầu tiên, 8 khẩu cùng bắn, đồn cảnh sát cầu Bông sập hoàn toàn. Bộ binh D9 và đặc công 198 vận động dưới tầm pháo xông lên đánh cầu. Cho tới bẩy giờ sáng thì cầu Bông đã về tay quân giải phóng. Phía ấp Chợ các lô cốt kiên cố bắn trả dữ dội. Quân ta không tiến lên được. Bộ binh nằm trên đồng trống bị thương vong hơn hai mươi người. Tình hình trở nên căng thẳng. Tiểu đoàn lệnh trinh sát và thông tin xuất kích. Từ phía chợ thằng Thuận (người Đông Lao, Hoài Đức) bị đạn thẳng vào cổ đang bò ra cánh đồng. Tôi châm điếu thuốc Rubi cài vào mồm cho nó rồi bò ra trận địa. Đạn từ ba lô cốt táng dữ dội vào trận địa 12,7 của C16. Mấy thằng C16 dạt ra. Thằng Khuất Duy Hoan C7 chồm lên, ôm 12,7 li vừa bắn vừa chửi. Được củng cố tinh thần, thằng Hoà người Cao Bang thị xã phú thọ bật dậy bắn liền 2 phát B41 rồi ôm khẩu trung liên từ tay một liệt sĩ bắn xối xả. Đúng lúc ấy nó trúng đạn, gục xuống bên khẩu trung liên còn nóng bỏng. Đại dội 7 xung phong ra phía chợ, chui vào ngóc ngách nhà dân ném lựu đạn ra đường. Trận đánh giằng dai tới 11 giờ trưa thì có tiếng xe tăng chạy ầm ầm từ phía Củ Chi về Sài Gòn. Bộ binh quay ra bắn xe tăng, ba chiếc bốc cháy đâm sầm vào trường tiểu học Tân Phú. Đúng lúc ấy xe tăng quân ta đuổi tới nơi. Bộ binh ta thấy xe tăng cờ đỏ sướng quá rối rít chỉ lô cốt cho họ bắn. Thế là hàng chục thằng Nguỵ cố thủ trong ba lô cốt trở thành đống thịt nướng. Ngót trăm thằng từ trận địa bên kia đường bấy giờ mới kéo ra hàng. Lúc ấy là 12 giờ trưa ngày 29/4.

Không còn đường nào chạy thoát, tàn quân địch chừng ba chục xe tăng thiết giáp không dám lên cầu Bông, bổ nhào xuống đồng lúa Tân phú Trung ngay phía sở chỉ huy tiểu đoàn tôi. Lập tức tiểu đoàn cho c9 đánh thẳng vào cụm xe tăng địch (c9 hôm ấy đi phối thuộc với D8). Trên đường số 1, pháo ta hạ nòng bắn thẳng. Cả đồng lúa biến thành biển lửa. Sau này vào năm 1988 tôi có quay trở lại đi trên bờ ruộng lúa năm xưa lòng bồi hồi nhớ về vùng lửa khói ngày ấy, cái ngưỡng cửa bình minh của những người sống sót như tôi. Cứ điểm án ngữ cuối cùng của thành phố đã mở thông. Xe tăng, pháo binh, bộ binh của cả sư đoàn 10, E593, E232, E234 và rất nhiều đơn vị ào ào xông vào thành phố. Trời oi nồng vì nắng, vì bom, vì lửa. Tiểu đoàn phải để lại hơn ba chục tử sĩ và năm chục thương binh. Các mẹ các chị trong làng đổ ra lo khâm liệm và chôn cất những người hi sinh ngay phía trong chợ Tân Phú Trung. Cho tới đầu những năm 90 họ đã được quy tập về An Nhơn Tây. Trong số những người hi sinh có một người trúng đạn vào phút cuối cùng của trận đánh là trợ lí tham mưu tên Măng người Thái bình. Măng chết lúc đang giương khẩu chống tăng của địch để bắn xe tăng địch. Cũng ở trận địa này, trong Mậu Thân 1968 sư đoàn 9 đã hi sinh hàng chục người mà hồi đó người dân Củ chi đã lập miếu thờ ven đường. Trong miếu thờ đó, ba chiến sĩ C6 của chúng tôi hôm nay cũng nằm lại.

Mười hai giờ khuya chúng tôi tạt vào làng Tân sơn nhì ngủ lại. Năm giờ sáng đang nấu cơm chưa kịp ăn thì có lệnh: Tất cả mọi đơn vị, bằng mọi giá, bằng mọi phương tiện, xốc thẳng vào Dinh Độc lập. Thế là lao ra đường, chặn xe của dân, huy động cả máy cầy, xe lam, xe đò mạnh đại đội nào đại đội nấy tìm đường đánh vào dinh.






Kí ức Tháng Tư (tiếp theo và hết)




Vào giờ phút ấy, khắp các ngả đường làng mạc quanh Sài gòn đâu cũng thấy quân giải phóng. Gương mặt người lính đi đánh trận mà dãn ra tươi như đi hội. Quân phục đã được thay mới, cờ giải phóng, phù hiệu giải phóng, băng tay xanh đỏ trùng trùng điệp điệp. Con đường vào thành phố đầy dẫy lô cốt ụ súng bằng bao cát, thùng phuy cửa kẽm gai ngăn ra từng đoạn. Tiểu dội tôi 5 thằng leo lên một cái xe lam. Tôi giở bản đồ nhè đường tắt mà chạy. Xe nhỏ luồn lách tốt nên vượt xa đội hình tiểu đoàn. Tới Bẩy Hiền, trong khói đạn đơn vị bạn đang thu thập tử sĩ, chúng tôi rẽ ra Lăng Cha cả. Ở đây một trận đánh dữ dội đang diễn ra. Lữ đoàn xe tăng của ta cháy mất 4 chiếc. Chúng tôi len lỏi trong xe cháy xe hỏng vượt cầu Trương Minh Giảng tiến tới dường Phan Đình Phùng thì bị chặn lại bằng hàng loạt đạn đại liên từ trên tháp nước bắn xuống. Cả tiểu đội lăn ào xuống đường dùng AK bắn tới tấp về cái tháp nước có khẩu đại liên (chỗ đó bây giờ là khách sạn Võ Văn Tần). Mười giờ trưa tiểu đoàn dải quân dọc Bộ Dân vận Chiêu hồi. Bộ đội hạ cối 82 ngay trên đường phố bắn về phía có vườn cây Dinh Độc lập. Một chiếc xe dép kính vỡ toe toét chạy lên. Nhìn ra thì là anh Thuỷ. Cậu liên lạc từ trên xe hét lên rối rít: “Đừng bắn nữa, đấm đít D9 rồi“ quãng hơn 11 giờ nghe qua radio tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cả khung trời vỡ oà tiếng reo hò. Hàng chục ngàn người nhẩy lên, ôm nhau trong nước mắt. Đường phố Sài Gòn dồn nén bao lâu bỗng nhiên ùa ra toàn những cờ đỏ sao vàng. Bỗng chốc thành phố là một bức tranh xanh đỏ. Những hàng phượng vĩ trổ hoa đầu mùa đỏ thắm, cờ đỏ thắm, dưới nền trời quân phục xanh. Một biển người mừng đến ngơ ngác. Bỗng chốc con người lơ mơ hụt hẫng giữa không gian mới lạ, mới lạ ngay cả với người đã sống ở đây từ bao năm. Vào giờ phút ấy, lính nguỵ trong thành phố còn đông hơn cả dân ngoài đường. Họ trút bỏ hết quần áo lính mặc quần cụt ngồi la liệt vỉa hè, vườn hoa, bến cảng. Những cặp mắt thất thần nhìn quân giải phóng chiến thắng. Chẳng ai để ý đến họ, đội quân đã hết sức chiến đấu, không còn phiên hiệu tơi tả khắp đô thành. Đường phố ngổn ngang quân trang quân dụng mang nhãn hiệu Mỹ, xe pháo của Mỹ đứng bất động, chỉ có quân giải phóng là hân hoan, mắt nói miệng nói. Tự nhiên người tôi rũ ra mệt nhoài, không muốn cầm súng nữa.


Thời gian như ngừng trôi và không gian trở nên chật hẹp. Tôi có cảm giác mình đang sống trong mơ, một giấc mơ huy hoàng và kì vĩ. Bao ngày chiến đấu trên rừng núi cao nguyên, trong tâm trí chưa bao giờ dám nghĩ rằng có ngày mình nhìn thấy sài Gòn. Vậy mà hôm nay tôi đã đứng giữa thành phố với tư thế của một người chiến thắng, thật cám ơn số phận...


Chiều 30 tháng tư năm 2002
Thế là tôi lỡ một cuộc hẹn lớn với anh em đồng ngũ trung đoàn 64. Mà để làm gì cơ chứ? để đi kí kết một cái hợp đồng bán ngót trăm tấn sắt gì đó. Nhưng biết làm sao được “thương trường là chiến trường“ phải lấy chữ tín làm đầu, không thể để lỡ hẹn với thượng đế của mình được. Rất mong anh em đồng đội lượng thứ. Nhưng buôn gì thì buôn, bán gì thì bán, tôi sẽ không bao giờ quên được những kỉ niệm một đời mới có của những ngày tháng tư năm ấy.



.... Buổi chiều, dân Sài Gòn kéo ra đường, vây kín khu vực Dinh Độc Lập. Họ đi xem quân giải phóng, họ đi tìm chồng, tìm con ở cả hai phía. Cái sự tìm người thân ấy còn kéo dài cho tới vài chục năm sau, nhưng nó bắt đầu từ chiều hôm nay. Tôi cũng không hiểu nổi làm sao dân Sài Gòn chuẩn bị cờ đỏ sao vàng nhanh và nhiều đến thế. Cờ ở trên ban công, trên cánh cửa, nơi công sở và cả trên tay trai gái trên đường. Đêm đầu tiên giải phóng Sài Gòn điện vẫn lung linh sáng và người ta vẫn đi dạo phía vườn hoa.

Mười một giờ đêm, tôi đứng trên sân thượng nhà cố vấn Mỹ góc đường Phan Đình Phùng nhìn ra phía cảng. Tiếng còi tàu tu tu. Bình yên quá. Trời đầy sao, gió từ cửa sông thổi vào mát rượi, thành phố tinh khôi trong màn đêm lung linh như chưa hề có chiến tranh. Trong tôi kí ức về ngày hôm qua còn nóng hổi, nhưng bàn chân thì vẫn râm ran ngứa vì những vết nứt nẻ hành quân. Chúng tôi về thành phố để lại sau lưng bao đồng đội đang lạnh lẽo nơi rừng sâu, nơi đồng vắng. Để lại hàng ngàn ngày đói cơm thiếu thuốc trên cao nguyên. Bỏ lại những cơn sốt rừng tê tái gặm nhấm đời trẻ trai. Để lại những cánh rừng nương rẫy mình đã chai tay vun trồng nên khoai nên sắn. Phút giây huy hoàng này có ai nhớ không những bản làng xa xăm chốn Sa Thầy Pô Cô có những già làng đóng khố nhịn cơm đưa đường năm trước. Ai còn nhớ tới lời hò hẹn quay về nơi đã cưu mang mình, đã vực dậy trong lòng chiến sĩ niềm tin?

Ngày mai, một ngày mới của tháng 5 năm 1975. Và dĩ nhiên đêm nay lại thêm một trong hàng ngàn đêm chúng tôi không ngủ. Nhưng là một đêm không ngủ hạnh phúc nhất trong cuộc đời.



THáng 4- 2002. N.T.L

litangu
19-04-2013, 10:27 PM
Thuận


Bây giờ tôi vẫn không gặp lại Thuận. Ngần ấy năm trời chỉ nghe được một thông tin là Thuận đi buôn chuyến đường dài Nam Bắc. Ấy là tôi nghe anh Hỏa ở C17 công binh nói gặp nó trên đường, anh ấy bảo nó khỏe và phong trần lắm nó đưa cho anh mấy bao thuốc SaMit rồi biến mất như lúc xuất hiện trên chuyến tàu chợ HN- SG những năm cuối 80.

… Thuận vào bộ đội 17 tuổi học vừa hết cấp 2. Nó khỏe và nhanh như sóc. Nhưng trông rõ là thư sinh, da trắng mắt sáng và cái cười thì rõ tươi. Tôi về C7 D8 E64 Thuận là A trưởng rồi. Đại trưởng xuống B tôi nó chả thèm chào, nó thản nhiên gọi ông này ông nọ khiến tôi thấy lạ, hỏi sao dám coi thường cán bộ thế ? Nó lườm lườm nhìn tôi, mày mới vào biết gì. Nhưng thấy cán bộ C trưởng, Chính trị viên cứ thân tình như không với Thuận mặc dù thấy nó nói nhiều lúc khó nghe bỏ mẹ mà các ông ấy không giận gì nó. Thật khó hiểu. Thế thì tìm hiểu.

Chuyện này lại là chính từ C trưởng kể cho tôi nghe.

Nhập ngũ tháng 3/67 từ Hà Tây. Đợt quân này về sau rất nhiều người trở thành cán bộ chỉ huy của sư đoàn tôi. Thuận nói trơn tru: quê tao Đông Lao Đông La Hoài Đức Hà Tây. Cái câu này về sau tụi tôi cả trung đội đều thuộc. Đông La Đông Lao Hoài Đức Hà Tây. Cứ đọc ngược dọc xuôi nó bảo được tất, đúng tất. Tháng 1/68 F320A hành quân vào đánh Quảng trị. E 64 được phân công cắt đường 9 đoạn Đông Hà Cam lộ cho chiến dịch Khe sanh. Đánh cầu Thiện Xuân nó diệt 8 thằng Mỹ. Lúc ấy nó làm liên lạc, rồi rất nhanh nó làm A trưởng đánh Ba Thưng rồi đánh Hồ Khê, Thuận trở thành B trưởng. Sau chiến dịch đường 9 Khe Sanh Mậu Thân Thuận ra bắc đi báo cáo thành tích chiến đấu ở các trường Đại học. Nó đi mấy tháng trời mới về đơn vị. 18 tuổi đẹp trai, vài cái bằng dũng sĩ diệt Mĩ khiến các nữ sinh thi nhau tặng khăn musoa và sổ lưu niệm. Về đơn vị nó chia cho mỗi thằng trong B đủ một cái khăn và một quyển sổ còn các tấm ảnh của các cô thì nó giữ lại. Nó cũng hí hoáy viết nhật kí. Nhưng cứ vài mươi trang nó lại bỏ dở, kêu mệt đầu bỏ mẹ. Nó tâm sự chữ mình xấu quá, chữ mấy đứa sinh viên đẹp ghê. Những năm 72, 73 ở Tây nguyên thỉnh thoảng nó lẩm bẩm cô này bây giờ chắc làm kĩ sư rồi, còn cô này thì làm cô giáo…

Lúc ở cùng B với nhau sau này tôi hỏi sao mày khôn thế? rắn đẻ giờ nào mày cũng biết. Nó bảo khôn cái chó gì, lê la ở quê nghe chúng nó cứ bảo ra Hà nội không cẩn thận là bị bắt nạt. Tao thấy hay hay, rủ nhau đi Hà nội… chúng tao cuốc bộ vài cây số bám tàu điện Hà Đông lên Ngã tư sở rồi lại về. Đi miết thành quen, truyền toa này sang toa khác bên ngoài thành toa nhoay nhoáy, thích lấy cái bánh mì nào là tao lấy được, oánh nhau với bọn Ngã Tư sở chạy bỏ cha bỏ mẹ về tới làng Vạn Phúc vẫn tức. Tức quá vạch quần đái về phía Hà nội rồi hôm sau lại ra nữa… Nó cười hàm răng thật trắng đều tăm tắp. Trông nó trẻ hơn cái tuổi Canh Dần nên dù tôi kém tuổi cũng cứ mày tao với Thuận. Nó thích tôi nên nó bảo ừ tao với mày cứ mày tao còn thằng Phụng Bê phó mày mày tao tao là tao đấm cho.

Tôi vào sau nên chuyện nó bị kỉ luật tôi băn khoăn quá mà chưa dám hỏi. Một hôm kiếm được nhúm thuốc rê hai thằng rúc vào hầm nằm hút. Hút ở ngoài lính tráng túm lại lấy đâu cho xuể. Tôi mạnh dạn hỏi sao lại bị xuống A trưởng? Nó quay sang tôi, ấy là còn may đấy các ông ấy định đuổi tao về bắc đấy, tao bảo đuổi đi tao ra luôn… Đếch dám đuổi. Thu dung mãi trên D bộ lại đưa tao về đây. Kệ mẹ đời , sao tao ghét cái thằng chính trị thế chứ, cái thằng Chinh móm ấy mày biết không? À Chinh móm thì tao biết phó CN chính trị trung đoàn rồi đấy. Thuận trầm ngâm, mẹ kiếp đánh Nam Lào C mình thương vong nhiều chỉ còn tao và hai thằng nữa với vài thương binh trong khi đó tử sĩ hơn chục ca không mang ra được, cho liên lạc về lấy dự bị lên lão Chinh móm bảo phải tự thân giải quyết, địch thì cứ nửa tiếng lên một lần tao cho hết thương binh tử sĩ gom vào hầm ngụy trang kín rồi tập trung toàn bộ lựu đạn, tao đánh tất bằng lựu đạn, may mà C6 bên Kiều Thế đưa một B lên giúp. Hôm sau được lệnh đưa tử sĩ về phía sau tao xộc đến thẳng Tiểu đoàn chỉ vào Chinh móm tao chửi. Thằng cha sợ vãi đái, may mấy thằng ở truyền đạt D bộ can ngăn tao thôi. Thế là tao bị Kỉ luật. Họ bảo tao định giết cán bộ, rằng tao định bỏ trận địa tao nghe ù cả tai và thấy mình tội to quá. Thực ra tao chỉ cú lão Chinh móm thôi, lúc trước hắn làm chính trị viên đại đội lão ấy ghét tao rồi. Ông Đinh Thế Mỹ gọi tao lên chửi một trận, ừ tao ngấm nhưng kệ nó sự đã thế rồi… nóng mất khôn, chức tước gì đâu tao chỉ buồn chuyện khai trừ đảng… Nó trầm ngâm còn tôi thì chả biết nói gì vì tôi là thế hệ sau.

Tôi may mắn được gặp Thuận. Trận nổ súng đầu tiên nó bảo, mày cứ đi với tao đ. sợ. Hôm đó đánh địch ngoài công sự nó bảo tôi địch đi giải tỏa lập chốt luôn có nhiều tầng mày đừng tin là đánh hết một vòng ngoài là xong đâu đấy, nó có nhiều lớp bố trí nữa nghe chưa. Xong một loạt là di chuyển thật bí mật đợi nó bộc lộ hỏa lực mà đánh tiếp. Nhớ là di chuyển theo tao. Quả thật trận đầu đi với nó vững dạ thế. Nó ít bắn lắm cứ US mà ném. Nó thấy tôi bắn 4, 5 viên AK liền nó gằn giọng bắn cái đ. gì thế ? 1, 2 viên thôi. Tôi hiểu ra và chạy theo nó cung cúc.

Tối ấy, vớ được mấy gói gạo sấy của địch đổ nước vào bóp bóp một hồi nhai với nhau nó bảo mày cũng được đấy dần dần sẽ khôn lên, rồi nó đề nghị đại đội tôi được bằng khen… vì trói được hộ nó một tù binh.

Tháng 8/1973 tôi được gọi lên ban tuyên huấn trung đoàn 2 tháng viết lách giúp ban chính trị. Ở đó tôi lại biết một chuyện về Thuận. Anh Kiều Thế phụ trách tôi người thành phố Thái Nguyên nói với tôi: mày ở C7 chỗ thằng Thuận hả. Tôi vâng. Anh ấy kéo quần rồi vạch bụng lên chỉ vào những vết sẹo cháy nham nhở mà bảo: không có thằng Thuận tao “củ“ rồi. Trông vết cháy lân tinh thịt da sùi lên đến khiếp... tháng 4/72 đánh 1015 anh Thế là c viên phó c6, suốt ngày 14/4 gần dứt điểm thì máy bay hủy diệt trận địa bằng cả bom na pan. Kiều Thế bị thương nằm trên mỏm 3. Vân tải khiêng tử sĩ và thương binh nườm nượp. Bộ đội ta hi sinh nhiều quá, vận tải vào lấy tử sĩ cũng thương vong nên phải lấy cả bộ binh, trợ chiến và hậu cần E bộ vào vận tải. Tối ấy, thương binh và tử sĩ mang ra gần hết đại đội phó Thuận đang bị thu dung ở E bộ hỏi: Kiều Thế C6 đâu? nghe nói Thế bị thương cơ mà? Vận tải bảo không thấy. Nó bảo không được không được rồi nó vác súng quay vào, dọc đường nó kéo thêm hai vệ binh nữa. Kiều Thế nằm rên hừ hừ những vết cháy loe loét. Thế nặng lắm dễ đến hơn sáu chục kí, bọn vận tải cứ chọn thằng nào thấp bé nhẹ cân khiêng trước. Thế bị đùn lại sau. Và bây giờ nằm mê mết trong đêm. Kiều Thế được cứu sống . Vài tháng sau ra viện về trung đoàn bộ làm trợ lí tuyên huấn còn Thuận làm A trưởng vệ binh . Chuẩn úy Thuận bây giờ là thượng sĩ. Kiều Thế lên trung úy. Cũng nhiều lần Thuận vác súng đi công tác cùng Thế. Kiều Thế nể Thuận lắm nhưng Thuận thì coi như không có chuyện gì xảy ra trước đây, một điều thủ trưởng hai điều vâng thủ trưởng. Đầu năm 73 nó xin về đơn vị chiến đấu. Tôi ở với thuận từ lúc ấy.

Lúc đầu tôi lấy làm lạ sau thì thấy C trưởng nể Thuận là phải. Nhũng lần hành quân chiếm lĩnh Thuận trở nên lầm lì và rất già. Nó bảo không nên thế này, không nên thế kia. B trưởng và C trưởng đều phải cân nhắc lại. Thì ra bao nhiêu lần dẫn quân đi đánh kinh nghiệm rút ra từ bom từ pháo từ kẻ thù nó ngấm dần làm thành bản năng chiến đấu. Nó bông phèng nói văng nói vít ở đâu chứ còn khi chiến đấu thì nó rất kiệm lời và hành động thật quyết liệt. Lúc đánh nhau mà thấy nó nói ấy là lúc nó chửi. Đi với nó thật vững dạ.

Chiến dịch Tây nguyên 75. Thuận làm bê phó, tôi lên trinh sát tiểu đoàn. Hôm giải phóng Phú Yên quay về đường 7 gặp nhau nó thấy tôi hút toàn Ru bi nó cười khẩy rồi đưa cho tôi mấy bao Capstan. Nó bảo, hút là phải hút cái loại này, mày tẩm thế. Tôi cười bảo vớ được cái gì dùng cái nấy. Nó bảo bọn mày vào kho chi khu Củng Sơn sớm thế mà ngu.

29/4/75 là trận cuối cùng với nó. Phát hỏa từ 5 giờ sáng thì khoảng 10 giờ sáng thấy nó bò từ đường số 1 ra đồng. Tôi và nó nằm nép vào bờ ruộng dưa. Cái cổ nó ngoẹo về một phía. Cái băng quấn như thằng quấn khăn phula máu loang lổ. Nó bảo đạn thẳng đấy. May quá đ. đứt họng tôi cười bảo đứt họng thì mày mờ đời rồi còn gì nữa. Nó bảo cắm cho nó điếu thuốc vào mồm nó rít tê mê rồi đột nhiên nó bảo thằng Hòa chọi bắn dính dân. Rồi nó chửi đ. mẹ thằng chó chết. Tôi chỉ đường cho nó bò về mấy ruộng dưa nơi phẫu C24 đóng ở đó. Thế là chia tay nhau từ lúc ấy. Tôi cuốn theo đơn vị vào Tân Thới Nhì ngay đêm đó. Đầu tháng 5 chúng tôi ra Củ Chi nó đi viện chưa về. Chả hiểu vết thương kiểu gì mà mãi cuối tháng 7 nó mới về đại đội. Thì ra đêm 29/4 số bị thương đưa về bệnh viện công binh ở Hóc Môn rồi tiếp sau đó là về Viện Cộng Hòa. Thuận gặp may từ ấy. Đêm ở Hóc môn những thằng què thì nằm rên còn nó hai tay hai chân lành lặn nó lần mò khắp xó xỉnh và… nó lấy được rất nhiều tiền. Chúng nó nói lại rằng. Nó không lấy tiền Trần Hưng Đạo mà lấy toàn tiền tây. Nó bảo, cứ cái anh này mà lấy tiền kẻ thù thế nào mà chả phải hủy? Sao mà nó khôn thế nhỉ! Hồi ấy đô la chỉ nghe nói thôi chứ mấy anh nào biết mà lấy. Thế mà nó lại tìm kiếm đô la. Nó bảo sưu tầm cho vui. Thật không tin nổi. Những ngày đầu tiên giải phóng các thầy thuốc 108, 103 ào ào vào các quân y viện miền nam để phục vụ thương binh. Thuận về Cộng Hòa nằm và gặp cô đồng hương Hà Đông là một y tá trẻ măng của viện 103. Chỉ mấy tháng thôi họ đã kịp yêu nhau và Thuận với cô y tá đã kịp nghĩ tới hôn nhân và mua nào là tủ lạnh, ti vi, máy khâu xe máy và cô y tá là người vận chuyển ra bắc theo con đường xe quân y.

Thuận về đơn vị chu toàn công việc của một B phó. Tôi thấy nó quấn cái mùi soa vào vết thương ở cổ liền hỏi vết thương còn làm sao nữa mà quấn khăn thế. Nó bảo quấn cho nó đỡ ngứa. Thằng Khuất Duy Hoan bảo, nó quấn để nhớ con y tá đấy mà. À thì ra cái mùi soa là của người yêu nó. Tháng 10 tôi ra bắc về học lại. Nó tặng tôi cái SEIKO 5. Chao ôi là sướng. Nó bảo mang về mà đi học không thích thì bán lấy tiền mà tiêu. Tao cũng ra thôi, tao về là lấy vợ ngay đấy.

Ngày tôi ra bắc, Thuận dẫn trung đội đi đắp trường bắn bên ngoài Đồng Dù không gặp nhau. Thế là xa nhau. Tôi nghe nó cũng ra quân ngay năm 76 và cưới cô y tá viện 103. Rồi lại nghe nó đi buôn đường dài. Thời gian trôi vùn vụt nhớ lại nhau giở cái ảnh cũ xưa ra thấy nó cười thật tươi và hàm răng đều tăm tắp. Lại nhớ chuyện nó bị bọn Ngã Tư Sở đuổi chạy về đến Hà Đông quay lại đái một bãi về phía Hà nội cho bõ tức. Tôi tin Thuận đi buôn cũng sẽ giỏi. Có thể trong cuộc sống bầm dập này Thuận không hỏng, mặc dù có thể nó cũng… hư.

NTL

Xin tu xoa
19-04-2013, 11:34 PM
Em chen ngang một chút: Bản đồ khu vực Củ Chi - Tân Phú Trung - Ấp Chợ - Tân Sơn Nhì


Kí ức Tháng Tư ( tiếp theo )


Bám sát vào nhau , hàng ngàn chiến sĩ lầm lũi tiến về phía Sài Gòn , nơi quầng sáng lung linh một góc trời . Trong lồng ngực có cái gì nghèn nghẹn . Cái cảm giác không giống bất kì một trận đánh nào mà tôi đã trải qua . Mũi tiểu đoàn 8 do tiểu đội tôi dẫn đường vòng phía đông quận lị Củ Chi , vượt qua đường 15 rồi men theo tỉnh lộ 8 vào chiếm lĩnh trận địa Tân Phú Trung . Nhiệm vụ được giao rất nặng nề . Phải đột kích tiêu diệt một tiểu đoàn ở ấp Chợ Tân phú Trung và Cầu Bông ( Bây giờ gọi là cầu An Hạ ) . Lô cốt ấp Chợ cách cầu Bông gần km . Cây cầu dài ba chục mét có 2 đại đội cảnh sát và lính dù chiếm giữ . Điều cốt tử là đánh tan địch nhưng lại phải giữ được cầu , không cho địch nổ khối bộc phá 200kg để huỷ cầu . Nếu cầu Bông bị phá huỷ thì hướng tấn công tây bắc vào Sài gòn coi như thất bại . Đi cùng tiểu đội trinh sát chúng tôi là một cô biệt động còn rất trẻ , có cái tên khá đẹp - Mỹ Hạnh . Sở dĩ cô này được đi với chúng tôi vì cô ta quê Tân Phú Trung . Hạnh chừng 20 tuổi . Vóc người đậm , rắn chắc , da ngăm đen . Nghe gới thiệu cô ta rất giỏi võ . Võ thì chưa biết nhưng bơi lội thì tài . Lúc 9 giờ đêm khi đơn vị lội qua một con mương rộng chừng 15 mét nước quá đầu . Mấy chú tân binh vùng cao không biết bơi nhưng lại không dám kêu vì sợ lộ nên cứ giã gạo giữa dòng . Một mình Mỹ hạnh lôi hai chú vào bờ lại còn mắng cho một trận làm bộ đội Bắc Việt vừa ngượng vừa khoái . Trung đoàn đã đi vượt qua căn cứ Đồng Dù rồi tiến sâu về phía Sài Gòn . Cả trung đoàn lội trên cánh đồng lúa đang kì trổ đòng . Bờ ruộng rất nhỏ . Lính ta ngã ì ụp , vì vậy tốt hơn cả là cứ giữa ruộng mà lội . Mỹ Hạnh luôn mồm than thở thương ruộng lúa nát nhừ vì hàng ngàn bàn chân dẫm đạp . Đêm ấy , những làng mạc vùng ven này không giống như mọi đêm khác . Tiếng lao xao í ới , tiếng chó sủa , tiếng động cơ xe máy xe ô tô chộn rộn . Mọi người đang hồi hộp chờ đợi một điều gì thật lớn lao xảy ra .


Vào lúc 2 giờ sáng , trăng bỗng sáng hẳn lên . Chúng tôi dẫn bộ binh tới giữa cánh đồng cách chợ Tân phú Trung chừng 2 cây số . Bộ đội nằm lại ngoài đồng chờ trinh sát lên bám địch lại lần nữa ... Trời đã bàng bạc đằng đông , đúng lúc ấy, phía Đồng Dù tấn công thì đồng loạt DKZ, cối 82 , cối 120 ở đồng Tân Phú phát hoả . Ngay loạt DK đầu tiên , 8 khẩu cùng bắn , đồn cảnh sát cầu Bông sập hoàn toàn . Bộ binh D9 và đặc công 198 vận động dưới tầm pháo xông lên đánh cầu . Cho tới bẩy giờ sáng thì cầu Bông đã về tay quân giải phóng . Phía ấp Chợ các lô cốt kiên cố bắn trả dữ dội . Quân ta không tiến lên được . Bộ binh nằm trên đồng trống bị thương vong hơn hai mươi người . Tình hình trở nên căng thẳng . Tiểu đoàn lệnh trinh sát và thông tin xuất kích .Từ phía chợ thằng Thuận ( người Đông Lao ,Hoài Đức ) bị đạn thẳng vào cổ đang bò ra cánh đồng . Tôi châm điếu thuốc Rubi cài vào mồm cho nó rồi bò ra trận địa .Đạn từ ba lô cốt táng dữ dội vào trận địa 12,7 của C16 . Mấy thằng C16 dạt ra . Thằng Khuất Duy Hoan C7 chồm lên , ôm 12, 7 li vừa bắn vừa chửi . Được củng cố tinh thần , thằng Hoà người Cao Bang thị xã phú thọ bật dậy bắn liền 2 phát B41 rồi ôm khẩu trung liên từ tay một liệt sĩ bắn xối xả . Đúng lúc ấy nó trúng đạn , gục xuống bên khẩu trung liên còn nóng bỏng . Đại dội 7 xung phong ra phía chợ , chui vào ngóc ngách nhà dân ném lựu đạn ra đường . Trận đánh giằng dai tới 11 giờ trưa thì có tiếng xe tăng chạy ầm ầm từ phía Củ Chi về Sài Gòn . Bộ binh quay ra bắn xe tăng , ba chiếc bốc cháy đâm sầm vào trường tiểu học Tân Phú . Đúng lúc ấy xe tăng quân ta đuổi tới nơi . Bộ binh ta thấy xe tăng cờ đỏ sướng quá rối rít chỉ lô cốt cho họ bắn . Thế là hàng chục thằng Nguỵ cố thủ trong ba lô cốt trở thành đống thịt nướng . Ngót trăm thằng từ trận địa bên kia đường bấy giờ mới kéo ra hàng . Lúc ấy là 12 giờ trưa ngày 29/4.
...

Mười hai giờ khuya chúng tôi tạt vào làng Tân sơn nhì ngủ lại . Năm giờ sáng đang nấu cơm chưa kịp ăn thì có lệnh : Tất cả mọi đơn vị , bằng mọi giá , bằng mọi phương tiện , xốc thẳng vào Dinh Độc lập . Thế là lao ra đường , chặn xe của dân, huy động cả máy cầy , xe lam,xe đò mạnh đại đội nào đại đội nấy tìm đường đánh vào dinh.



link nguyên size (Do Kqh tự động thu nhỏ ảnh) : http://direct2.anhso.net/original/2/27442/1942013232410853.jpg

http://direct2.anhso.net/original/2/27442/1942013232410853.jpg

litangu
20-04-2013, 08:38 AM
Bác @Rongxanh đã đưa cái tấm bản đồ mà một vùng đấy với tôi thân thuộc . Một lộ trình của những ngày tháng tư quí giá cuộc đời tôi / cám ơn bác

Xin tu xoa
20-04-2013, 10:39 AM
Kí ức Tháng Tư ( tiếp theo )


Tiểu dội tôi 5 thằng leo lên một cái xe lam . Tôi giở bản đồ nhè đường tắt mà chạy . Xe nhỏ luồn lách tốt nên vượt xa đội hình tiểu đoàn . Tới Bẩy Hiền , trong khói đạn đơn vị bạn đang thu thập tử sĩ , chúng tôi rẽ ra Lăng Cha cả . Ở đây một trận đánh dữ dội đang diễn ra . Lữ đoàn xe tăng của ta cháy mất 4 chiếc . Chúng tôi len lỏi trong xe cháy xe hỏng vượt cầu Trương Minh Giảng tiến tới dường Phan Đình Phùng thì bị chặn lại bằng hàng loạt đạn đại liên từ trên tháp nước bắn xuống .

Hình ảnh mấy chiếc xe tăng của Lữ đoàn 273 bị bắn cháy mà bác LTN nhìn thấy sáng ngày 30/4/1975 tại khu vực Lăng cha cả là đây:

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/Kqh-SG30-4/0000405614-002.jpg

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/Kqh-SG30-4/42-18442384.jpg

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/Kqh-SG30-4/30-4-1975.jpg

litangu
20-04-2013, 02:34 PM
Cảm ơn @Rongxanh , tôi mở máy đến chủ đề và dê chuột thật nhanh nên khi hình ảnh mấy chiếc xe tăng cháy hiện ra chưa đọc chữ nào mà thấy gai hết người . Sáng ấy lúc chúng tôi qua xe cháy ngột ngạt và đạn địch vẫn bắn . DKZ nó cứ ở các ngã tư , mình ló ra nó băn phát rồi bỏ chạy luôn .../ năm 2003 tôi và bạn tôi ở đài TH TP đi dọc các nghĩa trang ở Hóc Môn thì thấy hầu hết lính xe tăng 273 hi sinh 30/4 được mai táng ở nghĩa trang Tân Xuân

litangu
20-04-2013, 09:17 PM
Chuyện ở lính bốn mươi năm mới kể lại


Chuyện đã 40 năm nhưng tôi tin ai đã là lính C2 D76 F304B Quân khu Việt Bắc đều nhớ. Quãng đời tân binh giai đoạn bản lề của một đời sống không bình thường của một đời người. Ai qua bộ đội dù chỉ một đôi ba năm nhưng ấn tượng ấy thì đeo đẳng mãi mãi. Với tôi, tuổi quân thì ít nhưng đời lính thì dài. Chuyện lính trong tôi cứ là mãi mãi.



Chuyện thứ nhất:


Kinh “Còi”

Tên là Kinh nhưng lại là người dân tộc Tầy Lạng sơn. Tiểu đội trưởng khung ở B1. Hắn có cái còi phải nói là kêu. Tiếng còi của Kinh vang hơn còi trọng tài bóng đá bây giờ, nó kéo dài, nó vừa thống thiết vừa thúc dục vừa răn đe, lại vừa kêu gọi. Những ngày đầu vào lính, Ngô Thịnh và anh Đỗ Kim Long giáo viên khoa điện choáng váng vì tiếng còi này. 5 giờ sáng còi: thức dậy. 5 rưỡi còi: ăn cơm sáng (ăn ngô xay). 6 rưỡi còi: ra thao trường. 11 giờ trưa còi: đi đều về. 1 giờ còi: báo thức. 1 rưỡi còi: lại thao trường... v.v, ấy là chưa kể còi báo động tiểu đội, còi báo động trung đội, còi báo động đại đội, còi đi văn nghệ, còi sinh hoạt hàng tối, còi nghỉ đêm... Thôi thì một ngày một đêm Kinh thổi còi số lần còn hơn trọng tài “Vi lít“. Bọn lính sinh viên mãi rồi cũng quen, bảo nhau: thôi thì sống chung với “Còi”
Lính không sợ Kinh mà sợ còi. Vì nghe còi là mất ngủ, mất chơi thậm chí đang ăn thì mất ăn. Kinh rất nguyên tắc khi huấn luyện tân binh mới. Kinh bảo “Tó là tôi rất thưng yiu các tồng chí” (đó là tôi rất thương yêu các đồng chí ). Ra thao trường Kinh gióng xé tai một hồi còi rồi dõng dạc:
“Các toòng chí lên hểu lò thao trờng tổ mồ hoi coòng hon chín trờng tổ máo”
(các đồng chí nên hiểu là thao trường đổ mồ hôi còn hơn chiến trường đổ máu)

Đúng quá. Kinh nói đúng. Hắn rèn quân khiếp lên được. Sáng sáng hành quân ra thao trường mỗi người mang trong ba lô mười viên gạch. Một lần, Thịnh tồ mang không đủ số gạch trong ba lô Kinh phát hiện ra “mẹc” cho. Thịnh cãi lại - Sao tiểu trưởng không mang viên nào? Không trả lời mà Kinh rút còi thổi đánh choe một phát, cả tiểu đội ngay đơ không ai cãi câu nào chỉ còn hưng hức tiếng cười tắc trong những cái cổ họng đang xếp hàng dọc.

Tối ấy Kinh còi gặp Thịnh tồ: Tồng chí hút thuúc (đồng chí hút thuốc) Thịnh xoè tay đón điếu Tam đảo của cấp trên. Thịnh tồ cảm động. Đi ăn cơm, Kinh chỉ cho tiểu đội xếp hàng ở bờ ao. Cái bờ ao ở trước nhà đóng quân của Kinh chỉ to hơn cái bờ ruộng quê tôi một tý. Kinh bảo: Các toòng chí xếp hàng mà lo mơ là xướng ao lớ! (các đồng chí xếp hàng lơ mơ là ngã xuống ao lớ) Rồi Kinh thổi đánh “choe“, khiến cá rô phi đang ăn nổi mặt ao giật mình lặn rào rào. Tiểu đội hàng dọc của Kinh tăm tắp đi đều ra tận bếp. Mấy cô gái làng bịt miệng cười nhìn Kinh nhưng vẫn đầy sự thán phục. Còn Kinh thì lơ đi như không hề biết.

Hồi ấy bọn Ngô Thịnh và Triệu Bình khoa điện hay có bạn gái ở mấy trường sư phạm và Y khoa xuống thăm. Hai thằng này Sợ Kinh lắm. Chỉ sợ đang tâm sự ngoài bờ mương Kinh phát hiện ra gióng cho một hồi còi thì có mà chạy bỏ cả dép. Quái lạ, những trường hợp ấy Kinh không bao giờ thổi còi. Hoá ra tiếng còi của Kinh cũng rất nhân văn.

Nhưng không phải còi đều làm oai cho Kinh cả đâu. Một hôm đội sản xuất họp buổi tối ở sân nhà Ngô Thịnh. Trên thì đội trưởng chúi mũi vào ngọn đèn tù mù mà nhắc nhở phân gio giống má . Cuối sân mấy thôn nữ rúc rích với bọn thằng Ngô Thịnh. Kinh đi qua, tức quá không nhẽ lại lôi chiến sĩ của mình ra khỏi cơn giao lưu kết nghĩa đang hồi tưng bừng ấy. Bèn rút còi thổi một phát thật mạnh. Tiếng còi như chưa bao giờ to đến thế. Choét choét. Ông già bà lão đổ nghiêng trên sân, rồi sau đó là tiếng la ó của bà con. Sáng hôm sau Kinh bị lãnh đạo phê bình vì thổi còi không đúng chỗ, thổi vào tai cuộc họp đội sản xuất. Ngô Thịnh và Triệu Bình bấm nhau cười rúc rích trong khi Kinh bần thần đứng bên bờ ao.

Ngày chúng tôi đi chiến đấu Kinh còi đi học tiếp lên Bê phó. Đi trên Trường sơn bọn B1 khen, hồi huấn luyện không có Kinh còi nó rèn bọn mình thì bây giờ theo dược an hem cũng “khướt “



Chuyện thứ hai:


Giang “xẻng”

Giang học k4 khoa chế tạo máy Đại học Cơ điện. Vào C2D76 Hắn ở B2 cùng thằng Cảnh khoa điện, thằng Định k5B khoa máy. Tiếng là cùng trường nhưng Giang cứ lầm lì đi thao trường một mình ở cuối hàng còn hai thằng Cảnh và Định vác hai khẩu CKC vênh vang đi trước.

Phải nói là Giang là con người chỉn chu kỉ luật của đơn vị, cũng như nếp sống văn hoá quân đội. Thật là một tấm gương cho trung đội noi theo. Mỗi ngày đi thao trường Giang đeo cái xẻng chéo qua vai nằm ra đằng sau lưng. Lúc nào cũng thấy Giang nghiêm chỉnh đi đúng hàng và đặc biệt bọn Cơ điện không bao giờ thấy Giang ngồi quán nước chợ Hanh. Giang có răng khểnh hay cười nhưng kiệm lời. Bọn mình thấy hắn nghiêm chỉnh nên nhiều khi cũng ngại. Tuy thế chẳng bao giờ Giang phê bình ai. Cứ cặm cụi, cứ cung cúc tập luyện và hầu như Giang không mắc một khuyết điểm nào suốt 3 tháng rưỡi huấn luyện. Một hôm sinh hoạt đại đội, chủ đề: lí tưởng của người chiến sĩ thể hiện cụ thể trong đời sống tân binh. Thôi thì nhiều ý kiến lắm. Đại đội toàn người có học, không là sinh viên thì cũng là cán bộ công nhân nhà máy nên phát biểu không mấy khó khăn. Nào là: tôi gác tình riêng để lên đường đi chống Mĩ. Nào là dù vợ dại con thơ tôi cũng không hề nao núng. Nào là: biết là bố tôi ốm nặng tôi vẫn hướng về... phía chiến trường. Có chú trẻ măng ở quê nhập ngũ thì thật thà nói: bộ đội khổ thì khổ thật nhưng còn sướng hơn ở nhà nên tôi thấy bình thường... Mọi người nói vãn rồi thì thấy Giang giơ tay xin ý kiến

Giang bước lên, nhìn bình thản hơn 100 anh em trật tự phía dưới rồi nói thật ngắn gọn:
- Tôi vào bộ đội đã 3 tuần nay, tôi vẫn không có súng. Tôi chỉ được phát một cái xẻng. Tôi biết Đảng giao vũ khí gì tôi dùng vũ khí đó mà đánh giặc, gắn bó yêu thương nó coi nó như vợ mình, cho dù tôi chưa có vợ. Cái xẻng tôi mang từ sáng đến chiều trên lưng và ngay cả ban đêm khi báo động nó vẫn trên lưng tôi. Đã 3 tuần nay tôi chỉ tháo ra khi đi ngủ, còn ngày chủ nhật tôi vẫn... cầm ở tay.

Cả đại đội cười rinh rích. Cười hinh hích rồi cười toé lên. Bê trưởng B2 thì đỏ mặt. C phó quay sang hỏi:

- Sao thiếu súng mà không báo lên C bộ.

Ngay lúc ấy Chính trị viên bước lên. Ông làm động tác cho hơn trăm con người yên lặng. Vị trung uý nói trong xúc động:

- Thưa các đồng chí. Đây là tấm gương sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Quân đội phải cám ơn mái trường XHCN đã rèn luyện giáo dục các đồng chí tốt như thế. Tôi mong từ nay về sau đồng chí Giang phát huy không xa rời lí tưởng và không xa rời cái xẻng. Coi cái xẻng là vũ khí chiến đấu để làm gương cho toàn đơn vị.

Đại đội vỗ tay rào rào. Giang nghiêng bên này cũng thấy rào rào, nghiêng đằng trước, đằng sau cũng thấy rào rào. Hoan hô, hoan hô.

Ngày hôm sau Giang được phát súng CKC nhưng cái xẻng thì nó không thể xa rời lưng Giang được nữa. Chót phát biểu trước thiên hạ rồi, lại được thủ trưởng khen rồi, thôi gắng mà đeo. Cái xẻng nó mặc định vào Giang mất rồi. Bây giờ cả đại đội hễ ai gặp Giang cũng chú ý nhòm sau lưng xem có còn cái xẻng không. Suốt cho tới ngày đi chiến đấu Giang vẫn đeo cái xẻng sau lưng một ngày dễ đến 14 tiếng và Giang đương nhiên được gọi là Giang xẻng. Vào chiến trường Tây Nguyên Giang cũng vẫn là Giang xẻng.
Bây giờ Kĩ sư Giang ở đâu, nếu đọc được chuyện này gọi điện cho mình nhé: Số máy của mình: 0976582742. Cứ gọi rồi khắc nhận ra tên nhau.
* * *


Chuyện về cán bộ


Ấy là chuyện về lính, chứ còn chuyện về chỉ huy thì cũng nhiều không kém. Tất nhiên chuyện về chỉ huy cũng dễ hay và dễ nhớ như chuyện lính tráng mà thôi.

Người lính tân binh ngày đầu vào bộ đội gặp thủ trưởng nào thì thủ trưởng ấy sẽ trở thành người thầy đầu tiên.
Chuyện về hai người “thầy lính“ đầu tiên ấy xa lắc lơ rồi mà vẫn nhớ. Buồn thì ít mà vui thì nhiều, vì có 4 tháng chưa kịp buồn thì đã đi chiến trường. Suốt đường hành quân cứ nguyên chuyện đại trưởng và chính trị viên cũng đủ vui, đỡ nhọc.

Kể về Đại đội trưởng.

Hồi ấy, gọi theo mấy “đồng chí chị nuôi” là Đại trưởng. Đại trưởng ơi, em xin về. Đại trưởng ơi y tá bảo lên uống thuốc, rồi ăn cơm mấy cô ẽo ợt bê cơm lên xê bộ ** ** gọi Đại trưởng ơi... cơm. Vui thế.

Đại trưởng cười, nói giọng thổ Cao bằng thân thiện:
- “mấy tứa này gần chù gọi pụt pằng anh” (mấy đứa này gần chùa gọi bụt bằng anh). Rồi cười he he nheo mắt nhìn cái Tĩnh đánh hai quả mông tanh tách chạy về bếp. Bê trưởng Đinh văn Bệ ở B1, hàm chuẩn uý người tày Lạng sơn thì chê:
- Cái láo ây loái tiếng kinh chưư... sói à (cái lão ấy nói tiếng kinh chưa sõi à)

Đại trưởng biết, đại trưởng mắng: pậy nào, tồng chí pệ pậy nào (bậy nào, đồng chí Bệ bậy nào) Rồi cả thầy trò cười ngất ngả. Ngày đầu tiên về đơn vị, tập hợp ở sân kho hợp tác. Cán bộ trực ban chạy ra: báo cáo đại trưỏng, đại đội có mặt đầy đủ xin chỉ thị đồng chí. Đại trưởng lừ lừ: Tủ cái gì mà tủ, tôi lếm nhanh tược có trăm hai, lói dối thế thì ti chín tấu làm sao tựơc, trung đội trưởng trực ban ứ ứ rồi im thít.

Một hôm, ngoài thao trường 209 (thao trường 209 là khu doanh trại của E209 sư 312 cũ ở đầu dốc Vai có mấy cái nhà 2 tầng để học đánh vào thành phố).

Lính tập hợp thành vòng tròn, đại trưởng hạ khoa mục. Nào là khi vào thành phố, đừơng xá nhằng nhịt, người đông, dễ lộ, nhiều dây điện nhùng nhằng... v.v, đại trưởng nói:
- ... Các tồng chí đừng có tởng, vào thành phố ló khó lắm chớ, chết nhơ chơi à. Xe cộ ló ti tối mắt à, dây địn ló nhiều như... (các đồng chí đừng có tưởng vào thành phố nó khó lắm chứ, chết như chơi à, xe cộ nó đi tối mắt à, dây điện nó nhiều như...) đại trưởng ngó quanh đang tìm cái gì để ví cái sự nhiều của dây điện, chợt ông nhìn ra mấy bụi tre mắt sáng lên:
- ... dây địn nhiều như lá tre à.

Thế là cả đại đội cười phá lên, tưởng đại trưởng cáu. Nhưng không, ông ấy đỏ mặt lên rồi cũng cười phá lên. Cười ngặt nghẽo, và thế là chiến sĩ nào cũng nhớ dây điện trong thành phố là... Rất Nhiều.


Chuyện về chính trị viên (khó kể hơn)


Trung úy Đoàn Văn Mấu quê Phủ lí. Năm ấy cũng đã 28 tuổi. Đã từng đánh nhau ở Lào vì thế ông rất hay kể chuyện về Lào, và theo ông ấy thì Lào cũng giống như người Tày nên cứ ai người Tày ở đại đội là ông ấy yêu quí (trừ đại trưởng ra)

Tuần có 2 ngày sinh hoạt đại đội thì cả hai ngày Chính trị viên cầm chịch. Tư tưởng mà lị. Ông rất thận trọng với đám lính ngộ chữ này nên không mấy thiện cảm. Ông ấy lệnh mỗi trung đội tháng ra một tờ báo tường. Thôi thì 4 Bê báo tường đẹp ơi là đẹp, đủ cả văn, thơ , nhạc, hoạ, chuyện tranh truyện cười xanh đỏ vui mắt lắm. Nhưng ông chỉ dò tìm những cái tên của mấy chú tân binh Phú Lương người Tầy bổ xung (số là trong đại đội tôi có 7 người là dân tộc Phú luơng bổ xung về sau). Còn như Ngô Thịnh, Trọng Luân, Triệu Bình, Mạnh Tiêu, thầy Kim Long, Thầy Huấn, cả anh Thiệp Hải Phòng là cây văn hoá cũng đừng hòng nhé. Thơ á, vẽ đẹp á, chả là gì. Một lần, ông dò ra bài thơ “đào hầm“ của binh nhì Ma văn Mát.

"Đào hầm mỗi ngày một lần / đào hầm mệt lắm/ nhưng căm thù giặc sài lang / mồ hôi ướt áo chẳng cần”

Các bạn đừng cho là tôi bịa nhé, chính tôi làm tờ báo ấy đấy. Trong cuộc sinh hoạt tiếp theo, chính trị viên gọi Ma Văn Mát lên. Ông bắt tay, khen ngợi rồi hỏi:
- Đồng chí đào hầm bằng gì?
Mát trả lời:
- bằng cuốc chim. Vì hắn có cái cuốc chim.

Chính trị viên khen tốt lắm, thế chứ! cuốc chim là vũ khí diệt mĩ đấy. Cái cuốc chim của đồng chí không kém gì cái xẻng của đồng chí Giang. Đồng chí viết như thế là toát ra từ đáy lòng căm thù giặc, đồng chí phải báo tin về cho gia đình thành tích của mình và phải căm thù giặc hơn nữa rồi động viên bố mẹ cũng căm thù giặc trồng nhiều khoai sắn.

Tối hôm ấy tôi thấy Ma Văn Mát hí hoáy viết thư tới khuya lắm.
Hôm sau mình hỏi: sao mày viết là giặc sài lang. Nó bảo thằng nào đểu cũng là sài lang tất. Tôi chịu nó. Mà tôi cũng chẳng hiểu sài lang là gì.

Trung uý Mấu chọn liên lạc riêng cho mình là binh nhì Lí Trọng Nghẻ. không phải là Nghé đâu nhá. Nhưng ông ấy cứ gọi nó là Nghé. Ông ấy bảo gọi thế cho nó hiền lành gần gũi nông dân mình hơn. Lí do nó là người dân tộc. Công nhận nó hiền, khoẻ, thật thà. Ông ấy thích lắm. Hiền, thật thà, khoẻ là tiêu chuẩn trước tiên để chọn liên lạc và công vụ của các thủ trưởng. Có điều thằng này nghiện thuốc lào dã man, mà chính trị viên thì không hút thuốc. Suốt ngày kè kè bên thủ trưởng, đến giờ nghỉ nó nhào ngay xuống bếp anh nuôi hút một điếu phê quá ngã ngửa ở sân gần bụi chuối đúng lúc trung uý Mấu đi xuống. Chính trị viên há hốc mồm nhìn chú liên lạc của mình nằm ti hí mắt, hiền từ nhìn thủ trưởng. Nó cứ nhìn trung uý Mấu mà không dậy nổi, ở đôi mắt đang nhìn thủ trưởng với một phần hai con ngươi lăn ra hai giọt nước.

Sau lần ấy ông Mấu cho phép nó được hút thuốc lào tại C bộ, nhưng mỗi ngày 4 lần chia đều ra hai buổi.

Chúng tôi vào lính thì đã có sẵn 4 cô Chị Nuôi rồi. Hai tháng sau lại bổ xung 2 cô nữa. Mỗi khi mấy cô chị nuôi mặc cái áo lót đông xuân nữ màu trắng đi giặt về là tụi mình khoái lắm. Em nào cũng binh nhất nhá, bọn mình thì binh nhì. Nhưng các binh nhì cứ dán mắt vào mấy bộ ngực hiên ngang của cấp trên. Cấp trên cũng tạo điều kiện cho cấp dưới bổ túc mắt và tỏ ra thông cảm với những cái cổ họng đang chạy lên chạy xuống. Chính trị viên cáu lắm, còn đại trưởng thì cười hi hí:
- chúng mày coi chừng à mấy tằng sin viên là nó tĩ lắm lố (chúng mày coi chừng à mấy thằng sinh viên là nó đĩ lắm lố ). Cả tiểu đội nữ gọi đại đội trưởng là “đại trưởng” nhưng tịnh không cô nào dám gọi chính trị viên là “Chính viên” hay “trị viên” bao giờ cả.

Rồi chúng tôi đi B. Cả đại trưởng và chính trị viên dẫn quân vào đến trạm 5 Trường sơn thì chia tay chúng tôi để quay ra bắc. Hôm ấy đúng vào 30 tết. Cả hai ông xuống từng võng bắt tay và ôm từng người chiến sĩ của mình. Bốn tháng ở bên nhau, biết bao chuyện lặt vặt vui buồn mà chỉ có đời bộ đội mới nhớ được nhiều về nhau đến thế. Trong bóng đêm Trường sơn, tôi vẫn cảm nhận ra hai ông ấy trào nước mắt.



Chuyện về tiểu đội anh nuôi

Trong đại đội đầu tiên của tôi ở Bắc thái có một tiểu đội tôi thích nhất. Từ A trưởng đến chiến sĩ đều rất đẹp, ai nhìn cũng thích. Họ lại trẻ, lại ngoan, hơn một trăm con người đều thích chẳng cứ tôi. Đó là tiểu đội nữ anh nuôi.

Hôm đầu tiên về đến đơn vị đã thấy một thím ra đón mặt tươi như hoa, cười nói rộn ràng. Xe vừa dừng dưới luỹ tre (lối đi vào Cbộ sau này) thím ào lại đưa đây em xách hộ, nào đưa tay em đỡ mà nhẩy xuống. Thật ngỡ ngàng có cô gái xinh mà thân tình đến thế. Cánh cựu Sinh Viên đang chộn rộn tâm hồn vì mới mặc quân phục có vài tiếng đồng hồ cũng dịu lại và cái thằng đàn ông trong con người mình đánh thức mình nhìn chằm chằm vào bộ ngực nở nang của thím.

Sáng hôm sau. Bữa cơm đầu tiên của chúng tôi. Thôi thì khỏi phải nói có bao nhiêu nụ cười của các thím đều mang ra dùng hết. Một sào đất người rặt những người có học, mặt mũi tinh khôi, tâm thần mộng mị đứng xếp hàng ở sân nhà ăn để các thím điểm tâm. Không giống như đợt quân trước đó đi từ làng quê mười bẩy mười tám tuổi mặt bấm là ra sữa. Cánh lính này nó cao to, thư sinh mà chú nào cũng ngoài 20. Vừa cứng cáp, vừa e lệ kiểu cáo già vừa ngây thơ như con sói cô đơn. Các thím thích lắm. Phải nói là các thím thích thật.

Chỉ ba ngày sau, lí lịch nữ quân nhân nhà bếp này chúng tôi ai cũng thuộc. Thuộc nhất là Mạnh Tiêu khoá 4 và Ngô Thịnh khoá 6. Không hiểu sao chúng nó lấy thông tin ở kênh nào mà Thịnh tồ ghé tai tôi nói nhỏ: “A trưởng Tĩnh máu lắm đấy“
Gọi là tiểu đội nhưng ngoài hai nam giới luống tuổi có 4 cô thôi. Tĩnh, Hà, Xuân, Phiến. chỉ có Phiến là người Cao bằng, còn ba cô đều dân Đất tổ Vua Hùng. Máu là phải.

Vào đơn vị 15/9 ngày 21/9 đã phải phục vụ địa phương chương trình văn nghệ tết Trung thu. Tối hôm ấy, trăng lên vượt qúa luỹ tre, cả đại đội ngồi kín sân kho hợp tác xã với độ trăm người vừa trẻ con vừa người lớn nghe các chú tân binh hát múa. Đã lại sức sau một tuần thay đổi trạng thái lại đang bừng bừng nhiệt huyết, tối ấy các chú hát hay mê man. Các nam phụ lão ấu vỗ tay cũng dã man. Cả tiểu đội chị nuôi long lanh ánh mắt. Từ ngạc nhiên chuyển sang thích thú rồi đến thẫn thờ nhìn các chú lính SV đại học cơ điện. Thằng Tiêu rỉ tai mình: tấn công đi, thằng Thịnh vỗ nhẹ vào vai mình: được đấy. Tôi nghe mà ù cả tai, chưa kịp phản ứng gì đã thấy thằng Ngô Thịnh sán vào em Tĩnh hai đứa tình tang mỗi đứa túm một đầu cái thang khiêng đi trả. Sớm hôm sau khi ra nhà bếp thấy Mạnh Tiêu rười rượi đăm chiêu trong khi Ngô Thịnh vừa xếp hàng lấy cơm vừa hát “Rà pô ta u nát sờ nái ia... ” (bài ca Thanh niên sôi nổi của Nga)

Sau này cùng tiểu đội trinh sát D8 E64 ở chiến trường hai thằng vẫn cãi nhau cái vụ đêm hôm ấy. Cho tới bây giờ không ngã ngũ, dù cả hai đã già cóc kẹ.

Tiểu đội nữ này họ đặt câu hỏi: Sao đợt lính này không ăn bánh mì? sao họ chỉ thích chè đặc cà phê? sao họ ăn uống không hộc tốc như các đợt quân khác? sao họ hay đi sửa quần áo thế?... Vân vân và vân vân . Nhưng chỉ có mỗi câu mà họ không hỏi. “Sao họ hay rủ bọn mình ra bờ ruộng lúa tâm sự thế?“

Hai tháng sau bổ xung thêm hai cô người Tầy Cao bằng. Trong hai cô có Hoàng Thị Làn người Cao bằng tuổi 18 trắng phau phau. Làn nói tiếng kinh chưa sõi. Nhưng yêu thì cần gì phải nói. Mình thích cô ấy thật. Nhưng chưa bao giờ dám rủ Làn ra ruộng lúa như bọn thằng Thịnh, thằng Cảnh khoá 5 khoa Chế tạo Máy. Những tối đi sinh hoạt về, Làn đi theo mình tới cổng. Hai đứa cấu nhau cái rồi Làn chạy đường Làn mình chạy đường mình.

Một hôm. Trời mùa đông nhá nhem. Làn rửa xoong nồi ngoài giếng. Tôi xoay xoay cái bát B52 giả vờ đứng bên hỏi han. Thấy Làn ngẩng lên:
- Em puồn lắm.
- Sao Làn buồn
- Anh Thì B1 anh ấy pảo: Làn ơi sao mày iu cái thằng ten như cột nhà chái? (sao mày yêu cái thằng đen như cột nhà cháy)

Trong nhá nhem mùa đông mà mặt mình cũng nóng ran lên, vừa buồn cười vừa tức, mà lại thương Làn. Hôm sau đi thao trường gặp thằng Thì thấy nó nheo nheo nhìn mình. Vào chiến trường đến Kon tum thì nó đi đơn vị Kĩ thuật xe trên B3. Chẳng biết cái thằng “tình địch“ của mình bây giờ còn sống hay chết.

Trước khi đi B độ một tuần. Một hôm chừng chín giờ tối tôi nghe Làn gọi ngoài cổng. Chạy ra, Làn nấp vào hàng dứa tây ngõ nhà chủ dúi vào tay tôi một gói lá chuối mềm mềm, kéo vội tay tôi cắn một cái rồi vùng chạy. Tôi đứng nghe chó trong xóm sủa râm ran kéo dài về phía C bộ. Tôi trở vào giở gói lá chuối hơ lửa thì ra một đùm thịt lợn luộc. Nấp sau cánh cửa dưới bếp nhà chủ, tôi nhìn ra trời sương lạnh đầu đông Bắc thái. Làn thương lính đói, thương chúng tôi sắp ra trận, hay... tình yêu của trai gái thời chiến tranh đơn giản vậy thôi? Hay tôi ngộ nhận. Và, mãi mãi về sau tôi không bao giờ có cảm giác giống như thế này nữa.

Ngày đi chiến đấu. Từ sáng tinh mơ, bếp đại đội bộn bề xoong chậu nồi niêu chồng đống không ai rửa. Tất cả tiểu đội nữ anh nuôi ôm nhau nép vào nhau đứng ngoài bờ ruộng nhìn vào sân kho nơi chúng tôi xếp hàng nhận mệnh lệnh hành quân đi vào Nam. Họ khóc. Họ khóc nhiều như những người thân của lính. Gọi nhau, chạy ra chạy vô, dúi vào tay lính những cái khăn Musoa, vài viên thuốc cảm, lọ dầu. Rồi chúng tôi hành quân ra đồi thông gần ga Lương sơn. Cả tiểu đội nữ anh nuôi đi theo. Các cô đi bên cạnh, lúc đầu hàng lúc xuống cuối, vừa cười vừa khóc. Hôm ấy trời lạnh. Má Làn đỏ rực, cái màu má đỏ của cô gái vùng cao ám vào trong tôi từ ấy. Họ không được tới chỗ chúng tôi. Đứng bên kia đồi thông Làn gọi: Anh ơi tặng em tấm ảnh anh ơi. Bấy giờ tôi mới nhớ là chưa tặng em cái gì. Tôi lội bờ ruộng rạ chạy sang đưa cho em tấm ảnh bé như con tem chụp ngày đầu vào lính. Làn buông tay đồng đội đang léo xẹo vào nhau ùa lại: anh đi rồi về anh nhé. Tôi chạy quay trở về, đàng sau là tiếng cô Tĩnh, cô Hà, Xuân... và tiếng Làn ngọng líu lo gọi tên mình.

Bốn năm chiến chinh, chúng tôi không có một kiềng đóng quân cố định. Lê từ hầm này sang hầm kia từ vùng núi này qua vùng núi nọ. Thư từ chả có điều kiện mà gửi, nhận thư vào lại càng khó. Trong cái đại đội tôi hàng mấy chục người không còn trở về. Mấy chục người mang mảnh đạn trên thân thể. Tôi may mắn qua nhiều chiến dịch mà vẫn còn lành lặn. Ngày trở về, Bắc Thái nghèo xơ xác, bộ đội không còn đông như ngày xưa, khiến xóm làng đìu hiu hơn. Sư đoàn 304B cũng chuyển đi đằng nào, chẳng còn phiên hiệu nữa. Tiểu đội anh nuôi gái của tôi trôi dạt phương nào? Một thời các em hiến tuổi trẻ của mình vào lính, một thời các em yêu thương người lính bằng tình yêu nguời em gái, tình yêu người chị lo anh trai em trai bát cơm miếng nước.

Trở về đâu? thân gái cứng tuổi giữa vùng quê khốn khó? Có đủ sức vượt qua cái thời đói kém những năm 80 của đất nước mình hay không? hả các em.

Bây giờ ai ở thị thành? ai về thôn dã? ai thành bà già áo chàm ở miền núi đồi nào tít Cao bằng, Lạng sơn, Phú thọ? Tôi cứ hình dung ra ở một nơi xa lắm một bà già ngồi bần thần giở hộp huân chương cũ trong chiêù mưa buồn trên nhà sàn xa ngái, mắt long lanh trẻ lại, nhớ một thời đã từng là bộ đội chống Mỹ ở Bắc thái xa lắc lơ. Trong mớ huân chương cũ ấy có tấm ảnh tôi ngày xưa... nhỏ xíu, ố vàng./.


Hoàng Cầu mùa hè 2011
Nguyễn Trọng Luân

litangu
21-04-2013, 10:03 PM
Đêm chiếm lĩnh cuối cùng


Chúng tôi đã nằm ở bờ sông Sài gòn 7 ngày rồi. Nói là nằm thật là đúng nghĩa. Bởi những ngày cuối tháng Tư 1975 này quân ta áp sát Sài gòn thật khủng khiếp về cả số lượng và binh khí. Vùng đất Củ Chi đã trơ trọi bao lâu rồi, ven sông là những vạt cây lúp xúp, cỏ lau phơ phất. Trong khi mấy trung đoàn dải quân từ bến Dược trở xuôi. Chúng tôi đào hầm qua loa, vén lá lau sậy ra làm ổ, chui vào gầm tán những cây ổi ven nước mà nằm mà họp mà chuẩn bị cho trận đánh sắp tới. D bộ ở sát ngay một cái chòi lấn ra sông dưới tán những cây găng rậm rịt. Một tổ giao thông bưu điện Củ Chi. Ở đó luôn thấy một người Phụ nữ còn trẻ mắt cứ nhìn đăm đắm ra sông. Mặt sông lốm đốm những đám lục bình trôi, mấy chùm hoa tím chĩa lên trời. Sóng sông lòm tom như cá quẫy. Chưa bao giờ tôi thấy chị nói, chị nhìn đoàn quân ào ã trẻ trung mà cứ như kẻ mộng du, rồi lại nhìn ra sông. Cứ thế người đàn bà ở bến Đình Củ Chi như một hòn Vọng phu búi tóc.

Hết họp rồi hạ quyết tâm tiểu đoàn, đại đội, quyết tâm trung đội, quyết tâm tiểu đội. Từ đầu chiến dịch tới giờ đây là những ngày nhàn nhã nhất. Không phải đi lấy gạo, vác đạn, ngoại trừ nhóm chúng tôi hai ngày bò Tân Phú trung rồi trở về vẽ sơ đồ với cán bộ tiểu đoàn. Sa bàn cũng không đắp, chỉ theo bản vẽ tay, rồi bản đồ địa hình mà họp mà hạ quyết tâm. Rõ là thế của kẻ mạnh.

Nắng cả ngày rồi chiều thì mưa. Cơn mưa chiều nào ở đây cũng to và thật nhanh. Một tuần nay chúng tôi đã quen như thế. Ba lô cứ gói buộc sẵn sàng chỉ để tấm ni long lên trên cùng. Súng cứ lau đi lau lại, dép cứ nắn đi nắn lại từng quai, vuốt ve cái dây ba lô mòn bóng nhem nhẻm mồ hôi. Tựa lưng vào ba lô mà trò chuyện. Có anh đọc đi đọc lại lá thư nhà mà giao liên đưa đuổi theo ở Chơn thành. Ngắm nhìn những khuôn mặt đồng đội trước lúc vào trận sao mà thấy ai cũng trẻ, khuôn mặt nào cũng bâng khuâng, cũng hiền đến lạ.

Đã bao lần trước lúc vào tiếp cận tôi đâu có để ý như bây giờ. Có lẽ bởi những trận đánh ở Tây nguyên bất thình lình và rừng rú, đêm tối hay những lúc mùa mưa thâm xám trời đất chả có thời gian đâu mà để ý. Chỉ biết gập mình dò dẫm, bò trườn trong đêm. Còn bây giờ, giữa vùng bình địa gần sát Đô Thành này mọi khuôn mặt vào trận nó mới sáng trưng ra dưới hàng ngàn đồng đội. Suốt cả mấy ngày nay pháo ta và địch bắn đối nhau ầm ầm. Cái thứ tiếng xèo xèo bay ngược chiều nhau. Pháo từ Đồng Dù bắn ra, từ thành Quan năm, từ Ngã ba Tân Qui đồng loạt nã về. Trái phá nổ trên ngọn đồi có cửa hầm địa đạo, nổ dưới sông, nổ phía bên kia sông. Cột nước tóe trắng hắt ngược những cụm lục bình lên trời, hoa lục bình tím bay lả tả hòa vào mặt sông.

Chiều nay 28/4. Mặt trời thật vàng, trôi thật chậm. Tiểu đoàn ắng lặng. Chúng tôi ngồi ôm cái ba lô đã mấy tiếng đồng hồ. Lính cũ thì gà gật, lính mới thì phấp phỏng cứ nhìn các đàn anh như dò hỏi: thế nào là thế nào rồi hở anh?

4 giờ, thấy đơn vị biệt động thành hành quân qua. Trẻ quá, nhiều con gái quá. Lại xinh nữa, lại lung liếng mắt nhìn các anh chủ lực đang há mồm nhìn theo những bắp chân trắng cứa đỏ bởi dây dép cao su.

Mặt trời khuất hẳn, lệnh hành quân.

Cả ngàn người bám vào nhau. Chưa có cuộc chiếm lĩnh nào chúng tôi bám xít nhau như thế. Một cuộc hành quân chiếm lĩnh rộn rực trong lòng đến vậy. Hơi thở người đằng sau phả vào gáy người đi trước. Tôi vượt lên đầu tiểu đoàn để nhận một nữ biệt động dẫn đường. Chúng tôi trao đổi ngắn gọn về hướng hành quân và chỉ kịp nhận ra cô còn trẻ nhưng chắc lẳn với cái tên Mỹ Hạnh.

Phía đông nam là một quầng sáng lung linh. Phía tây cột lửa đỏ bốc cao ngùn ngụt. Kho xăng Đồng dù bị pháo kích lúc chập chiều đang ù ù cháy. Nóng, ngột ngạt những mồ hôi và thì thầm của lính. Pháo bất thần nổ. Đội hình phía sau tôi ùn lại, một chiến sĩ trinh sát quay lại rồi chạy lên. D7 hi sinh 3 bị thương 4. Trung đoàn lệnh hành quân khẩn trương. Một con mương sâu rộng chừng 15 mét. Bộ đội ào xuống, phì phò ì ọp khúc khích cười. Rồi có tiếng: chết đuối rồi! chết thằng Dìn rồi. Mỹ Hạnh quay ngoắt lại trong mập mờ đêm, nhoáng cái lôi chàng Dìn vào bờ. Chúng nó hỏi mày không biết bơi à? em không biết. Hinh hích hinh hích lính ta cười. Mỹ Hạnh càu nhàu, đồng đội chết ỉm đến cổ còn húm vào cười. Lính ta chả ai nói gì.

Vượt qua đường 8 đoạn Phước Vĩnh An. Cái đồn địch bắn đạn 12,8 đỏ lừ lừ cành cành cành. Chó sủa râm ran. Mặc, chúng tôi cứ nhắm Cầu Bông mà lội tới. Mùi bùn, mùi lúa con gái ngai ngái trong đêm. Lính hỏa lực ì ọp ngã lên ngã xuống. Bờ ruộng thì nhỏ bùn lại trơn. Tôi bảo Mỹ Hạnh, tôi chiếu bản đồ Hạnh dẫn bộ đội lội trên lúa. Hạnh cự, nát lúa uổng lắm. Tôi gắt, không thể để chậm giờ vào chiếm lĩnh. Truyền lại: lội ruộng theo trinh sát. Thế là hàng mấy trăm người bì bõm dưới ruộng, rồi leo lên ruộng cạn rồi lại xuống nước. Cứ thế chúng tôi vòng qua cánh đồng rìa làng Tân Thông Hội, xuống Tân Phú Trung. Một giờ sáng, trăng bất thần nhú ra. Cả đội hình đến cánh đồng trồng dưa của dân Tân Phú. Bàn nhau, làm mấy quả đi. Lập tức bị Mỹ Hạnh phản ứng: đi làm cách mạng mà ăn trộm của dân à?

Tôi đưa cho Hạnh gói lương khô. Mỹ Hạnh mừng quá ăn ngay, vừa ăn vừa nói Lương khô chủ lực ngon quá trời. Tôi bảo mối trận đánh chỉ được một gói thôi. Hạnh ăn rồi anh phải ăn dưa thôi. Cô biệt động kêu trời, rằng bộ đội lừa nhân dân. Chúng tôi cười khoái trá và bổ dưa ăn.

Đội hình lên đủ cán bộ để bộ đội tập hợp lực lượng ngoài đồng, chúng tôi bò vào trận địa với tham mưu trưởng trung đoàn lần nữa. Trăng sáng mới chết chứ. Cánh đồng gần ấp Chợ đầy rau mùi và hành. Nhắc nhau cẩn thận đừng dẵm lên luống mùi và hành sực mùi lên bọn lính gác nó phát hiện. Lúc bò qua một vườn cam và chanh, sờ thấy có quả nhưng không dám ngắt định bụng quay ra vặt mấy quả. Đêm đầu tiên chiếm lĩnh một trận địa ven đô, bồi hồi lạ lắm. Mùi của cánh đồng lúa đang kì trổ đòng, mùi bùn ruộng lẫn trong mùi phân của trâu bò. Mùi mồ hôi của lính và lại là lần đầu tiên đi cùng một cô gái, rất gần rất nhẹ nhàng là hương tóc con gái cứ phảng phất đâu đây. Đêm chiếm lĩnh, lội đồng rồi chui lên vườn tược ngửi thấy, cảm nhận thấy những mùi vị có tên chung, nhưng cũng có mùi mang cái tên riêng chỉ người cảm nhận nó đặt tên được. Chúng tôi nhìn về Tân Sơn nhất đèn đỏ nhấp nháy trên cao, chịu chả biết là gì.

Những cái máy bay bay đêm lên xuống, đại bác 130 của ta vẫn cầm canh bắn vào phía ấy. Ra sát đường thấy có cái gì to và lóa lóa trắng, mò lại gần thấy thằng tây đen nhe răng trắng ởn vẽ trên tấm bảng to như cái sân phơi lúa, bảo nhau lùi thôi ẹ biết là gì, lát nữa bảo DK phang vào đấy. Thằng Minh thì thầm qué phải hỏa điểm gì đâu, thuốc đánh răng đấy. Đưa các đại đội vào chiếm lĩnh xong xuôi, không gian nén lại, thời gian trôi thật chậm. Sở chỉ huy ở ngoài đồng trên một con mương ken dầy những cây bằng lăng. Nhìn lên đường số một từ hướng Tây Ninh về Sài gòn thỉnh thoáng có vệt đèn xe hon da. Trong đêm tiếng động cơ xèn xẹt thành vệt dài rồi chìm vào đêm. Trận địa im lặng. Nghe thấy cả tiếng ếch nhái. Mắt đăm đăm dõi về hướng mấy cái lô cốt ngoài ấp Chợ, rồi lại lom lom ngó cái đồn và lô cốt đầu cầu Bông. Quay lại về hướng bắc, Đồng Dù vẫn sáng, vẫn hồng hồng cái thứ ánh sáng của trận đốt kho xăng lúc chiều qua. Một vùng phía Bắc Sài gòn nín thở trước giờ phút bùng nổ một trận công phá cuối cùng. Mấy thằng lính thông tin dải dây vào các đại đội trở về ngồi trên bờ ruộng thay nhau dúi đầu xuống mương hút thuốc. Trung đoàn trưởng lừ lừ đi tới. Tiểu đoàn trưởng đứng lên.

Tôi biết cái giờ nổ súng bắt đầu.

…. Vậy là đêm 28/4/75 trở thành cái đêm cuối cùng của đời tôi hành quân chiếm lĩnh, cũng là cái đêm lần đầu tiên tôi được bì bõm trên đồng ruộng vùng ven Sài gòn. Từ hôm đó cho tới nay đã về già không bao giờ mình bước xuống cánh đồng thơm ngái hương bùn và bâng lâng phóng đãng như tình người Nam bộ vậy. Có ai đó nhớ về trận chiến có thể quên những mùi hương của không gian trận địa, chứ tôi thì tôi nhớ, nhớ mãi màu sắc hương vị trước giờ nổ súng. Trận đánh cuối cùng, đêm chiếm lĩnh cuối cùng có mùi hương rất quyến rũ của cánh đồng Nam bộ.


NTL

khottabit59
22-04-2013, 12:09 PM
Trước khi đi B độ một tuần . Một hôm chừng chín giờ tối tôi nghe Làn gọi ngoài cổng . Chạy ra , Làn nấp vào hàng dứa tây ngõ nhà chủ dúi vào tay tôi một gói lá chuối mềm mềm , kéo vội tay tôi cắn một cái rồi vùng chạy . Tôi đứng nghe chó trong xóm sủa râm ran kéo dài về phía C bộ . Tôi trở vào giở gói lá chuối hơ lửa thì ra một đùm thịt lợn luộc

Đấy ngày xưa tình yêu nó đơn giản như vậy! Bây giờ cứ phải hoa Hồng, hoa hiếc....rất mất thời giờ và rõ phí của giời.....
Nhận bọc thịt luộc là vừa nhận được cái tình cảm của người yêu, lại vừa ...no bụng!=))

litangu
22-04-2013, 01:02 PM
Bác Khốt ta bít thân mến: Cho đến giờ tôi vẫn không quên cái buổi tối sương lạnh ấy trên xứ Thái. Sau này đơì phức tạp hơn nhưng ấn tượng như ngày ấy thì không có. Cái màu đỏ má con gái vùng cao ám vào tôi từ ấy bác ạ.

baoleo
22-04-2013, 02:58 PM
Đọc bài của bác Litangu thấm lắm.
Bác viết về thân phận con người, như anh Thuận - anh ấy ko là anh hùng như các cha tuyên huấn sẽ hư cấu- mà đúng là một người dân mặc áo lính điển hình. Tốt bụng, hết mình trong chiến tranh, nhưng cũng rất đời thường, như những người mà ta vẫn gập trong đời.
Bác viết về Tình yêu trong 'Tiểu đội nuôi quân', sao mà thật thế, cứ như chuyện em đã từng chứng kiến, như em là người từng trong cuộc.
Mong được đọc nhiều bài của bác.

litangu
22-04-2013, 03:17 PM
Đọc bài của bác Litangu thấm lắm.
Bác viết về thân phận con người, như anh Thuận - anh ấy ko là anh hùng như các cha tuyên huấn sẽ hư cấu- mà đúng là một người dân mặc áo lính điển hình. Tốt bụng, hết mình trong chiến tranh, nhưng cũng rất đời thường, như những người mà ta vẫn gập trong đời.
Bác viết về Tình yêu trong 'Tiểu đội nuôi quân', sao mà thật thế, cứ như chuyện em đã từng chứng kiến, như em là người từng trong cuộc.
Mong được đọc nhiều bài của bác.

Cám ơn Baoleo . Hôm ở Lapho cứ nghĩ là gặp được chú để thăm hỏi nhau . Bữa nào rảnh gọi nhau nhé .

litangu
22-04-2013, 03:30 PM
Cởi truồng thì không thể gọi nhau là đồng chí


Chuyện tắm suối cởi truồng của lính ở Tây nguyên thì không có gì lạ. Giống như hành quân vượt sông trên đường vào chiến trường. Nhưng chuyện của tôi không ở chỗ tắm hay cởi truồng mà là chuyện khác.

Hồi ấy lính chúng tôi đói. Trên đường từ “điểm 5“ Kon Tum về Gia lai luôn tụt tạt để kiếm cái ăn. Lúc này chúng tôi đã được giao quân về cho sư 320A, con đường chúng tôi đi bây giờ gọi là đường dây giải phóng chứ không còn là đường dây XHCN nữa. Chính vì thế mới đói.

Đói thì đầu gối phải bò. Phải bằng mọi cách kiếm được cái để ăn để mà hành quân. Rau cũng tốt môn thục cũng tốt, Củ mài thì càng tốt và nhất là sắn thì tốt nhất. Vì sắn cũng nằm trong hàng ngũ cốc. Hết cái thời mà như người ta nói sắn Trường sơn ăn thoải mái, nhổ một gốc trồng 5 gốc cho người sau rồi nhé. Làm gì có! làm gì có cái nương sắn như thế ở Tây nguyên những năm 72, 73 này. Trên đường chúng tôi qua có gặp những nương sắn nhưng đều của những đơn vị đóng ở đó và cũng là nguồn sống của họ nên đâu đâu cũng có người trông nom. Một chiều, Bê tôi phân công 4 thằng đi ăn cắp sắn. Chúng tôi lên đường ngay khi đến chỗ trú quân rất sớm. Chúng tôi gặp cả những bê khác, c khác cũng đi về một hướng. Chả ai nói với ai là đi đâu nhưng mà biết nhau cùng một mục đích và thế là “đi đâu không biết hàng đầu cứ đi “... Thôi khỏi phải kể cái chuyện lom khom vào nương nhổ cật lực chặt cho nhanh cho vào ba lô và rút thât nhanh. Nhưng cũng không thoát vì có lính canh nương nổ súng báo động. Chúng tôi chạy, tất nhiên là rất nhiều hướng chạy. Phần tôi dẫn đầu mấy thằng phóng ngược lại con suối rất to ban nãy vừa qua. Thấy yên ổn, suối đẹp hè nhau bỏ sắn bỏ áo quần ào xuống tắm. Đã quá. Cười phớ lớ với nhau vì mỗi thằng cũng có chừng mươi kí sắn. Nhưng cũng lúc đó có tiếng hét to “Đây rồi, tê tề thụ trượng ơi, chính hắn em nhìn thấy hắn... hắn đen thui tề thụ trưởng“

Ngước lên trên bờ lừng lững hai chiến sĩ giải phóng quân một già một trẻ. Người lính còn trẻ chỉ vào tôi nói với người đeo súng ngắn. Đó đó tay đen đen kia dẫn đầu đó thủ trưởng. Hai thầy trò một AK một súng ngắn đằng đằng sát khí chiếu tướng mấy thằng chúng tôi đang không mảnh vải che thân. Anh giải phóng già đeo súng ngắn cũng nói tiếng khu bốn: Các đồng chí là bộ đội hay là thổ phỉ?

Thằng Hoan cười: đồng chí bảo ai là thổ phỉ? trông đồng chí còn giống thổ phỉ hơn chúng tôi. Người đeo súng ngắn ngó sang người lính AK rồi rât nhanh liếc lại aó quần cũ rích mặt mũi hốc hác của nhau. Tức lắm, anh ta tiếp: cùng đi làm cách mạng như nhau mà lại làm cái trò ăn cắp như ri, răng không xấu hổ?

Tôi đứng hẳn lên nói rõ ra vẻ, tôi lấy sắn ăn để làm cách mạng đó chứ, tôi có mang về quê cho nhà mình được đâu mà xấu hổ, cần gì xấu hổ? cũng lúc ấy vì nước suối chỉ đến trên đầu gối thôi nên chúng tôi thằng nào cũng lộ rõ súng ống nghênh ngang. Rõ khiếp lên được. Thằng Hoan chợt kêu lên: ôi cởi truồng thì không thể gọi nhau là đồng chí được, phải mày tao thôi. Đúng lúc này người cán bộ súng ngắn cũng phì cười, đồng chí cái con khị, súng ống đen xì thế kia đồng chí đồng chót ra răng?

Rồi tự dưng ông ấy ngồi xuống bên bờ suối giở bọc thuốc rê ra quấn một điếu nói vọng xuống, mà các ông lấy thì lấy ít ít thôi để chúng tôi sống với chứ. Đói lắm các ông ơi, mần thí xác mới được nương sắn đó.

Chúng tôi mặc quần áo xong. Người lính già vẫn ngồi đó buồn buồn. Chia cho chúng tôi điếu thuốc rê đựng trong cái túi ni lông khâu bằng ruột túi đựng nước của lính Mỹ. Ngồi hút thuốc bên nhau chả ai nói gì nữa, chả ai gọi ai là đồng chí nữa. Bốn thằng lính mới ngoài bắc vào da còn tươi tắn ngồi bên hai lính B3 cũ da tái ngoét gầy hốc hác. Trông những người lính cũ B3 thật tội. Thằng Hoan cho người lính già hộp dầu con hổ rồi nói: đồng chí thông cảm, chúng tôi đói...

Người lính khu 4 đeo súng ngắn đứng dậy
- thôi về hỉ, chào... các đồng chí.

Họ đi xa rồi tôi vẫn nhìn thấy cái miếng vá ở hai mông đít quần anh đeo súng ngắn to như quyển sách vàng khè màu đất ba zan mở ra lại đóng vào.

Xin tu xoa
22-04-2013, 10:21 PM
Em chen ngang một chút: Bản đồ dọc đường 7 từ Tây Nguyên về Tuy Hoà

link bản đồ cỡ lớn (full size) - do Kqh tự động thu nhỏ (Bác Litangu bấm vào link này rồi lưu bản đồ về máy nhé) http://direct2.anhso.net/original/2/27442/2242013221850310.jpg

http://direct2.anhso.net/original/2/27442/2242013221850310.jpg

Xin tu xoa
22-04-2013, 10:36 PM
Em chen ngang một chút: Bản đồ dọc đường QL14 từ Kontum về Pleiku

link bản đồ cỡ lớn (full size) - do Kqh tự động thu nhỏ (Bác Litangu bấm vào link này rồi lưu bản đồ về máy): http://direct2.anhso.net/original/2/27442/224201322335663.jpg

http://direct2.anhso.net/original/2/27442/224201322335663.jpg (http://anhso.net/rongxanhpmu/photo/6652154/20130422-Pleiku/)

litangu
23-04-2013, 09:57 PM
Đi tìm Dã quì

Rưng rức cao nguyên mà đi tìm mải miết
Vàng đến đớn đau vẫn xót xa vàng
Vồng ngực căng và gió thì rất mỏng
Có điều chi nhớ thế Dã quì ơi

Em nhuộm mùa khô cho nắng
Ta tìm đi trong miên man
Cao nguyên khát uống nước mắt em vào đất
Và ta bơi với áo vàng

Lung lay gió hoang vào sông vào núi
Hoang dại suốt ngày ta sang đêm
Thôi đành một đời dấm dứt
Trong mê cung cũng nưng nức sắc rừng

Cao nguyên già đến nỗi
Để em không trẻ bao giờ
Dã quì tình như nức nở
Người nằm dưới cỏ mùa khô

Tìm em ta tìm hoang dại
Miên man, mùa khô mùa mưa
Miền anh không mùa mê mải
Đi tìm Dã quì ngày xưa

Ban mê thuột chiều 23/4/13

litangu
26-04-2013, 01:57 PM
Chuyện 1: Lần nổ súng cuối cùng

Chừng 3 giờ chiều 30/4/1975, tôi nhận được lệnh của tiểu đoàn: hiện nay có 2 cố vấn Mỹ đang ẩn náu trong đại sứ quán Nhật Bản. Tiểu đội trinh sát cho bám để phát hiện và có kế hoạch vây bắt ngay. Nhận lệnh, tôi bàn với Ngô Thịnh, không thể tự động mà vào Đại Sứ quán đâu, phải tìm cách trèo lên ngôi nhà nào đó nhòm vào thôi. Thực tình lúc này việc bắt tàn quân, tù binh chả có ý nghĩa gì với chúng tôi. Nhưng vẫn thi hành trịêt để. Tôi chọn ngôi nhà 162 Phan Đình Phùng đã di tản để trèo lên sân thượng. Cánh cổng sắt khóa im ỉm, chúng tôi phải dùng dây móc lên rồi trèo qua. Khi vào trong mới phá khóa cổng, khóa nhà. Tôi và Thịnh xách súng dò dẫm đi trong bóng tối lờ mờ vì vừa mất điện. Hóa ra không phải là mất điện mà vừa chui vào nhà thằng Ngô Thịnh đã nhìn thấy cầu dao điện, nó liền ngắt điện. Thịnh là SV năm 3 khoa điện mà lị. Tôi lom khom đi trước, Thịnh bám sát sau lưng. Trong đầu chợt nghĩ, bây giờ có thằng lính nào nấp trong nhà đòm cho một phát thì uổng, giải phóng rồi cố giữ gáo mà về. Nghĩ vậy nhưng vẫn lừ lừ tiến từng bước. Một bậc thang, nặng nề quá. Hai bậc thang, chân như ríu lại, còn phải lên đến tầng 5 nữa kia, sao mà im lặng thế?… và ba bậc thang… Đúng lúc này trong ánh sáng nhập nhoạng (chả biết do sợ sệt hay do ánh sáng lờ mờ) tôi nhoáng nhìn thấy một thằng lính gườm gườm lăm lăm súng chĩa về mình. Tôi nổ ngay. Đoàng đoàng. Tôi lộn ngửa ra phía sau chạy lao ra ngoài. Thằng Ngô Thịnh cũng ngã bổ chửng ra đằng sau rồi lao theo tôi. Ra cửa, mấy thằng lính cùng tiểu đội nhao vào hỏi: có địch hả! Tôi thở: không biết nhiều hay ít, có thằng chưa kịp bắn thì tao bắn rồi… Hồi lâu, chúng tôi nghĩ ra cách khác. Gọi người nhà bên cạnh ra hỏi. Một cô con gái còn trẻ nói: dạ thưa, bển là nhà luật sư Lê Tất Hào, ổng hiền không à. Con vẫn chơi với con gái ổng. Để con sang, con kêu dùm. May quá, thế là cô gái đi trước chúng tôi đi sau. Tôi nghĩ địch sẽ không nổ súng vì đã có cái bình phong này. Lại dò dẫm lom khom tay ngoắc vào cò súng. Lên được vài bậc thang, cô gái kêu lên: ôi trời, nhiều miểng quá, mấy ông coi chừng. Tôi nhìn xuống bậc cầu thang đầy những mảnh kính vỡ lộn xộn trắng ởn. Tấm gương phản chiếu nơi khúc quanh (chiếu nghỉ) cầu thang chỉ còn cái khung gỗ. Đến lúc ấy thì tôi hiểu ra. Không bước lên tiếp một bậc thang nào nữa, tôi quay xuống....

Hai phát đạn AK của tôi đã bắn vào tôi, chính là cái thằng lính trong tấm gương đã gườm gườm chĩa súng vào tôi trong chiều nhập nhoạng 30/4/1975. Và đấy cũng là lần tôi nổ súng cuối cùng trong cuộc đời cầm súng.


Lần đầu xem ảnh k..t


Đêm 30/4/1975

Thành phố như con rắn vừa lột xác còn bóng nhẫy non yếu. Nhưng sức sống thì vẫn hừng hực như vốn có từ xưa. Chúng tôi, lần đầu tiên làm quen với đèn cao áp, váy áo sặc sỡ hệt một thành phố trong phim tây, làm quen với phố phường đầy rẫy xe hơi xe gắn máy. Người dân không có sự hoảng loạn hay run sợ như người ta tưởng, họ vẫn náo nhiệt ngóng ra đường chờ đón một điều thật mới lạ ngay trên quê hương thân thuộc của mình. Binh lính thì đã dạt đi khá nhiều, tìm nẻo về quê, vạ vật đâu đó. Thành phố ngàn ngạt những màu áo quân giải phóng. 11 giờ đêm, D bộ chiếm ngôi nhà của cố vấn Mĩ góc đường Phan Đình Phùng, Pas tơ. Ngôi nhà sau này thành khu tập thể bộ Thương mại. Anh Quýnh D viên phó bảo tôi thu dọn lấy một chỗ trên tầng cao họp chi bộ xét kết nạp Nguyễn Minh của A trinh sát. Tôi lên sân thượng, trên đó là một câu lạc bộ thì phải, có cả quầy bar, sa lon, và còn rất nhiều rượu. Đèn sáng chưng, tôi thu đọn giấy tờ vương vãi và kê vài cái ghế thật đẹp. Tôi moi trong một ngăn tủ mấy tập họa báo (tiếng gọi như hồi ở miền bắc) Chao ôi, toàn gái, gái đẹp và cởi trần truồng. Người tôi cứ nóng ran lên. Sao người ở đâu mà đẹp thế, đẹp mê mẩn. Chưa bao giờ tôi được nhìn thấy những tấm hình thế này. Bỗng có tiếng í ới anh em đi lên. Tôi đút ngay cuốn họa báo đỏ hồng những thân người Eva vào thắt lưng quần sau lưng, buông áo ra ngoài. Rồi từ đấy suốt cuộc họp chi bộ cuốn họa báo gái khỏa thân cứ đâm vào lưng thật khó chịu, thật ngứa ngáy. Tôi quay bên này nhích bên kia, mặc dù trong cuộc họp tôi cũng phát biểu hai lần mà vẫn không làm bớt đi cái khó chịu của cuốn sách cưng cứng ấy. Không biết do cuốn sách nó chọc vào lưng hay do những hình con gái nồng nỗng làm tôi ngứa ngáy như hàng trăm con kiến đang bò sau lưng. Chưa bao giờ tôi thấy cuộc họp nào lâu đến thế!

Bây giờ sau 37 năm, chẳng ai biết cái anh đảng viên trẻ như tôi lại phạm vào một khuyết điểm rất dễ nâng quan điểm như thế. Rồi suốt những ngày sau đó nhìn ai tôi cũng cứ nghĩ họ biết mình đang tàng trữ một mầm độc chết người. Nó có thể làm tan rữa tinh thần chiến đấu của hàng trung đội, hàng đại đội và có thể còn nguy hiểm hơn. Ngày ấy tôi nghĩ thế. Tôi giữ cuốn sách ấy mãi đến ngày ra đóng quân ngoài Củ Chi mới bị anh nào “mổ” mất.







Chuyện bắt các nhà báo nước ngoài



Vào lúc 12 giờ 30 ngày 30/4 tiểu đoàn 8 trung đoàn 64 của tôi rải quân dọc đường Phan Đình Phùng, đường Võ Văn Tần. Có lệnh tất cả các xe ô tô có người ngoại quốc đều chặn lại và giữ lấy người. Tôi đứng ngã tư gì đó gần nhà thi đấu bây giờ có cái siêu thị Nguyễn Đình Chiểu thi hành nhiệm vụ. Tôi chả biết Mỹ hay Pháp hay Anh… cứ là thằng tây là chặn lại, bất kể tây trắng hay đen. Chỉ khoảng 30 phút thôi là cả một đống tây tụ tập. Lính tráng cứ nghĩ tôi là SV biết ngoại ngữ nên cứ giữ xe nào là chỉ sang cho tôi giải quyết. Mình tập tọng ít tiếng Nga mà 4 năm qua còn nhớ được vài chục từ. Không thể mất sĩ diện, nó nói tiếng tây mình nói tiếng Nga loạn xì ngầu, anh em lính cứ ngây người xem tôi múa tay múa chân, nể quá, hay quá, vui quá, oai quá cứ như trong phim. Nhưng cả tôi và tây đều không hiểu thằng nào nói cái gì. Cứ khờ rô sờ sờ loạn lên. Nhưng có một điều ai cũng hiểu là: mày đứng im ở đó qua cái ngón tay chỉ dứt khoát, mũi súng hất rất mạnh và câu nói xì xồ rất đanh thép của tôi.

Bỗng có một thằng Tây tiến lại gần tôi, nó giơ cái thẻ toàn chữ Anh lại có cái vạch chéo và ngọng líu lo, ngập ngừng… giơ tay, ngập ngừng phát âm: tôi ừ… ừ là... nhà báo… phờ... phá áp. Rồi lại ra hiệu viết lách, chụp ảnh. Tôi liếc cái máy ảnh của nó. Nó liền giơ máy lên. Mấy cậu trong đơn vị ngăn ngay lại: Không chụp ảnh! Nó lại rụt tay lại. Tôi nói với mọi người nó là nhà báo đấy, cho nó đi. Thế là mấy anh em đồng ý. Thì cho mày đi, mất gì của bọ! Lập tức nhao nhao! Mấy thằng khác cũng giơ cái thẻ có vạch chéo lên. Tôi chuồn ngay. Trước khi đi còn bảo mấy thằng bộ binh: kệ cho chúng mày giải quyết.

Cả thành phố nhộn nhạo ai để ý mấy thằng tây làm gì. Nghĩ vậy tôi đi nhanh như chạy khỏi cái ngã tư ồn ào như cái chợ ấy. Thế rồi lũ tây trắng tây đen cũng được giải quyết cho đi hết, chả giữ thằng nào, cũng chả ai bắt được thằng Mĩ nào sót lại. Tháng sau ra Đồng Dù đóng quân, mấy chú bộ binh dưới đại đội vẫn khoe với nhau: Hôm ấy, bọn tao và thằng Luân dọa bọn tây sợ vãi đái. Chẳng có thằng nào vãi đái cả. Nhưng cũng khoái! Cuộc đời của lính tráng như mình mấy khi có dịp hành được mấy thằng da trắng da đen ấy!

2012 tháng Tư / NTL

litangu
26-04-2013, 11:16 PM
Biên bản họp tiểu đội


Viết về tiểu đội trinh sát D8 E64 của tôi



Trời hửng tí nắng rồi lại mưa. Đường Hà Nội xe cộ kẹt cứng, nhích ra rồi thu lại cứ như dòng người là thứ dây cao su nhủng nhẳng chẳng bao giờ an toàn của sự co duỗi cuộc đời.

Đứng ở cửa bệnh viện, mưa thì chạy vào mái hiên phòng chờ , tạnh lại chạy ra cổng. Hễ ra cổng là có tay bảo vệ cầm cái loa pin chõ cái phần loe vào tận mặt: ông kia đi chỗ khác ! xin mời ông đi ngay chỗ khác! Khổ cho tôi, tôi đang phải chờ mấy thằng ở tiểu đội cũ ngày xưa từ mạn ngược về thăm một thằng ốm lắm ở bệnh viện này. Bệnh nhân mà chúng tôi thăm hôm nay là người mạn Đông bắc, một lính thuộc tiểu đội trinh sát cũ với tôi.

Mãi rồi xe chúng nó loanh quanh cũng đến. Chúng nó thuê xe, tôi đoán vậy vì ba thằng thì thằng nào cũng chức sắc ở một tỉnh, nhưng cuối vụ cả rồi vả lại chúng tôi mấy thằng trinh sát vẫn thế, phóng khoáng nhưng dị ứng trò vụ lợi, hệt như ngày ở chiến trường. Thế mới lạ. Đời chỉ có vài năm bất thường làm lính mà suốt cả đời cứ khi vui nhất khi buồn nhất chất lính chiến lai hiện về, lại nguyên si là anh lính trẻ ngây ngô nhưng quyết liệt.

Tiểu đội trưởng và cả bệnh nhân chờ tiểu đội ở cổng chính, lối vào ở đường Giải phóng thì chúng nó đi vào cổng sau đằng Phương mai. Nhùng nhằng dăm cuộc điện thoại rồi cũng tìm thấy nhau. Mở mồm là thằng Tiêu Thái nguyên bốp ngay, dẫn đường thế à? Cứ vào cổng, vào cổng? nhiều cổng thì phải nói cho rõ cổng ở hướng nào góc nào? Toạ độ cũng không cho thì đi thế quái nào được? Chúng nó cười hơ hớ. Thằng ốm cũng méo miệng cười. Rõ là đời thằng “Mục”! Lại nhăn răng cười.

Bệnh nhân ở viện đông quá, không có giường nằm, tiếp khách ở gốc cây. Cũng hay! ở gốc cây có ghế đá, đỡ ngột ngạt, chỉ tội hễ mưa thì chạy vào hiên, tạnh lại ra. Chúng tôi làm mọi thủ tục của người đi thăm người ốm nhanh và đơn giản để đáp ứng với tinh hình thời tiết Thủ đô, bệnh viện Thủ đô. Nhìn khung cảnh não nề, bức xúc, lo âu, xen lẫn chút le lói hi vọng của những con người đang hiện diện trong khuôn viên bệnh viện mà thấy buồn. Cố không buồn, cố tình quên đây là bệnh viện, nhưng mùi thuốc, mùi cồn, và những cuộn giấy chụp x quang, mảnh giấy hẹn, giấy xét nghiệm trên tay mọi người thì sự cố tình quên không thể thoã mãn chúng tôi. Lựa chọn mãi, cuối cùng cũng ra một phương án, là vào căng tin bệnh viện (nhà ăn mà người ta thầu để làm dịch vụ) vừa nói chuyện vừa ăn trưa.

Kiếm được chỗ ngồi rồi, việc đầu tiên là nói về thằng Minh, chiến sĩ bệnh nhân hiện tại. Minh đã bị bệnh tiểu đường, rồi tràn dịch màng phổi mười năm nay. Từ hồi thằng Sỹ còn làm viện trưởng K74, tiểu đội đã đưa Minh lên đó chữa chạy. Sáu tháng thằng Sỹ loanh quanh với nó. Cái ngày nó ra viện, cả tiểu đội tôi, mời thêm cả mấy đứa ở tiêủ đội thông tin D bộ làm một bữa thịt chó ở Phúc yên. Bây giờ tiểu đường lại lên cao, nó mệt, nó lại sinh thêm huyết áp, mắt mờ. Được cái nó vui hơn cái đận ở Phúc Yên, có cháu nội đích tôn, hai thằng con trai đã trưởng thành đều là sĩ quan công an.

Minh xin phát biểu trước. Nhưng đã được quán triệt, hôm nay ta phải làm như cuộc họp ở Tây nguyên. Phải nói hết tận đáy lòng, phải giữ nguyên ý thức kỉ luật cao của trinh sát, có trên có dưới có anh có em nhưng tất cả phải gọi là đồng chí (!)

Minh nói: Thưa các đồng chí (Thằng Ngô Thịnh giật mình như điều gì lạ lẫm lắm, rồi nó thản nhiên lại ngay). Đáng kể ra thì tôi chết đã lâu, nhưng có anh em, tôi về được lấy vợ đẻ con, anh em biết rồi đấy. Làm cái anh lái xe, vất vả đêm hôm vạ vật đường xa. Lại ốm đau mấy bận, lại có anh em nên lại sống. Bây giờ thì yếu rồi cũng không ân hận nữa, nay mai chạy thận thì cũng đã có bảo hiểm y tế, nhà cửa đã xong, con trai lấy vợ có cháu. Tôi chỉ buồn mắt kém không đọc được sách thằng Luân gửi (nó quên gọi mình là đồng chí ). Tôi buồn vì từ nay không đi gặp mặt anh em mỗi dịp 30/4. Tôi ân hận trong tiểu đội ta có đ/c Đồng khi về địa phương vẫn chứng nào tật ấy, đối với anh em vẫn không trung thực, hàng xóm thì sợ hãi tránh cho xa. Tôi buồn vì thằng Luân gầy ốm quá (lại thằng rồi). Nó làm giám đốc khiến tôi lo lắm, công nợ cứ chìm đắm ở các công trình nhà nước đã thu hồi hết chưa? Mấy tỉ tiền thép cứ chìm ở cầu cống. Lo lắm. Tôi cho nó đất ở Bãi Cháy nó không nhận tôi lại thêm buồn. Nghĩ về ngày xưa ở chiến trường tôi thấy còn vui hơn bây giờ, chả hiểu sao lại thế.

Không khí tiểu đội chùng xuống, mấy bàn bên cạnh ào vào có mấy anh bác sĩ (chắc được người nhà bệnh nhân mời). Họ nhìn Minh ngạc nhiên. Chết thật! bác ra đây à. Mai em mới “cấy mà” cho bác được. Rồi ai việc nấy, lạnh tanh. Tôi bảo: Được rồi, đồng chí Hiền tiếp đi (Minh lên cấy mà để chạy thận).

Đến lượt thằng Hiền ngượng nghịu cúi đầu nhìn cái cốc bia không còn tí bọt nào vàng ênh ểnh: Em xin báo cáo các đồng chí (Nó ít tuổi nhất trong A, bị thương cùng với thằng Tiêu ở Củng Sơn). Em khoẻ lắm, các đồng chí đã đến nhà em trên Quán Triều động viên, vợ em tự hào lắm, cứ khoe mãi. Hàng xóm người ta cũng khen: gớm! bác Hiền ăn ở khéo quá mấy chục năm nay rồi mà bạn bè từ Hà nội, Hòn gai... vẫn lên thăm. Em thì vẫn đi làm, phải đến năm 13 (2013) mới nghỉ. Được cái không phải vất vả như các đồng chí Tiêu, đồng chí Thịnh, đồng chí Luân, em làm trưởng phòng bảo vệ của nhà máy giấy nên cũng đỡ. Con em cưới chồng thì các bác đến cả rồi. Em không có ý kiến gì nhưng em chỉ đề nghị các đồng chí đi tìm thằng Tiến US, tìm thằng Viên xem họ ở đâu, không có thằng Viên cõng em về hôm ở Củng sơn thì em chết... Rồi nó rơm rớm nước mắt. Cái vai to bự của nó hơi rung rung, nó chăm chăm nhìn ra ngoài đường, cái gốc cây sà cừ đầy những người vạ vật, mưa gío làm lá cây bay lạt sạt dưới mặt đường... (nó ngập ngừng)... Hôm nay vợ em gửi biếu đồng chí Minh năm trăm ngàn, rồi nó mở khuy áo ngực lấy cái gói bằng giấy trắng gấp vuông đưa cho tôi. Em gửi đồng chí, để đồng chí Tiểu đội trưởng đưa cho đồng chí Minh...

Lại im lặng, cuộc họp trinh sát mà cứ ồn lên được một cái lại chùng ngay xuống. Chúng tôi già quá mất rồi sao? Ừ chả gì thì tất cả đã 60 tuổi cả chỉ trừ có thằng Hiền kém hai tuổi. Mấy thằng quay nhìn tôi (đương kim tiểu đội trưởng) dáng chừng cho phát biểu tiếp đi chứ.

Tôi chưa có ý kiến gì thì thằng Tiêu đã lên tiếng:
- Tôi báo cáo các đồng chí (thằng này làm giám đốc một sở nên gọi nhau là đồng chí rất quen, không thấy ngượng nghịu như hai thằng trước)... Rằng: Tôi mổ túi mật nhưng cũng khoẻ rồi. Xây thêm cái nhà nữa cho thằng thứ hai đưa vợ con ra đấy ở. Vợ tôi bệnh tật như thế thì cứ đành thế thôi (vợ nó đang đẹp mặn đẹp mà bỗng dưng lại bị ngay cái bệnh khỉ gío gì đó biến thành một bà lão trông như tám mươi tuổi. Sợ thật). Năm nay tôi nghỉ, tôi mới được tỉnh cho đi vào Tây Nguyên thăm lại chiến trường xưa, cuối năm ngoái đồng chí Luân chuẩn bị xe rồi mà tôi lên đợt tăng xông nên phải thôi, tôi tiếc lắm. Tôi đề nhị đồng chí tiểu đội trưởng sang năm họp tiểu đội ở Quảng Ninh, mời đồng chí Đồng đến, chúng ta không nên xa lánh đồng chí ấy. Từ lúc ở Đồng Dù bị án kỉ luât chuyện xe cộ, bị trả về địa phương đồng chí ấy lại càng cho là mình không thiết gì đến bạn bè, không còn chiến hữu nữa. Chúng ta phải đến với đồng chí ấy chứ không thể để như vậy...

Thằng Ngô Thịnh ngắt lời. Đồng chí Tiêu nói chưa đúng. Mấy năm qua đồng chí Luân đã đưa cả nhà ra ngoài đó thăm đồng chí Đồng, rồi đi xin việc làm cho con đồng chí ấy. Cưới con gái nó, thằng Luân (đấy, nó lại chuyển sang thằng) thay mặt tiểu đội ra lo lắng công việc đó thôi. Cái con người như vậy nó là... là... bản chất. Tôi chịu!

Bất giác tôi nhớ một ngày rất xa, một lần thằng Đồng bám địch nhưng sợ mà nằm lì ở ven một cái nương đồng bào, tìm mãi mới thấy. Thằng Ngô Thịnh chửi cho một trận dã man. Tiêu nói tiếp: đồng chí Thịnh phải nghe tôi đã, đồng chí Luân xuống tận nơi nhưng anh em mình có xuống đâu? có thăm hỏi đâu, tôi thấy chúng mình có lỗi đấy chứ. Thằng Minh và thằng Thịnh im thít. Thằng Hiền bảo: anh Đồng anh ấy cứ tự ái hay sao ấy...

Thằng Tiêu tiếp:
- Năm 2006 cưới con trai tôi, đồng chí tiểu trưởng có ghi ngoài cái phong bì 5 triệu là: “Cả những thằng sống và thằng đã chết trong A trinh sát của bố Tiêu mừng cháu Hạnh phúc ”... làm tôi và vợ tôi khóc cả đêm hôm sau... đồng chí Đồng cũng phải được đối xử như tôi chứ phải không tiểu đội trưởng?

Tôi không nói gì, trong tôi hình ảnh hai đứa con gái xinh xắn của Đồng vui mừng, tươi tắn làm sao khi tôi tìm được nhà Đồng sau mấy chục năm xa nhau. Chúng ùa ra dắt tôi vào nhà, gọi tôi là: Ba! Ba Luân đen bạn của Ba Đồng ! Rồi vài năm sau cũng là tôi đi xin việc, cưới chồng cho nó. Đồng thân tình, vui lúc ấy thôi còn thì cứ xa lánh chúng tôi. Nó lên Hà nội gặp tôi cũng cứ ậm ừ chả giống gì khi nó làm băng trưởng đầu gấu ở một vùng than thổ phỉ. Già rồi, kỉ niệm có cả đẹp, cả vui cả buồn chứ Đồng ơi! biết sống bao lâu nữa mà cứ tách xa tiểu đội hở mày?

Đến lượt Ngô Thịnh. Thằng này làm cán bộ tổ chức ở Đại học Thái Nguyên, nên nói nămg cũng đàng hoàng kiểu nói ông thầy. Tôi không có gì đặc biệt về vấn đề vật chất (may mà nó không nói là phạm trù đấy). Nhưng về vấn đề tinh thần thì vài năm nay có nhiều điều phấn khởi. Cháu trai thứ hai đã dậy học ở ĐHKT Thái nguyên, cháu trai thứ ba đi học ở Cu Ba, cháu gái đầu đã có con, tôi có cháu ngoại xinh lắm. Khoe với tiểu đội tí (Nó cười hì hì..., phải ngắt lời nó ngay kẻo nó nói chuyện về đứa cháu hêt luôn cả buổi, giống hôm trước gặp nhau ở Thái nguyên thì... hết thời gian). Tôi có nhiều vấn đề khuyết điểm hồi ở Đồng Dù thật, nhưng từ ngày về tôi học hành rồi công tác cũng oách hơn, không tin cứ hỏi đồng chí Luân tiểu đội trưởng mà xem. Tôi làm phó ban tổ chức tôi cũng hoàn thành tốt công việc đấy chứ. Tuy vậy hôm cưới con đồng chí Luân năm 2007 tôi vui quá, uống nhiều rượu quá nên lúc về trên xe tôi say quá, nên cứ hát vào tai đồng chí Tiêu làm đồng chí Tiêu không hài lòng (thằng Tiêu quay sang lẩm bẩm, nôn mẹ cả vào tai người ta thì có, hát với hò... )

Tôi hỏi: thế tại sao năm 2009 cưới con đồng chí Minh ở Bãi cháy mà đồng chí xuống tối 19/11, sáng hôm sau lại xin về ngay? đồng chí về để nhận phong bì của học sinh và quà biếu 20/11 phải không? Cả tiểu đội lao xao. Thằng Minh nãy giờ ngồi im bỗng ngước lên nhìn đăm đăm vào mặt Ngô Thịnh. Ngô Thịnh nhìn quanh từng khuôn mặt anh em trong tiểu đội rồi rất chân thành nó kể: Tôi có lỗi thật, bỏ về vào đúng ngày đón dâu của cháu Việt con đồng chí Minh. Nhưng hôm đó là sinh nhật lần thứ ba mươi con gái đầu. Nó lại là cô giáo ngày 20/11 ý nghĩa với nó thế... Tôi hứa là tôi sẽ làm MC dẫn chương trình cho cả nhà... chả nhẽ mình thất lời với con cái thì sao đành. Cả tiểu đội à lên. Thằng Minh thở phào nhẹ nhõm.

Mưa ngoài trời tạnh rồi, thằng Tiêu gọi mỗi thằng một xuất cơm đĩa. Chỉ có thằng Minh là ăn kiêng còn mỗi thằng được một chai bia. Tôi không đồng ý cho uống nhiều vì đây đang là trong bệnh viên, vả lại thằng Minh đang ốm đau bọn tôi vui thú nỗi gì. Buổi trưa, người nhà bệnh nhân kẻ mang ăng gô, người dùng túi ni lông mua đồ ăn cho người thân. Toàn những cơm và đậu phụ, một vài người chừng khá giả hơn thì có thêm vài miếng chả, lon canh rau ngót. Chúng tôi nhìn họ rồi nhìn bàn ăn của mình những là bia, những là lòng lợn thêm cả hai đĩa chả lá lốt. Những người đi mua cơm cho chồng con, người thân nằm viện không ai liếc nhìn vào bàn ăn tiểu đội tôi. Chả nhẽ chúng tôi như một đẳng cấp khác chăng? hay bệnh nhân nằm viện chỉ toàn là người nghèo? Ngay gian bên cạnh chúng tôi là nơi phát cơm miễn phí của một tổ chức tình thương nào đó, đông cứng người mà không có tiếng ồn ào, không chen lấn không khà khà khề khề với những bộ mặt tây tấy như chúng tôi... Họ nhẫn nại trong cặp mắt thật lành hiền nhẫn nhục.

Minh đã về nhà từ tháng 10 năm 2011. Bây giờ nó chạy thận ở Bãi Cháy. Phần chốt của biên bản như sau: Tiểu đội ủng hộ đồng chí Minh ba triệu. Mỗi tháng một đứa xuống thăm Minh tại Quảng Ninh. Hè năm nay tất cả đi thăm thằng Đồng ngoài Cẩm phả. Còn thằng Viên tôi đã tìm được thông tin là nó đã mất vì bệnh tật ở quê rồi, thằng Tiến US thì đi làm ăn tận trong nam không biết ở nơi nào... Việc hiếu hỉ của nhà của đồng chí nào cũng là việc chung tiểu đội.

Đây là một biên bản sinh hoạt tiểu đội mà lần đầu tiên sau ngần ấy năm rời khỏi chiến trường tiểu đội tôi mới họp, nhưng lại không ghi thành văn bản. Chúng tôi, cả tiểu đội đều thống nhất 100% là: chúng tôi sống để bụng chết mang đi.

Người già lẩm cẩm thế đấy.

litangu
27-04-2013, 04:23 PM
Bài hát viết lúc nửa đêm.

Như trên tôi đã kể, phải tới hơn 12 giờ khuya 30/4 chúng tôi mới họp chi bộ xong. Sau cái vụ ngứa ngáy về cuốn sách “... K…T" cắm sau lưng khốn khổ ấy, tôi trở lại với đúng thằng lính của mình. Cũng trong ngôi nhà ấy có cây đàn ghi ta thật xịn, tôi vác lên sân thượng. Thành phố Sài gòn về khuya đẹp thế. Đời tôi chưa bao giờ mơ ước có một đêm kì vĩ như thế này. Hình ảnh trong ngày hôm nay giữa đô thành rợp những cờ hoa, là những niềm vui bất tận. Hình ảnh của hơn năm mươi ngày ào ào chiến trận kể từ lúc nổ súng trên Cao nguyên. Những bước chân tơ tướp máu, những cái chết của đồng đội suốt chặng đường đuổi giặc hiện về . Những vùng rừng núi, duyên hải, làng quê mình đã cuốn qua… và bây giờ điểm cuối cùng của con đường đuổi giặc là đây - thành phố Sài Gòn đẹp như cơn mơ.

Giai điệu bài hát cứ thế tự nó tuôn ra, như thể có ai đó sắp sẵn cho tôi. Tôi viết rất vội, ghi lại những nốt nhạc vội vàng, nét chữ nguệch ngoạc chỉ sợ nó mất đi ngay lúc đó. Chỉ có hơn một giờ đồng hồ bài hát đã xong. Kì lạ thế, với tôi trong đời chỉ một lần như thế và không bao giờ có cảm xúc ấy.

Sáng 1/5/75 Tôi gọi Khuất Duy Hoan dưới C7, Nguyễn Công Thành C25 lên chỗ tôi rồi mấy đứa hát luôn với nhau. Mà cũng kì lạ hết sức chúng tôi hát chỉ hai lần là hoàn chỉnh, cứ thế bài hát lan sang anh em trong đơn vị và rồi ngay trong ngày hôm ấy những anh lính giải phóng trẻ măng đã truyền bài hát đó cho sinh viên trường đạị học Kiến Trúc ngay cạnh nơi đóng quân.

Những ngày tiếp sau, bài hát được đội Văn nghệ sư đoàn 320 tập và biểu diễn. Không thể nói nó đã bao nhiêu lần được trình bày trước đồng bào vùng Tân An Hội, Tân Thông Hội, Trung Lập, Tân Phú Trung, Phú hòa Đông, Tân Qui, Phước Vĩnh An... và rồi được giải A trong lần hội diễn Văn Nghệ quân đoàn 3 lần thứ nhất tháng 8/75 tại Củ Chi.

Tôi không phải là người có kiến thức nhiều về âm nhạc, chỉ xúc động thế nào thì viết ra như thế. Chỉ có một điều lạ, Lúc ấy tôi gọi thành phố Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Tôi nghĩ lúc còn bé đi học đã nghe đâu đó lời thầy giáo giảng thế chăng? mà không nhớ thật rõ. Lịch sử cho mình giây phút ấy và lịch sử qui định như thế, lịch sủ làm nên những sự tích phi thường của đất nước và chúng tôi may mắn được sống vào giờ phút ấy tại Sài gòn.

Gần bốn mươi năm trôi đi. Tôi cũng như bao người lính khác trở về bươn chải với cuộc sống ít khi nào lại quay lại với thơ với nhạc bởi tôi không làm nghề VHNT. Nhưng kí ức hào hùng về ngày Sài gòn giải phóng thì tươi mãi, cứ nhắc đến là lại xôn xao, rạo rực, lại như mình đang trở lại tuổi đôi mươi.

Các đồng đội thân mến của tôi! Tôi sẽ gửi lên đây bản nhạc bài hát ngày đó. Kỉ niệm của tôi về ngày 30/4/75. Kỉ niệm không chỉ của riêng tôi mà nó là của những người lính 320 A những ngày đầu tiên giải phóng Sài Gòn. Nếu có đồng đội nào ở E64 F320 đọc được thì hãy gọi điện cho tôi: 0976582742 – Nguyễn Trọng Luân

http://www.youtube.com/watch?v=akqdD9fINGM

Đây là đường link về bài hát mà đã được đài TNVN phỏng vấn và phát trên sóng ngày 28/4/2012. Sáng nay 27/4/2013 lại phát lại nhưng tôi không được biết, chỉ tới khi ngồi ăn sáng ven đường thì bạn bè gọi mới biết.

litangu
29-04-2013, 09:52 AM
Thư gửi các đồng đội sư đoàn 320A

Sáng 29/4/2013- Hà nội

Các đồng đội cùng thời của tôi thân mến,

Hôm nay là 29/4/2013, giờ này ba mươi tám năm về trước anh em chúng mình đang chìm trong lửa đạn trên cánh đồng Cầu Bông và cửa mở Đồng Dù. Giờ này bao nhiêu đồng đội của chúng mình ngã xuống. Giờ này nắng bắt đầu lên, bình minh ở cửa ngõ Sài gòn với chúng mình xa lạ mà sao thân thương đến thế. Tôi gửi lá thư này tới tất cả đồng đội đang còn sống ở đâu đó - thị thành hay thôn quê - lời của người bạn thân yêu một thời , lời của người sống sót, sống sót đến tận bây giờ. Đồng đội ơi! Hãy nhớ về 29/4/75, nhớ những người bạn mình đã ngã xuống ngày hôm ấy. Họ chết để mình còn sống trở về. Ba mươi tám năm sau, nắng hôm nay cũng giống hệt như nắng hôm ấy, chỉ có chúng mình thì đã bạc đầu, gọi tên nhau trong tâm tưởng mà nước mắt thì không cầm nổi, cứ ứa ra. Nước mắt càng ứa ra thì hình ảnh đồng đội lại càng hiện về trẻ trung, phơi phới.

Chúng mình đã từng đi từ 1015 đến thị xã Kon tum, đồi Tròn, xưởng cưa, ngã ba Trung tín… Đã hai lần đánh 1049, đánh Kleng để rồi lật cánh về Gia lai. Mùa mưa 72 vượt sông, bao người lính bị thương lại bỏ xác dưới thác Pô ko. Đau xót nuốt vào trong để về đánh Đức Cơ, quyết ôm chặt đường 19 kéo dài mở vùng giải phóng. Địch đánh Đức Cơ, ta đẩy lùi ra rồi trước cái đêm 27/1/73 máu sư đoàn ta lại đổ để dành lấy thêm từng tấc đất Cao nguyên. Tết năm ấy quà tết chia chẳng hết vì bao bạn không còn sống để nhận quà! Cái ngày 27/1 năm ấy vui mà buồn đến thế. Anh em mình hi sinh nhiều quá, ranh giới sau ngày 27/1 là ranh giới hình thành bằng suối máu. Niềm vui hòa bình mong manh, mong manh như tính mạng anh em mình giữ chốt.

Các bạn của tôi ơi! Chúng mình từng sống những tháng năm ăn rau rừng, ăn môn thục và búng bang. Chúng mình chia nhau manh áo, tấm quần mà xuất kích. Chúng mình cạo tinh nứa làm thuốc lào hút cười vang trong hầm chốt, chúng mình cả mùa mưa chỉ một cái quần đùi mà vẫn đánh thắng Lệ Ngọc, Chư Nghé, làng Siêu. Thương lắm những đứa hi sinh còn gửi lại cái áo lành cho thằng bạn còn sống. Di vật liệt sĩ Tây nguyên hầu như chỉ nặng độ 1, 2 ki lô gam gồm một cái võng dù, một cuốn nhật kí và vài lá thư của miền Bắc. Tất cả chỉ có thế. Tất cả đồng đội chúng mình khi chết đi đều chỉ còn có thế. Các bạn ơi! Nghĩ lại vẫn thấy đau lòng. Đã vài lần tôi đi trở lại con đường 19 từ Ngã ba Hòn Rồng ra cửa khẩu Đức cơ. Cao nguyên bạt ngàn xanh màu cà phê, cao su và hồ tiêu. Đứng trên dốc đồn Tầm ngó lên chốt Mỹ, ngó về Chư Ga ra, Chư rông rang, hoa quì dại vẫn nở le lói bỗng chạnh lòng nhớ ngày đắp mộ bạn mình bằng chùm hoa cúc cháy dở. Đồng đội ơi, chè Bàu cạn thơm ngon thế, cà phê Thu Hà thơm thế, màu hoa quì vàng thế… ôi, phải chăng vì có máu của bạn mình trong đấy?

Lịch sử cho chúng ta được cái may mắn là một trong những đơn vị nổ súng sớm nhất trong chiến dịch giải phóng Tây nguyên 1975. Các bạn làm sao có thể quên cái ngày 14/1/75 nhắm hướng nam hành quân. Suốt cái tết 75 áp sát đường 14 nín thở rồi bùng ra đánh Thuần Mẫn, Cẩm Ga, đêm mùa khô hành quân về Đạt lý, Buôn Hồ hoa cà phê thơm nưng nức. Kể từ ngày 5.3.75 tất cả sư đoàn hành quân liên miên đánh địch và không ngủ. Chúng mình vội vã lao về Phú Bổn trong chiều 17/3 để cả đêm hôm ấy leo ngọn núi đá tai mèo sáng sớm 18/3 chạy suốt 8 cây số lao vào một đội quân đông gấp mười lần ở Cheo Reo mà nổ súng. Chưa bao giờ chúng mình có một trận đánh xe tăng, thiết giáp như hôm ấy. Chưa bao giờ chúng mình nuốt nước mắt vì những người dân lành bị tử nạn như ngày ấy. Đường số 7 kinh hoàng cho tới suốt đời chúng ta, những người trực tiếp truy kích và làm nên cái trận đánh có một không hai trong lịch sử quân đội mình. Bây giờ đường 7 thanh bình chạy theo dòng sông Ba nối Tuy Hòa lên Tây nguyên. Nương rẫy xanh, màu nắng như rưng rức trong nó nỗi buồn ly tán của hàng chục ngàn người di tản ngày xưa. Tôi trở về chiến trường xưa thắp hương cho hơn một trăm đồng đội mình hi sinh hôm đánh Cheo Reo. Tôi ra đầu cầu cây Sung, cái cầu gẫy hôm 18/3 mà hàng chục xe rơi xuống sông. Tôi thắp những nén hương ven đường, thắp hương dưới bờ suối như thấy lại hàng ngàn người bỏ mạng ngày hôm ấy tại nơi này. Ba mươi tám năm siêu thoát được không?

Các bạn của tôi! Đời chúng ta đi chiến đấu không thể có một ước mơ kì vĩ đến nhanh như vậy. Chúng ta lên xe ngược về đường 14 để vượt qua Buôn Hồ, Ban Mê, Gia Nghĩa, Lộc Ninh rồi đổ quân ở Chơn Thành sáng 15/4. Chúng ta náo nức gạo, đạn, áo mới, quần mới để 20/4 vượt sông Sài Gòn đoạn Bến Súc về nằm trên Bến Đình, Nhuận Đức. Đêm qua 28/4 cả sư đoàn hành quân. Cả sư đoàn tiến về Đồng Dù và Cầu Bông. Các bạn của tôi ơi, đêm hành quân 28/4/75 là đêm nhớ đời bởi hương bùn lầy, hương lúa miền Nam . Chúng mình bám gấu áo nhau mà đi, chúng mình biết đây là trận cuối cùng. Trong đêm chiếm lĩnh ai cũng nhớ mẹ, nhớ quê phải không các bạn? Cả đêm qua đã biết bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu suy nghĩ để rồi nổ bùng khi phát hỏa vào 5 giờ sáng nay – 29/4/75. Cả đời trận mạc, đến người chỉ huy của mình cũng không thể ngờ, không thể hình dung lại có phút lẫm liệt đến thế của lính mình. Cửa mở Đồng Dù mãi là câu chuyện hào hùng mà đời sau ghi nhớ. Bao người đã ngã xuống trên cửa mở, bao nhiêu con mắt của người bị thương nằm lại nhìn theo đồng đội mình lao qua. Người lính xe tăng vừa khóc vừa nhấn ga cho xe lồng lên lao về phía giặc. Ôi ta quên sao được ánh mắt bạn mình trọng thương trên cửa mở cầu khẩn nhìn chúng ta mà chúng ta không thể dừng lại cứu bạn, nước mắt mình rơi mà lao lên phía kẻ thù. Các anh ơi, hãy tha lỗi cho chúng tôi. Chiến thắng của chúng mình cần có sự hi sinh là thế. Ba mươi tám năm sau tôi cúi đầu lạy tạ với người đồng đội bị thương nằm trên bờ ruộng mà tôi nhắm mắt lao qua…

Cầu Bông, Tân phú trung đấy các bạn 64 ơi. Chỉ cách Sài gòn 28 km. Loạt đạn đầu tiên 6 khẩu DKZ đồng loạt làm sụp cái đồn đầu cầu. Ấp Chợ Tân phú Trung đánh từ sáng tới trưa. Đã gần bốn mươi tử sĩ nằm gục trên bờ ruộng rau, trong ngóc ngách chợ. Nắng ùa lên trời, nắng ùa xuống cánh đồng lúa và trên đường hàng mấy chục xe tăng thiết giáp chạy về. Cánh đồng gần Cầu Bông thành biển lửa của một trận thui xe tăng, thiết giáp kẻ thù. Trưa hôm nay 29/4 trên cánh đồng Tân Phú Trung dàn dạt hoa bằng lăng tím và con đường số 1 đỏ rực những hoa phượng đầu hè. Lửa từ dưới đồng, lửa từ xe tăng cháy và khói, khói như cả một cánh đồng đốt rạ ngày mùa. Trong màu đỏ của hoa, màu lửa của chiến trận, màu khói đốt đồng, chúng mình lao lên xe tiến vào Sài Gòn. Đạn đại bác vẫn rít qua đầu về hướng Tân Sơn nhất. Đoạn đường cuối cùng của cuộc chiến, đời chúng mình thít dần ngắn lại đến nút cuối cùng.

Ngày mai. Chúng mình còn bao nhiêu kỉ niệm ở Sài Gòn. Kỉ niệm ngây ngô đáng yêu của anh lính người Miền Bắc. Ngày mai ở giữa Đô thành rồi mà vẫn không tin nổi mình đang bước chân trên thành phố hòn ngọc Đông Dương. Cầm bút viết lá thư về cho mẹ còn ngập ngừng... Sài gòn ngày 1/5/75…

Chúng tôi được về sau đó còn các bạn lại ôm súng đi BGTN. Người lính sao mà cực thế? Các bạn của tôi ơi! Chúng tôi những người được trở lại trường tháng 10/75 biết ơn các bạn. Lần nữa các bạn lại hi sinh còn chúng tôi dù đi qua chiến tranh CM cũng không hiểu nổi cuộc chiến đấu ở nơi ấy (chiến trường K), cũng như dân tộc họ cũng không hiểu nổi họ nữa là chúng ta.

Bây giờ là 9 giờ 32 phút. Thôi tôi dừng ở đây các bạn, bởi đã đến lúc gay cấn nhất trên cửa mở Đồng Dù rồi. Tôi dừng để cùng các bạn cúi đầu mặc niệm và gửi nén nhang về các đồng đội của mình.

NTL – chiến sĩ E 64 F320A Đồng Bằng

huuthanh
29-04-2013, 04:34 PM
29/4 khi các anh đang còn đổ máu hi sinh ở cửa ngõ SG thì chúng tôi, những người lính kỹ thuật đi tiếp quản SG, tay không vũ khí (thắng đâu "đánh" đấy) còn đang hành quân chặng Đà Nẵng - cuối Quảng Ngãi (trước Sa Huỳnh). Luôn kính trọng các anh là những người mở đường máu qua cái chết cho chúng tôi theo.
http://farm9.staticflickr.com/8398/8691138431_70ac3cb52d_b.jpg

litangu
30-04-2013, 08:38 AM
Viết cho ngày 30/4



Nguyễn Trọng Luân


Viết tặng những Bạn học, đồng đội của tôi



Khúc 1 – Ra đi


Chúng mình đi theo cuộc chiến chinh
Cha ông mình đằng đẵng
Bỏ lại sau lưng cánh diều bến bãi
Mẹ cha căm cụi xám nắng nương đồi
Bỏ lại đêm thâu đèn sách một thời
Niu níu bàn tay thôn nữ
Từ giã khoảng trời thắt lưng buộc bụng
Ngón chân choãi cong bẫm tím phù sa
miền miệt hành quân không qua nổi tiếng gà
Đâu cũng thấy xóm làng xơ xác
Hướng về nam chúng mình đi đánh giặc

Mang trên vai tuổi mười tám đôi mươi
Hơi ấm ổ rơm, vị canh mẹ nấu
Chia tay em đầu làng trước đêm ra trận
rơi giọt trăng khóe mắt hẹn nhau về

Một thời lặn lội rừng sâu
Đường Chín, Khe Sanh, Đông Hà, Cửa Việt
ngã tư Sòng, Thiên xuân, Tích tường, Đại độ
và… Cam Lộ
Hố xương chung nằm mãi ngã ba này

Nắng trên đầu thành cổ nung cháy mây
Máu sôi dưới dòng Thạch hãn
Bạn bè lịm giữa sông
còn gọi mẹ ơi
Biển Cửa Việt mình vùi cát tháng 5
hoa phượng nát bầm dưới làn pháo kích
Nỗi nhớ trường miên man
Nhớ mẹ Cha day dứt…

Chúng mình đi qua Sê Pôn
Những đêm sao trời nén căng hơi thở
Chiến dịch cuốn chân như lũ
Thư người yêu theo tận cuối con đường
Người cõng nhau tiếng nấc nghẹn giữa rừng
Bao hò hẹn đứng ngang hồn đồng đội
Đường Chín Nam lào sốt rừng trôi suối
Máu xương trai trẻ nao long
Chúng mình lại đi hun hút những cánh rừng
Những lá thư cứ lùi về nỗi nhớ
Những con số hòm thư cứ ghép thành bài toán đố
Gửi về Mẹ Cha ta.




Khúc 2 – Máu lửa



Đã từng mắc võng bên song
Đã từng ngủ gục trên lưng bạn
Bạn cũng khóc với mình đêm nhớ mẹ
Nước mắt hòa cơn mưa một chiều rất xa
Chúng mình về Tây Nguyên
Mùa lũ hoa rừng trôi theo lũ
Đêm mùa mưa dìu đồng đội qua sông
Khản tiếng gọi nhau thác Pô kô gầm rú
Chôn bạn chiều Kon tum
Cúc quì đồi Sác- li nức nở
Đôm đốm hoa pơ lang
Ngân ngấn máu bạn bè thắp lửa

... Đã cùng nhịn đói mùa khô
nhịn sang mùa mưa sốt rét
Đêm đêm bám địch
Mắt hoa pháo sáng đồn Tầm
Miệt mài ăn sắn ăn măng
Sụt sùi bám dân giữ đất
Người ác tính ra đi chỉ còn nhúm muối
Gửi lại đồng bào
Đêm trên điểm cao
Nghe tiếng giã gạo dưới làng
Hưng hức khóc nhớ quê mình xa ngái


Một thời để lại
Một vùng rừng đọng lại
mồ hôi, máu lẫn câu thề
Đàn Tơ rưng đỏ hồng đêm đốt lửa
Hát chèo giữa vùng rừng không dân
Chúng mình ngơ ngẩn ngậm ngùi
Tượng nhà mồ ai tạc?


Những trận sốt rừng bất chợt
Gặm nát thân trẻ trai
Người bạn nào nằm vùi trên võng
Treo suốt đời rừng sâu...
Những cơn lũ rừng bất chợt
Cuốn đi cả đêm thâu
Đại ngàn âm u tiếng gọi
Bạn ơi ở góc rừng nào?
Chúng mình đi qua những năm tháng đói quắt queo
Khuôn mặt thanh xuân không thể nào đoán tuổi
Giữa cuộc chiến tranh chúng mình không tính tuổi
Đồng đội ôm nhau
kể chuyện làng chuyện người yêu đẩy lùi cơn đói
Thương quê hương lũ lụt mất mùa
Những mùa mưa dầm dề
Căn hầm bết bùn lên tóc
Đêm hành quân đếm tiếng tắc kè
Cười rung cây ngất ngư điếu thuốc lào sau trận đánh



Những cái chết bất chợt làm sao
Hồn trinh nguyên cái chết nào mà không đau xót
Những cái chết tưởng chừng như hẹn trước
Ôm lá cờ gục xuống trước bình minh
Ơi Buôn Hồ, Thuần Mẫn, Củng sơn
Đêm không ngủ xuôi sông Ba đuổi địch
Một đời đánh giặc trên rừng khát khao gặp biển
Biển nồng nàn mà bạn chẳng tới nơi
Lá thư viết trên đường chiến dịch
Bạn gửi tôi đường 7 tháng ba này

Rồi mình lại đi lại đi
Cuối rừng là đồng là bãi
Dép cao su tràn ra cửa bể
Những con sông mê mải
khảm chiến công vào lịch sử
Chúng mình tan vào máu
Làm mực viết khúc khải hoàn
Ơi Chóp Chài, ơi đèo Cả, Cầu Bông
Ơi là Sài gòn
Ơi là Củ chi, Tân Phú
Đồng Dù
- Bạn bè tôi đông quá thể
Xếp hàng trước sáng tháng Năm
Bạn bè ai ai cũng trẻ
Quân phục tươi màu đứng lại nơi đây
Bình minh
Chút nữa thôi
... Ngưỡng cửa
Sài gòn... xa thế tầm tay...



Chúng mình đã từng nhịn đói
để người bạn ốm cầm hơi
Chúng mình đã từng hút đạn
Cho nhau thoát phút hiểm nghèo

Chúng mình đã từng trao nhau
Tên người yêu và địa chỉ
Thuộc đến từng nết ăn nết ngủ
Nằm mơ thấy đứa hi sinh
Ngồi chắn cửa hầm những đêm pháo kích
Cuối chặng đường vắng nhau nhiều thế




Khúc 3 - Giải phóng



Sáng nay
Người cuồn cuộn
Cờ hoa cuồn cuộn
Sài gòn thức không có đêm
Thành phố vừa lạ vừa quen
tiếng Nam tiếng Bắc
tràn trề nôn nao
Cười trong tức tưởi
Người đi tìm người, gọi tên nhau nghẹn trào nước mắt
Đồng đội tôi hiền từ
Ngẩn ngơ

Sáng nay chợt nhớ quê hương
Sáng nay chợt nhớ mẹ cha vẫn khoai sắn thay cơm

Sáng nay
Sau đêm 30/4 chúng mình như bé lại
Những thằng cu của mẹ ngày nào

Hoa phượng rơi đỏ cánh mũ tai bèo
Góc đường Pastơ bạn tôi đứng gác
Nét da xanh của một thời sốt rét
Hiên ngang trước dinh Độc Lập
Mắt cay cay xa xót nhớ cánh rừng
Những ngọn suối khúc sông
Sa Thầy, Đức Cơ, Đắc Tô, Tân Cảnh
Hào phóng chở che
Rưng rưng đêm rượu ăn thề



Chúng mình đi từ quê hương
Đến cuối con đường
Con đường chúng mình đã chôn bao nhiêu đồng đội
Trên đầu là hoa là cờ đỏ
Hân hoan nghèn nghẹn sững sờ
Những bản làng heo hút chốn Pô cô
Hoa Pơ lang đỏ sang mùa hoa phượng
Em gái Tây nguyên ngóng chờ chúng mình nơi hoang vu tĩnh lặng
Chiều chiều ra thăm
Những nấm mồ xanh lạnh lẽo góc rừng
Khói thuốc già làng trầm ngâm
Bay nghiêng qua mùa đói
Bao giờ?
Ai trở lại Tây nguyên?



Chiều qua
Đắp mộ cho người bạn cuối cùng
Có con bướm đậu hoa bằng lăng tím ngan ngát gió
Chôn cho bạn tập thơ tình
Nhặt trên đường Tân Phú
Sài gòn sáng nay vui thế
Chúng mình cứ ngước về
Đồng Dù, Củ Chi
Cứ nhìn về lửa đỏ trời Tân phú Trung, Cầu Bông, Cầu Sáng
Bao gương mặt vắng trong ngày giải phóng
Những người bạn chúng mình
Nằm lại nơi này
Thơm lúa đồng vàng
Nhớ nắng mùa thi


Đồng đội ơi
chúng mình sẽ về
Với mẹ
Sài gòn ơi
Chúng tôi đi bao năm mới tới
Giữa Đô Thành oà gọi
Tiếng gọi sung sướng nhất cuộc đời
Mẹ ơi!




Khúc 4 - Trở về



Chúng mình trở về niềm vui lẫn nỗi thương đau
Bè bạn người còn người mất
Lời nhắn gửi mang về đắng ngắt
Làng quê rớm máu hồi sinh
Đêm đêm tiếng hát sân đình
Vắng bao trai làng nằm đâu không về mở hội
Đồng đội ơi
Thời của chúng mình đàn bà thêm một tòng chờ đợi
Thời đàn bà không có tuổi
Sống hết đời thanh xuân
Thanh xuân se sắt

Đám cưới ai? nước mắt nhỏ sau nhà
Gói kỉ vật gửi cho mẹ đẻ
Cắp nón đi tìm hài cốt người yêu
Con sông quê trôi mùa lũ ầm ào
Hoa phượng học trò tan theo nỗi nhớ
Những mùa hoa sau chiến tranh
- Sao mà hoa đỏ thế?



Một thời bom đạn có nhau
Nay nỡ quên làm sao được
Những Người Ba mươi tháng tư năm trước
Bây giờ ở đâu?

Lời hò hẹn năm nao
Cuốn vùn vụt với mưu sinh vật vã
Bát cơm chan mồ hôi bết trên trán vợ
Mảnh đạn trong người cũng lên ruộng cạn xuống đồng sâu
Ơi bạn nằm đâu?
Ơi bạn về đâu?
Thoáng đã sợi đen sợi bạc
Vẫn nhớ
Những người Ba mươi tháng tư năm trước
Bây giờ ở đâu?
Người lính năm xưa da sạm bạc đầu
Ngân ngấn khóc trước màn hình nghe “nhắn tìm đồng đội“


Ba mươi tháng tư lại tháng tư
Phượng lại đỏ nắng cứ vàng cứ gió
Kỉ niệm cứ đan dầy hoa đỏ
Thêm mỗi mùa hoa thêm sợi bạc trên đầu
Thêm thương thời rau cháo bên nhau
Nhớ khuôn mặt mình ngây ngô ngày Sài gòn giải phóng
Con búp bê váy hồng
- Bây giờ
.... bạn có còn không ?




Khúc 5 – Tâm sự



Một thời bom đạn có nhau
Nay nỡ quên làm sao được ?
Những bạn bè mình năm nao
Nay sao bỗng dưng không nhớ

Chúng mình tìm mình năm cũ
Đồng đội ơi đồng đội ơi
Nếu một ngày không nhớ nữa
Thì biết mình là ai?




Hà nội 30/4 năm 2009

Xin tu xoa
30-04-2013, 01:10 PM
Những thời khắc lịch sử

Clip trên đài phát thanh Sài gòn sáng 30/4/1975

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/04/buoi-phat-thanh-lich-su-tai-sai-gon-trua-30-4-1975/page_2.asp


Tổng thống Dương Văn Minh: "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam”.
Thủ tướng Vũ Văn Mẫu: "Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng".
Chính ủy Bùi Văn Tùng: "Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn".

litangu
01-05-2013, 07:04 AM
Hoa Giấy

Thú thật, trước khi vào Nam chiến đấu tôi chưa hề biết hoa giấy. Có thể quê tôi không có và những vùng miền Bắc khác tôi chưa biết chăng? Nhưng quả thật chỉ đến khi về đánh Củ Chi tôi mới nhìn thấy hoa giấy.

Ngày 19/4/1975 chúng tôi từ Chơn Thành hành quân rồi vượt sông Sài gòn lúc gần sáng. Đoạn chúng tôi qua sông sau này là Bến Dược chứ lúc ấy chỉ biết theo đường vạch ra của trinh sát cấp trên mà thôi. Chúng tôi đi bộ trên con đường cũ phủ kín lá và cỏ hoang. Củ Chi hoang tàn, Củ Chi bình địa với xe pháo cháy thui, những gò đống lở loét hố bom, hố pháo. Dưới chân chúng tôi là gạch đá, là mảnh bom, vỏ đạn, dấu tích của mười mấy năm đất thép thành đồng này đánh Mỹ và trụ vững để hôm nay có bàn đạp cho đại quân tiến đánh trận cuối cùng.

Nơi trú quân rất chật hẹp, nằm sát mép sông Sài Gòn. Bộ đội không được đi lại, không được tắm lội trên sông. Mỗi người di chuyển đều có một cành lá tươi cầm theo che trên đầu. Máy bay địch lượn lờ và thỉnh thoảng một trận pháo đổ dồn từ phía Bình Dương, Đồng Dù ập tới. Tôi vốn là lính bộ binh lên trinh sát nên mấy ngày nay nằm gần đại đội cũ của mình, tôi mò xuống C7. Lính mới bổ sung tháng 12/74 toàn quân Phú Thọ nên bọn tôi nằm trong cỏ mà thả hồn tán chuyện quê hương. C7 đóng ở một khu đất áng chừng trước đây là một xóm nhà dân trù phú. Vẫn còn những chân cột, góc chuồng lợn và cây trái ăn quả. Cỏ lau, cỏ lác mọc tùm lum lên những nền nhà, những góc vườn chả biết chủ nhân của mảnh đất này giờ lưu lạc góc trời nào. Thằng Hoà người phố Cao Bang đặt khẩu B41 tựa lên thân cây rễ còng queo, lá xanh che vòm như cái tán ô. Mà kì lạ phía bên trên chòm lá xanh là những cánh hoa đỏ chói, chen lẫn những cánh hoa trắng như cánh bướm. Những cánh bướm mỏng manh sau mỗi đận pháo nổ lại rung rinh lắc lư trên đầu. Gió Sông Sài gòn làm nó đung đưa, cái vòm hoa ấy xôn xao tiếng cười, tiếng hát của lính.
Tôi bảo Hoà ăn chơi quá nhỉ. Nằm trong vòm hoa rõ là đẹp, viết thư cho người yêu thế kia có mà quá là mày đi học nước ngoài đang kể về trời âu. Nó bảo ừ thật đấy, em xuýt nữa đi tây rồi. Trường Hùng Vương chúng em đi tây đông lắm nhưng em lại nhận giấy báo đi bộ đội trước. Đợt chúng em nhập ngũ là 29/4/74 anh ạ. Rồi đột nhiên nó hỏi anh có biết tên hoa này là gì không? Tôi bảo chịu, chưa thấy bao giờ. Chúng nó - cả tiểu đội lao nhao chúng em cũng thế không biết hoa gì, cứ nghĩ anh Luân học cao hơn thì biết. Tôi gật gù ra vẻ suy nghĩ chả nhẽ hoa bướm? vì cánh nó giống cánh bướm. Rồi dứt khoát tôi bảo thôi nhớ ra rồi đấy là hoa bướm. Mấy thằng ngồi im có vẻ tâm phục. Thằng Hoà thì nói khẽ em không tin, nhưng đẹp quá anh ạ, nắng càng to màu nó càng sáng lên, rực rỡ hơn. Sau này hoà bình, em sẽ mang giống hoa này về Thị Xã Phú Thọ trồng và sẽ gọi là hoa Củ Chi. Cả lũ cười nhăn răng, hoa Củ Chi là hoa Chỉ Cu đấy mày ơi. Thằng Hoà và tôi cười phớ lớ. Dưới kia sông Sài gòn xanh veo gió và trên đâu chúng tôi hoa vẫn rung rinh đỏ.
Sáng 29/4 nổ súng đánh trận cuối cùng. Trận đánh Ấp chợ Cầu Bông diễn ra từ 5 giờ sáng tới 12 giờ trưa. Tình cờ khu ấp chợ Tân Phú Trung cũng miên man những rặng hoa giấy đỏ tươi và những hàng cây bằng lăng hoa tím.
Thằng Hoà hi sinh lúc 9 giờ sáng. Khẩu B41 của nó chỉ còn một quả đạn mang theo. Chúng tôi chỉ kịp nhìn nó, cái thằng to cao da nâu bóng và chiến đấu rất lì được bà con đang lau chùi khâm liệm rồi vội vã tiến vào Hóc Môn.
Trận địa Tân Phú Trung lùi lại đằng sau vẫn nôn nao màu đỏ của hoa giấy và man mác màu tím hoa bằng lăng.
Tôi trở lại An Nhơn Tây nhiều lần và lần nào cũng vậy lại đến bên mộ thằng Hoà. Cái bia ghi: Nguyễn Văn Hoà – Quê quán: phố Cao Bang TX Phú thọ - Hi sinh 29/4/1975 hiền lành như bao tấm bia đồng đội khác. Đến bây giờ thằng Hoà vẫn chưa biết tên cái loài hoa mà nó thích. Nghĩa trang An Nhơn Tây rợp màu loài hoa ấy. Đỏ thật tươi, sống thật mãnh liệt, bốn mùa rung rinh, và hoa cứ nở cả bốn mùa.

NTL

Xin tu xoa
01-05-2013, 04:55 PM
Mời bác Lính Tây nguyên xem, và bác có nhận ra ai quen không nhé :D

2013050107007030 - Cuốn sổ ghi chép của đ/c Nguyễn Minh Khang - Đại đội phó Đại đội 17 - Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320 - Mặt trận B3.



Cuốn sổ gồm có 1 số trang ghi chép nghị quyết Đảng, 1 số bài học, phần cuối có danh sách cán bộ chiến sỹ trong Đại đội (Họ tên, quê quán...), ghi chép từ thời gian 1969 đến khoảng 3/3/1972.


Trang ghi chép Nghị quyết Đại đội Đảng bộ (Trung đoàn?) lần thứ 6, chữ hơi mờ nên em đoán là 10/10/1971.

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)

Các trang danh sách cán bộ chiến sỹ:

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_1.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_2.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_3.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)


http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_4.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)

Xin tu xoa
01-05-2013, 04:57 PM
http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_5.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)


http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_6.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)



http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_7.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)


http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_8.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky%20vat/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Page_9.jpg.html)

litangu
01-05-2013, 07:35 PM
Cám ơn Rồng xanh . Trong danh sách bạn đưa lên , tôi đọc có rất nhiều cái tên quen . Nhuwng bây giờ chỉ biết được hai người : - Quản Bá Bình sau này là thiếu tá trợ li công binh QD 4 hiện ở Thủ Đức
_ Nguyễn văn Tắc sau nay là y tá C24 E64

Xin tu xoa
01-05-2013, 10:15 PM
Đại đội 17 này có lẽ là đại đội công binh của Trung đoàn. Trong cuốn sổ còn có hình vẽ kích thước hầm chỉ huy (Có lẽ hầm chỉ huy Trung đoàn).

Trong cuốn sổ có ghi, mật danh của Trung đoàn 64 thời điểm 1972 là Đoàn Tây Ninh.

Cuốn sổ do tiểu đoàn 2 - trung đoàn 45 - Sư đoàn 23 VNCH thu được ngày 6/6/1972 tại phía Bắc ngoại vi thị xã Kontum.

litangu
01-05-2013, 11:19 PM
Đại đội 17 này có lẽ là đại đội công binh của Trung đoàn. Trong cuốn sổ còn có hình vẽ kích thước hầm chỉ huy (Có lẽ hầm chỉ huy Trung đoàn).

Trong cuốn sổ có ghi, mật danh của Trung đoàn 64 thời điểm 1972 là Đoàn Tây Ninh.

Cuốn sổ do tiểu đoàn 2 - trung đoàn 45 - Sư đoàn 23 VNCH thu được ngày 6/6/1972 tại phía Bắc ngoại vi thị xã Kontum.

Đúng vậy Rồng xanh ạ. Đây là đại đội công binh của E 64. Thời điểm cuối tháng 5 và đầu tháng 6/1972 là thời điểm cả sức lực và lương thảo vũ khí của E đã cạn . Những trận đánh giằng co với E44 và E45 VNCH ở ngã ba Trung tín cách thị xã Kon Tum 3 km không mấy thắng lợi. ngày 5/6/72 trung đoàn được lệnh rút lui. Chiến dịch tiến công bắc Tây nguyên chấm dứt. Có thể rút lui trong điều kiện yếu thế rồi nên nhiều thứ vứt lại. Sau này anh Quản Bình về Củ chi là C phó, anh Khang cũng vẫn là chính trị viên phó.

litangu
02-05-2013, 06:53 AM
1 - Cách mạng của ta đi xuống dốc

Năm 1973 Sư đoàn 320 đưa các tổ công tác xuống các xã bản đồng bào vùng Đức cơ, Chư prông, tỉnh Gia Lai. Những tổ công tác này sống ở đó cùng đồng bào chống địch lấn chiếm, cùng tăng gia, dạy đồng bào học chữ... v.v.
Hồi ấy học nghị quyết 21 TW3. Các đội công tác cũng tổ chức cho du kích học tập. Có một hôm, bộ đội quán triệt tinh thần nghị quyết với cả tổ du kích và dân bản. Đại ý tinh thần được quán triệt như sau:
... Hiện nay, sau hiệp định Pa ri cách mạng chúng ta đang đà phát triển mạnh. Thế của chúng ta là thế đi lên. Còn kẻ địch, lũ nguỵ quyền tay sai bán nước là thế suy yếu, thế đi xuống...
Bộ đội và du kích lặng im nuốt từng lời của đồng chí Tổ trưởng tổ công tác. Bỗng già làng xin có ý kiến.
Già gác cái tẩu thuốc lên khúc gỗ cháy dở bên cạnh, kéo cái vạt khố ngay ngắn rồi nói:
- Mình là mình ưng cái tinh thần của cách mạng. Mình ưng bộ đội, ưng du kích mình tiến bộ, biết nghe lời cách mạng. Mình chỉ không ưng cái cán bộ nói Cách mạng đi lên còn thằng địch đi xuống chớ. Đi lên dốc mệt hung, đi chậm chớ. Cán bộ không biết à? Cán bộ nói kẻ địch đi xuống là để nó đi nhanh hơn cách mạng rồi? không được. Cách mạng phải đi xuống, vì đi xuống dốc đi mới nhanh mà. Đồng bào mình phấn khởi vì Cách mạng đi xuống dốc chớ.
Bộ đội ngồi lặng im. Ngơ ngác.
Còn dân bản thì gật gù. Đúng đúng! Già bản nói hợp cái bụng đồng bào à.

3 - Chuyện cái tay đi công tác.

Bộ đội Tây nguyên đi một người hay đi đông người, đi làm gì thì cũng nói với đồng bào là đi công tác. Bộ đội đi đâu tạt vào bản làng đó coi là cũng đi công tác. Bộ đội bám địch về qua bản là đi công tác. Bộ đội tạt vào bản ngồi ở gốc cây muỗm cổ thụ ngoài nhà mồ hóng mát cũng là đi công tác. Có những hôm bộ đội đi cải thiện kiếm cái ăn cho đơn vị đó cũng là đi công tác... kiếm quả dưa, quả mướp, quả ớt xanh ngoài nương của đồng bào, có ai nhìn thấy hỏi thì là: mình đi công tác chớ.
Lâu rồi thành lệ, hễ gặp gặp bộ đội ngang qua bản mình đồng bào đều cất tiếng thân thương, bộ đội lại đi công tác đấy chứ!
Chà cái bộ đội nó lại đi công tác dưa, công tác ớt đây mà! Bộ đội vất vả hung! Bộ đội vất vả như cái đuôi con heo. Quái lạ đồng bào ví bộ đội như đuôi con heo. Để ý thì thấy cái đuôi con lợn lúc nào nó cũng ngoáy ngoáy ve vẩy. Trên cả con heo cái đuôi vất vả nhất. Hay thật, đồng bào cứ đơn giản mà lại sâu xa.
Chuyện này thì tôi chỉ nghe bọn C18 thông tin kể thôi chứ không được thấy tận mắt. Một lần bọn C18 lập đài gần bản. Chúng nó ở lâu nên quen đồng bào. Quen rồi thì lân la thân tình với cả con gái bản. Tối tối đốt lửa trên sàn ngồi nướng sắn chuyện trò lúc to lúc nhỏ với mấy thanh nữ cởi trần da nâu bóng như cà phê. Con gái mười tám đôi mươi mà cởi trần thì... ai mà chịu nổi. Chú lính nào cũng cứ bần thần, sắn nướng chỗ sống chỗ chín cũng cứ tự động đút miệng ăn như bình thường. Các cụ già nằm góc nhà nửa thức nửa ngủ, còn bộ đội và thanh niên vẫn đang đoàn kết cách mạng, cứ cời lửa rồi nhìn nhau, nhìn miết miết. Chừng chuyện đã vui, ánh lửa bập bùng đã nồng, bộ đội nhìn đồng bào như chị em một nhà, những cái bóng người in lên vách càng lúc càng ngắn lại thì có tiếng già làng khàn khàn cất lên:
- Cái tay bộ đội nó lại đi công tác kìa. Nó hay đi công tác quá. Cái tay không được cách mạng quán triệt nên nhiều khuyết điểm quá.
Lập tức cái tay bộ đội rụt lại. Im lặng. Nghe dưới gầm sàn rõ cả tiếng con lợn phì phò.
Ánh lửa được bùng lên, mấy chú bộ đội xin phép:
- Dạ chúng con về đồng bào nhớ!
Tiếng người già:
- Ờ ờ cái bộ đội về, về mà đi công tác cái bộ đội à. Bộ đội về quán triệt cái tay cho nó tiến bộ à.
Lửa vẫn bập bùng trên sàn. Bóng cô gái ở trần cặp vú cong veo in trên vách.


NTL

ONGBOM-K5
02-05-2013, 11:29 AM
3 - Chuyện cái tay đi công tác .


Tiếng người già:
- Ờ ờ cái bộ đội về, về mà đi công tác cái bộ đội à. Bộ đội về quán triệt cái tay cho nó tiến bộ à.
NTL
đơn vị Bác NTL đã khi nào gặp trường hợp : Mình huề nghe bộ đội !
-mình bắt đền cái bộ đội làm cho "nó"chưa phấn khởi mà bỏ chạy
-bộ đội bắt đền con gái của buôn làng làm cho cái bộ đội "mất sức đánh Mỹ"
Lính Tây nguyên mà thiếu cảnh này thì mất vui

Xin tu xoa
02-05-2013, 11:36 AM
1 - Cách mạng của ta đi xuống dốc

Năm 1973 Sư đoàn 320 đưa các tổ công tác xuống các xã bản đồng bào vùng Đức cơ, Chư prông, tỉnh Gia Lai. Những tổ công tác này sống ở đó cùng đồng bào chống địch lấn chiếm, cùng tăng gia, dạy đồng bào học chữ... vv.
......

Còn dân bản thì gật gù. Đúng đúng! Già bản nói hợp cái bụng đồng bào à.

3 - Chuyện cái tay đi công tác .

Bộ đội Tây nguyên đi một người hay đi đông người, đi làm gì thì cũng nói với đồng bào là đi công tác. Bộ đội đi đâu tạt vào bản làng đó coi là cũng đi công tác. Bộ đội bám địch về qua bản là đi công tác. Bộ đội tạt vào bản ngồi ở gốc cây muỗm cổ thụ ngoài nhà mồ hóng mát cũng là đi công tác. Có những hôm bộ đội đi cải thiện kiếm cái ăn cho đơn vị đó cũng là đi công tác... kiếm quả dưa, quả mướp, quả ớt xanh ngoài nương của đồng bào, có ai nhìn thấy hỏi thì là: mình đi công tác chớ
Lâu rồi thành lệ, hễ gặp gặp bộ đội ngang qua bản mình đồng bào đều cất tiếng thân thương , bộ đội lại đi công tác đấy chứ !
......

NTL


Em thấy thiếu phần 2 rồi, phần này chắc nhiều bí ẩn :">

ONGBOM-K5
02-05-2013, 11:43 AM
Em thấy thiếu phần 2 rồi, phần này chắc nhiều bí ẩn :">
Có lẽ phần 2 chính là cái phần : bộ đội làm cho "nó" phấn khởi nửa chừng rồi bỏ chạy đấy bác Giun à . Hé hé

litangu
02-05-2013, 01:22 PM
2 Chuyện bắn phát một và bắn liên thanh






Những năm đánh giặc ở chiến trường Tây Nguyên bộ đội mình đói lắm. Mà chả cứ gì Tây Nguyên ở đâu cũng vậy thôi. Ăn sắn, ăn rau rừng, cây Búng báng, củ mài quả sung... tuốt tuột cái gì không chết là ăn, ăn để sống để chiến đấu.

Hôm nào, ai xuất kích (đi đánh nhau) thì được 6 lạng gạo/ngày. Anh nào sốt không đi được thì hai lạng/ngày. Vì thế mỗi đại đội mỗi ngày cử hai chú đi kiếm thức ăn gọi là đi công tác. Đi công tác về, trong cái túi bao tải thôi thì là mít non, măng tre, quả sầu riêng đầy gai, sắn, hoa chuối, rau khoai lang, có anh tát suối được cả cua đá, cá sộp. Có anh ăn trộm trong nương đồng bào được ớt, cà đắng, vài quả mướp hay nải chuối xanh. Lâu rồi đồng bào cũng biết. Gặp bọn mình đồng bào hỏi: Bồ đồi đi đầu chớ? (bộ đội đi đâu chứ)
- Bộ đội đi công tác mà
Đồng bào mặt lạnh tanh:
- Mình biết mà, Bồ đội đi công tác dưa, cồng tác ớt mà.
Rồi đường ai nấy đi, lấm lét nhìn nhau rõ là quân với dân như cá với nước.
Một hôm mình đi công tác với thằng Chới người Chương Mĩ Hà Tây. Thằng đó cao to hơn mình. Cao hơn một cái đầu, nặng dễ sáu chục kí. Ở chiến trường nặng như nó là khiếp đấy. Chui bờ chui bụi nửa ngày, chiều ấy hai thằng lôi về toàn hoa chuối thì gặp mấy cô gái Ba na cũng đi nương về ngồi bên suối. Hai phe ngồi bên hai bờ đối diện nhau.
- Bồ đội lại đi công tác về rồi kìa
Bọn mình lặng thinh. Mấy cô nhấm nháy. Trong ba cô thì hai cô cởi trần vú vênh lên như cái ngà voi nhưng nâu xầm xẫm. Muốn nhìn lắm nhưng không dám nhìn thẳng. Chợt mình nhìn xuống nước bóng người lung linh, mấy cặp vú lung linh, thế là từ bấy giờ mình cứ e thẹn nhìn xuống. Phải nói là rạo rực. Rạo rực cứ như vừa uống rượu Ba kích vậy. Anh cu Chới thì lấm let, cười không ra cười, mếu không ra mếu, thi thoảng lườm trộm cái. Mấy cô gái cười phá lên: .... Ô ô cái mắt bồ đồi to to nó đi công tác kìa.
Chới cụt hứng lại quay đi. Mình cứ cúi đầu nhìn xuống suối, các cặp vú mờ ảo rung rinh. Không thấy mình tỏ động thái gì, đồng bào lại lên tiếng: ôi cái bồ đồi be bé mắt nó lười hung, bồ đội bé bồ đội ít nước chớ, bồ đội to to nhiều nước chớ.
Đến lúc này thì mình vỡ nhẽ các cô gái đồng bào đang định lượng cái đàn ông của hai thằng mình. Họ rúc vào nhau, ngả nghiêng thẩm định. Một cô có cặp vú nghêng ngang nhất nói:
- cái bồ đội bé bé (nó chỉ vào mình) it ịt nước nó bắn phát một thôi. Cả ba cô phá lên ngặt nghẽo. Cô khác chỉ vào Chới: bồ đồi tò tò nó bắn liên thanh chớ. Rồi cả ba cô ôm lấy nhau cười choe choé, cười ngả nghiêng.
Đến lúc này thì tôi vùng đứng dậy xốc bao tải lên vai. Chới chạy theo. Vội đéo gì hả mày? nghỉ đã.
Mấy năm đánh nhau trong rừng. Rồi hoà bình ra về, mình cứ đôi khi nhớ lại chuyện bắn phát một. Mà quả thật mình chỉ bắn được thế. Có lúc quyết tâm bắn liên thanh thì nó lại tắc cú.

Xin tu xoa
02-05-2013, 11:20 PM
Đúng vậy Rồng xanh ạ. Đây là đại đội công binh của E 64. Thời điểm cuối tháng 5 và đầu tháng 6/1972 là thời điểm cả sức lực và lương thảo vũ khí của E đã cạn . Những trận đánh giằng co với E44 và E45 VNCH ở ngã ba Trung tín cách thị xã Kon Tum 3 km không mấy thắng lợi. ngày 5/6/72 trung đoàn được lệnh rút lui. Chiến dịch tiến công bắc Tây nguyên chấm dứt. Có thể rút lui trong điều kiện yếu thế rồi nên nhiều thứ vứt lại. Sau này anh Quản Bình về Củ chi là C phó, anh Khang cũng vẫn là chính trị viên phó.

Em khoanh đỏ khu vực thu được cuốn sổ, trên bản đồ Mỹ thị xã Kontum. Khu vực này có vẻ là 1 trại/ căn cứ phía quân VNCH.

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/Kqh-Map/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Map.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/Kqh-Map/2013050107007030F320-E64-C17-1972_Map.jpg.html)

litangu
03-05-2013, 10:03 AM
Rằm tháng bẩy năm ngoái. Buổi sáng tôi ngồi nhà. Có điện thoại: Tao đang ở Củ Chi thắp hương cho tụi chúng nó... rằm tháng bẩy họ đi Vu lan đông lắm. Tôi gác máy. Buồn. Tôi thắp hương cho đồng đội trên ti vi. Thế rồi viết:



Những bia mộ hiền lành

Những tấm bia trên những ngôi mộ rất hiền lành
Nguyễn văn..., Trần văn..., Ngô văn..., Lê văn... lặng lẽ
Cả những cái tên Nguyễn thị...
Phạm lan... Bùi thuý... cứ sát vào nhau

Các anh chị ở dưới đất nâu
Hài cốt đã hiền như đất
Những con người một thời oanh liệt
Oanh liệt xa rồi còn lại hư không

Không! những người đồng đội vẫn về thăm
Thì biết rõ các anh đâu có im lìm như thế
Khi ngã xuống súng bỏng ran như lửa
Mắt mở căng về phía kẻ thù

Phía sau những bia mộ hiền lành kia
Là những trái tim lửa cháy
Là những câu chuyện dài chưa kể lại
Là những cuốn phim về nhân phẩm con người

Những bia mộ lặng im kia là những con người
Hài cốt bạn tôi đã Hiền Như Đất
Chỉ có đất là biết những cuộc đời rất thật
Vu lan - Vu lan - vào thu

Nói gì với những tấm bia
Chữ nghĩa trên bia cần gì sang trọng
Vì đồng đội tôi đã sống
Oanh liệt một đời




Rằm tháng 7 /2012

litangu
04-05-2013, 09:54 AM
Cám ơn mod đặt cho tôi cái tên Tâm tình lính Tây nguyên này. Đúng thật ! mọi chuyện tôi có viết ra cũng chỉ là sự tâm tình về già của một người lính mà thôi chả có gì mới sất. Tôi tiếp tục chuyện với các bạn lính KQH đây.

... Lại tết rồi, nhớ đồng đội và tết Tây nguyên. Tôi lại nhớ người anh đồng hao của tôi đã mất. Anh cũng là lính 320A với tôi. Năm 1972 anh đang dậy cao đẳng Sư phạm tỉnh Phú thọ thì nhập ngũ. Chuyện trong nhà nhưng tôi đưa lên đây vì cũng là tâm sự người một thời là lính yêu thương nhau. Nếu đồng đội và các bác có đọc xin hiểu cho là "không phải tôi vạch áo cho người xem lưng" tôi biết ơn




Nước mắt thép


Nguyễn trọng Luân





Lạnh quá chừng. Hai anh em tôi co ro ngồi trong cái quán hàng ở dốc Hàng Than. Đống sắt lù lù bên canh lạnh ngắt.
Suốt đêm anh không ngủ.Tôi cũng vậy. Đốt thuốc lá rát cả mép, rì rầm nói chuyện nhoáng cái đã mười mấy năm. Ra khỏi chiến trường tôi lại là anh em cọc chèo với anh. Vừa là bạn chiến đấu, lại vừa là anh em. Bỗ bã thân tình như hồi ở lính Tây nguyên.

Anh trở lại trường cao đẳng sư phạm giảng dậy. Nay anh làm nhà, nhờ tôi xin giấy duyệt mua thép cho anh. Khó lắm. Dù mình là quản đốc phụ trách xưởng cán thép tận dụng. Thời ấy được thép tận dụng đã quí lắm rồi. Thép Liên xô mà nhà nào có là mối nguy chứ chẳng chơi. Hóa đơn đâu? mua ở đâu? chỉ có ăn cắp hoặc tham ô. Tù như bỡn. Từ trên quê xuống. Xách nải chuối cho cháu, giữa mùa đông mà mồ hôi tong tả. Tay bắt mặt mừng mà cứ hiện lên vẻ lo lắng, cái thứ lo lắng của người làm nhà mới, luôn nấp sau nụ cười gượng. Vợ tôi bảo, anh cố lên công ty xin người ta chiếu cố, với lại anh là cán bộ chủ chốt chắc là được. Chiếu cố. Chiếu cố cái con khỉ, đúng là lí lẽ đàn bà. Anh thì bảo, khó quá thì thôi. Cậu lại vì tôi mà khó ăn khó nói. Bữa cơm cứ vui gường gượng vì mối lo đang ở phía trước.

Hôm sau tôi lên gặp Giám đốc công ty. Hồi ấy, Công ty tôi chuyên tái chế phế liệu. Buôn bán cũng từ đồ thứ liệu. Buôn đồng nát lãi quan viên. Nhưng chết vì cái anh cơ chế nhiêu khê kìm hãm nên tư nhân thì họ làm được mà nhà nước thì lại không nên trò trống gì. Khó khăn đây. May sao gặp luôn cả trưởng phòng kinh doanh ở đó. Nghe tôi lâm li trình bầy, Giám đốc nói thật nhẹ. Anh Triển làm sao nghiên cứu giúp đỡ cán bộ của mình, sao cho... có tình hợp lí. Anh trưởng phòng trẻ cười rất tươi. Anh sang phòng tôi ta bàn.
- Thế này anh ạ. Anh biết đấy, giám đốc là ưu tiên anh lắm, chứ thép bán ra ngoài là khó
- Vâng tôi biết. chợt nghĩ trong đầu, giám đốc giao quyền cho trưởng phòng thì tất cả mấu chốt là ở đây.
– anh cố gắng giúp tôi, chả gì cũng có chút công lao để gia đình bên vợ trông vào. Trưởng phòng cười. Đấy đấy quan trọng chứ, trai nhà quê lấy vợ Hà nội mấy khi được dịp…

Trưởng phòng nhìn qua ô cửa sổ, đôi mắt thật xa xăm tay xoay xoay chén nước. Lúc ấy tôi nghĩ hắn cũng đang bâng khuâng như mình, cũng đang đặt hắn vào địa vị của tôi. Bỗng có tiếng chân bước ngoài cửa, trưởng phòng vội nói lớn:
- Tình hình quí này xưởng anh phải thật cố gắng, nếu không anh sẽ bị cắt thi đua đấy.
Tôi giật mình, thôi chết, hỏng mất rồi, sao hắn lại chê trách mình vào đúng lúc này. Tiếng chân người đi xa. Khuôn mặt trưởng phòng trở lại như cũ. Tay lại nâng lên rồi hạ xuống chén nước chè nguội.
- Giá thép bây giờ công ty xây dựng là bao nhiêu nhỉ, anh biết không ?
- Tôi biết.
Trưởng phòng lại đẩy chén nước về phía tôi.
- Tôi không lấy giá cao hơn, anh hiểu chứ ?
- Dạ tôi hiểu.
Nhìn quanh hồi lâu, rồi hạ giọng. Trưởng phòng bảo:
- Hai ngàn sáu, nhưng duyệt hai ngàn, anh lấy ba tạ hả.
Vâng anh giúp cho ba tạ. Tôi lập bập sướng run lên khi ra về còn nghe Trưởng phòng với theo mai lấy hả, anh lên lấy phiếu chỗ tôi.

Đêm ấy nói với vợ, họ duyệt hai ngàn một kí là hóa đơn chỉ ghi hai ngàn thôi. Nhưng giá hai ngàn sáu là mình phải nộp đủ, sáu ba là mười tám, mười tám nghìn nộp ngoài. Vợ giật nẩy người. Khiếp. Hai cái ti vi đấy. Nhà thì vẫn đang ở nhẩy dù, com cóp đến bao giờ, xin xỏ đến bao giờ mới có chỗ chui ra chui vào. Anh chị ấy còn hơn mình chán ra ấy chứ. Nhìn khuôn mặt vợ tôi đến là thương. Cô ấy đúng chứ có sai đâu. Nói rồi, vợ tôi đứng dậy kéo cái chăn dù bộ đội cũ của tôi đắp thêm cho hai đứa con. Cái chăn luôn bị hai thằng con đái dầm khai nức nở, lẩm bẩm, cái chăn len còn chả có cho con. Rồi hắn nói như nói cho mình, kiến giả nhất phận, tôi đây này lấy chồng nghèo có dám xin gì của bố mẹ đâu, anh đâu có biết tôi kém bè kém bạn thế nào. Đến lúc này tôi không kìm được nữa giật phăng cúc áo tụt cánh tay nhằng nhịt sẹo chìa sát mặt vợ, đừng nói nữa, cô nhìn đây, anh ấy cõng tôi hàng nửa ngày trong bom đạn để bây giờ tôi còn ngồi đây với cô trong cái căn nhà nhẩy dù này, tôi lấy tiền chênh của anh ấy hay sao. Mạng sống còn chả tiếc vì nhau mà… mình nỡ quên… à

Ngồi phịch xuống giường. Tôi như người đeo ba lô leo dốc ngày nào muốn thở thật mạnh mà không thở được. Phía đuôi giường vợ tôi ngồi dấm dứt.

Trong tôi hiện về mùa mưa năm 1973 Tây Nguyên. Nước sông Pô cô gầm thét, mấy chiếc bè chuối chở thương binh bị lật giữa dòng thác… Hồi ấy, đơn vị lật cánh về Gia lai. Một mùa hè bom đạn tàn khốc vừa qua, lính tráng như người vừa trong trận lụt mới lên, lao vào củng cố bám địch và tác chiến ở địa bàn mới. Tôi và anh cùng bổ sung về F320A. Chui trong cái hầm ẩm xì xì suốt mùa mưa năm ấy. Anh thương tôi, anh cứ như bà chị cả lo cho em. Những đêm giữ chốt hay những lần bám địch giành dân hay những lúc ngừng tiếng pháo anh mò đi kiếm cái ăn rồi ca cóng, và bao giờ cũng cứ luôn mồm ăn đi em, ăn để hoàn thành nhiệm vụ mà trở về đi học. Những lúc nghe anh nói vậy cứ như mình đang ở nhà, có bà chị cả đang dỗ dành các em.

Nửa đêm, anh thì thầm. Này, ngày xưa nếu mà chú chết ở trận đồn Tầm thì bây giờ tớ cũng chẳng có ai mà nhờ mua thép đâu nhỉ. Vớ vẩn, em mà ngoẻo rồi biết đâu anh lại có thằng em đồng hao oách hơn thì sao, nó lại là người Hà nội nữa thì tha hồ mà khoe với người trên quê. Anh lại bảo, vài năm đi đánh nhau với giặc bọn mình về thấy lớ ngớ bỏ mẹ. Lớ ngớ là thế nào ? em vẫn sống nhăn răng ở thủ đô đấy thôi. Anh thở dài, nhưng chú cũng khổ, cũng như anh thôi sướng gì đâu. Anh sờ sờ lên những cuộn sắt ngay dưới đít mình. Sương lạnh, những cuộn thép ươn ướt như mồ hôi trong đêm …

Sáng sớm, anh theo tôi lên nộp tiền lấy hóa đơn. Anh chào hỏi nhân viên thật lễ phép. Thật đúng là người mô phạm. Lúc ở chỗ trưởng phòng ra, tay cầm hóa đơn thấy vẻ mặt anh xúc động, tôi nghĩ chắc xong được cái phần việc khó khăn này nên anh mừng đó thôi. Chứ anh làm sao biết cái vụ tiền chênh tiền lệch kia đâu. Hai anh em đẩy cái xe chất những cuộn thép to bằng cái thúng ra ngoài cổng (thép cán tái chế hồi 86, 87). Anh dừng lại mời anh bảo vệ điếu thuốc, mồ hôi lăn trên gò má nhô cao sau những ngày san nền tô vôi gánh cát.

Trời Hà nội về đêm thanh thản thế. Gió sông Hồng mùa lạnh tràn qua bãi An Dương Phúc Xá dàn dạt vào trong phố. Cái quán hàng chè chén đầu dốc Hàng Than giống như cái cây cổ thụ đỉnh đồi lúc độ đường.

Này, một dạo chú đi học trường chính trị sao lại đi làm phế liệu. Ồi dào học thì học thế chứ ai học trường đảng cũng làm to cả ai làm dân làm việc nhỏ. Học mà biết cách làm của đảng chứ, ai chả phải học, thế anh không học à ? Lặng im, anh hút thuốc. Lại này, lúc ở Tây nguyên chú được cử đi học sĩ quan sao lại không đi ? Em thích về học đại học ở trường cũ hơn, ở đâu ra đi thì nỗi nhớ về nó nặng nề lắm. Ừ, chú cũng đa cảm, mà anh nào đa cảm chả sung sướng gì đâu, chả làm to được đâu.

Cả đêm, hai anh em cứ nhìn vào đống thép to lù lù đợi sáng ra có xe tải của chú em trai đưa công nhân đi thi tay nghề về chở hộ. Những cuộn thép lạnh ngắt, sương rỏ từng giọt hình vành khăn.

Anh làm nhà xong, ngôi nhà anh tự thiết kế, choãi chân như người đàn bà ngồi bế con. Cũng chát vôi quét ve màu chỉ chừa cái tum để mộc như người đàn bà mặc áo đẹp, nhưng mái tóc để nguyên như gái nhà quê. Để nguyên như thế đến bây giờ.

Vài năm sau anh mất vì ung thư. Con cái anh chưa đứa nào yên bề. Chị tôi đã vất vả nay càng tất tưởi hơn. Từ Hà nội có về thăm chị vài tiếng đồng hồ lại đi chỉ thêm tội cho chị chạy cơm chạy quả gửi cho cháu ở thủ đô. Câu chuyện tiền vênh của anh, tôi thì đã quên và quả thực thương trường thời mở cửa nó cuốn đi ào ào, chuyện gửi giá chia chác trong hợp đồng kinh tế nó ngang nhiên như cỏ mọc trên đê vậy. Đôi lần vợ tôi kể lại chuyện đó với vẻ mặt thiu thiu buồn.

Thoáng cái đã hơn mười năm. Anh đã yên phận, về nằm trên ngọn đồi gần trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh. Con trai con gái tuốt tuột làm nghề giáo như anh. Đứa nào cũng ngoan. Ngôi nhà cũ của anh bây giờ đứng nép bên những ngôi nhà bề thế xanh đỏ cạnh một cái tháp nước cổ xưa, hiền lành, nhỏ nhắn nhưng dễ ưa hơn những ngôi nhà kề bên.

Trước tết, vợ chồng tôi bỗng nhận được điện thoại của chị. Chú Dì về chơi tôi muốn nói chuyện. Chả biết có việc gì mà chị gọi về lúc này. Một công đôi việc, chúng tôi về mang chút quà tết cho chị luôn, thế là vợ chồng khoan thai dáng vẻ người thủ đô về tỉnh.

Tối, cơm nước xong chị thắp hương lên bàn thờ anh. Lạ quá. Vợ chồng tôi nín thinh.
Chị nghẹn vài lần mới nói được.
- Lúc anh mất có dặn chị, khi xưa chú mua thép đã phải bỏ ra mười tám ngàn tiền chênh nộp cho anh. Chú không nói nhưng anh thì biết, anh không muốn làm chú buồn nên lặng im…
- Chị lại nghẹn
-… với lại… lúc ấy anh chị túng lắm, chú giúp cho, anh biết ơn chú lắm. Nhưng anh bảo anh mất rồi chị gắng sau này phải trả cho chú dì.
…Tết sắp đến, chả muốn kéo thêm năm nữa… thôi thì chú dì nhận cho... anh… đỡ áy náy...

Tôi quay sang vợ, nước mắt đầm đìa trên má. Ngước tránh lên trần nhà nơi những mảng vôi tróc lở như những đồng xu, dấu tích của cốt bê tông kém chất lượng một thời.

Nhìn lên di ảnh của anh, khói hương lơ mơ thanh thản, thấy hiện về một thời nằm hầm đánh giặc ở Tây nguyên khổ tận cùng mà ấm áp tình người. Lại hiện về một đêm ngồi bên đống thép trên đầu dốc Hàng Than. Sương đọng trên những cuộn thép nhấp nhính như nước mắt. Nước mắt thép.

litangu
05-05-2013, 08:51 AM
Lỡ bước sang ngang


Ở chiến trường Tây Nguyên hầu như năm nào tôi cũng dính một trận sốt rét rất nặng. Ngoài ra cứ mỗi tháng đều bị một trận sốt thông lệ. Mà lạ lắm, sốt rất đúng kì, y hệt người phụ nữ đến tháng vậy. Thuốc phòng đâu có dư dả gì nên liều thuốc “phòng ba“ đều để giành còn sốt thường kệ cha nó, chán rồi khỏi. Lính tráng hỏi nhau mày cắt cơn chưa? bao giờ cắt? Tây nguyên sốt rét triền miên. Sốt rét như bình minh và hoàng hôn đó thôi. Thời đó lính có câu: ăn B2, ngủ B3, vào ra B4.

Các bố lính cũ giải thích: ở B2 ăn uống sướng hơn, B3 sốt rét nhiều quá ngủ li bì, còn B4 đánh nhau kiểu cơm Bắc giặc Nam nên vào Nam ra Bắc như đi chợ.

Mùa mưa thì bệnh viện Trung đoàn hay Sư đoàn đầy ứ lính sốt rét. Cứ vài ngày lại có chú ác tính. Sợ vãi linh hồn những chú lính chết vì ác tính. Mà hồi ấy hay ác tính thế kia chứ. Thầy thuốc bảo thể lực yếu quá dễ ác tính. Mình lo ngay ngáy, vì nghĩ mình gầy gò quắt queo thế này thằng ác tính nó sờ lúc nào chả được. Có điều, mình kể lại chuyện này đồng đội đừng cho là mình bậy bạ nha! Những anh chết vì ác tính sốt rét không hiểu sao cái nòng súng ngắn cứ lại vươn ra và nhả đạn. Chịu chả hiểu được. Mấy thằng ĐH y khoa thì gật gật gù gù ra vẻ hiểu nhưng hỏi thì chả thằng nào trả lời. Mình đành im đến mãi bây giờ.
Nhưng chuyện hôm nay kể ở đây thì cái lí do chính không vì súng ống nhả đạn của mấy chú ác tính khi xưa mà vì một bài thơ, bài thơ mà tôi thuộc ở lúc nằm viện trung đoàn ở bắc đường 19 năm 1973.

Khi đi B, cuốn nhật kí của tôi chép ở trang cuối bài thơ: Tống Biệt hành của Thâm Tâm còn trang đầu thì lại là bài Đêm sao sáng của Nguyễn Bính.

Trong lán bệnh binh tôi nằm có một anh cứng tuổi làm anh nuôi ở C5 tiểu đoàn tôi tên Lan. Anh ấy người Nam Hà. Có hôm tôi hỏi anh ở nhà làm chủ nhiệm HTX rồi mới vào bộ đội à? anh ấy nói ngay: tao làm cái việc còn hơn cả chủ nhiệm HTX nhà mày. Tôi không hiểu, lâu lâu anh ấy bảo tao dậy cấp hai. Chủ nhiệm HTX thằng nào cũng chỉ học đến cấp hai thôi. Tao là thầy của chúng nó. Tôi và mọi người phá ra cười. Một hôm thấy tôi hí húi viết nhật kí, anh ấy bảo đừng có kể chuyện chết chóc vào đó nhé, hỏng cả sách vở đi đấy. Mẹ kiếp! có mấy đứa viết thư về nhà rồi viết nhật kí toàn viết chuyện ác liệt đì đòm chết chóc. Đi đánh nhau thì đương nhiên chết chóc, mà chết chóc là công việc của lính chiến có gì phải kể. Tôi nghe anh nói chéo ngoe vậy nên dừng bút không viết nữa. Anh bảo: đưa tao xem cái. Miệng nói tay kéo cuốn sổ của tôi mồm ờ ờ chữ được đấy. Anh lật trang đầu có bài Đêm sao sáng rồi lẩm bẩm bài thơ này thuộc dạng xoàng của Nguyễn Bính. Nói rồi anh đưa trả tôi cuốn sổ, mắt nhìn ra ngoài rừng mưa thum thủm. Nói một mình... Trời mưa ướt áo làm gì...

Đột nhiên anh hỏi tôi mày biết nhiều về Nguyễn Bính không? dạ em biết ít thôi ạ.
Anh bảo mày thấy bài nào hay nhất? Chịu, nhiều bài hay lắm nhớ sao xuể.

Thế mà cũng đòi học đại học. Anh nguýt dài. Tôi ngoan ngoãn ngồi nghe anh nói về thơ Nguyễn Bính. Bên ngoài trời Tây Nguyên mưa dỉ dả. Pháo địch vẫn thì thùng lúc gần lúc xa. Mấy thằng sốt rét môi thâm tái như xác đỉa chết nắng nằm im thin thít nghe người lính anh nuôi giảng thơ Nguyễn Bính.

Bây giờ tôi không nhớ là anh nói bao nhiêu lâu trong cái ngày hôm ấy, tôi chỉ biết rằng mãi cho tới về sau tôi chưa thấy ai bình bài thơ Lỡ bước sang ngang hay như anh Lan đã từng nói với tôi trong một ngày mưa chiến trường.

Anh khóc: ... Mười năm gối hận bên giường
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh
Mười năm đưa đám một mình
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên
Mười năm lòng lạnh như tiền
Tim đi hết máu cái duyên không về ......

Anh bảo chúng mày có hiểu cái nỗi lòng của người đàn bà sống bên người mà mình không có tình yêu nó khổ thế nào không? Dạ chúng em chịu không biết. Anh vừa lau mắt vừa lườm chúng tôi: đúng là... là đồ thằng Mục.

Rồi anh tiếp: Lấy chồng rồi mà thân phận người con gái day dứt đến nỗi: ... Hồn trinh ôm chặt chân giường / đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây. Khổ không?

Tôi hỏi anh: Sao lấy chồng rồi mà vẫn còn trinh? anh lườm tôi. Thì có yêu đâu mà chả vẫn trinh, mà trinh là cái hồn trinh thôi chứ cái trinh thật thì... thì ai mà biết được, rõ hãm.

Chúng tôi im lặng, chúng tôi nghe và nhớ lõm bõm hiểu lõm bõm bài thơ còn anh, anh nhìn đăm đắm ra ngoài rừng, cái người đàn ông ngoài ba mươi như anh chứa đựng nhiều uẩn khúc lắm đây. Tôi nghĩ thế. Vài ngày sau, tôi thuộc làu bài thơ dài ấy. Chiến tranh kết thúc anh về quê, chả biết có đi dậy học tiếp nữa không? hay lại làm ông thợ cầy. Tôi cứ hình dung những buổi tối mùa đông ở vùng quê Nam Trực – Nam Định ấy có một ông già CCB ngồi hút thuốc lào đọc bài thơ Lỡ bước sang ngang với mấy ông bạn già cùng lính B3 một thời xa lắc. Lúc ấy, ông Lan có nhớ thằng em Luân đen này không?


NTL

litangu
06-05-2013, 10:32 AM
Mẹ ơi! Đêm nay lạnh lắm

Suốt gần bốn mươi năm tôi cứ nhớ cái khuôn mặt thằng Hạnh người Thanh Ba, Phú Thọ, lính tân binh bổ sung về tháng 12/74. Cùng quê “Xin Xà phòng“ nên anh em thương nhau lắm. Nó tặng tôi cuốn sổ tay mang từ miền Bắc vào, bảo rằng để anh làm thơ rồi đọc cho tụi em nghe. Gầy leo heo, da nứt nẻ vì bùn dộc. Nó bảo ở Quảng Nạp quê em toàn ruộng lầy thôi, ăn rau bộp, rau đùi ếch vàng cả răng. Tôi run run nhớ quê mình. Quê tôi cũng thế nhưng tôi ít nói ra. Thằng Hạnh còn dũng cảm hơn tôi nhiều, quê nghèo thì đâu có tội gì đến chúng tôi?

Cho tới lúc ấy chúng nó cũng đã được nếm hai trận rồi. Nhìn những khuôn mặt tân binh chả còn thấy vẻ ngu ngơ và háo hức nữa. Bom đạn đã trát lớp phấn son màu chì lên môi má những chú lính sinh năm 1956 nhà quê. Tuần trước, lúc hành quân trong cánh rừng sát Buôn Hồ nghe con Công đất kêu như tiếng bà già: hưc hù hực có đứa còn suýt tè ra quần. Bây giờ thì thằng nào thằng nấy khôn như rận. Chiến trận nó dậy con người hơn bất kì một giáo trình khoa học và một trường lớp tiên tiến bậc nhất thế giới. Lớp tân binh đã vơi đi vài đứa. Tháng Ba Tây nguyên lắt lẻo trong và hoa Cà phê cứ nưng nức suốt một tuần đuổi giặc.

Chúng tôi đã đánh xong Buôn Hồ hôm qua. Chiều nay hành quân xuôi về hướng Ban Mê Thuột. Cấp trên bảo chúng ta sẽ đánh Cư Pao, chặng đường còn 14 km nữa. Chiều hành quân. Qua Hà Lan 1 rồi đến Hà Lan 2. Họ bảo đây là đèo Hà Lan. Nghe cái tên đẹp như tên con gái, lại nghe lệnh truyền: đây là khu nguy hiểm tuyệt đối không tự ý đi vào dân cư (?). Cắm cúi đi, lấm lét nhìn người ngợm cũng vẻ hiền lành nấp sau những vườn cây ven đường 14. Chập tối đến đèo Hà lan. Tôi gặp thằng bạn thân ở quê vác 12 li 7, hai thằng đi xoắn vào nhau. Mới kể được vài chuyện về mấy đứa bạn gái ở quê thì bị tách ra ngay vì D16 nó tạt lên ngọn đồi cao bên cạnh chân đèo. Nó đi rồi tôi nhìn thấy bức tường nhà đổ sập từ lâu có dòng chữ hệt như tấm áp phích quê tôi hay viết “5 tấn thóc 2 đầu lợn trên một héc ta gieo trồng“. Chỉ có khác dòng chữ này mốc thếch từ lâu: Nơi đây, tội ác của Việt cộng Mậu Thân – Rùng mình! Khu này hẳn là một nơi khó nhằn.

Chả ai dám vào dân xin nước, chả ai cười nữa, và từ lúc ấy tôi cảm thấy những cặp mắt người dân ven đường nhìn chúng tôi dò xét, sau này nghĩ lại mắt họ nhìn chúng tôi cũng có hình viên đạn. Đang lên đèo có lệnh dừng lại. Dừng là sướng. Mệt lắm rồi từ 5/3 tới nay 11 ngày không ngủ muốn lăn ra đất mà ngủ mà rúc đầu vào một bụi cây, chỉ cần dấu kín cái đầu thôi mà ngủ mà quên hết chiến chinh, quên hết lý tưởng. Hữu khuynh thế! Lại bật cười với mình. Đại đội bộ binh chiếm lấy những điểm cao trên đèo. Xê chủ công của tôi leo lên một ngọn đồi cà phê cây còn nhỏ. Leo mãi leo mãi, thở phì phò mũi vẫn ngửi thấy những chùm hoa cà phê trắng muốt non tơ nồng nồng thơm. Lên đỉnh đồi hạ ba lô bố trí mũi này mũi nọ rồi chả thằng nào đào hầm nữa trải cái áo mưa nằm dưới tán cà phê thưa thếch thoác. Trăng lên. Lúc này chợt nhận ra chả nhìn thấy ngọn đồi nào bên cạnh chỉ thấy một màu trắng đục. Lạ quá! Thấy rùng mình vì lạnh. Ban nãy không lạnh vì đeo ba lô súng đạn bây giờ khí lạnh cứ tràn về cay cả mắt, tấm ni lông ướt dườn dượt. Thế mà lính đã ngủ, ngủ dưới sương mù mịt. Tôi đi vòng quanh tiểu đội. Chỉ thấy thằng Hạnh còi là chưa ngủ, nó bấm cái đèn pin cổ ngoéo viết nhật kí. Tôi nhòm vào thấy nó viết được một dòng: "Mẹ ơi đêm nay lạnh lắm..." Nó giật mình ngước quay lên. Tôi bảo ồi! Em ngủ đi - chưa biết kế hoạch hành quân ra sao nhưng cố mà lấy lại sức. Nó vâng… à anh ơi liệu mình có thắng không? Tôi bảo anh cũng muốn thắng lắm chứ, thắng để còn về. Nó cất cái đèn pin và cuốn nhật kí rồi ngoan ngoãn nằm xuống cỏ. Sương mù mịt trên đầu chúng tôi. Cao điểm lặng như tờ. Lính ta mệt quá.

Đêm ấy sao mà lạnh thế. Sương rơi mà như thể mưa phùn. Phía Ban Mê Thuột vẫn có tiếng pháo nổ và trong đêm vẫn thấy tiếng máy bay ì ì. Sáng, mặt trời lên, sương xám chuyển màu bạc trắng rồi tan. Bộ đội nhìn nhau thằng nào cũng ướt từ đầu trở xuống, súng đạn lạnh ngắt, mắt cán bộ đỏ kè. Tiếng đạn nổ, tiếng đại bác dồn lên phía Cư Pao. Chúng tôi hối hả hành quân chỉ kịp mỗi người nhận một nắm cơm vắt to như quả cam.

Chiều ấy đánh xong Cư Pao, đêm ào vào Đạt Lí đánh xong rồi lộn trở về Buôn Hồ, 17/3/75 chúng tôi hối hả lao về Cheo Reo rồi suốt tháng 3/1975 đánh tràn đường 7 ra Tuy Hòa, 24/3/1975 thằng Hạnh hi sinh trận đánh xe tăng trên phía ngầm Củng Sơn. Lính tân binh đợt ấy lại vơi đi một số. Mỗi lần tụ quân về đi trận khác tôi lại mất đi vài thằng đồng hương, những thằng em thật hiền mới học đến lớp 10 ngày ấy. Đến 29/4/75 trận cuối cùng cái lứa tân binh nhập ngũ 29/4/1974 ở quê tôi tổn thất hơn nữa. Hai chục đứa nằm lại ở cánh đồng Tân Phú Trung nơi bây giờ có con đường xuyên Á chạy qua. Nắng lại thật vàng. Hàng bằng lăng trên những con mương lại ngăn ngắt hoa tím bập bùng. Bao năm sau chúng nó kỉ niệm ngày nhập ngũ 29/4 cũng là ngày cúng giỗ mấy chục đứa. Năm nào tôi cũng về, năm nào tôi cũng thấy lấp lóa đồi cọ quê mình nắng nhẩy chập chờn trên lá cọ xòe, tôi lại nhớ nắng trên đồng Củ Chi có hoa bằng lăng tím và nắng tháng ba Cao nguyên bụi đất đỏ ngầu.

Ba mươi tám năm sau. 25/4/2013 tôi trở lại đèo Hà Lan. Tài xế người Ban Mê Thuột thấy tôi bảo dừng ở đèo Hà lan liền nói: dừng ở đèo lạnh hả ông? Tôi ừ. Xuống xe bỗng rùng mình. Lạnh quá! Sao lại thế này? Đang nắng cơ mà? Tài xế bảo, ông ơi ngọn đèo này là đèo sương mù, đèo lạnh mà ông. Chỉ có khúc này thôi ra khỏi đây lại… không lạnh nữa. Tôi ngước lên ngọn đồi cao bây giờ đầy kín là thông. Những cây thông to như cột nhà tán thật đẹp. Tôi nhận ra ngọn đồi cà phê đêm 13/4 tôi đã nằm. Chợt nhớ khuôn mặt thằng Hạnh và nhật ký nó viết dở "Mẹ ơi đêm nay lạnh quá..."

Tôi gọi Hạnh ơi!
Sương mù rơi trên tóc. Tôi cũng lạnh.

Sáng 6/5/2013 NTL

litangu
07-05-2013, 03:51 PM
http://i148.photobucket.com/albums/s18/cuikho300/IMG_9703_zps14cca06d.jpg
(http://i148.photobucket.com/albums/s18/cuikho300/IMG_9703_zps14cca06d.jpg)

Litangu up ảnh lên mà không được / tangu quá

litangu
08-05-2013, 09:25 PM
Đèo Hà Lan - Lúc gần trưa ngày 24/4/13


http://i148.photobucket.com/albums/s18/cuikho300/cua anh Luan/IMG_9594_zpsf0b403bd.jpg

litangu
08-05-2013, 10:59 PM
Quà tặng của người lính trước lúc hi sinh

Ghi chép của Nguyễn Trọng Luân

Tôi chưa từng nghe thấy chuyện tương tự như thế này ở đơn vị tôi hay đơn vị bạn những ngày tôi ở chiến trường Tây nguyên. Dù là những người lính chiến đấu nhưng chưa từng phải nằm phẫu nên khó hình dung ra nổi. Chuyện được kể lại chính là người trong cuộc nên tôi cứ chép lại mà không ngần ngại. Hơn nữa tôi rất tin những người đồng đội đã từng đánh nhau ở chiến trường K này.
Cữ đó chắc 1981. Sau Giải phóng Nông pênh. Đây mới bắt đầu là chuỗi ngày gian khổ cho cuộc chiến ở đất Miên này. Ác liệt, thiếu thốn, dai dẳng. Kẻ địch thì như ma quỉ khiến chiến trường đã ác liệt lại càng ác liệt dai dẳng hơn. Thôi thì về chuyện chiến đấu ác liệt đã có anh em tham chiến kể nhiều và đang tiếp tục kể. Tôi xin phép không nói tới ở đây.

Đội điều trị sư đoàn rất nhiều nữ y tá làm việc căng thẳng không kém ngoài trận địa. Thương binh nhiều. Nước nôi thiếu, thức ăn cho thương binh khan hiếm. Họ phải làm đủ mọi việc của người quân y chiến trường lại còn làm cả việc đi kiếm thức ăn, đào giếng, khiêng nước và đặc biệt là chăm sóc thương binh. Lính Pôn pốt luôn rình mò tập kích khiến những người lính quân y cũng luôn ở trong tình trạng chiến đấu. Những người y tá sư đoàn vừa làm em, vừa làm chị vừa là đồng chí của những chiến sĩ bị thương về đây. Có những hôm thương binh đưa về nằm chật sân khu phẫu. Nhiều người đã chết trên đường chuyển thương. Có người tắt thở mà vẫn còn hơi ấm. Mấy nữ y tá vừa khóc vừa đặt tay lên mũi thương binh hy vọng đồng đội mình vẫn thở, vẫn còn sống. Rồi cho dù biết là người đồng chí thân thể còn hơi ấm kia đã tắt thở họ vẫn đổ nước, bón thìa sữa, hà hơi hy vọng mong manh cho đồng đội mình sống lại. Đã có trường hợp bộ phận chính sách bị các nữ y tá níu lại không cho mang xác tử sĩ đi vì họ tin là những người đó sẽ sống. Mười tám, hai mươi tuổi vừa rời xa cha mẹ, vừa rời trường phổ thông TH ở Sài Gòn, thế mà những người con gái kia đang làm thiên chức hai hay ba trong một.

Sống liên tục hàng mấy năm trời trong tình trạng chỉ tiếp xúc với đau đớn chết chóc, mổ xẻ máu me. Tiếp xúc và nhìn thấy hàng ngày đồng đội của mình sắp tắt thở. Những người lính quân y tiền phương phải có lòng nhân hậu lớn lao và khối thần kinh thép. Nhưng với những thương binh thì các cô gái kia là thiên thần áo trắng, là sự dịu dàng mang hình bóng người em, người chị, người mẹ ở quê hương.
Người nữ y tá bây giờ đã ngoài năm mươi tuổi nghẹn ngào lau nước mắt:
Chiều hôm ấy, không khí đội điều trị im lặng thế. Một chiến sĩ chừng hai mươi lăm tuổi khe khẽ gọi tôi:
- Em ơi!
Tôi ngạc nhiên vì qui định ở đội điều trị chỉ được gọi các thầy thuốc là đồng chí. Tôi bảo
- sao lại là em? tôi là đồng chí.
Người thương binh ấy nhẹ nhàng:
- Không. Tôi gọi em là em. Em lại đây anh nói với em điều hệ trọng.
Trong ráng chiều thê lương ở miền đất lạ này nghe như thế tôi bỗng giật mình, trong tôi như có một linh tính xấu. Tôi ngồi xuống bên người thương binh ấy.
- Anh không biết tên em. Cũng không biết quê em ở đâu. Nhưng tất cả các em gái y tá ở đây đều là người đáng yêu và khâm phục... Anh ở xa lắm, em không biết đâu, tận đồng bằng miền bắc kia. Anh sắp chết rồi...
Tôi ngắt lời anh ấy:
- Không đồng chí không chết! các bác sĩ sẽ cứu sống đồng chí.
Anh ấy lắc đầu nhẹ nhàng :
- Anh tự biết anh sẽ chết. Anh có người yêu ở quê, anh đã chuẩn bị món quà tặng cho cô ấy nhưng mà... bây giờ...
Anh nghẹn giọng nước mắt lăn trên má. Tôi lau nước mắt cho anh vuốt mái tóc loà xoà trên trán dinh dính mồ hôi. Anh lại tiếp :
- Sẽ chẳng bao giờ trao được gói quà này cho người anh yêu, thì anh... anh phải trao được món quà cho một người con gái nào đó trên cõi đời này. Em là người con gái nhận quà cho anh, ... cho anh yên lòng mà nhắm mắt.
Trời ơi, tôi khóc lúc nào không hay. Anh nắm tay tôi:
- Em đừng khóc, các em có quyền sống hạnh phúc.
- Không, anh ơi em không thể nhận quà của anh được.
Anh nói như người anh trai của tôi:
- Ngoan nào! Em phải làm thế anh mới yên lòng. Gói quà anh đã để riêng cạnh ba lô đây.
Tôi nức nở. Anh thiếp đi, mặt anh thật thanh thản.

Bẩy giờ tối anh ấy ra đi. Tôi báo cáo việc này với tổ y tá và lãnh đạo. Cả tổ ai cũng run run khi mở cái gói quà của người liệt sĩ. Hai bộ đồ lót phụ nữ mới tinh được gói buộc thật kĩ lưỡng. Tất cả chúng tôi oà lên khóc. Chúng tôi không thể tưởng tượng ra được người con gái ở một vùng quê miền bắc ấy lúc này ra sao, có biết là anh ấy đã hy sinh không? và trước khi tắt thở người liệt sĩ ấy nghĩ về chị ấy rất nhiều hay không?

Ba mươi năm rồi, người yêu anh ấy chắc đã lên bà ? Ngần ấy thời gian sau chiến tranh hài cốt của anh đã được đưa về nước chưa?

Lời cuối chuyện: Tôi chỉ được nghe một nữ y tá D23 - F5 QK7 kể đến đó. Người y tá này hiện đang sống và công tác ở thành phố Hồ Chí Minh.

litangu
09-05-2013, 10:36 AM
Nó là Bạn tôi

Vài năm nay, tôi và nó không hay tụ tập mỗi chiều nữa. Cùng trong thành phố nhoáng nhoàng gọi nhau, nhoáng đến với nó rồi lững thững ra về. Ngày lễ quân đội, ngày thành lập đơn vị cười rổn rảng ôm lấy nhau, nắm tay nhau giật giật nó như là con người khác, nó trẻ phơ phớ nó hỏi thăm những thằng bạn trong rừng từ cái hồi ở Gia lai. Đã có lần tôi thấy nó vừa khóc vừa giở ví lấy vài trăm đưa biếu vợ một người liệt sĩ còi cọc ở quê lên dự gặp mặt trung đoàn.

Một lần hai đứa ngồi bia Hiếu béo. Trong nhốn nháo khua khoắng chân tay của quần chúng xung quanh nó bảo: mày nhớ tối hôm lấy được cái ghi ta ở Buôn Hồ không? đêm ấy rút về chui trong rừng cà phê tao và mày tranh nhau cây đàn rồi giận nhau… Ừ nhỉ gần bốn mươi năm rồi hai ông già ngồi bên nhau mày mày tao tao khiến mấy Hot gilr vê mắt ngược lên nhìn. Nắng nhoa nhóa ngòai đường Xã Đàn xe cộ hun hút tụt xuống hầm Kim Liên như cố quên bụi bậm của đời.

Đánh giặc bốn năm rồi về. Khỏi phải nói cái phơi phới tuổi trẻ lúc ấy. Hai mươi lăm tuổi vào học năm thứ tư. Hai mươi sáu ra trường. Nó yêu cô sinh viên Cao đẳng thương nghiệp người Trùng Khánh xinh như mộng. Cái tên cô ta cũng xinh. Hoàng Vi Son. Nó tên Tiêu yêu cô Son. Bao nhiêu cuộc trà lá ở trường trước khi bảo vệ đồ án về cái sự thằng Tiêu yêu cái Son. Nào là Tiêu là tiêu mất Son, nào là tiếng sáo trên núi nghe réo rắt mà gần cũng như xa (Chúng nó bảo Tiêu là sáo còn son tức là sơn là núi). Nó ngồi nghe mà mắt cứ long lanh. Tôi biết nó đang tự hào về Son và yêu cái Son lắm. Cưới nhau rồi cái Son bán hàng thương nghiệp còn nó làm kĩ sư, những năm 80 thế là quá ổn. Tôi từ Hà nội lên, thời ấy đói kém mỗi khi về cái Son mua biếu ông bà già yến mì sợi. Xách cái bao mì lên tàu nhìn vợ chồng nó vịn vai nhau đứng dưới ga ngực cứ nghèn nghẹn chợt nhớ cái đêm ở Buôn Hồ tôi giằng cây đàn ghi ta đẩy nó ngã vào gốc cà phê. Nhoáng cái đã mười mấy năm.

Chúa đã cho con miếng bánh mà chúa lại còn đòi lại một tí. Trên cao chúa đứng vời vợi phán câu công bằng. Thượng đế cũng thế. Thượng đế bố thí và san sẻ yêu ghét cho nhân gian nhưng nhiều khi Thượng đế cũng lầm lẫn đến nỗi yêu kẻ này ghét người kia. Hai đứa con trai mới học đến cấp ba thì Son đổ bệnh. Bệnh gì đó tôi không hiểu chỉ thấy Son đang xinh đẹp mặn mà bỗng rúm ró gầy quắt đi và khuôn mặt thiếu phụ biến thành mặt bà già 70 tuổi. Nó đang làm chánh văn phòng ủy ban, chiều về nước mắt rơi từ ngõ, lao vào buồng vợ khóc tu tu. Bà già Son ngơ ngác, rồi héo hắt cười. Nó cất tất cả các tấm gương soi. Cái nào không tháo ra được thì lấy báo cũ dán kín mặt gương. Bữa ăn bố khóc, con khóc còn mẹ thì ngác ngơ. Son bây giờ như người ở thế giới khác chả nhớ mình là ai. Cười vô tư như đứa trẻ mang hình hài phù thủy. Hàng đêm nó ngồi bên vợ nhìn vợ co quắp trên giường, mặt vợ mình giống như tranh vẽ bà già cưỡi trên cán chổi. Một năm, hai năm rồi ba năm mỗi tuần nó ở cơ quan 5 ngày còn ở viện Bạch Mai với vợ 2 ngày. Nó hát những bài hát ngày xưa nó nấu canh rau sắng ngoài gốc xà cừ mang vào cho vợ nó. Cái Son cười rúm ró bảo ngon quá nhỉ. Chúng tôi đến thăm, mấy thằng tóc hoa râm quay đi chỗ khác chùi nước mắt. Mua chùm nho cho vợ nó thì nó cười bảo hạt dẻ đấy hả? Trùng Khánh mùa này chưa có hạt dẻ… có con tàu thống nhất về ga toe toe còi. Tôi rưng rưng nhớ cái ngày tôi mang túi mì sợi của vợ nó lên tàu trên ga Lương Sơn. Ngày ấy như vừa đâu đây, hôm qua thôi.

Bốn năm, năm năm, rồi sáu năm. Con nó lớn. Cả hai đứa vừa chăm mẹ vừa thi vào Đại học. Nó lên đến phó Giám đốc sở CN. Vợ nó vẫn không trẻ lại chút nào.

Cuộc đời như cứ trôi không vướng bận về chút tình cảm của bất kì ai. Thành phố vẫn mọc thêm nhiều chung cư, cao ốc vẫn kẹt xe, vẫn hối hả bụi bặm và ngày càng bổ sung thêm khẩu phần bia trên mỗi đầu người. Nó vẫn cần mẫn làm công chức cái Sở quan trọng ở một tỉnh còi cọc. Sau một ngày làm cán bộ nó vội về nhà ngồi bên vợ nó kể thôi thì đủ chuyện cho Son nghe. Từ chuyện đấu đá cạnh tranh nôi bộ Sở nó rồi chuyện nó không đủ thóc cho cuộc đấu thầu chức Giám đốc sở. Son cười nghềnh nghệch, bấu bấu mười ngón tay như mười cái chân gà mò vào tay nó. Nhìn vợ, nó khóc. Rồi nó bảo em ơi, anh và con sẽ bán nhà này đi mua nhà Hà nội để cho con nó vươn lên để một ngày nào em khỏi bệnh em sẽ được anh đưa đi bờ hồ… Chả biết Son có hiểu không mà cũng ràn rụa nước mắt. Hai thằng con trai nấu cơm dưới bếp cũng khóc.

Một lần tiểu đội trinh sát của tôi tụ tập trên Thái. Tối ấy nhậu rồi kéo cả mấy thằng cùng E ngày xưa đi vào hồ Núi Cốc hát karaoke. Mấy đứa tiếp viên trụi thùi lụi lông cánh mà anh anh em em. Thằng Tiêu có cô gái Tày nói chưa sõi tiếng kinh phục vụ rất nhiệt tình. Ngồi hát Trường sơn đông - Trường sơn tây mà vẫn nghe thấy con bé nó nói: ầy dà anh là hiền quá hà. Tự dưng thằng Tiêu chạy ra ngoài, mình vội ra theo thấy nó châm lửa hút thuốc dưới ven hồ. Biết tôi đến gần, nó bảo "thôi tao về đây Luân ơi, con bé này giống cái Son ngày xưa quá" ừ ừ nhỉ, bây giờ tôi mới nhận ra cô gái này nói giọng Trùng Khánh. Hồ núi Cốc mùa hè mà vẫn có sương rơi và đèn trên thuyền câu nhấp nháy. Trên nhà hàng nhạc xập xình còn ở ven hồ ve vẫn kêu đêm ri ri trên tán xà cừ.

Về hưu rồi, hai con trai lấy vợ rồi có con. Nó ở với một thằng và hai cháu nội. Son vẫn nằm đấy ngô nghê cười, nụ cười của bà lão tám mươi. Tôi đến chơi thấy nó vẫn kể chuyện ngày xưa ở trên Bắc thái với vợ… Nó gọi Son ơi anh Luân đến này! Rồi nó nói tiếp Son biết đấy! Có hôm Son còn bảo tao anh Luân và anh Thịnh hồi này có vẻ khỏe hơn mày ạ.

Tôi và nó ngồi nhìn lên tấm ảnh tiểu đội chụp ở Tây nguyên. Hồi ấy chúng tôi đẹp trai thế.

HN 9/5/2013 NTL

baoleo
10-05-2013, 07:46 AM
Cảm ơn anh
Em cảm ơn anh Luân/bác litangu.
Sự đồng cảm của anh, với những người lính, có hoàn cảnh gia đình không may mắn, sau khi rời quân ngũ, làm cho em ấm lòng.

Vâng, anh đã thấu hiểu được cho chúng em, những người lính mộc mạc, bình dị như hạt lúa củ khoai.
Thời trai trẻ, đất nước có giặc giã-binh đao, là con dân nước Việt, những người như các anh, như chúng em, không chút đắn đo, hồn nhiên tạm biệt mẹ già, hăng hái tòng quân.
Lớp các anh và lớp lớp chúng em, mải mê đánh giặc/làm nhiệm vụ nơi chân trời góc bể, mà lòng luôn nhớ về mẹ già, đang mong ngóng thằng con trong khói lửa chiến trận, nơi mịt mù xa thẳm .
Đất nước bình yên, các anh và chúng em, lại cởi áo lính, về làm phó thường dân, bới đất-lật cỏ, chạy dẽ đất-dẽ cát, côi cút kiếm ăn thời dông bão thị trường.
Thời bình rồi, nhưng nhiều người lính như chúng em, vẫn không thoát khỏi những cuộc chiến dữ dội, không kém lửa đạn-khói bom. Người thì có mẹ già chỉ còn biết cười hiền suốt ngày, người thì có vợ quên mất mình là ai như chị vợ tên Son, người thì như em- có vợ chỉ còn đôi mắt là còn cử động được.
Nhưng chúng em sẽ không đầu hàng, chúng em sẽ vẫn chiến đấu như thời trai trẻ ngày xưa. Không có ùng oàng của quả nổ cầm tay, không có chớp lửa cầu vồng của pháo dàn phản lực. Chỉ có sự gian khó đến đau đớn để nghiến răng kiếm ăn lương thiện trong không gian bi phẫn của sự chi phối bởi ‘một bộ phận không nhỏ’.
Chúng em cũng đã già rồi. Rời quân ngũ cũng hơn 20 năm rồi còn gì. Nhiều khi cũng muốn buông xuôi-con người mà.
Nhưng với sự sẻ chia như của anh Luân/bác litangu, chúng em thấy ấm lòng.
Em uống thêm một ly nước lọc, rồi lại đi kiếm ăn đây.
Cảm ơn anh.

litangu
10-05-2013, 06:34 PM
Bát phở trâu


Hè năm 72. Tôi nghỉ xong rồi lên trường. Nước sông Hồng to ù ù. Khắp nơi là trống kẻng hộ đê rối ruột. Ra đi mà tâm tưởng cứ ở lại nhà. Tôi nhờ bà chị họ bơi thuyền dọc đường tàu chừng mười cây số rồi đi bộ ba chục cây nữa mới tới thị xã Phú thọ. Lặn lội hai hôm sau cũng lên đến Đại Từ nơi trường sơ tán. Rồi chỉ mấy tuần sau cầm tờ giấy nhập ngũ lại mượn cái xe đạp của bạn đạp về Hà nội, lại ngược đê sông Hồng về quê. Chiều nắng đỏ ối cánh đồng tôi vào ngõ. Nhìn thấy tôi về bố tôi đoán ngay là tôi đi bộ đội. Cũng định im lặng trước khi đi sẽ nói cho cha mẹ đỡ buồn nhưng không được bởi tôi chỉ ở nhà hai ngày thôi. Lúc binh lửa gia đình nào có con ra trận mà chả buồn chả lo. Ngay chiều hôm sau bố mẹ tôi làm cơm liên hoan. Chắc trong thâm tâm bố tôi muốn cho tôi được bữa cơm ngon trước ngày đi vào nơi khói lửa. Nghèo quá, lại giữa lúc giặc giã mẹ mang 2 kí đậu tương đi đổi đậu phụ, mổ con ngỗng thế là được bữa cơm mà cả năm mơ cũng không được.

Chiều tối ngày thứ hai tôi đi. Nước lụt đã rút nên lại có tàu hoả. Ra khỏi ngõ thấy bố mẹ giục ba đứa em chạy theo. Đứa lớn nhất 15, đứa bé nhất lên tám. Bám vào anh các em tôi đưa tiễn tôi lên đường. Con đường làng vào chập chiều đã vắng người thi thoảng gặp người làng lại những lời dặn dò: cháu đi nhé, đi cho may mắn. Vào trong ấy gặp thằng A... con bác bảo bố mẹ ở nhà vẫn khoẻ cố gắng mà giết giặc rồi về nhé. Sống mũi cay cay, vâng ạ. Dù biết cả miền nam rộng lớn thế quân trùng điệp thế gặp thằng A làm sao được.

Trăng lên, lúa sắp chín khiến cánh đồng vàng lờ mờ và mùi khói bếp như níu lấy chân người.

Ngồi ở sân ga, mà sân ga sâu hoắm hố bom, người ta san bớt đất xuống cho phẳng để người ngồi xung quanh như cái vòng tròn người lổm nhổm. Ba đứa em đứa thì hỏi anh có đi vào miền nam không? đứa thì bảo giá mà anh làm không quân nhỉ, tôi thì dặn dò các em ở nhà lo học lo giúp đỡ bố bầm... Rồi buồn quá tôi nói chuyện vui với các em: Nếu bây giờ anh cho mỗi đứa một điều ước thì các em ước gì? (giống như môn kể chuyện vẫn học ở trường). Đứa lớn nhất mười lăm tuổi thì ước học hết lớp mười được đi thoát li (đi công tác ra khỏi làng) ở nhà khổ lắm. Đứa thứ hai mười hai tuổi thì bảo: em chỉ ước anh sống mà về với bố bầm và chúng em. Đứa thứ ba mới tám tuổi thì rất ngắn gọn: em ước gì được một bát phở trâu. Cả mấy anh em cùng cười. Tôi hỏi em thấy phở bao giờ? nó bảo em đi theo ông Hộ xóm nhà mình mang quả cọ lên thị xã Yên bái bán, thấy họ ăn phở trâu thèm lắm nhưng không đủ tiền. Tàu đến. Tôi rời các em lên toa. Đứng ở bậc lên xuống xoa đầu từng đứa. Đến thằng bé tôi bảo bao giờ anh về anh sẽ cho em ăn phở trâu. Tôi đứng mãi ở bậc tàu nhìn những cái bóng ba đứa em xa dần chìm dần vào dêm trăng loang lổ. Nước mắt chảy từ lúc nào không biết. Lần ấy tôi đi rồi hành quân thẳng vào chiến trường.

Chỉ có thế thôi, lời hứa một bát phở với đứa em cứ thỉnh thoảng lại trở về trong tôi những năm chiến trường. Những đêm mắc võng trên Trường sơn tôi hay nghĩ về quê về cha mẹ và đàn em lóc nhóc ở nhà mỗi năm hai lần tháng ba ngày tám. Lúc ấy tôi lại nhớ lời ước một bát phở trâu của thằng em còi cọc. Quê tôi đói kém, quê tôi nghèo thật. Cho tới tận lúc ấy cả nhà tôi đã mấy ai biết bát phở là gì, chỉ đi qua và nuốt nước miếng và tưởng tượng.

Thế mà tôi không chết, trở về như lời ước thằng em mười hai tuổi năm ấy.

Ngày trở về xuống tàu ở ga nhà cũng một đêm mùa đông. Cái hố bom đã biến mất. Cây bàng cụt bây giờ thấy có lá, trong đêm cái bóng của nó như người già cầm ô đứng bất động. Đeo ba lô đi trên bờ đê ngửi cái mùi bùn ruộng, mùi phân trâu trên đường làng hít thật sâu cái mùi quen thuộc từ nhỏ ấy chợt nghĩ chả gặp thằng A cùng làng lần nào để trả lời người làng xóm đã gửi nhời năm trước. Rồi vẫn là chuỗi ngày đói kém sau hoà bình. Bố mẹ tôi gồng mình nuôi tám anh em chúng tôi. Tôi học thêm hai năm ra trường lại ghé vai với cha mẹ lại gồng mình nuôi em ăn học. Thằng mười hai tuổi lặn lội đi công an tít trên Tuyên quang rồi đi học đại học, rồi lao đầu học tiếp bây giờ cũng làm phó trưởng khoa Học viện CS. Đứa lớn mười lăm tuổi cũng toại nguyện thoát li khỏi làng, mặc dù chả làm nên vương tướng gì nhưng vẫn là cán bộ thoát li. Cái thằng bát phở trâu ngày ấy làm giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở Hà Nội cũng có bát ăn bát để. Anh cả nay già yếu mỗi tuần một lần các chú gọi đi nhậu. Lúc nhận lời lúc không. Có lúc ba anh em uống tây tây rồi lại nhắc đến chuyện bát phở, hai đứa em tôi trầm ngâm mà bảo Hà nội họ không ăn phở trâu anh ạ. Có lẽ hôm nào đánh xe về quê mà ăn thôi.

Trungsy1
11-05-2013, 09:57 AM
Ủng hộ anh Litangu hình ảnh đồng đất quê hương Hạ Hoà

http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/YENBAI2010/P1120446.jpg (http://s261.photobucket.com/user/trungsy1/media/YENBAI2010/P1120446.jpg.html)

Sông Thao nao nức sóng dồi chảy ven đường 32

http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/YENBAI2010/a25dc7c1-4c16-4566-9f47-147bf3cb20e1_zpsdbe2f4cf.jpg (http://s261.photobucket.com/user/trungsy1/media/YENBAI2010/a25dc7c1-4c16-4566-9f47-147bf3cb20e1_zpsdbe2f4cf.jpg.html)

Cây gạo mồ côi

http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/YENBAI2010/42f46b83-6ff4-4314-b650-b75dedd6b5e5_zps79ff3707.jpg (http://s261.photobucket.com/user/trungsy1/media/YENBAI2010/42f46b83-6ff4-4314-b650-b75dedd6b5e5_zps79ff3707.jpg.html)

litangu
11-05-2013, 01:17 PM
mấy ngày nay dồn sức viết xong và gửi đai TNVN bài hát cho trường ĐH cũ . pos lên đây các bác nghe thử . Âu cũng là cây nhà lá vườn
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/nguyen-trong-luan-voi-bai-hat-ve-lai-mai-truong-xua-nguyen-van-giap.bCzRv4fkAjHl.html

litangu
14-05-2013, 08:51 AM
NHỮNG TRANG NHẬT LÝ VIẾT CHO VỢ ”Trích”

Em ơi, ở quê mình ngày xưa rất ít khi có thịt bò. Chỉ có thịt trâu thôi. Mà chỉ khi nào con trâu nó già quá hoặc bệnh chết người ta mới thịt. Quanh năm chờ đến ngày tết mới có một vài cân thịt lợn. Hoặc những ngày đông giá rét trâu không chịu nổi lăn ra chết lúc ấy vừa buồn mất trâu vừa mừng được ăn miếng thịt. Cho tới ngày anh đi học cấp 3. Một lần có đứa bạn rủ anh đi bộ ra thị xã Yên bái. Nó cho ăn bát phở. Lần đầu tiên được ăn không dám xuýt xoa khen ngon vì sợ nó chê. Đêm về kể với mẹ, trong đêm mà cũng nhận ra mẹ nuốt nước miếng. Nghĩ sao mà mình dại thế, lại đi kể với mẹ.
Con đuờng tàu hoả chạy qua làng. Thấy khách ngồi trên tàu ăn bánh mì mà ước gì họ đánh rơi xuống đường cái bánh mì tây ấy nhỉ (ngày xưa quê gọi là bánh tây). Thế rồi một hôm, anh đi bán củi về, đi dọc theo đường tàu từ ga về nhà anh nhặt được nửa cái bánh mì thật. Em biết không anh dấu vào trong áo đi thật nhanh về nhà gọi mẹ ở dưới ruộng lên rồi bẻ mỗi em một miếng. Mẹ một miếng nhưng mẹ lại chần chừ không ăn đưa cho thằng bé nhất. Đến bây giờ 49 năm rồi anh nghĩ lại vẫn ứa nước mắt vẫn hình dung ra nét mặt của mẹ lúc ấy.
Năm 1962 mẹ đẻ em Oanh. Trước đó mấy tháng, mỗi ngày đi chăn trâu anh chặt một bó củi tươi, chiều về thồ trên lưng trâu. Mẹ hỏi: chặt củi tươi làm gì? anh bảo để mùa đông nó khô rồi mẹ đẻ em bé mẹ có củi để sưởi. Mẹ khóc. Mẹ bảo con biết lo xa. Ngày ấy anh cũng không hiểu lo xa là lo cái gì. Đến khi mẹ đẻ, nhà mình có một đống củi rõ to. Đêm đêm anh đốt lấy than hồng cho vào cái chậu đựng tro bếp để dưới gầm giường cho mẹ. Cả nhà chỉ có một cái chăn sui còn thì đắp chiếu và làm ổ lá chuối khô. Anh chỉ mặc quần cụt, tết đến mẹ chỉ đủ tiền mua áo cho em Luyến, em Đài, em Oanh còn anh phá cái áo cũ của bố ra khâu lại. Lúc nào anh cũng thấy áo mẹ đầy vết bùn. Bùn nó khô cứng lại rồi rơi xuống giường. Cái mùi bùn khô rơi ra từ áo mẹ đến già vẫn thấy thơm ngai ngái. Khi mẹ xắp mất, tất cả anh em đứng xung quanh mẹ. Anh thưa: Mẹ ơi 8 anh em con có đủ ở đây, chúng con từng đứa có điều gì ăn ở chưa phải với cha chưa phải với mẹ, mẹ cho chúng con biết để chúng con còn lấy đó mà răn dậy con cháu sau này. Mẹ nắm tay anh, Mẹ bảo: Luân ơi, con là đứa con ngoan của mẹ, mẹ nghèo nên con khổ thế mà con phương trưởng thế này mẹ sung sướng lắm. Hai giọt nước mắt mẹ rơi ra long lanh. Long lanh như chưa bao giờ anh thấy giọt nước long lanh đến thế.
Ngày anh làm nhà cho mẹ, khi xây xong phần thô, anh về thăm. Đêm ấy mẹ gọi anh ra gốc mít mẹ hỏi: Con ơi con có tham nhũng hay không mà làm nhà to thế? mẹ lo lắm. Bấy giờ mới thấy mẹ mình nhỏ bé quắt queo mà to lớn quá. Cả một đời vất vả mà chỉ lo con cái làm điều xấu. Cả một đời chưa biết bát phở là gì.
Đưa mẹ xuống Hà nội mỗi ngày đưa cho Nam 20 nghìn dắt bà đi ăn phở. Hôm nào hai bà cháu cũng đi, hoá ra chỉ có Nam ăn thôi còn mẹ không ăn. Vài tuần sau con Nam mới nói: Bà bảo bà để giành tiền về cho thằng Phương nó ở nhà khổ hơn Nam. Lúc xuống Hà nội mẹ cất cái nón lá, ngày ra về mẹ tìm bằng được dù cái nón cũ lắm. Chú Đài vứt cái nón đi, mẹ buồn. Mẹ về rồi mấy anh em nhìn nhau thấy có lỗi vô cùng thế là ngồi khóc với nhau.
Ra về, mẹ có một cái túi đựng lỉnh kỉnh toàn chai lọ cũ. Bảo mẹ: Giữ cái này làm gì hở mẹ? Mẹ than, ở nhà kiếm cái lọ đựng mắm đựng tương cũng khó, cái nào không dùng thì cho các cháu làm đồ chơi. Ôi Mẹ ơi, con làm Giám đốc mà chả biết nghĩ ra điều ấy. Mẹ về rồi.
Đêm đêm ra ngoài ban công thấy cái ghế nhỏ mẹ vẫn ngồi nhai trầu ở đó mới chợt nhớ những đêm mẹ không ngủ mẹ ngồi nhớ quê nhớ cháu.
Chao ôi, lòng Mẹ lớn đến thế.

litangu
14-05-2013, 08:53 AM
Em à. Ngày 22/9/2012. Thế là một vòng đời 60 năm. Sáu mươi năm nhiều cả nhọc nhằn chông gai và cũng lắm vinh quang. Tóm lại là một thời gian tranh đấu của mình. Nhìn lại thấy mình chưa làm được gì cho ước mong của đời. Ngày còn bé, ngay cả lúc còn chăn trâu anh đã mơ ước sau này trở thành người nổi tiếng, học phải giỏi và phải là người giỏi nghệ thuật. Mơ ước thế mà không thực hiện được. Anh nhớ, lúc ấy bé lắm chừng học lớp 3, mùa đông rét căm căm đốt bếp ngồi sưởi, hai bàn chân hơ vào lửa không có dép đi nên nó cứ mốc thếch và nứt nẻ. Mẹ bảo cố học con ạ kẻo sau này lại ru rú xó bếp. Anh liền bảo với mẹ "con sẽ làm quan và giỏi đàn hát cho mẹ vui" Mẹ nhìn anh ngạc nhiên rồi thấy mẹ khóc. Hỏi mẹ: sao mẹ khóc, mẹ bảo Mẹ sợ con khổ hơn.
Trước khi mẹ mất, mẹ bảo anh sao hồi này không thấy con hát? Nhìn mẹ khô héo trên giường anh bảo: con hát làm sao được mẹ ơi! Mẹ cười buồn buồn, ngày xưa chiều tối con đi thả trâu về đến ngõ là đã nghe thấy con hát rồi, con hát hay nhất xóm, đi làm đồng các bủ đều khen. Mẹ nói anh lại càng buồn bởi vì anh biết như thế là mẹ xắp đi rồi.
Hôm sau mẹ lại bảo anh: Luân ơi con vẫn làm thơ chứ. Anh ngạc nhiên. Thì ra trước nay mẹ vẫn biết anh hay làm thơ. Thế mà anh cứ nghĩ chả ai biết anh làm thơ cả. thế rồi hôm sau nữa anh viết rồi đọc cho mẹ nghe bài thơ có câu:

Cả một đời thay tã lót cho con
Con chỉ một lần thay áo quần cho mẹ
Tạo hóa ơi sao đau xót thế
Biết thương mẹ cha thì lại xắp xa rồi

Thế rồi hai mẹ con khóc bên nhau.
Hồi ở chiến trường Tây Nguyên 21/9/1974 anh được giao nhiệm vụ đi công tác một mình trong đêm. Một mình một súng đi 4 tiếng đồng hồ. Xong nhiệm vụ quay trở về đã sang ngày 22/9. Đêm tối giữa chiến trường bom đạn vừa đi vừa, đề phòng thú dữ, đề phòng địch phục mà vẫn nghĩ về mẹ bởi hôm nay là ngày sinh nhật mình. Trong đầu nhẩm bài thơ:

Bài thơ giữa đường
(Kính tặng mẹ ngày sinh con)

Thu sang tháng chín lại về
Trăng treo trước ngõ gió lùa đầy sân
Giữa rừng nặng bước hành quân
Đêm nay gửi mẹ chút vần thơ xa
Bao mùa thu đã đi qua
Bấy nhiêu vất vả tuổi già thêm sâu
Thời gian gội bạc mái đầu
Nỗi vui thì ít lòng sầu đầy vơi
Lấy gì tặng mẹ mẹ ơi
Mới hai hai tuổi nên người là bao
Sinh con giữa buổi gian lao
Chắt chiu lòng mẹ biết bao nghĩa tình
Sinh con ai thấu được lòng
Thương con mấy nỗi thương chồng bấy nhiêu
Ngọn ngành đời mẹ gieo neo
Mà mênh mông cuộc sống nghèo tình thương
Dẫu cho thân gái dặm trường
Mà đường chiến dịch băng rừng mẹ đi
Từ trong côi cút mẹ về
Một gian nhà trái cũng là mẹ con
Sông Hồng nước đỏ như son
Tháng ngày chờ đợi mỏi mòn mẹ ơi
Tây nguyên dựng núi ngất trời
Ngày đêm con nhớ về nơi mẹ già
Dẫu con đủ cánh bay xa
Vẫn thơ dại vẫn chỉ là dứa con
Gửi vần thơ cuối Trường sơn
Ngày sinh con đứa con còn ở xa

Nhẩm trong đêm tối thật thuộc rồi về chép lại vào nhật kí. Ngày trở về từ miền nam trong gia tài của lính có bài thơ ấy. Bây giờ cũng vào cái đêm như thế ngồi đây viết lại, kể cho em thì mẹ đã thành thiên cổ. Anh lại gọi Mẹ ơi

lixeta
14-05-2013, 09:51 AM
"...Ra về , mẹ có một cái túi đựng lỉnh kỉnh toàn chai lọ cũ . Bảo mẹ: Giữ cái này làm gì hở mẹ ? Mẹ than , ở nhà kiếm cái lọ đựng mắm đựng tương cũng khó , cái nào không dùng thì cho các cháu làm đồ chơi" .

Góp với quê Luân một tý: Những bà mẹ nghèo Việt Nam nào cũng vậy đấy!
Một chuyến đi công tác thành phố HCM, khi ra tôi được mấy đứa em con bà dì ruột nhờ đưa mẹ chúng ra vì sắp Tết rồi mà đứa nào cũng bận. Tôi vui vẻ nhận lời.
Ngày lên máy bay, thấy dì tay xách nách mang, trong đó có một cái túi du lịch to đùng, căng phồng nên tôi phải gửi hành lý cho dì. Chuyến bay thuận lợi, đúng giờ. Còn hai dì cháu cũng chuyện trò sôi nổi suốt dọc đường. Dì tôi có vẻ vui lắm vì đã mấy năm bà không được về quê ăn Tết rồi.
Xuống sân bay Nội Bài, để dì đứng ở gần cửa ra với lời dặn: "Dì không được đi đâu nhé", tôi quay lại chỗ nhận hành lý. Cái băng chuyền hành lý cứ chạy đều đều. Tôi căng mắt nhìn tìm cái túi du lịch. 15, 20, 25 rồi 30 phút trôi qua. Cái băng chuyền đã vãn hành lý mà chẳng thấy cái túi du lịch đâu. Tôi hơi hoảng, chạy lại chỗ dì: "Dì ơi! Có lẽ túi du lịch của dì bị lạc mất rồi". Lập tức, mặt dì tôi tái đi. Đôi mắt thì lạc thần. Miệng thì lắp bắp: "Mất... mất rồi à?". Tôi vội trấn an: "Chắc nó lạc đâu thôi. Thế trong ấy có gì quý giá không?". Dì tôi không nói được mà chỉ gật gật đầu, mắt đã nhóng nhánh nước. Tôi thật sự hoảng. Thoáng nghĩ Mấy đứa con dì trong đó đều làm ăn được. Chắc chúng biếu dì thứ gì đó quý hiếm với lại gửi quà về quê nữa đây. Vậy thì phải tìm bằng được.
Tôi quay lại quầy báo "Thất lạc hành lý" trình báo. Sau khi nghe tôi trình bày, họ ghi chép lại tất cả và hứa sẽ tìm lại để trả cho dì tôi. Khi họ bảo kê khai đồ đạc trong đó thì tôi bảo dì tôi đang xúc động không nhớ được. Cuối cùng, họ bảo tôi để lại điện thoại và địa chỉ liên hệ rồi về.
Về nhà rồi, dì tôi thì vẫn buồn rầu ngồi yên một chỗ. Còn tôi càng bồn chồn hơn nữa bởi mặc cảm không hoàn thành nhiệm vụ của mình nên cứ đi ra, đi vào trông ngóng.
Khoảng 4 tiếng sau, tầm độ 17 giờ thì có tiếng chuông cửa. Mở cửa ra tôi nhìn thấy một nhân viên hàng không đứng trước cửa. Trên tay anh ta là cái túi du lịch căng phồng. Tôi gọi dì tôi: "Có đúng túi của dì không?". Mắt dì tôi sáng lên mừng rỡ: "Đúng rồi! Đúng nó rồi".
Mặc dù vẫn nguyên niêm phong nhưng người nhân viên yêu cầu dì tôi mở ra kiểm tra xem có mất thứ gì không. Nghe nói vậy, dì tôi xăng xái kéo cái fec- mơ- tuya. Miệng túi mở ra. Tôi trân trối nhìn: trong túi là một mớ vải vụn. Những miếng vải đủ màu sắc, kích cỡ bung ra. Miếng bằng bàn tay, miếng bằng cái quạt nan... Vừa bới dì vừa hồ hởi: "Nhà cái H. (con gái dì) nó làm thợ may. Vải đẹp thế này mà nó cứ vứt đi có phí không cơ chứ. Đem về khâu chắp lại may được khối thứ".
Bới hết lũ vải vụn ra, dì tôi cầm lên mấy đôi dép đi trong nhà đã cũ, có đôi đã sứt chỉ, mắt sáng lên: "Không mất gì cả".
Thế đấy[-X!

baoleo
14-05-2013, 10:38 AM
Bác litangu và bác lixeta, mẹ bao giờ cũng thế, thương con - thương cháu và không bao giờ hỏi con cháu điều gì cho mình.
Lâu lắm rồi, mẹ em chợt nói: 'hôm qua ở trên đình có cô bán bánh giò'.
Và thằng con vô tâm là em, tỉnh ra rằng, mẹ thèm ăn bánh giò, nhưng chẳng nỡ bẩu con mua.
Mẹ là thế đấy.

litangu
14-05-2013, 11:37 AM
Chuyến tàu tết năm đã xa

Sao mà những cái tết ngày xưa khiến người ta nhớ dai đến thế? Dù đói , dù khổ dù thiếu thốn đến mấy ai cũng mong đến tết. Tết – cảm thấy hương hồn những người thân đã khuất xa nay gần lại. Tết là để nhớ cố hương cội nguồn, tết là cái dịp được sum vầy đoàn tụ là cái cớ để rất nhiều cuộc tình nẩy sinh. Tết là được ăn ngon và no cho dù rồi sau đó cả năm thèm thuồng thiếu thốn. Với Sinh viên tết là cái đích đếm ngược từ đầu tháng chạp.

Tôi xuôi tàu Lưu Xá tới Đông Anh rồi đón tàu đi mạn ngược Phú thọ, Yên Bái. Khoảng đất trống ở ga Đông Anh ngổn ngang những người. Đêm lạnh, sương buông rì rầm lập lòe đốm thuốc. SV Cơ điện thì ít thôi chứ Sư phạm Y khoa, Nông nghiệp thì nhiều. Và thế là cuộc chinh phạt của các chàng CĐ trong đêm cận tết ấy bắt đầu.

Khuya trời lành lạnh. Dựa lưng vào gốc bàng già hút thuốc lá. Sau chiến tranh về các chú lính có tiêu chuẩn thuốc lá nên phì phèo đến gớm. Tôi nhẩm tính tám bao thuốc trong túi gồm 4 Tam Thanh, 2 Nhị Thanh và 2 D”rao. Ngon lành quá. Để 6 bao về bày tết, 2 bao là của ta hút luôn từ lúc được lĩnh trên trường. May mắn chả phải đi đâu xa, kề bên cạnh là một cô gái có cái mũ nan rộng vành ôm khư khư cái xắc Du lịch (loại có người bắn máy bay bằng súng trường). Lạnh thì rõ rồi, dưới trời suông thấy cô run run, cái vỏ áo bông xanh con trai được cắt ngắn bớt gấu che bên ngoài sơ mi trắng, nghĩ bụng được đây. Nín mãi rồi lấm lét mãi rồi cũng phải lên tiếng: em về đâu? Cô ta thõng một câu: anh về đâu còn lại em về. Mình bảo câu này nghe quen. Cô ta bốp luôn thế anh hỏi nhiều con gái như thế rồi à? Tức! rõ là cái thứ gái luôn sợ người ta tán tỉnh.

Im lặng. Im thật lâu. Hỏi tiếp: em ở sư phạm à? trả lời tiếp: anh ở Cơ Điện à? Tôi ừ còn cô thì vâng. Lúc này bỗng bớt lạnh đi một chút. Lại châm thuốc. Sao anh hút thuốc ghê thế? À... ừ anh hút ở chiến trường nhiều quá nghiện mất rồi. Cô ngoắt sang, anh Bộ đội về hả? lớp em có nhiều các anh về lắm? anh biết anh Thủ khoa văn không? Đến lượt tôi ngoắt quay sang. Nông văn Thủ hả? Vâng. Anh ấy lớp trưởng của em. Ra là thế, em sinh viên khoa văn năm thứ hai. Thế rồi từ ấy tơi lúc có tàu đến em kể: em quê Cẩm Khê, bố em là giáo viên cấp ba ở Huyện, em là con gái lớn… tuy ở quê nhưng bố mẹ là giáo viên em chả biết làm gì ...v.v.... đại để là tôi hình dung ra em có ngôi nhà trong tập thể trường cấp 3 có luống rau trước cửa và dù mất mùa đói kém ra sao thì nhà em vẫn có hai bữa cơm đạm bạc... hai chị em nhà em học giỏi xinh xắn và ngoan.

Con tàu cuối năm nhồi chặt cứng cả động vật và thực vật ì ạch men theo sông Hồng lên mạn ngược. Không toa tàu nào có dư hai ngọn đèn vì thế các mái đầu cứ dính vào nhau và chuyện rì rầm lắc lư liêng biêng theo mọi cung bậc tình cảm. Từ Đông Anh lên Vũ ẻn ngắn thế. Mới chạy từ 12 giờ đêm mà bốn giờ sáng đã đến nơi. Em xuống tàu. Con đê sông Hồng sương rưng rưng trắng. Em hẹn anh lên trường em chơi nhé. Em là Minh Tâm văn 2… em về đây. Em lẫn vào đoàn người thâm thẫm trong đêm xuống đò. Con sông Hồng ngày ấy nước đầy hơn bây giờ và đôi bờ hoa lau cũng còn nhiều lắm. Tàu lại chạy, dòng sông viền bạc theo con tàu đen xỉn quằn quại trong đêm.

Tết năm đầu tiên ăn tết với gia đình sau những cái tết Trường sơn thật vui. Thật nhiều cái nhớ. Nhớ tết năm ngoái ăn tết gần Buôn Hồ Dak lak, nhớ những thằng bạn tết năm ngoái rúc hầm khóc nhớ nhà. Thế mà cũng có cả cái nhớ một cô gái trong đêm chưa rõ mặt bịn rịn chia tay để qua sông lúc gần sáng. Thế là lại làm thơ mới chết chứ. Thằng em trai tạt ra tạt vào ngó trộm chạy ra đầu hè thì thầm với thằng em nữa rồi khinh khích cười. Chúng nó bé biết cái gì, kệ nó.

Nghỉ tết xong lên trường, trong gia tài quà tết có bài thơ chép rõ đẹp. Thỉnh thoảng lẩm nhẩm một mình chờ thời cơ đến trường SP trên thị xã Thái Nguyên. Rồi thời cơ đó cũng đến. 8/3 năm 1976 một lũ lính SV rủ nhau đi Thái. Tình cờ gặp em trên đường ngay cổng trường. Cô gái đêm cuối năm trên chuyến tàu tết chật ních người hôm nay rõ xinh. Em ngượng ngùng đi bên một bạn trai cũng cỡ tuổi em. Câu chuyện có vẻ ngượng nghịu vì thấy cậu con trai sốt ruột. Em nói những câu không đầu không cuối mình thì cũng ù cả tai vì mấy thằng bạn giục rã, rè bỉu nào là nó đi với người yêu mà mày lân la tán róc vô duyên thế. Rồi rất nhanh tôi dúi vào tay em bài thơ gấp nhỏ và chia tay. Chúng tôi đi đường chúng tôi ngoảnh lại thấy em và cậu con trai líu ríu dưới hàng cây cổ thụ ven xa dần.

Chả bao giờ gặp lại em nữa. Cũng chả bao giờ tôi lên trường tìm em. Cứ nghĩ em có người yêu rồi và mình thì không có khả năng lì lợm chiếm lĩnh như ngày xưa bò vào trận địa. Tôi cũng chả hỏi thằng Thủ bạn mình về em lần nào nữa kể từ hôm ấy.

Mười bốn năm sau, cũng lại một chuyến tàu tết ninh ních người. Tôi mang quà tết về quê rồi đi xuôi Hà nội. Con tàu từ Lao cai về quá nửa hành khách là bộ đội biên giới. Tàu vận chuyển khách bằng toa đen chở hàng tối thui mặc dù tôi lên tàu lúc 8 giờ sáng. Chen thí xác lên được toa ngồi lên cái bao tải đựng gạo nếp mẹ cho kéo vạt áo măng tô lên đùi mà thở. Tàu chạy rồi nhìn phía trong các chú bộ đội từ BGPB về ai cũng hỉ hoan dù vẫn ngái ngủ. Họ đi từ Lao cai, Mường Khương, Bat xát về. Đầy những sọt cam sành và thịt lợn gói bằng lá giong chắc quà của đơn vị. Ơ kìa, một thiếu phụ gọi đúng tên tôi. Thiếu phụ đẹp, mặc áo bông bộ đội. Tôi nghĩ mà chưa nhận ra em. Em bảo em Minh Tâm khoa văn đây anh à. Mấy chú lính đăm đăm nhìn tôi. Tôi nhớ rồi, nhớ một đêm đi ngược tàu tết 14 năm trước.

Bây giờ tôi và em lại gặp nhau trên chuyến tàu tết đi xuôi. Cách xa tới 2 mét và cái khoảng cách 2 mét ây là hai chục người em vẫn nói chuyện với tôi. Rằng em dậy học ở L.Y. Chồng em là bộ đội là tiểu đoàn trưởng không về được chỉ có em về thôi, đây là những người lính cùng đơn vị chồng em. Em muộn chồng anh ạ. Mà anh không bao giờ nhớ đến Sư phạm nữa hả anh? ờ ờ lâu quá rồi anh cũng chưa có dịp… Tôi trả lời ngớ ngẩn ngây ngô thế không biết, trong tôi người con gái đẹp mặn mà tuổi ngoài ba mươi mặc áo bông của chồng về tết hẳn là yêu chồng lắm. Thế rồi chợt nhớ bài thơ ngày xưa đã dúi vào tay em nhưng lõm bõm cố nghĩ mà không nhớ lại được. Tàu tới ga Vũ ẻn Em xuống tàu, em được các người lính của chồng vác đồ xuống ga. Em xiêu vẹo xách đồ ra bến đò còn ngoái lại với tôi, anh nhớ là em ở trường cấp 3 L.Y anh nhé.

Tâm đi rồi mãi sau tôi mới nhớ ra bài thơ ấy.

Bài thơ "Chuyện với con sông quê hương“
Khổ cuối thế này…
...Sao lại gọi là sông Hồng
Để bên bồi bên lở
Cho ta hỏi sông nào
Không miệt mài sóng vỗ
Chiều này hoàng hôn về với bờ sông bên kia
Bên này trào dâng nỗi nhớ
Đêm nay bờ bên kia có chút nào đất lở
Để sớm mai them ngấn đón bình minh
Ơi câu chuyện về con sông
Để ta đứng tìm dấu người trên cát
Đêm chia tay con đò sang sông mải miết

(đông 1976) – hè 2013

litangu
15-05-2013, 10:17 PM
Một câu chuyện của người làng tôi - Làng Đan Hà, Hạ hòa, Phú thọ. Người liệt sĩ tên Đỗ Văn Đức - D thông tin F339 hi sinh 10/1980 tại CPC


Đức ơi!

Quê tôi ở cuối tỉnh Phú thọ. Làng tôi nằm dọc sông Hồng và có đường sắt Hà nội - Lào cai chạy qua. Đường tàu hoả sẻ đôi cái xã tôi làm hai làng. Người ta cứ gọi là làng trong và làng ngoài. Xóm nhà tôi ở ven đường sắt. Tiếng còi tàu in vào tôi từ thủa lọt lòng. Đêm đêm tiéng tàu chạy qua xập xình, tiếng còi tàu tu tu cứ như ru giấc ngủ tôi. Nếu một hôm nào đó chuyến tàu đêm khuya mà bị chậm vì lí do nào đấy là ngày hôm sau ra đồng bà con hỏi nhau: đêm qua tàu ngược bị chậm các bủ ạ.

Cái xóm nhà vùng quê heo hút như làng tôi thời Kháng chiến chống Pháp vui lắm. Bố tôi bảo thế. Đã từng có một đận hội nhà văn kháng chiến ở vài tháng rồi chuyển xuống Gia Điền, Xuân áng. Bố tôi đã từng học hát cùng các ông Hoàng Lê Vân, Bùi Công Kì. Sát đường tàu hoả giữa làng nơi con đường đất cắt ngang qua đường tàu là một thị tứ. Đủ hết, nào là bác thợ khâu giầy, bác hàng bạc kéo cái bễ ngọn lửa xanh lè tí xíu, bác thợ nhuộm hai bàn tay lúc nào cũng nâu nâu đỏ đỏ. Bác thợ may, thợ rèn. Rồi lại cả bà hàng nước mắm cá khô, ông hàng phở bà bánh cuốn mùa nào thức ấy thuốc lá thì Thăng long, Hoàn Kiếm, Bông Lúa. Khoái nhất là hàng rượu (không hiểu sao hồi bé đã thích hàng bán rượu!) giờ tôi nhớ lại vẫn thấy sướng mỗi chiều cầm tờ một hào - tiền 1958 – đi mua rựợu chúng tôi cứ chiều đến là di mua rượu cho ông hoặc cho bố. Chỉ mua một hào thôi và hôm sau lại một hào. Cái xóm nhỏ nhà tôi thời mới hoà bình bước vào đoạn gia nhập hợp tác xã sao mà thanh bình thế.

Tôi cứ nghĩ mà cám ơn cái sự khai phá văn minh của các người tản cư từ trong tề ra ấy. Tất cả họ chả có ai gốc gác ở quê tôi. Người quê tôi làm sao kham nổi công việc ấy chứ. Cứ ngang qua nhìn bác máy may Đình Bảng đạp xoành xoạc hai bàn chân gật gù cả ngày không chán. Rồi lại thích ngang hàng phở hít cái mùi thơm lan tỏa ra cũng thấy tự hào với mấy thằng làng khác. Tôi chỉ ngửi thôi chứ đến tận lúc ấy chưa bao giờ được ăn phở. Con cái họ, đứa nào trông cũng xinh xẻo hơn bọn quê gốc chúng tôi. Hay thế chứ lị. Cứ như hai giống người khác nhau.

Nhưng tôi muốn kể chuyện nhà thợ rèn. Đó là bác Thức Nghĩa. Cái lò rèn hành nghề ở một vùng toàn đồng rừng như quê tôi đương nhiên là đông khách. Hai bác hái ra tiền. Ba mẹ con chỉ phụ việc còn bác Thức thì xoay trần từ sáng tới đêm. Lúc nào lò bễ cũng rừng rực phì phọp. Nhiều tiền thị vợ con trơn lông đỏ da còn bác chủ lò thì ngày càng hom hem vì khói than và lao lực. Một ngày kia lò đóng cửa. Vẫn thấy bác Nghĩa và chị em con Ý, con Tứ dắt thằng Đức bé tí sang hàng phở. Một đêm mùa đông làng xóm kêu thất thanh nhà lò rèn cháy!. Tôi chạy ra cổng ngồi thu lu ở gốc nhãn nhìn sang ngôi nhà cháy đùng đùng sáng rực cả góc trời. Dân làng dập được ngọn lửa thì cũng là lúc họ kéo xác bác thợ rèn co quắp ra khỏi đám khói. Bác Thức bị lao. Ngày ấy bệnh lao sợ lắm. Đêm đêm vợ con đi ngủ nhờ, sợ lây bệnh. Trời rét bác Thức nằm một mình bên cái lò than. Thế là cháy. Người ta bảo bác tự tử. Chả ai tìm hiểu ra sao chỉ thấy ngày hôm sau đám ma bác thợ rèn quê gốc Đình Bảng lèo tèo vài người. Họ sợ lây bệnh Lao.

Đến thời máy bay đánh phá vào xóm tôi năm 1966 thì nhà bác Nghĩa lò rèn lại di vào trong gò ở cạnh nhà tôi. Hai quả đồi liền nhau vẫn tối lửa tắt đèn có nhau. Con Ý lớn lên đi học làm công nhân đường sắt, con Tứ ở nhà làm kế toán đội sản xuất. Thằng Đức con trai duy nhất được cưng chiều thì hát hò cả ngày. Bên nhà tôi suốt ngày nghe bà Nghĩa réo ối Đức ơi mày mang dạ về đây.

Lúc tôi ở chiến trường về thằng Đức nhà bà Nghĩa lò rèn đã 18 tuổi. Nó lêu đêu như con cò hương trông hệt như bác Thức ngày xưa. Một chiều tối năm 1977 tôi về quê. Thấy nhà bà Nghĩa sáng chưng đèn đóm. Hỏi ra thì biết thằng Đức sáng mai tòng quân. Bên nhà vẫn đang liên hoan mà tôi lại thấy bà Nghĩa réo váng lên: Đức ơi, mày có về khô ông? cả nhà đờ ợi đây này... rồi lát sau lại thấy bà réo Ối Đức ơi là Đức!

Ra thằng Đức chạy đi đâu đó trong khi khách khứa đang chờ đầy nhà.

Từ ấy, thằng Đức đi bộ đội. Bà Nghĩa không còn réo váng làng nước mỗi buổi chiều nữa. Bà Nghĩa cặm cụi vườn khoai, nương sắn. Hai đứa con đi lấy chồng, bà không ở với đứa nào cứ ở trong ngôi nhà ấy đợi thằng Đức. Nhưng thằng Đức không về. Nó hi sinh ở tận Căm Pu Chia năm 80, 81 gì đó. Làng tôi đợt ấy đi 2 đứa. Hai đứa đều chết ở Căm Pu chia. Chịu chả ai biết mộ phần chúng nó ở đâu? hai chị gái kiến giả nhất phận, một bà già gần đất xa trời biết đâu mà lần.

Tôi lại về quê. Trên cái nền nhà bà Nghĩa lợp lá cọ ngày nào bây giờ là một ngôi nhà tường xây nho nhỏ lợp Prô xi măng nóng như hun. Hoá ra là nhà tình nghĩa cho bà Nghĩa. Nhưng nóng quá, ngày hè bà chống gậy còng lưng làm cỏ sắn, nghỉ trưa ngoài gốc mít. Tối nguội nắng mới chui vào nhà. Đêm khuya, mát mẻ hơn rồi bà phe phẩy cái quạt lá cọ ngồi giữa cửa bà gọi Đức ơi... Ới Đức ơi là Đức ơi. Bên nhà tôi nghe bà gọi con mà não ruột. Lâu rồi thành quen. Cứ đêm đêm thấy tiếng Đức ơi là mẹ tôi bảo bà ấy ăn cơm rồi. Nhưng có đêm không thấy bà Nghĩa gọi ời ời... Đức ơi... ới Đức ơi, thì mẹ tôi giật mình xách cái đèn đi sang. Khuya mẹ tôi về, nói bà Nghĩa cảm mà không biết, may quá cho bà uống thuốc vã được mồ hôi rồi.

Càng ngày lưng bà càng rạp xuống. Ngôi nhà tình nghĩa xóm làng đã phải sửa lại đôi lần. Mẹ tôi đã mất. Về quê, đêm đêm nhìn đom đóm lập loè bên vườn nhà bà Nghĩa chẳng thấy tiếng gọi thằng Đức ời ợi. Chỉ có tiếng con chó dé nhà bà sủa ong óc mệt nhọc. Khổ thân! con chó nó đói thì sủa to làm sao được.

Ngoài tám mươi tuổi rồi, bà Nghĩa vẫn sống một mình và đêm nào cũng gọi Đức ơi. Chỉ có điều tiếng gọi của bà bây giờ phải vào trong hiên nhà bà mới nghe tiếng.

NTL

litangu
16-05-2013, 08:37 AM
bài thơ viết khi xem tấm ảnh của TS1 vè quê tôi


Mồ côi


Mẹ đi đã chục năm rồi
Cha cũng về bên với mẹ
Cánh đồng giờ hoang vu quá
Con về chẳng thấy cò bay

Bến sông vắng người đập chiếu
Đồng hết săn sắt đuôi cờ
Con lang thang chiều quê cũ
Xập xình nhạc đổ cong đê

Người đông nhà cũng đông theo
Mà con thấy hoang mang quá
Rau tập tàng ra thành phố
Chẳng thấy vị nào ở quê

Cây gạo bến sông mồ côi
mồ côi suốt thời con trẻ
Nay về quê hương tìm mẹ
Con mồ côi tự bao giờ ?

Sông lững lờ mùa nước cạn
Đò xưa lười lắm mẹ ơi
đồng xanh cuối chiều thổn thức
Nhặt từng hạt nắng mồ côi




http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/YENBAI2010/42f46b83-6ff4-4314-b650-b75dedd6b5e5_zps79ff3707.jpg

BinhBet
16-05-2013, 07:32 PM
(http://khucquanhanh.vn/diendan/members/34-khottabit59.html)
http://khucquanhanh.vn/diendan/image.php?u=34&dateline=1310636093

khottabit59 (http://khucquanhanh.vn/diendan/members/34-khottabit59.html)

1 Ngày trước #18705 Bác ấy " nhạy cắn " quá Bom ạ! Mới nhìn thấy chị ấy nói chuyện với một bạn trai mà đã....buông súng rồi!
=======
*Sở trường của lính 320A là đánh công kiên cơ mà. Phải đánh bật "địch" ra khỏi lô cốt để làm chủ trận địa phải không cụ Khốt. Đằng này bác cháu lại ngại "mật tập", rõ là chán.
Chứng tỏ là các bác Tây Nguyên còn kém hơn mấy bác Cửu Long chỗ bác Khốt và lão Nhất.

litangu
17-05-2013, 10:08 AM
Bạn tôi nằm ở Mỹ Chánh

Hôm nay đã 17/5. Hôm qua gọi điện cho Lixeta biết LI đang ở cầu Bến Đá gần tới sông Mỹ chánh. Trời nắng nóng quá Lixeta ơi! Hà nội những 40 độ trong ấy thế nào? LI bảo Quảng trị vẫn cái nắng như 41 năm trước. Mình vụt nhớ về cái nắng Triệu Phong, Hải lăng trên trời, cái nóng lửa đạn và bom dưới đất, cái chói chang của cát bỏng mùa hè, lửa đạn tóe lên tan bùng những cánh hoa phượng tháng 5 dọc đường quân ta đẩy địch từ Dốc Miếu đến bờ sông Mỹ Chánh. Bốn mươi người lính xe tăng tuổi hai mươi nằm lại Hải lăng mùa hè 72 trong một trận đối tăng ngột ngạt cuối đợt tấn công Giải phóng Quảng trị. Tôi nhớ đến bạn thân của tôi cũng hi sinh bên bờ Mỹ Chánh tháng 5 năm ấy. Ba ngày nữa đến ngày giỗ bạn tôi rồi - 20/5/1972.

Nó nhập ngũ 6/9/71 từ Đại học ngoại ngữ Hà nội. Những ngày hè 71 năm ấy quê tôi vỡ đê sông Hồng. Làng tôi chìm trong nước đỏ mênh mông và mênh mông. 2 tuần nghỉ ở nhà hai đứa chèo thuyền ve ve cả đêm. Sau lụt trăng thường rất sáng. Chúng tôi nằm ghếch trên thuyền mơ ước đủ thứ chuyện trên đời. Tối ấy đột nhiên nó bảo thôi mày về đi tao chèo thuyền sang xóm Dậm rủ con bé An đi chơi. Eo ơi! mày rủ con bé mới 16 tuổi hả? Nó cười khanh khách thế mày nghĩ mình nhiều tuổi hơn nó đấy à? 16 mà nó còn khôn hơn tao và mày 19 đấy. Rồi nó khỏa mái chèo đi, những mảnh vỡ của trăng tan lõm tõm theo tiếng nó cười…

Chiều hôm sau nó bơi thuyền vào nhà tôi. Nắng mằn mặn hắt ánh vàng trên tán cọ. Vào sân nó nói ngay: Tao đi rồi mày ạ. Tôi hỏi có giấy à? Ừ vừa báo về trưa nay. Hai đứa nhìn nhau như thấu hiểu chuyện này sẽ phải đến. Hôm mới về hè cả hai đứa tôi đều đã khám nghĩa vụ. Cả hai thằng đều bâng khuâng nghĩ rồi một lúc nào đó mình sẽ ra đi, mình sẽ gửi sách bút lại trường để đi về nơi lửa khói. Đột nhiên nó bảo, tối qua tao bơi thuyền đưa con An lên gò cọ đầm Cả. Nó khỏe như trâu mới vực. Mày không biết đâu, trăng sáng đến nỗi tao đếm được cả lông tơ trên ngực nó. Đồ nói phét! hai thằng cười quên phắt cái chuyện giấy báo nhập ngũ.

Hôm sau nó đi. Nó đi bằng thuyền nan xuống đến Ấm thượng rồi đi bộ ra đường 70 bắt xe ô tô về Hà nội. Nước lụt vẫn cứ mênh mang như cũ. Hàng đêm tôi vắng nó nghe tiếng sáo véo von của mấy thằng xóm Dậm lại nhớ những ngày đã qua lênh đênh cùng nó, lại nhớ cái chuyện nó và cái An trên gò cọ đêm trăng…

Thời ấy dân ĐH ngoại ngữ đều biết cái tên Nguyễn Tiến Thường khoa Nga vì nó học rất giỏi. Nga hay đi liền với Pháp nên nó cũng rất giỏi tiếng Pháp. Những ngày hè vừa rồi ngồi trên thuyền đêm trăng nó đọc Vích to Huy gô bằng tiếng Pháp rồi giảng giải cho tôi nghe. Cái thứ âm thanh tiếng Pháp sao mà quyến rũ thế. Bây giờ nó đi rồi, giọng đọc tiếng Pháp lan man trên mặt nước vẫn như đâu đây. Vài ngày sau tôi cũng đi. Rồi vài tháng sau tôi cũng lại lên đường. Làng tôi có bao nhiêu thằng vào được Đại học thì bấy nhiêu thằng lên đường vào nam đánh nhau. Tôi chỉ nhận được một lá thư của nó cuối 1971 nói là sắp đi B. Nó bảo, đi vào trong ấy nhớ quê mình đầy mít và quýt ngọt, gái quê mình ngon mà mãnh liệt lắm mày ạ. Thế rồi biệt tin nhau.

Tôi trở về làng sau bốn năm những là bom là đạn là phiêu bạt từ Tây nguyên tới Sài gòn. Về đến đầu làng nhìn thấy tôi là người làng đã nói anh về rồi đấy à, anh Thường thì chết ở Quảng trị rồi anh ạ. Mùa đông năm ấy tôi ra cánh đồng ngô đang trổ cờ nhìn sang xóm Dậm nhớ đêm vỡ đê trăng sáng như ngọc trên mặt nước và tiếng khỏa lõm tõm mái chèo của thằng Thường đi tìm cái An. Bao năm qua chúng tôi và gia đình Thường kiếm tìm mà biết được nó nằm đâu. Mãi tới năm 2008 tình cờ đọc trên báo Quân Đội có thằng Thực cùng lớp nó viết cái tin bị thương cùng với Thường. Thế là tìm thằng Thực. Tìm được rồi càng thất vọng. 19/5/72 D9 E66 F304 của chúng nó qua sông Mỹ chánh lập trận địa chống chiến dịch tái chiếm QT của Ngô Quang Trưởng. Sáng ấy 20/5 hầu hết số bộ đội lập trận địa nam sông Mỹ Chánh đều hi sinh vì một trận đánh rất nhiều thiết giáp cùng Thủy quân Lục chiến tấn công. Thường ơi, thương mày quá mày hi sinh vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 20 của mày, Thường ơi.

Mấy chục năm sau, bố nó mất rồi mẹ nó vẫn không quên đi tìm nó. Hè năm ngoái em trai Thường là một Tiến sĩ ở Hà nội gọi tôi: em đưa mẹ vào sông Mỹ chánh dịp 20/5 thắp hương cho anh Thường em. Anh đi được không? Tôi buồn, em ơi anh đang huyết áp không đi được. Ở nhà vẫn nghe điện thoại chú em ấy gọi về. Anh ơi em và mẹ em ra chỗ cánh đồng anh Thường em đánh nhau và hi sinh. Mẹ em đang ngồi ở đây khóc anh Thường. Tôi bảo nắng quá em cẩn thận cho mẹ. Hôm ấy cũng là 20/5 ngày sinh nhật cũng là ngày hi sinh của Thường. Cái ngày 20/5 của bốn mươi năm sau mẹ mới tìm được về bên con.

Trước mắt tôi, người mẹ già ngoài tám mươi ngồi trên bờ sông Mỹ Chánh nơi đấy có xương máu của con trai mình, nơi ấy có khúc ruột của bà tan vào đất, nơi ấy lúa và ngô đang xanh còn con bà thì hóa thành đất nâu tan vào gió vào sông vào cây trái vùng Quảng trị này. Tôi ngồi nhà viết bài thơ tặng mẹ bạn mình mà nước mắt thì lã chã.

Mẹ đón con về quê hương


Mẹ đi với các bạn con
Qua chang chang nắng qua cồn cát trưa
Hải Lăng có giống ngày xưa?
Xanh xanh là lúa là ngô ngút đồng
Lưng còng lội ruộng lội sông
Mẹ tìm về chỗ con nằm Thường ơi
Thịt xương con ở đây rồi
Mép sông mẹ lại đến ngồi bên con
À ơi con ngủ cho ngoan
Cái cò mải cánh bay sang Phong Điền
Mẹ ngồi che nắng cho con
Đất nâu là thịt con còn đâu đây
À ơi con ngủ cho say
Mẹ nâng nắm đất trên tay ra về
Lưng còng xiêu dưới bờ tre
À ơi mẹ bế con về quê hương.



17/5/2013

lixeta
17-05-2013, 03:36 PM
Cảm ơn quê LTN vẫn dõi theo tưng bước của đoàn.
Đài tưởng niệm các LS xe tăng ở Bến Đá đây
http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/nguyenkhacnguyet/0b222dc57936c649f58c3dad60347bbd_zps48df77e3.jpg

Chúng tôi qua đây lúc gân 1 giờ, nhiệt độ chắc hơn 40 độ. Thắp cho anh em nắm nhang và vài điêu thuốc rồi còn đi tiếp
http://i627.photobucket.com/albums/tt353/datavehu/nguyenkhacnguyet/a92445c237fc86b1547859ee1bf6f872_zps91a19445.jpg

litangu
19-05-2013, 10:38 PM
Một đêm ở Cheo Reo

Nắng thật là vàng sau lưng. Tôi ngồi trên đèo Chư Xê nghe xạc xào lá rụng. Hai khúc cua tay áo ì ạch những chuyến xe chở cát vàng từ dưới Ajun Pa lên, khói đặc quánh cái màu khói Cheo Reo đã rất xa.

Từ trên đèo nhìn xuống, cả một vùng lúa nước Ajun hạ vàng nhàn nhạt. Ngọn Chư athai giăng bức màn sám mầu sương, nhìn qua Phước Thiện thấy Cheo reo sam sám có một vạch vàng của dòng sông Ba ôm lấy. Tôi không nghỉ trưa. Sau khi đã vượt qua đồn Tầm ngó lên chốt Mỹ giữa ban trưa xe vun vút vào nghĩa trang Đức cơ. 12 giời trưa, đúng lúc tôi bước vào cổng Nghĩa trang thì tháp chuông đổ hồi, trên tượng đài nghi ngút khói hương, một mâm cỗ sôi gà và hoa trong nắng. Cứ tưởng có gia đình thân nhân nào đó vào lấy hài cốt người thân hóa ra không phải, hôm nay là rằm tháng 3 những người quản trang đang làm lễ cho liệt sĩ nơi đây. Dưới đất bazan kia các anh có biết đường về hưởng khói hương mà người trần gửi tới các anh không? Tiếng chuông vừa ngân lên để nối tới miền tâm thức kẻ sống người thác có giúp cho các anh bắt gặp những nỗi lòng người còn sống như chúng tôi không? Đàng xa kia là ngọn Chư pơ rông lở lói chạy dài sau màu xanh cà phê và cao su của binh đoàn 15. Ở đó máu của một ngàn liệt sĩ E33, E320, E66 trong trận Play me, ở đó có hàng mấy trăm đồng đội của F320 chúng tôi trong mùa khô năm 72. Nghĩa trang dựa lưng trên ngọn đồi thật đẹp, đằng sau nơi các anh nằm là sân bay cũ và bây giờ là một khu phố rất trẻ rất đẹp đang ngát gió cuối mùa khô. Bỗng bùng lên trùng trùng tiếng ve cuốn theo cùng bụi đất đỏ ra cửa khẩu Lệ thanh, cuộc sống bình yên, những con đường hun hút lên xuống đầy gió và trên cao thật nhiều mây trắng.

Xe tôi quay lại nhằm ngọn Hòn rồng. Đường vắng, hoa Dã quì cuối mùa le lói. Tôi qua những nơi tôi từng chiến đấu 38 năm trước mà dạ cứ buồn buồn. Lượt về, tôi bảo người tài xế dừng chân ở thị trấn Thanh Bình. Nơi ngày xưa lính trinh sát mò tới đây phải rất dè chừng vì dân nơi này chủ yếu đi đạo từ bắc di cư vào được chính quyền Diệm đưa lên lập ấp. Bây giờ những cái biển hiệu sang trọng của các nhà hàng nấp sau những lùm cây Vú sữa, cây Sa bu chiê. Chả còn một tí gì mang dấu tích chiến tranh. Chiến tranh lùi xa quá rồi mà sao tôi lại lần mò về nơi ấy? Tôi về nghĩa trang Play cu rồi vượt qua ngã ba Chư Xê để về Cheo reo. Tôi phải về nơi ấy, phải có một đêm ngủ với Cheo reo để hít thở cái khí trời thung lũng bên sông như 38 năm xưa một đêm tôi không được ngủ ở nơi này.

Xe xuống khỏi đèo chạy trên một vùng đồng lúa nước Ajun hạ. Mấy ngàn héc ta đất khô cằn bây giờ trở thành vựa lúa cho Gia lai. Tôi hạ cửa kính xe hít cái mùi ngai ngái khói đốt đồng trong chiều sắp tàn mà nhơ đồng quê mình ngoài bắc. Vẫn xanh sẫm vào hoàng hôn là ngọn Chư pa mà chúng tôi đã chèo vượt trong đêm 18/3 để kịp chặn địch ở cầu cây sung. Xe đến Phước thiện mấy đồng đội 64 đã gọi giục về ngay nhà Thành ở phố Trần Hưng Đạo. Phố rất trẻ xen lẫn những ngôi nhà sàn rất cũ, và những đàn bò lững thững qua đường. Con đường này 38 năm trước là một chiến địa kinh hoàng. Giờ tan tầm hối hả xe cộ có những khúc đèn đỏ đứng kề bên những cây muỗm cổ thụ quả nhỏ nhưng rất vàng.

Tối nay, những người lính chúng tôi từng chiến đấu bên nhau ở Cheo reo lại ngồi uống rượu với nhau ở chính cái trận địa cũ. Cái nhà hàng mang cái tên rất miền bắc: Sông Cầu. Vừa bước vào khuôn viên tôi đã nghe ở một góc vườn ai đó gọi tên mình. Thì ra đó là một chiến sĩ vân tải D25 mà đã biết tôi từ xưa. Ôi anh Luân gầy gò thế. Hắn nói ngay thế, tôi phải hỏi lại tên người đồng đội ấy. Hắn kể một lô những kỉ niệm khi xưa thế là nhớ ra nhau. Đêm nay, Cheo Reo dìu dịu mát uống mãi mà không say cứ như mình đang phiêu bồng về một đêm rất xa. Đêm ấy cả thị xã này đầy những đám cháy di động, những la hét và khóc than. Đêm ấy một cuộc chiến thắng của chúng tôi chưa trọn vẹn. Những con số mấy chục xe tăng mấy chục khẩu pháo và mấy ngàn quân địch bị tiêu diệt. Đêm ấy bắt đầu cho một sự tan vỡ không gì gượng dậy nổi của kẻ địch để bắt đầu một cuộc truy kích có một không hai trong lịch sử quân đội ta. Nhưng cũng từ đêm ấy chỉ là người lính thôi chúng tôi cũng đã thốt lên: giá mà dân lành không chết nhiều đến thế!

Đêm nay tôi ngủ ở một khách sạn nhìn sang bên kia đường là nhà bia tưởng niệm liệt sĩ sư đoàn Đồng Bằng (320A) hi sinh trong trận Cheo Reo. Hơn một trăm cái tên tôi biết gần hết. Khuya lắm tôi ra ban công nhìn sang. Mái nhà bia bốn mũi đao cong thẫm vào đêm, lặng lẽ khiêm nhường. Ngoài đường những vệt đèn xe thanh bình vút qua. Bạn tôi nằm đấy bốn chục năm tên tuổi đã hóa thành cây cỏ. Sau lưng các anh là hợp lưu của hai con sông, sông Jun và sông Pa để làm nên cái tên thị xã AJUN PA thay cho cái tên Cheo reo ngày xưa. Nơi các anh nằm khói hương vẫn rưng rức ngày một ngày rằm. Cây muỗm cổ thụ vẫn buông từng chùm quả chín vàng chỉ thiếu một lũy tre, lũy tre như làng của các anh ngoài bắc. Đêm nay tôi lại hít cái mùi rất quen mà lau lắm tôi không thể hình dung ra. Lúc chiều tôi đã kịp chạy qua hai gốc cây me nơi tôi đã nằm đó bắn ra đường. Hai cây me đã thành cổ thụ, lá vẫn xanh quả vẫn cong cong như cái quẩy còi. Người qua đường chả ai biết nơi này đã từng là bãi chiến trường đẫm máu tức tưởi. Chỉ có tôi người lính già và cây me gà gộc kia thì biết và rất nhớ.

26/4/2013 NTL

Cây me nơi xưa tôi đã nằm bắn ra đường giờ đã to lớn như thế này

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_9824_zpsf4c926a7.jpg

litangu
20-05-2013, 01:10 PM
Hôm nay 20/5 ngày sinh nhật cũng là ngày giỗ bạn tôi - Nguyễn Tiến Thường - Nga văn 69 ĐH Ngoại ngữ HN

Thường hi sinh bên bờ Mỹ Chánh. Sáng đến giờ lẩn thẩn nhớ mà chả viết được cái gì về bạn. Nhớ bài thơ cũ mang ra treo lại khóc bạn vậy Thường ơi




Mày nằm chỗ nào Thường ơi

Tặng hương hồn Bạn tôi Nguyễn Tiến Thường -69 Nga văn ĐH Ngoại Ngữ
hi sinh ở QT 21/5/72



Mày nằm chỗ nào Thường ơi
Tao thoáng nghe tiếng mày trong gió
Mày đọc Sông Đông êm đềm bằng tiếng Nga
Mày hát “chiều Mát cơ va “ thầm thì cùng ai thế

Mày gọi tao phải không? mà sao không thể
Cùng mày về lại quê
quê thì nghèo mất mùa lụt lũ
Bữa liên hoan mày tòng quân độn sắn ngốt người

Ước mơ cháy bùng như cánh phượng rơi
Đến tàn vẫn tươi sắc đỏ
Súng cổ thành xé toang giáo trình dang dở
Đưa mày về nằm đâu?

Quảng trị xanh, xanh đến nghẹn ngào
Tao ép cánh phượng cổ thành ngày về thắp nhang cho đồng đội
Chúng tao già chúng mày thì trẻ mãi
Ở một trường đại học cõi linh thiêng

Tao hiểu vì sao hoa cỏ mãi ngát xanh
Lòng Thành cổ có một trường Đại học
(Có hàng ngàn sinh viên quân phục xanh tưng bừng vào lớp)
Trong nồng nàn khói nhang

Bốn mươi năm sau tao về
tìm mày trong gió

ONGBOM-K5
20-05-2013, 02:54 PM
Hôm nay 20/5 ngày sinh nhật cũng là ngày giỗ bạn tôi - Nguyễn Tiến Thường - Nga văn 69 ĐH Ngoại ngữ HN

Mày nằm chỗ nào Thường ơi

Tặng hương hồn Bạn tôi Nguyễn Tiến Thường -69 Nga văn ĐH Ngoại Ngữ
hi sinh ở QT 21/5/72


-Ngày 21-5-1972 nhằm vào ngày 09-4 năm Nhâm Tý ( cũng là ngày Nhâm Tý )
-Thường thì mọi người hay chọn ngày âm lịch để giỗ chứ bác ?

litangu
21-05-2013, 03:12 PM
Chuyện vặt nhớ lại vào mùa suy thoái


Vài tháng nay làm ăn thua lỗ. Càng lỗ mình lại như người tỉnh táo, nhớ những chuyện linh tinh hồi nảo hồi nào. Lúc trước rủng rỉnh lãi. Nay nhậu mai du lịch, thăm thú giao du chẳng nhớ gì những sự việc lúc hàn vi, chẳng nhớ cả những người từng là ân nhân mình ngày trước. Đêm, vợ con ngủ cả, một mình đứng ban công hút thuốc. Khói thuốc bay vào phòng vợ con đang ngủ ho sù sụ. Chợt nhớ phải khép cửa lại. Bấy lâu nay mình cũng đã gây hệ lụy tới gia đình nhiều mà dửng dưng coi là đương nhiên phải thế, Ông chủ mà. Kiếm được tiền thì làm gì chả được. Một thời, khi không có tiền sống tá túc ở cơ quan của vợ trong khu tập thể Cục bản đồ gần chùa Láng mà ngày nào cũng vui như hội làng. Nhà ai cũng như nhà ai. Cả khu ngót trăm ngôi nhà mà chỉ có 2 cái mô kích. Một của thiếu tá Trung làm hậu cần quân khu Thủ đô và một của cậu Ngũ đi Đức về. Nhà mình có cái xe đạp Diamant là oách lắm rồi. Nhìn vợ mình dong cái xe đi vào ngõ trông thị xinh hẳn lên. Khốn nỗi, hồi đó mình đã làm quản đốc rồi nhưng nhà thì không có, nhẩy dù vào tập thể bên vợ. Trong tập thể này hễ anh nào nhẩy dù vào thì coi như đó là công dân hạng hai. Mà đã là công dân hạng hai thì đi lại phải nhẹ nhàng, ăn nói phải nhã nhặn. Gặp ai cũng toét miệng cười và chào hỏi tử tế. Hồi đó cái oai của mình có hệ số bằng không. Không ai giao thiệp với mình, có chuyện gì thì chỉ nói với vợ mình thôi. Mấy anh cán bộ cấp phó phòng là loại cao nhất ở đây. Chứ vươn tới trưởng phòng thì họ lại tiến lên khu tập thể oách hơn, sang bên cục hay ra khu mả Tàu ngoài Láng hạ. Vậy nên nếu không tính mấy tay cấp phó phòng thì khu nhà mình là khu thường dân. Phải nói đúng là khu lao động.

Cạnh nhà tôi là nhà Vang Nghi. Vang là vợ. Nghi cũng nhẩy dù như tôi nhưng là thế hệ trước. Nghi làm bảo vệ bên cục ở đường Láng thượng đi bộ năm trăm mét là tới. Vợ Nghi, cái cô Vang da trắng và to con. Kém mình 5 tuổi mà cũng đã hai con gái. Cùng mái chung tường cót ép với nhau. Chuyện nhỏ chuyện to cố giấu nhưng hai nhà đều biết hết. Ngay ngày đầu tiên nhẩy dù vào hắn bảo, chiều nay đợi em về hai anh em uống rượu. Chiều ấy giám đốc xí nghiệp vợ tôi cho bảo vệ xuống hót vợ chồng tôi ra ngoài. Chẳng hiểu sao Nghi biết chạy về trước thông báo với vợ chồng tôi và hắn dặn, anh đừng có ý kiến gì cả, cứ vâng dạ cho xong, không có gì xẩy ra đâu. Mà không có gì xẩy ra thật. Hai chú bảo vệ sừng sộ một hồi rồi ra về. Đêm ấy tôi và Nghi uống hết hai ngàn rượu và năm trăm lạc rang ngoài bãi rau làng láng.

Rồi những ngày sau đó tôi và Nghi lăn ra làm ruộng trồng rau. Đất làng Láng bỏ hoang vô khối chứ không tiền tỷ như bây giờ. Hai thằng trở thành tiên phong cho cả khu tập thể về công tác khai hoang. Rồi, tôi và Nghi lại đi đầu việc lấy phân bắc tưới rau. Chiều chiều, phân bắc được mang ra tưới rau thối inh vào khu tập thể. Họ chửi bọn tôi khiếp lắm. Nhưng thây kệ. Nghi và tôi vẫn vừa làm vừa hát. Thế rồi chỉ vài tuần hai ruộng rau của nhà chúng tôi xanh um. Hồi đó hái rau bán hàng tháng cũng bằng lương kĩ sư. Và thế là cả khu lao vào hót phân bắc. Mọi hố xí sạch bong. Hết phân rồi, kéo nhau sang sang trường đại học Ngoại thương chiến đấu tiếp. Cánh đồng rau muống trông mà sướng. Nhưng rồi rau nhiều quá lại đâm ra cạnh tranh chỗ bán. Dần dần rau xuống giá, chợ Giảng võ ư ứ rau. Buồn chả ai thèm đi hót cứt nữa. Hố xí trong khu tập thể lại đầy phè, thối inh. Tôi và Nghi bần thần ngồi bàn kế khác.

Nhà chúng tôi là nhà lợp cỏ tranh từ những năm 72. Đó là những gian nhà làm theo kiểu sơ tán máy bay. Sau hơn mười năm cỏ tranh mục nát, nhưng cột kèo tre thì còn tốt. Gian nhà dột thì đắp bằng cót ép. Nhà nào có tiền thì cậy cục nhờ mua vài mét giấy dầu đắp lên Cái mái nhà cứ dầy lên và nặng chịch chừng như ụp xuống bất cứ lúc nào. Nhưng cư dân ở dưới thì quyết không cho nó ụp xuống. Kẻ ở dưới chống lên. Trên cao cứ đè ụp xuống. Cuộc chiến giữa mái nhà và con người kéo dài năm này qua năm khác. Việc mua giấy dầu không phải là đơn giản. Phải có tiêu chuẩn, phải có giấy chứng nhận của cơ quan… nhiêu khê lắm. Một tối, Nghi kéo tôi ra ngoài bãi rau làng Láng. Nghi có người quen ngoài Giảng võ sắp dỡ nhà để xây mới. Ông này là sếp nên căn nhà lợp ngói lại còn được ốp giấy dầu năm ngoái nên còn tốt lắm. Chỉ cần dỡ nhà hộ là ông ấy cho toàn bộ số giấy dầu trên. Hay. Vậy là trọn hai ngày dỡ nhà. Xong xuôi hai đứa nhễ nhại thồ vài chuyến mới hết sản phẩm về khu tập thể. Công đoạn tiếp theo Nghi lo. Trúng quả. Chỉ trong một buổi chiều, hết bay số giấy dầu. Thừa thắng xông lên, Nghi đưa ra sáng kiến bán trứng vịt lộn. Tôi chịu. Hắn không chịu. Hắn về Phú xuyên mua thí điểm bốn trăm quả để bỏ mối. Mặt hàng này không có mối sẵn thì chỉ có luộc ăn trừ cơm. Và sau vài ngày Nghi cho cả xóm mỗi nhà vài mươi quả. Ăn nhiều quá mấy tháng sau nghĩ tới trứng vịt lộn ai cũng kinh.

Dạo ấy tôi làm quản đốc Xí nghiệp Dụng cụ Thể thao. Chả ăn được gì chỉ có mùn cưa mua tiêu chuẩn. Tuần được một bao. Xin thêm anh em lúc được lúc không. Ì ạch đèo bằng xe đạp về bán cho hàng xóm, gần bằng lương tháng. Nhưng Nghi phát hiện ra rằng mùn cưa không ăn bằng gỗ vụn. Thế là nghe theo hắn mỗi khi mua mùn cưa tôi nhặt trộm những thanh gỗ vụn, ngắn có dài có cắm theo phương thẳng đứng của bao mùn cưa. Rồi, hắn lọc ra đem bán cho hàng thợ mộc ngoài Giảng võ. Họ làm nan sa lông. Hay, hiệu quả hơn bán mùn cưa tới năm lần.

Nhà Nghi vang có mỗi cái giường đôi. Cái giường một thì mượn của cơ quan. Mỗi lần sang nhà tôi hắn mê mải ngắm cái tủ li hai cánh lát chun, miệng lẩm bẩm tuyệt tuyệt. Tuyệt cái khỉ gió, khung xương cũng là đồ ăn cắp dần ở cơ quan. Hai cánh lát chun nứt rồi nhưng gắn keo sơn bả rất khéo. Hồi ấy tủ li đắt thế, cỡ ba chỉ vàng. Nhà nào mà có cả tủ li và tủ đứng là được xếp hạng để… nể.

Thường đi làm về vợ tôi hay ca cẩm những chuyện đâu đâu phát sinh ở cơ quan. Nghĩ lại cũng thấy tội cho vợ lấy phải chồng nghèo. Chuyện thế này. Do làm cái nghề ngồi vẽ bản đồ, học nghề cùng nhau, về cơ quan cùng nhau lại làm việc tám giờ bên nhau năm này qua năm khác mà lại toàn đàn bà. Vì thế chuyện gì cỏn con cũng thành quan trọng trong cái căn phòng sực nức mùi đàn bà và tanh tanh của mực tầu. Tỷ như chuyện cô A lấy được anh thợ ảnh dễ kiếm tiền, ăn trắng mặc trơn, tuần nào cũng bánh tôm Hồ tây. Chị B chồng lái xe quá cảnh, mỗi chuyến về nào là tông lào, nào là mì chính ăn không hết mà cho thì ngại mang tiếng, cứ để giành chuột cắn tung tóe. Khiếp, mì chính quí như thế mà để chuột cắn. Mèng như cô C cũng còn vớ được anh công nhân bên xưởng in, nhưng lại có nhà trên Hàng Gai. Tiếng là công nhân nhưng đi bình bịch, đeo đồng hồ Orian to vật, tóc vuốt ngược ướt dượt. Trai phố cổ nhà tối hun hút người nào cũng trắng trẻo ngai ngái mùi thành phố. Một thời ai cũng thích cái thứ mùi người trên phố. Tóm lại, rất nhiều hoàn cảnh nhưng hoàn cảnh nào cũng trên mình một bậc.

Mấy cô bạn vợ mình toàn lấy mấy chú đi tây về, chú nào cũng có xe cuốc đít cong như đít bọ ngựa. Hoặc giả không phải chú đi tây thì cũng Trung quốc Triều tiên, áo len cổ quả tim, con gái bản đồ trông các chú đã thấy tây tấy. Đằng này vợ mình lấy thằng nhà quê, cái xe đạp rách cũng không có, không nhà cửa, môi sốt rét thâm như con đỉa phơi ba nắng. Được mỗi cái là đảng viên, bộ đội từ chiến trường về. Hừ, bộ đội mà làm gì, chả nhẽ mắc võng ngoài đường mà ru con à? Ai cần biết cái anh đảng viên không nhà phải nhẩy dù?

Trong bữa ăn vợ tôi bảo: ở tổ họ xếp em thứ bét. Xếp hạng thế nào? tôi hỏi. Vợ bảo, họ chấm điểm. Ai có chồng người Hà nội một điểm. Chồng đi tây: một điểm. Ai có nhà một điểm. Ai có xe đạp ngoại cũng một điểm. Có tủ li một điểm, tủ đứng ba buồng hai điểm… Sau một hồi hồi tính toán nhà tôi được nhõn một điểm tủ li. Vợ tôi mêu mếu. Tôi cố nuốt miếng cơm với cùi dừa kho đang mắc ngang cổ. Hai thằng con trai thích thú hỏi: Thế nhà Thu Giai mấy điểm. Mẹ nó gắt, hơn điểm nhà mày. Bố con tôi ngồi… lặng ngắt.

Vậy thì phải làm cái tủ đứng cho nhiều điểm. Bán cái tủ li đi cho Nghi Vang. Nhà ấy đang máu. Hôm sau gọi Nghi. Hắn mừng húm. Cho hắn nợ trả dần. Ngay buổi chiều vợ chồng sang khiêng luôn về. Cái tủ cánh lát chun bây giờ lại dựa quay lưng về nhà tôi. Ngăn giữa có bộ bát sứ Trung quốc mới mua. Hai bức ảnh cụ già mới làm đề phòng hậu sự, một con lật đật Liên xô đo đỏ. Cái này nghe đâu của nhà Hồng Hoành cho vì nhà ấy có chú em mới đi Liên xô một năm.

Nghi oách thật. Tối ấy vợ Nghi vừa nấu cám lợn vừa hát nổi trống lên rừng núi ơi. Nghi hút thuốc lào xoe xóe ngoài sân, hắn đang giải thích cho hàng xóm thế nào là lát chun thế nào là lát hoa. Trong nhà vợ tôi bần thần nhìn cái khoảng đất toe toét lỗ giun đùn, nơi vẫn kê cái tủ li gỗ lát. Cái tủ ấy nghe đâu vẫn tồn tại đến bây giờ. Nó chứng kiến sự lớn lên của hai đứa con gái nhà Nghi, chứng kiến sự mỗi ngày giỏi giang xinh đẹp của hai con bé trong suốt thời gian khó khăn hợp tan của bố mẹ nó.

Hai thằng con trai nhà mình, thằng lớn 8 tuổi thàng bé 1 tuổi nổi tiếng trong khu vì… đen. Một lần, đi làm về tới sân bóng chuyền, ông con lớn ngồi vắt vẻo trên bể nước, có tới ba chục đứa bé ngồi nghe nó giảng bài dưới sân. Mình phục sau cái xe ô tô tải nghe trộm. Nó hỏi, đố các em trong khu nhà mình người lớn ai đen nhất? Cả lũ trẻ đồng thanh: bố anh! Nó bảo tốt. Vậy trẻ con thì ai đen nhất? Lũ trẻ reo to hơn: anh! Nó khoái trá, các em giỏi lắm, anh sẽ xin bỏng ngô nhà bác Thấm cho chúng mày. Nghe mà lộn ruột nhưng làm gì được nó.

Nhà chị Thấm có một mình. Chị đi thanh niên xung phong thời chống Mỹ nên tuổi xuân gửi ngoài tuyến lửa. Tài sản mang về là nước da sốt rét và mớ tuổi ngót ba mươi. Tội nghiệp. Chị xin đứa con nuôi. Chị làm lụng vất vả hơn người thường mà vẫn rớt mồng tơi. Chị xoay sang bán bỏng ngô. Thằng con lớn nhà tôi làm chân tiếp thị cho bác Thấm. Nó tập hợp vài chục đứa trẻ xếp hàng dọc. Nó đi đầu cầm cái ống bơ sữa bò gõ coong coong. Nó xướng to: Nhà bác Thấm, thì lũ trẻ hô to hơn: có bỏng ngô. Coong coong coong. Một lũ rồng rắn đi quanh khu tập thể rồi ra đường sang cả trường đại học ngoại thương. Cứ réo ầm lên nhà bác Thấm có bỏng ngô. Tiếng coong coong và tiếng cười của lũ trẻ réo rắt. Khổ nỗi nó nghịch thế mà lại đen đủi, nên là cái mốc để mọi người đề cập tới. Nhà Cúc Tấn có hai con gái, cũng xinh vừa thôi. Nhưng Cúc Tấn thì luôn cho rằng con nhà mình cành vàng lá ngọc. Mẹ thì làm thủ quĩ, mỏng môi hay hạt. Bố làm đến thiếu tá. Mỗi lần hai đứa con lười học thì mẹ nó lại chì chiết: Mày mà hư sau này tao cho mày lấy thằng Bưởi. Thằng con nhà tôi quần đùi chễ rốn đứng ngoài đường vạch quần đái về phía nhà Cúc Tấn, vừa đái vừa vẩy. Hai vợ chồng tôi nghe mà buồn cười mà tê tái trong lòng. Tê tái mãi. Chả biết hai cô thúy kiều thúy vân nhà ấy bây giờ ra sao, còn thằng con lớn nhà tôi bây giờ là đại úy cảnh sát, mỗi lần nhắc tới thời sống ở khu chùa Láng thấy nó chùng mặt xuống, lẩm bẩm… chúng nó đi đâu hết chẳng gặp đứa nào…

Vài năm sau, khu tập thể phá hết nhà giấy dầu, nhà cỏ tranh xây cấp bốn. Xóm nhà tôi như thể khu gia binh thời ngụy ở miền nam. Nhưng mặt mũi ai cũng sáng xủa hơn. Bây giờ hầu hết nhà nhà đã có ti vi. Nhà mình cũng vậy, tuy là ti vi đen trắng, không phải hàng tối hai thằng con thập thò ở cửa nhà Nhung biểu. Nhà cô Nhung có bà cụ phúc hậu và thương trẻ con nên chúng nó hay kéo sang xem ti vi hoặc nghe bà kể chuyện. Bà cụ đến là đẹp người tốt nết. Nhà Nhung thì tướng tá rõ thật to con nhưng khi xem phim hễ gặp cảnh nào mùi mẫn y như là khóc, khóc đỏ cả mũi. Hôm nào có đoạn phim “Hoàn cảnh“ là rầm rầm tiếng mở cửa, chúng nó gọi nhau chạy đi xem cô Nhung khóc. Cô Nhung bây giờ chắc cũng nghỉ hưu rồi, còn lũ trẻ thì thành kĩ sư, bác sĩ, đi hết cả.

Thời thế đổi thay chóng mặt. Khu tập thể nhà tôi ngày ấy cũng vươn dậy, tự cơi nới mà chòi lên. Đường xá nay hẹp lại và không còn phải che mưa vì các mái nhà vươn ra gần chạm vào nhau. Lũ trẻ con như thằng lớn nhà tôi đếu đã học lớp 7 lớp 8 cả. Chúng đi lại duỳnh duỵch ấy ấy tớ tớ om xòm cả xóm.

Có điều lạ, lứa tuổi chúng nó đều không chơi với con bé nhà Hiền Mùi. Mùi là tên mẹ nó. Hai mẹ con ở với nhau, bố nó ở quê mất trong một vụ cháy nhà. Chả cứ gì trẻ con, người lớn cũng ít thân thiện với cô Mùi. Mùi da ngăm, có lẽ vì hoàn cảnh khổ sở nên cô ta ăn mặc khí luộm thuộm, tất tả. Mùi làm mọi việc, lăn lộn đủ thứ để nuôi con. Đứa con gái cũng lôi thôi như mẹ và luôn là tâm điểm chòng ghẹo của bạn bè. Trong mắt tôi, mẹ con nhà Hiền Mùi chả có gì khác biệt. Thậm chí tôi còn thấy nhà ấy giỏi giang hơn khối nhà có mác Hà nội. Có chăng họ quan tâm tới cái đằng nhan sắc. Nhưng cả hai mẹ con nhà ấy có cái gì khó nói lắm. Hoang dã. Thông minh. Tôi đồ rằng con bé Hiền sau này đẹp chứ chẳng chơi. Mùi làm gì cũng giỏi, kể cả việc vẽ bản đồ. Mở cửa hàng ngay tại nhà, hàng xén nhà nó thật đông khách. Đứa con lăn vào giúp mẹ mọi việc mà nó học vẫn khá. Chê gì thì chê, hàng nhà nó rẻ và tốt ai dại gì mà chê.

Trời chả cho ai tất mà cũng chẳng lấy đi của ai tất cả. Nghe đâu Mùi có cuộc sống khá giả và con bé Hiền lớn lên xinh đẹp hơn ối cô gái trong khu và lại lấy chồng cũng tươm. Nhưng cái tên nhà Hiền Mùi thì vẫn nguyên. Người ta có thể quên mấy ông phó phòng trưởng phòng chứ còn nhà Hiền Mùi thì mãi mãi họ nhớ cùng với sự tồn tại và lớn lên của cái khu thập thể chùa Láng.

Đã mười lăm năm chuyển khỏi nơi vợ chông tôi nhẩy dù xuống đó vào một sáng tháng ba. Cũng hai mươi năm không gặp lại Nghi Vang. Nhưng khu tập thể Bản Đồ Chùa Láng thì vẫn tồn tại và đổi thay nhiều lắm. Những đứa trẻ ngày xưa đã thành bố cả rồi. Nhà cửa xây lô nhô xanh đỏ. Cư dân ở đó đông gấp mười lần ngày xưa. Nhưng nhà nào cũng khép kín. Dù rất đông đúc nhưng không còn phải lo đi ngoài ở nhà vệ sinh công cộng nữa. Cái thủa gặp nhau tránh mặt không được ở ngoài hố xí với bộ mặt căng thẳng không ai nhường ai xa tít tắp từ lâu rồi. Lớp trẻ không hình dung nổi và cũng chẳng ai muốn nhớ lại làm gì. Chỉ có tôi lẩn thẩn nhớ lại những chuyện không đâu, chuyện một thời đã lùi xa, đã xưa như cánh đồng húng Láng nay chỉ còn trong ca dao, trong chuyện kể. Con đường đất sỏi bụi mù chạy vào khu nhà chúng tôi xưa đã mang tên đường Chùa Láng. Con đường lúc nào cũng đông người, mật độ gái đẹp ở đây rất cao vì tập trung tới bốn trường đại học. Nơi ấy một thời gia đình tôi đã sống với hàng xóm thật vui vẻ và ân nghĩa. Bây giờ muốn tìm lại, muốn sống tình nghĩa như hồi đó cũng dễ gì tìm được.

Không tin bạn thử đi qua đó mà xem.

ONGBOM-K5
21-05-2013, 09:38 PM
Chuyện vặt nhớ lại vào mùa suy thoái


... Rồi những ngày sau đó tôi và Nghi lăn ra làm ruộng trồng rau. Đất làng Láng bỏ hoang vô khối chứ không tiền tỷ như bây giờ. Hai thằng trở thành tiên phong cho cả khu tập thể về công tác khai hoang. Rồi, tôi và Nghi lại đi đầu việc lấy phân bắc tưới rau. Chiều chiều, phân bắc được mang ra tưới rau thối inh vào khu tập thể. Họ chửi bọn tôi khiếp lắm. Nhưng thây kệ. Nghi và tôi vẫn vừa làm vừa hát. Thế rồi chỉ vài tuần hai ruộng rau của nhà chúng tôi xanh um. Hồi đó hái rau bán hàng tháng cũng bằng lương kĩ sư. Và thế là cả khu lao vào hót phân bắc. Mọi hố xí sạch bong. Hết phân rồi, kéo nhau sang sang trường đại học Ngoại thương chiến đấu tiếp. Cánh đồng rau muống trông mà sướng.
... Bây giờ muốn tìm lại, muốn sống tình nghĩa như hồi đó cũng dễ gì tìm được.

Không tin bạn thử đi qua đó mà xem.

Sao lại không tin! Chắc chắn mọi người phải tin rồi bác NTL ơi.
Khu chùa Láng chỗ bác ở năm nao có gần bãi đậu xe tải của các tỉnh phía Nam không?
Cơ quan của anh ruột lão Mực Tàu đậu xe ở bên đường Láng, cạnh con sông Tô Lịch có hương vị đặc trưng cộng với cái mùi lý tưởng dinh dưỡng của.... rau trồng bên bờ sông Tô Lịch thấy nhơ nhớ quen quen quen. Giờ thì tìm đâu ra, một thời đã qua mà muốn có lại thì cũng chả bao giờ có được.

dongdoi_f2
22-05-2013, 09:17 AM
Sao lại không tin! Chắc chắn mọi người phải tin rồi bác NTL ơi.
Khu chùa Láng chỗ bác ở năm nao có gần bãi đậu xe tải của các tỉnh phía Nam không?
Cơ quan của anh ruột lão Mực Tàu đậu xe ở bên đường Láng, cạnh con sông Tô Lịch có hương vị đặc trưng cộng với cái mùi lý tưởng dinh dưỡng của.... rau trồng bên bờ sông Tô Lịch thấy nhơ nhớ quen quen quen. Giờ thì tìm đâu ra, một thời đã qua mà muốn có lại thì cũng chả bao giờ có được.
Có thời điểm các đoàn xe tải chở hàng từ Nam ra, đậu dọc theo đường Láng từ dưới phía Cầu Giấy kéo dài đến gần Chùa Láng.
Theo tôi nhớ dọc đường Láng, phía bờ sông Tô lịch không trồng rau, mà chỉ có bên có bên bờ kia sông, từ phía Làng Cót (gần Cầu Giấy) kéo dài đến Nhân Chính mới trồng rau nhé.
Tại Chùa Láng, khu tập thể đó còn có dãy nhà cấp 4, quay lưng ra đường Láng Hạ, bác NTL có biết không?

baoleo
22-05-2013, 02:26 PM
........ Nhà mình có cái xe đạp Diamant là oách lắm rồi. Nhìn vợ mình dong cái xe đi vào ngõ trông thị xinh hẳn lên.
.......

Đúng như thế bác Litangu ạ.
Hồi những năm đầu 8x, em ở Hải quân. Gia sản to nhất của gia đình, do vợ quản lý và sử dụng, gồm có:
-Chiếc máy may. Gồm đầu máy khâu của Nhật, mua từ bọn viễn dương đánh hàng trên biển. Bàn máy khâu bằng gỗ thông, tậu được ở triển lãm Giảng Võ, nhân dịp Cao Bằng mở Hội chợ ở Hà Nội. Chiếc máy khâu này đã giúp gia đình kiếm thêm được khá tiền, nhờ may hàng. Nay bộ máy khâu này vẫn còn tốt nguyên.
-Chiếc xe đạp Mi pha, mầu trắng bạc. Hồi đó, mua Mi-pha mầu trắng bạc thì được rẻ hơn mấy giá, so với con Mi pha mầu xanh ngọc.
-Áo lông mầu lông chuột, vợ tự may lấy, theo thiết kế mẫu của Đức. Nhưng các chất liệu của áo, như áo lông, vỏ áo, đều là linh kiện nhập ngoại.
Bộ gia sản này, đã làm cho em có cảm giác hạnh phúc về một cuộc đời ‘giầu có’, giúp gia đình có cảm giác tự tin suốt những năm tháng ấy .
Cảm giác hạnh phúc ấy, nay không còn gập lại.
Cho giù hôm nay, có được bầu Đức san sẻ cho cả cơ nghiệp phá rừng ở Căm-bốt và Ai-lao, thì cũng chẳng còn có được cái cảm giác hạnh phúc về một cuộc đời ‘giầu có’, như thời chỉ có chiếc xe đạp Mi pha mầu trắng bạc.

Tự xin xóa
22-05-2013, 02:47 PM
Sao lại không tin! Chắc chắn mọi người phải tin rồi bác NTL ơi.
Khu chùa Láng chỗ bác ở năm nao có gần bãi đậu xe tải của các tỉnh phía Nam không?
Cơ quan của anh ruột lão Mực Tàu đậu xe ở bên đường Láng, cạnh con sông Tô Lịch có hương vị đặc trưng cộng với cái mùi lý tưởng dinh dưỡng của.... rau trồng bên bờ sông Tô Lịch thấy nhơ nhớ quen quen quen. Giờ thì tìm đâu ra, một thời đã qua mà muốn có lại thì cũng chả bao giờ có được.

Cụ Bom đã đi theo xe ra ngoài này lần nào chưa thế, mà cụ kêu cái mùi sông Tô Lịch? Trước đây, nước sông bình thường, tụi em đã bơi ở đây nhiều lần, vớt rong về thả vào bể cá cảnh :)>-

Bãi xe này có từ năm nào em ko biết, nhưng đến tầm năm 88 - 89 gì đó, do quá phức tạp nên họ chuyển toàn bộ xe về bến xe phía Nam, chỗ đuôi cá (ngã ba đường giải phóng - Trương ĐỊnh).

Bãi đỗ xe trải dài, tập trung chủ yếu từ mạn cần Cót đến cầu Trung Hòa bây giờ.

Tự xin xóa
22-05-2013, 04:34 PM
Có thời điểm các đoàn xe tải chở hàng từ Nam ra, đậu dọc theo đường Láng từ dưới phía Cầu Giấy kéo dài đến gần Chùa Láng.
Theo tôi nhớ dọc đường Láng, phía bờ sông Tô lịch không trồng rau, mà chỉ có bên có bên bờ kia sông, từ phía Làng Cót (gần Cầu Giấy) kéo dài đến Nhân Chính mới trồng rau nhé.
Tại Chùa Láng, khu tập thể đó còn có dãy nhà cấp 4, quay lưng ra đường Láng Hạ, bác NTL có biết không?

Bác f2 à, phía bên kia bờ sông dọc đường Láng, là có con đường, và khu nhà quay lưng ra sông, thuộc huyện Từ Liêm.

Rau chủ yếu được trồng phía bên bờ làng Láng, và phía bên làng (bên này đường Láng).

Chỗ khu tập thể nhà bác Litangu đâu có gần đường Láng hạ, bác f2? Hồi xưa con đường chạy từ đường Láng Trung nối ra đường Láng, vào trường NGoại thương, trường Ngoại giao, một số khu tập thể... chưa có tên là đường Chùa Láng như hiện nay.

Chỗ tập thể nhà bác Litangu:

http://wikimapia.org/#lang=vi&lat=21.023983&lon=105.804600&z=19&m=b&v=2

khottabit59
22-05-2013, 04:53 PM
Bơi sông Tô????
Mình không biết bạn bơi sông Tô năm nào nhưng từ những năm 1967/1968 mình đi học ở Trường cấp 1 Yên Hòa (Làng Cót - ngay đầu bên kia Cầu đá xanh, chỗ gốc đa). Những năm ấy, vào mùa đông nhưng chú gà có thể chạy từ bên này sang bên kia sông vì dòng sông đã đặc cứng lại vì... bùn thối.
Những năm ấy, con đường từ bến xe điện (chỗ cổng ĐH giao thông bây giờ) vào đến trường còn bé lắm. Ngay ven đường là những luống hành hoa, rau húng, rau thơm, xà lách... xanh mướt mát.
Dĩ nhiên, ngay từ sáng sớm con đường đã đặc quánh mùi.... rồi!
Các bà, các chị toàn tưới rau bằng... tươi hòa nước!

ONGBOM-K5
22-05-2013, 04:54 PM
Cụ Bom đã đi theo xe ra ngoài này lần nào chưa thế, mà cụ kêu cái mùi sông Tô Lịch? Trước đây, nước sông bình thường, tụi em đã bơi ở đây nhiều lần, vớt rong về thả vào bể cá cảnh :)>-

Bãi xe này có từ năm nào em ko biết, nhưng đến tầm năm 88 - 89 gì đó, do quá phức tạp nên họ chuyển toàn bộ xe về bến xe phía Nam, chỗ đuôi cá (ngã ba đường giải phóng - Trương Định).

Bãi đỗ xe trải dài, tập trung chủ yếu từ mạn cần Cót đến cầu Trung Hòa bây giờ.

* He he, lạy kụ Giun cho em có nhời:
- những năm mới giải phóng 75-76, cái đoàn MNK (miền nam khổ) nằm bên bờ đê (Trần Q Khải), do sợ cháy HN vì hay mua xăng chở vào nam nên họ cho về chỗ Kim ngưu, thấy vẫn chưa ổn thì đuổi ra đường Láng và cuối 198x thì về chỗ VT HH HNoi, nay chả biết đi đâu nữa.
- cái này thì cứ hỏi mực tàu vì xe của anh ruột hắn cùng chỗ em, hay ra bắc nhận vật tư.
- từ đầu1987 - 1989 chúng em phải thuê phòng nhì làm VP điều độ vận tải và trong phòng kế hoạch cứ 1 thằng coi phòng nhì 3 tháng/năm.
- cái Láng hạ-trung-thượng giai đoạn này còn cũ lắm, chỉ có điều là bia Vạn lực của tàu uống vô tư và dòm đuôi các cô cũng "náng ơi nà náng".

baogt
22-05-2013, 07:36 PM
Nhà chú Litangu cùng khu tập thể với mấy đứa học cùng cấp 1, cấp 2 với cháu. :D. Lớp cháu có mấy đứa bạn bán dưa, dừa ở bến xe dọc đường Láng ngày trước giờ chuyển vào bán trong khu vực gần Ủy ban Nhân dân phường Láng Thượng. Ngày trước đằng sau trường đại học Ngoại Thương còn lô đất rất to làm sân bóng, cỏ ngút ngàn.

Dongdoi_D406
22-05-2013, 07:54 PM
Theo tôi nhớ dọc đường Láng, phía bờ sông Tô lịch không trồng rau, mà chỉ có bên có bên bờ kia sông, từ phía Làng Cót (gần Cầu Giấy) kéo dài đến Nhân Chính mới trồng rau nhé.

Vụ gì thì em không biết chứ cái vụ trồng rau ở bên này đường Láng thì em có biết, hồi em học ở HN (82-86) thỉnh thoảng đi dọc đường Láng, em vẫn để ý các vườn rau phía bên này đường, cũng 1 phần tò mò vì cái tên rau húng láng. Có trồng rau bác F2 ạ, mặt đường Láng thời kỳ đó nhà vẫn còn thưa xen lẫn các vườn rau, chỉ có điều các vườn rau đó thường nhỏ.

litangu
22-05-2013, 09:29 PM
Các bác thân mến. Nơi tôi ở chính là khu tập thể đo đạc bản đồ. Chỉ cách một ruộng rau rộng 50 m là sang chùa Láng. Con đường chùa Láng xưa chỉ là con đường sỏi mù mịt bụi. Đầu ngoài đường Láng Trung (bây giờ là Nguyễn Chí Thanh) là Vietronic Đong đa và trường Đoàn TNCS rồi đến trường Ng.giao, rồi đến Ngoại thương rồi đến khu nhà tôi. Rau húng vẫn ngút xanh và thơm lắm, ngoài đường Láng hai bên vẫn là rau. Sông Tô thì bẩn cũng có đoạn thả muống bè bơi được là khúc trên Cầu Giấy, dưới này thối lắm. Mình đi tắt sang trường ĐH Giao thông chơi với bạn toàn lội qua rau phía sau chùa. Có hôm trên đường về làm nắm đút túi quần. ngang qua hàng nước chè, cô bán chè chén ngoài cổng Ngoại thương Kêu: anh Luân toàn mùi húng Láng. Rõ dại

litangu
22-05-2013, 09:34 PM
Chuyện Ngô Thịnh
(chuyện bạn lính)

Không hiểu duyên cớ gì các tiểu đoàn bộ binh của trung đoàn tôi đều có các tiểu đội trinh sát mà A trưởng đều là sinh viên ĐH Cơ điện. Hoàng Minh Dương Khóa 4 Chế tạo máy ở tiểu đoàn 9. Ngô Thịnh Khóa 6 Điện ở tiểu đoàn 8, rồi sau là Nguyễn Mạnh Tiêu Khóa 4 máy, sau cùng là tôi A trưởng trinh sát tiểu đoàn 8.E64 F320 A Ngô Thịnh là A trưởng trước thời tôi nhưng sau hắn lại là chiến sĩ của tôi. Lí do thì đơn giản nhưng nhiều lắm. Tóm lại với Ngô Thịnh thì thành tích chiến đấu nhiều bao nhiêu thì tội trạng cũng nhiều không kém. Tôi lên chức ấy là lúc nó xuống chức. Oái oăm cho bạn bè là vậy.

Sau chiến tranh trở về Ngô Thịnh học Khóa 10. Hiền lành. Tốt. Đúng mực và học cũng chăm. Ngô Thịnh lột xác nhanh thế. Mỗi lần nhìn nó đi chéo qua đầu nhà A1 xuống bếp dáng vẻ hiền từ mà mình không tin nổi đó là cái thằng bạn một thời gây bao chuyện động trời ở cái đơn vị chủ công của sư đoàn 320A.

5/4/1975 chúng tôi từ một cánh rừng Phú Yên lên xe về đánh Sài Gòn. Chúng tôi đi tắt từ Cheo reo ra I A Hơ leo rồi theo đường 14 quay về Ban Mê Thuột, xuống Gia Nghĩa về Lộc Ninh rồi sang Chơn Thành, vượt sông Sài Gòn vào Củ Chi. Trên xe, tiểu đoàn trưởng bảo tôi, về Buôn Hồ đón thằng Thịnh. Tôi hỏi Thịnh nào? Anh bảo Ngô Thịnh. Ha! Thế là Ngô Thịnh được tha rồi à, tiểu đoàn trưởng ừ, tăng cường nó cho bọn mày vào chiến dịch lớn thế này là cân nhắc lắm đấy. Có nó mày sướng quá còn gì. Đúng thế có Ngô Thịnh như thêm cánh tay với mình. Đêm, lắc lư trên xe tôi hình dung ra lại có ngày bọn tôi đi với nhau.

Mùa xuân 1975. Sư đoàn tôi áp sát đường 14 phía Bắc Ban Mê Thuột. Bí mật trinh sát địa hình chờ mở màn đánh điểm A (mật danh của BMT). Rừng rậm. Bạt ngàn những cây cổ thụ đẹp đến ngẩn ngơ. Suối cũng đẹp. Một cánh rừng nguyên sinh ít có người tàn phá, dễ hàng chục năm nay mới có bọn tôi mò đến. Nườm nượp cánh rừng là bộ đội nhưng không được nói to, không được nổ súng trong bất kì trường hợp nào. Nhìn cầy cáo vượn khỉ leo trèo trên cây mà không dám bắn. Suốt từ 14/1/75 cho tới 5/2/75 mới có một tiếng nổ, ấy là tiếng lựu đạn của Ngô Thịnh.

Sự kiện tầy đình ấy như sau:
Một ngày, tay cán bộ phụ trách vũ khí dưới đại đội bộ binh mang lên tiểu đoàn mấy quả lựu đạn của Việt nam SX để xin đổi. Lí do đổi là bộ đội không tin vào vũ khí của mình, lựu đạn gì mà kíp lỏng lẻo không chặt khít như US của Mĩ. Rất nhiều lính tráng vô công rồi nghề xúm vào xem tại sao lại phải đổi. Ngô Thịnh nói rất đàn anh, đưa đây tao xem. Hắn cầm quả lựu đạn, hai ngón cái và ngón chỏ bóp chặt mỏ vịt, rồi rút chốt an toàn lẳng cái chốt cho một thằng anh nuôi, này cho mày cái vòng mà đeo bát. Không ngờ lựu đạn rời ra nổ đánh bép. 6 thằng vùng chạy lao vào hầm. Ngô Thịnh bình tĩnh hơn cả nó gạt quả lựu đạn còn đang nằm trên mặt bàn làm bằng nứa văng ra xa rồi cũng lăn nhào xuống đất. Lựu đạn nổ, kể cả Thịnh là bẩy thằng chả thằng nào thoát. Mỗi đứa hưởng một tí. Nhưng may thế, chả thằng nào chết. Coi như một tiểu đội mất sức chiến đấu trước khi vào chiến dịch. Ấy là nguyên xi lời chính trị viên tiểu đoàn phát biểu sau này về vụ Ngô Thịnh. Từ hôm ấy Thịnh không được ở trinh sát nữa mà xuống làm công việc loong toong ở D bộ. Lúc thì phụ anh nuôi, lúc thì phụ vận tải v...v...

Chiều hôm sau, xe dừng lại ở một rừng cao su gần thị trấn Buôn Hồ. Ngô Thịnh vác lên xe mấy bao tải rau cải khô, vài bao gạo và cả mấy con lợn con. Hắn béo ra so với ngày đầu chiến dịch. Hắn bảo tao đợi bọn mày mãi, đánh đấm chó gì mà chậm thế, rồi cười, nó thả tao về chứ không thì mày tướt bơ đấy con ạ. Hai thằng lắc lư trên thùng con Zin-khơ mới mặc kệ tiểu đoàn trưởng ngồi trong ca bin. Thịnh bảo mày oai thế, cả xe to mà chỉ hai thầy trò với hai anh nuôi thôi à. Xe đi trước mà lị. Trinh sát bao giờ chả thế. Nó gật gật cái đầu to tướng.

12/4/75 xe tới Lộc Ninh. Đây là vùng trung ương của Quân giải phóng. Chiều hôm ấy trời vàng như mật. Tôi và Thịnh vào một lớp học vùng Giải phóng. Nó bắt tôi làm trò ngồi nghe và thưa thầy cẩn thận, còn nó làm thầy giáo dậy tiếng Nga. Nó nói cứ oang oang kha-ra-sô, kha-ra-sít có mớ tiếng Nga lõm bõm cứ nói vung tàn tán làm mấy chú lính đi qua cũng ghé lại xem nó giảng bài bằng tiếng ngoại quốc. Trầm trồ, khen hay hay, giỏi giỏi. Mãi về sau tôi cứ nhớ cái màu nắng chiều Lộc ninh và tiếng Ngô Thịnh hát bài Ka-chiu-sa. Nó rướn cái cổ to phè “... vừ khá đi I hi hi ì hi hì… ” Tối ấy nó bảo sao mà nhớ trường thế, liệu tao và mày có về mà học nữa không, hay là lại như thằng Lương Lợi K5. Mà một mình ăn trọn một quả cối. Mày thối mồm à. Tôi cáu. Nó bần thần nhìn những cánh rừng hồ tiêu đen thẫm vùn vụt lại phía sau. Bây giờ sau gần bốn mươi năm, mỗi khi uống rượu với nó chừng nửa lít là nó nói tiếng Nga. Thêm chén nữa nó nói tiếng Tày, vài ba chén nữa nó nói tiếng Mèo. Nó bảo tao phải nói đủ 18 thứ tiếng. Nghe mà kinh, rượu đâu cho đủ để nghe nó nói mười tám thứ tiếng.

Trận cuối cùng hai thằng tôi đi với nhau là trận 29/4/75. Tất nhiên Thịnh nó còn đánh một trận nữa nhưng trận 7/5/75 ấy tôi không đi. Mà trận ấy là trận đuổi bọn tàn binh ngoài đồng. Đêm 28/4 tiểu đội tôi dẫn đường cho một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn phối thuộc của mặt trận và một đoàn cán bộ của địa phương vào sâu đến cầu Bông (sau này gọi là cầu An Hạ). Giáp Hóc Môn, tôi, Ngô Thịnh, Minh Hòn Gai đi bám địch trước để bộ đội nằm chờ ngoài đồng. Bò sát đồn Tân Phú Trung, nó bảo mùi thuốc lá thơm thế, có địch phục rồi. Quay sang hướng khác, nó bảo mày ơi nó đéo dám bắn đâu đi vào vườn dưa làm mấy quả đi đói bỏ mẹ. Mình không đồng ý nó hậm hực, đành phải nghe theo. Gần sáng nổ súng. Trinh sát phải trực ở sở chỉ huy, nó bảo tôi, mày để tao dẫn mấy thằng vào mũi C7 đi. Nổ súng đang hồi ác liệt nó dẫn 2 thằng vào sát đường, đánh nhau cùng bộ binh. Mình nghĩ thằng này đang háo, từ đầu chiến dịch nó bí chân tay mà... Sau này tôi biết hôm ấy nếu không có mấy thằng bọn nó hướng C7 cũng vấp nhiều khó khăn. Chúng nó bảo Ngô Thịnh bắn lăn lông lốc mấy mũ sắt của bọn lính sư 25 trên chợ Tân Phú Trung. Chả ai bình công cho trinh sát kiểu như nó trong trận ấy cả.

Sáng 30/4 tôi với Thịnh cùng tiểu đội ngồi trên một cái xe Lam chạy từ Tân Thới Nhất vào đường Trương Minh Giảng, vừa qua cầu Trương Minh Giảng tới sát đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì bị một khẩu đại liên trên tháp nước bắn chặn lại. Năm thằng lăn vào gốc cây bắn tung tóe về cái tháp nước chết tiệt. Người lái xe lam run cầm cập, đạn vẫn nổ chí chát tôi thấy Thịnh xé mảnh giấy nằm xấp hí húi viết. Hóa ra nó viết chứng nhận cho người đàn ông kia đã chở chúng tôi tiến đánh dinh Độc lập. Sau này tôi nghĩ thằng này giỏi, làm chính trị được, nó có tình có có lí thật. Buổi trưa, dinh Độc Lập nhộn nhạo những người, những sắc phục lính. Nó ngềnh ngàng một cái xe Zép có thằng ngụy lái còn nó ngồi bên cạnh chạy đi chạy về. Bên cạnh nó thằng Thọ thông tin tiểu đoàn vênh váo với cái máy PRC-25 cần ăng ten đung đưa. Tôi hét nó: đi về mũi của đơn vị đang chặn trên đường Trần quí Cáp!. Nó nhăn răng cười. Buổi chiều, nó bỏ tiểu đội đi gom xe ô tô. Nó mang về sân của nhà thi đấu Phan Đình Phùng (bây giờ) có tới ngót chục cái. Thôi thì đủ loại, Zép lùn Zép cao, xe Đốt, Von-va-gen. Nó hì hục khiêng xăng dấu vào góc bể bơi.

Bốn giờ chiều 30/4 tôi nhận lệnh đưa tiểu đội trinh sát truy tìm cố vấn Mĩ đang trốn trong tòa Đại sứ Nhật Bản. Hai thằng trèo vào một căn nhà 5 tầng của một luật sư đã di tản. Căn nhà còn nguyên như chưa hề vắng chủ. Cây đàn pi-a-nô trong phòng thơm tho mùi con gái còn mở nắp. Thịnh gõ báng súng lên bàn phím đánh rùm. Hai đứa mở cánh tủ đứng. Chao ơi toàn đồ con gái, thơm, bóng nhẫy. Hai đứa lôi ra thôi thì đủ loại, thơm như cốm. Có cái gì đó chạy tê tê đằng sống lưng hai thằng đàn ông. Mỗi thằng khều một cái cooc-xê mà nôn nao cả người. Hai đứa nhìn nhau rồi nhìn nhanh xuống phía… mũi dép. Chả tìm thấy thằng Mĩ nào, tôi lấy ngay ngôi nhà này làm chỗ đóng quân cho tiểu đội (bây giờ ngôi nhà đó vẫn mang số nhà 158 Phan Đình Phùng, chỉ đổi tên ông Phan Đình Phùng sang ông Nguyễn Đình Chiểu) kế bên trụ sở tạp chí Bách Khoa. Đêm ấy, đêm đầu tiên giải phóng, Sài gòn tinh khôi như chưa từng có chiến tranh. Điện vẫn sáng, tiếng còi tàu tu tu từ phía cảng Nhà Rồng. Chúng tôi nằm trên sân thượng tòa nhà 5 tầng ấy, đứa nào cũng bồi hồi nhớ mẹ, nhớ quê hương. Chúng tôi thấy mình mệt rũ ra chả muốn cầm lấy súng. Tôi quay sang Ngô Thịnh. Nó nằm mở mắt tròn xoe nhìn trời, ở ngay đầu nó bộ quần áo phụ nữ bằng sa tanh trắng muốt. Hơ hơ, đánh nhau mấy năm dòng để đến ngày chiến thắng mơ về bộ áo quần thơm tho của con gái trong một đêm thanh bình! Đơn giản đến thế thôi! bố ai mà lí giải nổi? Chiến tranh đã biến mất trong nó và cả trong tôi.

Chiến tranh đứng lại từ lúc ấy. Chúng tôi đóng quân ở Sài Gòn được năm ngày thì phải rút ra khỏi nội thành để cài thế chiến lược. Chỉ có năm ngày thôi mà Ngô Thịnh đã lái được xe, phá được nhiều xe và ăn trộm cũng nhiều xe. 6/5/75 đơn vị tôi rút về đúng nơi chúng tôi đánh trận 29/4, cách Sài Gòn 20 cây số. Trưa ấy tôi phân công Thịnh đi kiếm củi. Nó hăng hái nhận lời và đánh cái xe zép A2 đi về hướng Sài Gòn. Tôi nghĩ bụng: quái, báo nó đi kiếm củi nó lại đi về phía Sài Gòn. Trên xe lại thấy cả một thằng quân lực tiểu đoàn, một thằng B trưởng vận tải. Chiều tối đang lo về nó thì thấy một chiếc máy cầy đỏ ớt kéo mooc phành phạch đứng lại gần ngôi trường cấp 1 nơi bọn tôi cắm trại. Ngô Thịnh và người lái máy cầy ì ạch khiêng xuống những sa-lông, tủ đứng, tủ ngồi. Nó bảo củi đấy phá ra mà đun. Tôi hỏi xe zép đâu nó kéo tôi ra bụi chuối, mất mẹ nó rồi! Mất cả một khẩu AK nữa. Ngô Thịnh ơi mày giết tao rồi. Nghĩ vậy mà không dám kêu to. Tôi và nó phải mất một tuần nịnh nọt đút lót 2 quyển an-bum nhấp nháy để thằng quân khí xóa sổ cho khẩu súng AK, thế là thoát.

Năm tháng trời ở lại Gia Định trước khi về Bắc, thằng lính sinh viên nào cũng kịp yêu vài cô SV Sài gòn cho lấy thảo. Thịnh thì không. Nó chỉ ăn trộm xăng, hí hoáy sửa chữa đục phá những cái xe máy nhặt được ngòai hàng rào căn cứ rồi chạy phành phạch cả buổi trưa nghe điếc tai. Nó xếp xung quang giường nó đủ loại quạt điện to nhỏ rồi kìm búa. Nó còn tàng trữ cả xe máy hỏng gửi ngoài nhà dân ở chợ Tân Phú Trung. Ấy thế mà khi trở về trường, nhoáng cái đã thấy nó cưới vợ trong khi tụi tôi chưa kịp có người yêu. Vợ nó là cô gái chưa phát triển hết cơ thể, ngoan ngoãn xinh xắn.

Lạ thật, không hiểu nổi Ngô Thịnh.

Cuối tháng 10 năm ấy chúng tôi ra về. Trong danh sách về học Đại học của lính sinh viên không có tên nó. Tụi Cơ Điện buồn lắm. Ngày rời khỏi Đồng Dù Củ Chi, nó không chịu ở nhà, nó xin đi công tác ngoài Phước Vĩnh An. Nó sợ chia tay với bọn tôi. Hóa ra cái án kỉ luật nổ lựu đạn làm đi toi một tiểu đội vẫn treo lơ lửng trên đầu nó. Năm 1976 lù lù nó về. Tôi, Tiêu k4, Dương phỉ, Triệu Bình mừng quá. Mấy thằng trinh sát lại đi quán cùng nhau. Ngồi dựa lưng vào gốc mít quán chị Bẩy trên đầu dốc Luyện kim Thái nguyên mỗi thằng lần sờ vết thương trên người mình bần thần nhớ những trận đánh mới diễn ra một hai năm trước đây thôi mà thấy xa lăng lắc tự bao giờ. Hồi ấy chưa uống rượu chỉ uống chè đặc mút kẹo vừng thế mà người cũng như mê đi như thằng nghiện đang cữ phê lòi mắt. Bỗng thấy rưng rưng hiện về những mùa mưa thối trời thối đất, những trận sốt rét nôn ọe động rừng, những trận đói tái tê ruột gan, những cái thèm tinh thần, những cái thèm sinh vật, thèm đủ thứ một thời trên cao nguyên đầy bom đạn.

Trước mắt tôi Ngô Thịnh hiền thế. Cái thằng duy nhất ở tiểu đội tôi thích gỡ mìn Clei-mo trên hàng rào rồi lấy thuốc nổ làm mồi đun nước. Chúng tôi đang dần trở lại với đúng là mình. Mọi thứ dũng cảm, hoặc không dũng cảm những ngày đi chiến đấu chỉ là sự bất bình thường của cuộc đời mà thôi. Da thịt chúng tôi đang đỏ đắn trở lại, chữ nghĩa cũng đang tìm đường mò về trên những cái đầu mụ mị một thời.

Ngô Thịnh bảo, tóm lại chả có gì quan trọng đến mức không tưởng cả. Mày có nhớ câu thơ này ở đâu không?

Anh hoang mang khi chưa biết tình hình
Biết tình hình rồi tình hình rất hoang mang … .

Mấy thằng trinh sát ngây ngô cười
Thế mà đã gần bốn mươi năm

NTL

Tự xin xóa
22-05-2013, 10:17 PM
Bơi sông Tô????
Mình không biết bạn bơi sông Tô năm nào nhưng từ những năm 1967/ 1968 mình đi học ở Trường cấp 1 Yên Hòa ( Làng Cót - ngay đầu bên kia Cầu đá xanh, chỗ gốc đa ). Những năm ấy, vào mùa đông nhưng chú gà có thể chạy từ bên này sang bên kia sông vì dòng sông đã đặc cứng lại vì ...bùn thối.
Những năm ấy, con đường từ bến xe điện ( chỗ cổng ĐH giao thông bây giờ ) vào đến trường còn bé lắm. Ngay ven đường là những luống hành hoa, rau húng, rau thơm, xà lách... xanh mướt mát.
Dĩ nhiên, ngay từ sáng sớm con đường đã đặc quánh mùi.....rồi!
Các bà, các chị toàn tưới rau bằng......tươi hòa nước!


Những thằng con trai tụi em bơi sông Tô năm 88-89 ;)) , khi đi học thêm.

Còn ao chuôm thùng đấu lò gạch khu Nam Thành Công bây giờ, tụi em bơi từ năm 86-87

baoleo
23-05-2013, 02:56 PM
....... Chúng tôi đang dần trở lại với đúng là mình. Mọi thứ dũng cảm, hoặc không dũng cảm những ngày đi chiến đấu chỉ là sự bất bình thường của cuộc đời mà thôi. Da thịt chúng tôi đang đỏ đắn trở lại, chữ nghĩa cũng đang tìm đường mò về trên những cái đầu mụ mị một thời. ......

NTL

Em 'kết' cái tứ này của bác Litangu.

litangu
23-05-2013, 10:17 PM
Uống Rượu ở sông Hàn

( với một người bạn lính )

Mấy mươi năm giờ ngồi với sông Hàn
Sóng vẫn cũ và tôi như người cũ
Bạn tôi cũng dường như hiểu thế
Uống miết rồi nhìn sông ngày xưa


Đà nẵng chiều nay lại mưa
Sao tôi nhớ một mùa mưa vừa giải phóng
Hòa Vinh Hòa Khánh rợp áo xanh của lính
Tôi đi tìm thành phố biển có bạn tôi

Ơi Hải Vân ngút ngát mưa rơi
Sao miền trung cứ mưa đầu mùa lạnh?
Lên đèo rồi ngoái nhìn mưa ảo ảnh
Vũng Thùng nơi nao ? Điện Ngọc nơi nào ?

Tôi già rồi về lại chốn năm nao
Một trưa đứng bần thần với hai khẩu thần công ngạo nghễ
Nó đâu rồi ? ôi sao tôi vô lễ thế
Súng thần công mang tuổi tổ tiên mình

Chuyện đạo chuyện đời chỉ mới mấy mươi năm
Thành phố thì có mấy trăm năm trước
Chúng tôi sống cũng như muôn hạt cát
Dòng sông reo cát trắng cứ vô bờ

Rượu rót bâng khuâng người ngước hướng Sơn Trà
Lung linh cứ sáng một cõi rừng Linh ứng
Biển khơi phía muối mồ hôi áo lính
Sóng Gạc ma máu đồng đội nhuộm về

Đã từ lâu lật lại những ước mơ
Tôi với bạn rấm rứt hoài nỗi nhớ
Sóng với nước thì cứ là muôn thuở
Bạn và tôi hạt cát bến sông Hàn

Uống chén này ta nhìn phía Hải vân
Mây và gió đời này qua đời nữa
Vẫn vần vũ qua muôn trùng dâu bể
Một trưa nào dựng súng Hải Vân Quan


ĐN 23/5/13

litangu
27-05-2013, 10:57 AM
Ba người bạn lính

NTL

Buồn, nhưng cứ phải nói ra, cứ phải viết lại, nếu không cho đến lúc già quá rồi vẫn không hết cắn cứa trong lòng. Đã là bạn của nhau mà không có cách gì, ít ra là gặp lại nhau mà hỏi han xem bạn mình đã sống ra sao trong ngần ấy năm trời sau cuộc chiến tranh mất còn. Ấy là tôi nói với bạn của tôi. Bạn lính. ***

Giống như những người lính trở về từ chiến trường chống Mỹ. Tôi cũng nằm trong số những cựu chiến binh hay xúc động vặt. Mỗi chuyến đi công tác, đi du lịch, hay vì lí do gì đấy mà qua miền trung, miền nam tới đâu là lũ trẻ chỉ ào đi kiếm chỗ nhậu, chỗ vui, đàn bà thì tìm mua đặc sản còn mình cứ lang thang mơ mẩn tìm về trận địa cũ, tên người tên làng cũ.

Có chiều trên đường vào Tây nguyên, nhìn hoa cúc Quỳ vàng xuộm ven đường, nhờ chú lái xe dừng lại, bẻ cành hoa rừng hắc mù cầm lên xe nước mắt cứ ứa ra, lũ trẻ cười ồ lên vì anh già lẩm cẩm. Trách làm sao được họ. Buồn vui là quyền của mỗi người. Họ vui mà mình buồn cũng là có lỗi cho cả đoàn. Vì thế, già rồi, có buồn ra chỗ khác mà suy tư. Ở đây còn ối chuyện khác phải bàn. Chuyện chứng khoán, sàn này sàn nọ, cổ phiếu cuả thằng nào mấy chấm. Dự án thằng nào được cấp vốn thằng nào chưa được cấp…

Mấy người bạn tôi mà tôi kể dưới đây không biết bây giờ có hiểu chứng khoán là gì không? Mà nếu có hiểu thì có làm được gì không? Chắc khó lắm. Ba khoán ngày xưa đã khó, đến khoán mười đã vất vả trầy vẩy thì những người lính như các anh làm chuyện chứng khoán cũng tội nghiệp lắm.

***

Ngưòi thứ nhất:

Anh ấy tên KIM BẰNG. Một cái tên nghe cũng nghệ sỹ. Mà quả thật anh ấy nhiều tài. Nguyên là thợ bậc 4 máy nổ nhà máy điện vùng cao nhập ngũ cùng chúng tôi một ngày. Ấy là vào những ngày ác liệt của năm 72. Tiểu đoàn tôi gồm sinh viên, giáo viên và cán bộ vùng gang thép. Chỉ sau mười ngày tập trung, tiểu đoàn tổ chức văn nghệ liên kết thi đua với địa phương. Đêm ấy anh Kim Bằng hát hay thế. Anh như nghê sỹ thật ấy chứ. Về sau, khi có lần hát trong hội diễn sư đoàn ở Tây nguyên tôi vẫn thấy anh hút hồn tôi bằng cái âm hưởng của người dân tộc vùng cao phía bắc, mà đã là chất dân tộc thì nó ngấm sâu và lâu lắm. Lạ, anh ấy 30 tuổi mà trông vẫn trẻ, lại là người xung phong nhập ngũ chứ không giống như tôi, tôi đi theo tiêu chuẩn gia đình chưa có ai nhập ngũ. Anh thì lớn tuổi, có người em đã đi B. Anh cười: Ai chả phải đi, đến chúng mày sắp tốt nghiệp Đại học còn đi nữa là tao.

Ba tháng huấn luyện xong. Đêm chuẩn bị bắn đạn thật ở núi Hanh Phú Bình tôi và anh cùng đi gác trận địa. Đêm ấy mắc võng trên rừng bạch đàn gần anh. Tháng 11 heo may nhè nhẹ. Trời nhiều sao và sâu hun hút. Các nhà văn cứ bảo trời cao vút, nhưng chắc chưa có ông nào nằm ngửa giữa rừng nhìn trời vào ban đêm như cánh lính thời trận mạc chúng tôi. Theo lính thì trời sâu hun hút chứ chẳng anh nào nói là trời cao vút cả. Đêm ấy anh Bằng bảo với tôi thế.

Bốn cái võng cứ chùng xuống căng lên theo nhịp những chuyện đông chuyện tây, theo lập loè tàn thuốc. Ai cũng kể về quê, về mẹ cha, về lớp cũ. Anh Bằng nằm yên. Anh gợi chuyện mọi người còn anh thì không tham gia. Cứ im lặng, cứ thở dài. Khuya lắm, tự dưng anh ấy hát. Kì lạ không? Anh ấy hát Trước ngày hội bắn. Không ai lên tiếng. Rừng lặng im. Trời cũng lặng im, lành lạnh. Rồi anh ấy khóc. Sợ lắm. Hồi ấy anh ấy già hơn cả. Người già khóc sợ lắm. Nó cứ lờ lợ, đùng đục cả tâm hồn. Chúng tôi im, chúng tôi không dám hỏi gì nữa.

Hai tháng sau. Chúng tôi hành quân đến sông Bạc. Đêm ấy trăng sáng như ngọc đổ. Tiểu đoàn trú quân ở bãi khách gần sông. Cánh lính cơ quan cũng tỏ ra nghệ sỹ, tụ tập nhau ra bờ sông nằm trên đá nhìn trời, nhớ về miền bắc bất chấp kỉ luật của binh trạm. Và, đêm trăng bên bờ sông Bạc ấy chúng tôi nghe anh kể chuyện về mình.

Sinh ở Nam Hà, hoc trung cấp cơ điện rồi về làm thợ máy nổ ở nhà máy. Đẹp trai, hát hay, vẽ tài. Anh luôn là tâm điểm chú ý của các cô gái thợ trong nhà máy xứ Thái này. Nhưng anh phải lòng cô gái người dân tộc, cháu ông Giám đốc. Cô y tá mắt dài như lá bạch đàn, hát cũng hay mà múa cũng cừ. Gặp nhau, trai tài gái sắc, thế là nên vợ nên chồng. Có con rồi, họ vẫn là cặp song ca chính của nhà máy. Ai mà chả thầm ghen, thầm ước được như vợ chồng Kim Bằng. Cứ mỗi lần xem vợ chồng Kim Bằng song ca trước ngày hội bắn lũ thanh niên trẻ nuốt nước bọt, cổ họng chạy lên chạy xuống. Nghề của anh trực máy nổ, nên hay đi ca 3. Một đêm vừa đi làm, trời sắp đổ mưa to. Nhờ người trực chạy quay về lấy áo mưa. Gọi mãi, đẩy mạnh cửa vào Bằng gặp ngay cảnh tượng hãi hùng. Một chàng thanh niên bò trên giường vợ mình nhẩy xuống. Anh Bằng nhận ra chàng y sĩ nhà máy và kịp tống vào quai hàm kẻ tình địch đòn trời giáng. Thằng ấy không đổ, chạy mất. Đêm ấy anh Bằng sụp đổ. Những ngày sau càng sụp đổ hơn, vì vợ anh không những không sợ mà còn thách thức anh, nếu anh bỏ cô ta anh sẽ bị nghỉ việc. Uất ức hơn nữa, chính giám đốc nhà máy gọi anh lên đánh tiếng doạ dẫm, không được làm ảnh hưởng tới uy tín đảng viên, vì anh y sĩ nọ là đảng viên, còn Bằng thì vẫn đang là quần chúng. Vậy ra, anh chẳng là gì hết, không có quyền giữ được vợ vì anh chưa phải là người “đồng chí”, anh không phải là cán bộ. Suốt mấy tháng trời, nghẹn ngào nhìn kẻ tình địch hằn học mà không làm gì được. Sống trằn trọc trong ý nghĩ mình vẫn chưa phải là cán bộ, đảng viên thì không trả thù được kẻ xấu kia. Và, anh quyết tâm phải phấn đấu trở thành đảng viên, phải trở thành cán bộ, để trả thù. Anh xung phong nhập ngũ. Con đường nguy hiểm nhưng cũng nhanh nhất để trưởng thành, để trở về nơi anh nung nấu sự đời. Con sông Bạc về đêm chảy vắt vẻo trên từng vạt đá, trăng cuối năm leo lẻo trong. Vài chùm pháo sáng ẻo lả như mảnh sao sa cuối trời nhạt nhẽo. Nằm nghe anh kể mà cái lạnh cứ chạy từ sương sống dần lên đỉnh đầu. Chao ôi, anh ấy liều thế ư? Thảo nào anh ấy phấn đấu như điên, chỉ còn biết dồn sức cho ý nghĩ duy nhất, phải nhanh được vào chiến đấu, phải trở thành dũng sĩ, phải lập được chiến công.

Vào chiến trường Tây Nguyên, tôi và anh lại được về cùng trung đoàn. Đợt ấy, những giáo viên phổ thông, những thợ máy được bố trí về những đơn vị trực thuộc. Anh Bằng thì không, anh xin về bộ binh. Về Tiểu đoàn 7, rồi lại xin về đại đội chủ công. Khỏi phải nói đến những nỗi vất vả của đai đội chủ công bấy giờ. Chốt giữ, phục kích, đánh giao thông, đánh cứ điểm. Cứ chỗ nào ác liệt là chủ công có mặt. Mà anh Bằng là tiểu đội trưởng mũi nhọn. Những tháng ngày sau kí kết 1973, kẻ địch thường xuyên phá hoại hiệp định bằng những cuộc hành quân lấn chiếm. Tiểu đoàn 7 là tiểu đoàn liên tục tác chiến. Mùa mưa Tây nguyên sao mà khủng khiếp thế. Đánh trận cũng khổ mà ở chốt cũng cực. Đến anh nào yếu ốm ở kiềng tăng gia cũng nhọc nhằn không kém. Những trận đánh đường 15, đường 5A, 5B, làng Dit, Lệ Ngọc đã khiến kẻ thù phải lùi lại và chấp hành hiệp định. Chỉ sau mấy tháng chiến đấu. Tôi gặp lại anh Bằng. Trông anh già nhiều quá, nhưng mắt sáng và anh rắn đanh lại. Ấy là ở hội nghị những trận đánh hay những người đánh giỏi toàn trung đoàn. Anh ôm chầm lấy tôi và khoe, tao kết nạp rồi, hai huân chương, có thư khen về cơ quan rồi, mày thế nào? tao phải trở về… phải trở về. Thoáng vui mà anh bỗng chùng xuống, con mắt đờ dại đi... Miệng lẩm bẩm ngoài ấy bây giờ… thế nào nhỉ...

Và cũng chỉ sau 2 tháng tôi và anh lại gặp nhau. Nhưng gặp ở viện trung đoàn. Mùa mưa thối trời thối đất khiến lính sốt rét quá nhiều. Đã có vài thằng bạn người thành phố ác tính mà đi ra rừng Lồ ô nằm rồi. Tôi với anh Bằng lại được ở cùng một lán. Thật đã quá, bạn cũ ở với nhau vừa dễ chuỵện, vừa dễ ca cóng. Mưa ác lắm, nước suối sôi ùng ục. Lá rừng gục xuống dính nát vào nhau. Cái ăn chỉ là cá khô nấu lá chua. Có tý giá đậu nhường cho thằng ốm nặng và thương binh. Những thằng sốt rét thì tự vào rừng kiếm bất kì cái gì có thể ăn được. Tôi khoác áo mưa đi đào măng. Mão lùn người Đông Kinh Đông Hưng Thái Bình đi lật đá tìm cua. Anh Bằng nói, để tao đi đánh cá. Anh móc túi cóc đếm ra 10 cái kíp số 8 màu đồng đỏ. Chuyện này thường. Vì bộ binh ai chả đánh bộc phá. Nhưng nước suối to đánh kíp ăn nhằm gì. Biết vậy nhưng không được gàn, sợ sui sẻo. Chiều. Mưa day dả. Tôi chui về lán trước giờ tiêm của viện. Mão lùn về từ bao giờ đang mân mê 4 con cua chiến thắng. Anh Bằng chưa về. Tự nhiên buồn thế . Hai thằng sốt nặng rên hừ hừ, nôn oẹ, rồi khóc. Rừng thâm như màu mắm tôm. Bỗng nhốn nháo từ phía phòng khám chân đồi. Anh Bằng lao vào hu hu khóc. Luân ơi tao bị rồi, tao bị nát bàn tay rồi, khốn nạn không, ôi trời ơi, hết rồi... Bọn tôi lao tới lau mặt lau cổ đầy máu. Bàn tay tơ tướp, những ngón tay toe toét như ngọn măng bóc dở, đỏ ngòm máu. Quân y lao xuống. Băng bó. Lấy lời khai, tìm hiểu tình trạng gặp nạn. Mấy ông cán bộ viện nhăn nhó vì để xẩy ra hiện tượng thương vong trong bệnh viện. Đêm nặng nề. Đạn đại bác phía HÀM RỒNG táng về ùa với mưa rừng tê tái. Bằng áp mặt vào vách hầm mắt mở trừng trừng. Tôi nghĩ anh ấy buồn vì khó có cơ hội trở về đơn vị chiến đấu. Anh ấy máu đánh giặc mà.

Trời đất ạ, buộc cả 10 cái kíp số 8 làm một chùm giật nụ xoè, chùm kíp mắc ở bàn tay nổ đồng loạt bàn tay phải như có hàng ngàn mũi dao nhỏ dóc thịt ra. Bây giờ trông cuộn băng to như cái chổi trên tay anh mà thương. Măt sám đen khói thuốc, rửa không sạch trông càng thảm hại. Sáng hôm sau, anh được gọi lên gặp quân pháp làm việc. Sao lại làm việc với quân pháp nhỉ? anh đi liêu xiêu, mặt cúi xuống từng bậc đất nhấp nhính bùn, dặt dẹo. Cả lán bó gối nín thở chờ anh về. Chẳng ai buồn ca cóng. Mấy con cua của Mão lùn cũng nằm im dưới gậm sàn chân co quắp. Bâng khuâng nhớ những ngày cùng đại đội ngoài bắc. Liệu anh có lành lặn mà về không? cuộc chiến đấu cho ngày trở về của anh sẽ sứt mẻ thế nào đây...

Gần trưa anh về. Con người Bằng bây giờ khác hẳn. Sụp xuống, khóc như trẻ nhỏ. Cả lán hai thằng què ba thằng sốt rét túm vào an ủi anh. Anh bưng mặt. Hết rồi, chấm dứt rồi, sạch sẽ hết mọi thứ rồi... ối cha mẹ ơi. Anh cứ hưng hức khóc hồi lâu, rồi ngẩng lên nhờ tôi cởi ba lô lấy ra cuốn sổ chép bài hát và bảo, mày cầm lấy mà dùng. Tao không cần nữa. Thì ra, anh ấy tự thương. Chao ôi, anh Bằng tự thương! Nghĩ mà không tin được. Anh ấy có hèn nhát gì đâu, tấm gương chiến đấu viết trên tờ tin trung đoàn hôm nào vẫn còn đây. Thế mà...

Ngày ấy chuyện tự thương ở chiến trường là nghiêm trọng lắm. Nhìn vết thương là người ta biết ngay thôi. Nhưng anh Bằng tự thương thì chỉ tôi biết vì sao. Tôi im lặng.

Anh lầm rồi anh Bằng ơi. Máu của chúng ta đổ đâu chỉ vì cái sự tầm thường ấy.

Tới giờ mấy chục năm không biết anh cư ngụ nơi nào. Ai giúp anh trả món nợ đời kia?
(còn tiếp)
***

litangu
28-05-2013, 03:26 PM
(Ba người bạn Lính)

Chuyện người bạn thứ hai:

Sau cái đận ở viện với anh Kim Bằng là tôi lại về D8. Cũng đại đội chủ công. Tôi về A3, B1. Khi tôi đi viện, A trưởng là cậu Phụng, tôi A phó. Bây giờ về, Phụng đã đi học “Quân chính Rừng Soài” ngoài Đức Cơ. Phụ trách tiểu đội là Cậu Nhớn. Vũ văn Nhớn. Nhớn khoẻ lắm. Bắn RPD kẹp nách. Cánh bộ binh chúng tôi ngại nhất là ôm khẩu súng trung liên này. Nặng, kềnh càng, dễ lộ. Và chẳng dùng bắn thú rừng bất chợt như anh AK. Nhưng với Nhớn thì ngon. Trong ba lô lúc nào cậu ta cũng có một lưỡi cưa Pôzô cuộn tròn lại. Dừng chân đào hầm thì phải biết. Nhớn làm bằng hai lính. Chỉ cần 5 phút là hắn ta làm xong một cái điếu cày. Nhớn đen. Bắp chân, bắp tay lão nông chi điền. Chàng trai đất lúa Hưng Nhân Thái Bình nhập ngũ trước tôi 1 năm.

Đại đội ngán hắn vì hắn chửi tuốt, chửi những anh cán bộ hoặc lính tráng nào nhát gan hay lười biếng. Đánh mấy mùa rồi vẫn chưa vào đảng. Chi bộ ngại và rất khó chấp nhận cái anh hay chửi đảng viên này. Ai đời, dám bảo B trưởng mày không làm được B trưởng thì xuống tao làm cho. Tất nhiên Nhớn không thể tự động mà lên B trưởng được. Bây giờ hắn làm A trưởng của tôi. Khố cho tôi, chiều hôm về đại đội, thì tối đó đại đội thông báo tôi phụ trách A3. Nghĩa là Nhớn mất chức. Ở cuộc họp Trung đội về, Nhớn hầm hầm, một tay xách khẩu RPD quăng cái uỵch trước mặt tôi, đòi đổi lấy khẩu AK của tôi. Mày A trưởng thì ôm lấy mà bắn. Phải đổi thôi, kẻo có chuyện không hay. Đêm ấy, có lệnh mỗi A cử 2 người đi lấy gạo. Không nhẽ lại cử người khác, nên tôi nói: tôi và một người nào đó, lấy tinh thần xung phong. Im lặng. Nhớn gườm gườm nhìn tôi, Cử ai thì cử mẹ đi, lại còn xung phong... để đấy tao đi. Thế là 2 thằng ra đi cùng với 8 người khác. Để mang thêm được nhiều gạo, tôi chỉ cho mang một khẩu súng và 2 lựu đạn. Tôi vẫn khoác khẩu AK báng gấp của mình lên vai. Đường đi lấy gạo chừng 2 tiếng đồng hồ. Lúc đi bình yên, nhưng lúc về mới có chuyện. Bắt đầu là bọn thám báo, bọn này cũng thần hồn nát thần tính, nên vừa gặp tốp đi đầu đã vội vàng nổ súng. Cả bọn 10 thằng dưới sự chỉ huy của b trưởng B3 lăn vào bụi, rồi gỡ ba lô gạo ngay tức khắc nổ súng. Vì tự ái, và cũng muốn xem A trưởng mới là tôi thế nào nên Nhớn vẫn chỉ đeo gạo mà không tự nguyện mang súng nên lúc này cu cậu nằm sau bao gạo tay lăm lăm lựu đạn. Tôi nhảy chồm ra đường nổ một loạt AK về phía mấy bóng đen sột soạt đang chạy. Cả đoàn lấy gạo thành một trung đội truy kích. Bọn thám báo chạy thục mạng. Chẳng biết có chết đứa nào không nhưng bên ta thì vô sự. Chúng tôi cắm cúi đi. Chừng 20 phút sau, cả bọn muốn nghỉ lại bờ suối. B trưởng còn đang lưỡng lự thì tôi đề nghị: không nên nghỉ, địch sẽ phán đoán sau khi quân ta đi tiếp sẽ nghỉ ở tại khúc suối này và sẽ cho pháo bắn. Nhớn gằm ghè, cho là tôi vẽ chuyện. B trưởng yêu cầu đi nhanh ra khỏi đoạn có con suối. Thật may, chạy qua khu rừng ấy chừng 15 phút thì pháo bắn. Lúc đầu còn vài ba quả, rồi thì cấp tập. Chúng tôi nằm rạp chúi đầu vào những gốc cây to. Cả khu rừng ven suối ban nãy chịu trận pháo chừng 20 phút rồi im lặng. Trong đêm không thấy Nhớn nói gì. Thỉnh thoảng thở dài. Đêm ấy, Nhớn chui vào hầm nằm cùng tôi.

Rồi những ngày tháng sau đó, tiểu đội tôi luôn là tiểu đội cứng của đại đội. Dần dà biết tôi xuất thân con nhà làm ruộng Nhớn thích lắm. Tôi hỏi sao không thấy mày có thư nhà vào? Nhớn buồn buồn, tao có biết viết thư về đâu mà nhà biết để mà viết. Thì ra Nhớn chưa biết chữ. Từ hôm ấy tôi cứ thấy mình là người có lỗi với cậu ấy. Những ngày này mặt trận B3 đói quay quắt. Ai xuất kích thì hôm ấy được 6 lạng gạo một ngày. Ốm đau, ở nhà thì ăn 2 lạng. Đánh nhau suốt ngày đêm 2 nắm cơm bằng quả cam cũng phải ăn theo mệnh lệnh. Một đêm mưa, tôi sờ không thấy Nhớn đâu, hoảng hồn ngồi dậy, nhưng không dám báo trung đội vì tôi nghĩ Nhớn không thể đảo ngũ. Nửa giờ sau nó về, ướt như dê con vừa lọt lòng. Nhớn nhét vào tay tôi 2 bắp ngô non ướt dượt. Tôi và nhớn ăn ngấu nghiến. Thơm làm sao, ngọt làm sao thứ ngô cao nguyên ấy. Tôi biết, cậu ta tranh thủ mưa to ra nương đồng bào lấy trộm ngô non cho tôi, vì hai hôm rồi tôi sốt chẳng có gì bồi dưỡng. Đêm, pháo bắn từ Pờ lâycu đoành đoạch. Không gian nhớp nháp bùn và muỗi. Nhớn ôm tôi và thì thầm kể chuyện đơm đo, đánh lờ thả cụp ở quê.

Tôi và Nhớn học với nhau. Một tháng cậu ta viết được thư về cho mẹ. Chữ nguệch chữ ngoạc nhưng cũng được mươi dòng. Suốt mùa mưa năm 73, 74 đánh địch ở tây Plâycu chúng tôi theo nhau. Trận đánh nào Nhớn cũng chăm chú lấy về cho tôi nhiều thứ. Theo hắn ta, cứ cái gì có chữ là mang về cho thằng Luân. Chính vì thế, đánh đồi 30 nó mang về cả một mớ tạp chí Tiền phong của địch, suýt nữa tôi và tiểu đội bị kỉ luật vì cái thứ tạp chí bậy bạ ấy. Nhưng thú vị nhất là hôm đánh vào ấp Thánh Giáo hắn mò đâu ra một cây ghi ta. Trên đường về pháo địch rót chặn đường. Lính ta chạy thục mạng mà chàng Nhớn nhất định không vứt cây đàn. Lăn bên này, rúc bên kia, chui thí cố vào bụi cây, đàn kêu lửng phửng ghê hết cả người. Kệ, hắn cứ khư khư thứ nhạc cụ bác học này về tới kiềng và chỉ còn có 2 dây. Oách chưa, cả đại đội có mỗi tôi và Nhớn chơi đàn và hát cho nhau nghe. Vốn liếng nhạc lí của tôi chỉ 15 phút trổ tài là hết. Mò mẫm rồi tôi mổ cò và độc ca bài “bài ca năm tấn” thế mà hắn khóc mới tài chứ lị. Tôi hỏi: tao hát hay hả? Nhớn bảo, tao thấy nhớ bà chị tao trong trại chăn nuôi ở xã cũng hay hát bài này. Tôi không buồn dù hắn không khen tôi, nhưng cũng thấy mình có ích giúp cho bạn nhớ chị là được rồi.

Cuộc chiến tranh đưa tôi và Nhớn đến tận Sài gòn. Cây đàn của Nhớn phải bỏ lại lúc hành quân lật cánh về hướng Ban mê thuột. Nhưng đến lúc ấy thì tôi đã viết được bài hát ĐI DƯỚI CỜ QUYẾT THẮNG cho trung đoàn 64 của tôi rồi. Những ngày ở Gia Định tôi không cùng đại đội với Nhớn nữa. Tôi về làm Tiểu đội trưởng trinh sát trên tiểu đoàn từ trận đánh Củng sơn. 2/5/75 tôi xuống đơn vị. Tiểu đội hi sinh hết chỉ còn Nhớn là lính cũ. Buồn vui lẫn lộn. Chúng tôi khoe nhau những vật kỉ niêm trên đường đánh giặc. Tôi cho hắn cái đồng hồ có con cánh cam xoè cánh. Hắn lắc đầu, chả cần. Đồng hồ gì mà lại dây đeo vào cổ, nhùng nhằng bỏ mẹ. Rồi hắn khoe tôi, hắn có cái cattset. Tôi hỏi đâu? loại gì? Nó bảo, chả biết, thấy thằng Duyên thông tin bảo là cat set tao cố mang về cho mẹ tao nghe. Nhẹ nhàng cẩn trọng giở bốn lượt giấy báo gói buộc khủng khiếp ra, trước mắt tôi hoá ra là chiếc bếp điện lò so. Tôi cưòi phá lên, giải thích cho Nhớn thủng. Mặt nó đỏ găng lên, nó lao lên tiểu đội thông tin tìm thằng Duyên để nện một trận. May thằng Duyên đi công tác Tân Phú Trung chưa về. Nhét vào cóc ba lô hắn lọ dầu cá mà tôi vớ được hôm đánh Phú Yên, tôi dặn mang về cho mẹ để mẹ tỏng mắt. Nhớn cười, cái cười như mếu. Sao lúc ấy trông nó già thế?

Tôi về, cuối tháng mười năm ấy. Trời Đồng Dù xanh veo vào buổi sáng và mưa rào buổi chiều. Cánh sinh viên chúng tôi từ các trường đại học ra đi thì người ta lại trả về đại học. Chia tay với đơn vị cũ. Buồn cứ như chấu cắn. Thằng ở lại nhớ thằng ra về, mà thương phận mình. Thằng về thương thằng ở lại, ái ngại bởi những người chiến tích nhiều hơn mình mà vẫn chả đươc ra. Nhớn đút vào tay tôi 2 đồng (tiền mới đổi), bảo ra ngoài ấy mua giấy bút mà đi học. Nó khóc. Ô cái ông Lỗ trí Thâm của đại đội mà lại khóc. Tôi nhìn nó nấp sau cổng tiểu đoàn, nó sợ, chia tay tôi nó không chịu nổi. Chẳng biết có phải vậy không, hay nó tủi thân nhỉ?

Hẹn với nhau, thế mà hơn ba mươi năm nay tôi đã tìm về quê Nhớn đâu. Cứ tự cho là mình bận học, bận công tác, bận làm cán bộ. Khốn nạn, cán bộ gì cho cam, làm cái anh bán sắt và buôn vật liệu xây dựng ở Hà Nội chúi mũi kiếm tiền, rảnh thì nhậu nhẹt. Nay nhớ đến bạn thì già cả rồi, lại viện lí do sức khoẻ.
Nhớn tha lỗi cho tôi không?

(còn tiếp)
***

litangu
29-05-2013, 10:03 PM
Chuyện người bạn thứ ba:


Cuối năm 74. Chuẩn bị vào chiến dịch lớn, cả chiến trường háo hức, nôn nao. Thôi thì đủ thứ phỏng đoán. Nào đi sâu, nào rút ra cao nguyên Pôlôven, rồi lại có tin vào B2. Đi đâu thì đi. Chỗ nào chả là lính, mà là lính thì chỗ nào chả đánh nhau. Nghĩ cho mệt. Tuy vậy, khi thấy tiểu đoàn thông báo rút tôi lên trinh sát thì cũng hơi lấn cấn. Lên trinh sát ác liệt nguy hiểm nhưng thoả chí tung hoành. Ở lại cũng tốt, mà ở lại sẽ lên thay B trưởng để anh Luật lên C phó. Nhưng mãi tới khi bạn tôi, Mạnh Tiêu a trưởng bị thương què cẳng ở trận Củng sơn thì tôi đành vác ba lô về trinh sát. Ngay chiều hôm đầu tiên về nhận chức A trưởng ở hang đá hòn Một, tôi gặp Minh. Chẳng xa lạ gì nhau cả. Tôi biết Minh từ hồi Minh làm tiểu đội trưởng cảnh vệ trên trung đoàn. Nó ỉ eo xin xỏ về đơn vị chiến đấu từ đầu 74. Cú gặp nhau với Minh là từ năm 73 cơ. Hồi ấy, có thời gian tôi lên ban tuyên huấn trung đoàn 2 tháng viết chèo cho đội tuyên văn. Các ban từ tham mưu, chính trị, hậu cần đều phải lo tăng gia tự túc lương thực. Người đi tăng gia thường là lính tẩy hoặc mấy anh trợ lí le ve. Tôi là lao động không biên chế, thật là tiện lợi cho quí ban. Tôi sang bắc đường 19. Vừa tăng gia vừa viết chèo, nhất cử lưỡng tiện. Một buổi trưa, có lệnh của chủ nhiêm chính trị tôi về nam đường nhận nhiệm vụ gấp. Sau này tôi mới biết đó là về sở chỉ huy phụ trách việc làm riêng một cái nhà đón tiếp mấy thím văn công. Khiếp chưa, văn công khu năm dám xuống tận đơn vị tác chiến, mà nghe toàn ca sĩ oách. Oách thật đấy, trong đó có cô ca sĩ Trà My rất xinh đẹp và hát hay (sau này chả biết đi đâu). Vì là cán bộ của ban đi công tác nên phải có một vệ binh đi cùng (mãi về sau tôi biết chủ nhiệm chính trị quí tôi nên mới cho cái ân huệ ấy). Khi tôi lên, anh lính cao to, da trắng, tóc xoăn đứng chờ. Hắn nói rõ to. Tôi, chiến sĩ Nguyễn Minh nhận nhiêm vụ bảo vệ đồng chí, xin mời đi theo tôi. Ngại quá, mình là lính chứ thủ trưởng đâu kia chứ, tôi cố giải thích cho hắn nghe, hắn tỉnh khô, tôi chỉ nhận lệnh đưa thủ trưởng đi công tác chứ không nhận lệnh đưa lính đi công tác bao giờ. Vì vậy đồng chí đi sau tôi 10 mét, gặp địch tôi đánh đồng chí nấp đắng sau. Cay mũi quá, tôi bảo này ông, tôi ở tiểu đoàn 8 đấy, ở chốt Chư krônkrang về đấy. Hắn quay nhìn tôi rất nhanh, cái nhìn dịu hơn tí chút. Chiều tối, nghỉ ở suối Ialeo. Hai đứa cắm chạc đốt lửa ca cóng. Ngồi ăn, thò hai chân xuống suối hắn hỏi, ông lính đợt nào? Tôi cho biết lính sinh viên. Mắt hắn sáng lên, tuyệt quá, tôi thích bọn ông lắm. Kì lạ thật, mấy ông cán bộ thì ngán mấy thằng nhiều chữ hay lí sự, còn thằng cha này lại khoái tụi công tử sao? hắn giải thích, có văn hoá đánh đấm vẫn khác hơn. Câu nói của hắn sau này tôi mới hiểu hết ý nghĩa cả đen lẫn bóng của nó.

Thế rồi thi thoảng hai thằng vẫn gặp nhau trong những lần tác chiến. Minh dẫn đường cho tụi bộ binh chúng tôi nhiều lần. Lần nào đi đánh cùng nhau hắn cũng ném cho tôi bao thuốc chiến lợi phẩm mà tụi trinh sát thường ăn mảnh được. Đêm nay là đêm đầu tiên hai đứa cùng đi với nhau. Tôi là tiểu đội trưởng, Minh dưới sự chỉ huy của tôi. Phía đường số 1 địch căng ra nhiều chốt chặn. Chiến xa chạy ngược chạy xuôi ầm ầm, bắn đổ đạn vào khu rừng chúng tôi náu quân. Chiều đỏ ối, gió biển Tuy hoà mát rười rượi. Hai đứa nửa nằm nửa ngồi trên tảng đá phẳng nghiêng như mái nhà. Nó bảo: đêm nay bò đường 1 đoạn cầu Bàn thạch nhiều mìn lắm. Tôi ừ. Minh lại tiếp, mày để tao bò trước, mày bò sau. Sao lại thế? Tôi bẳn giọng. Nó ngập ngừng... rồi nói rất nhỏ, tao mới học lớp 9 còn mày đã học lớp 13, 14 mày chết thì phí hơn tao. Ô hay, nó cho sự phí phạng mạng người đơn giản thế sao. Tôi quay mặt sang nó. Minh cúi đầu, nhìn con chuồn chuồn vô tư đậu trên mép đá. Dáng điển trai lãng tử mất biến chỉ còn khuôn mặt thằng đàn ông ngây ngô trong chiều tối trước khi đi vào chỗ chết. Suốt đêm bám địch, lội ì õm dưới đồng lầy. Người nhão ra, đói, khát thèm hút thuốc. Mấy chú du kích dẫn đường, chắc lần đầu ra trận hồi hộp nên cổ họng chỉ muốn ho. Ho bây giờ thì chết. Lấy tay chẹt ngang cổ mà họng mấy thằng cứ muốn toé ra. Minh cúi xuống vê cục đất tròn như viên bi đưa cho chú du kích thì thầm, đấy là thuốc chống ho của trinh sát. Quả hiệu nghiêm, từ ấy trở đi cơn ho của anh chàng du kích tắt hẳn. Hôm giải phóng Tuy hoà mấy đứa con gái trong tiểu đoàn Phú yên cứ túm lấy Minh hỏi xin thuốc chống ho. Giải phóng xong Phú yên, đơn vị tôi quay lại đường 7 đón xe đi chiến dịch Saigon. Suốt con đường hãi hùng còn bao cảnh tượng đau thương mà bút mực đều bất lực tái tả. Tôi thấy Minh khóc nhiều lần khi nhìn dàn dạt xác người dân chết dọc sông dọc suối. Những lúc ấy, nó không còn là thằng Minh của những đêm bám địch luồn sâu. Nó yếu đuối như chàng công tử chưa biết chiến tranh là gì.

Trận đánh cuối cùng mà chúng tôi bên nhau là trận đánh mở đường vào Sài gòn ngày 29/4 ở cầu Bông. Mấy đêm trước, tôi và Minh cùng Ngô Thịnh bò 2 lần vào đồn Tân phú Trung để xác định hướng bắn cho hoả lực tiểu đoàn, rồi lại bò cầu Bông với trinh sát của E198. Ngày hôm sau, bộ binh đánh từ sáng sớm tới gần trưa vẫn không vào được đồn ấp Chợ. Hoả lực trống trải không ngóc lên mà phát huy tác dụng. Mặc dù không phải nhiệm vụ của mình, nó lao ra trận địa 12,7 li nâng khẩu súng của một tử sĩ vừa gục xuống bắn xối xả. Vừa bắn vừa la to, xông lên nhanh lên, vừa chửi những thằng nhát gan nằm bẹp dưới ruộng. Rồi hu hu khóc gỡ tay người bạn đã chết bên khẩu súng nóng bỏng. 30/4/75 cái ngày huy hoàng của bọn tôi ở Saigon, tiểu đội lạc mất Minh. Nó đâu có lạc. Nó một mình một súng chui vào dinh Độc lập từ lúc xe tăng ta lao vào cổng. Kệ, mọi chuyện sảy ra xung quanh, nó chui lên mò xuống mọi xó xỉnh rồi ra bến Bạch đằng. Đêm 30/4 phải đến 11 giờ nó mới tìm về tiểu đội. Nó bảo nó đưa hết những gói lương khô cho đám tàn binh. Nó còn kiếm được cả tiền Trần Hưng Đạo, nó cũng cho bọn ấy để tìm đường về quê. Hắn trầm ngâm, chúng nó cũng tội. Cái thằng đánh nhau thì ác liệt thế mà lại thương hại kẻ thù. Tôi băn khoăn, hay nó hữu khuynh tư tưởng.

Rồi những ngày huy hoàng trôi nhanh. Cả tôi và nó đều thay đổi đơn vị. Minh về làm B trưởng bộ binh. Tôi lên trung đoàn viết lách chừng 3 tháng rồi ra bắc. Trước khi đi, về đại đội thăm nó, nó cười khanh khách chạy ra hàng rào nhặt vào cái túi mìn clêmo đầy đất. Nó phủi đất nhăn nhở, tặng mày, mày về đeo đi học (nó coi mình học đại học giống như trường làng chắc?). Thế mà cái túi ấy bây giờ trở thành vật sót lại duy nhất của tôi về những ngày chiến đấu. Vài năm sau khi chia tay nhau, Minh lại bị thương ở chiến trường tây nam. Nghe nói Minh ra quân với một bộ răng giả.

Cho tới 25 năm sau, một buổi chiều run rủi, nó tìm đến tôi. Bảo vệ cơ quan vào báo cho tôi có ông lái xe tải nào đó cứ đòi gặp chú để thanh toán. Quái lạ, việc thanh toán là của kế toán sao lại đòi gặp tôi. Chắc có gì khuất tất mắc mớ đây. Minh vào, đứng lừng lững, trân trố nhìn tôi rồi lắc đầu mày gầy quá, khổ quá hả. Hai đứa nghẹn ngào sau bao năm xa cách, rồi nó rút ra cái ống nhòm Mỹ cũ rích. Tao trả lại mày, tao lấy của mày từ hồi 75 bây giờ trả về chủ cũ. Trời ơi, hoá ra nó bảo thanh toán là thanh toán cái ống nhòm mà nó đã lấy của tôi từ hồi tôi rời trinh sát lên trung đoàn. Nó còn bảo, ngày mai nó đi Thanh hoá. Đi để thanh toán mấy thứ còn nợ mấy thằng quê ở Thạch Thành. Nợ đời thì nhiều lắm mày ơi, trả bao giờ hết. Minh bảo trả được bao nhiêu cố mà trả. Chỉ có nợ những thằng chết thì mới không trả không đền được thôi còn thì trả được cả đấy. Đừng có ăn quỵt cuộc đời mày ạ.

Chắc Minh nói đúng. Với bạn bè đã hi sinh thì không trả nợ được, còn thì tôi ăn quyt bạn tôi nhiều.


NTL

litangu
30-05-2013, 08:53 AM
Vời vợi Cửa Tùng


Sáu mươi tuổi tôi mới trở lại Cửa Tùng. Với tôi, Cửa Tùng là kỉ niệm một đêm. Một đêm ở bến đò Tùng Luật. Một đêm sang sông, một đêm qua đạn bom dưới tay chèo của người dân Vĩnh Linh, rồi chiến tranh kéo đi biền biệt. Cái bến đò xưa, những cô dân quân ngày xưa, các cụ già chèo đò đưa chúng tôi sang sông đánh vào Cửa Việt đêm ấy cũng chỉ gặp một lần rồi biền biệt xa.

Từ lối rẽ trên đường Hồ Chí Minh xuống Hồ Xá lòng đã thấy rưng rưng. Hồ Xá xanh thế này ư? Cái đêm hành quân qua đây chỉ thấy một vùng gạch vụn và đất đỏ khét lẹt mùi bom, mùi pháo từ bên kia giới tuyến bắn sang. Đội hình hành quân nhấp nhổm trên đoạn đường lúc chập choạng tối. Giao liên dẫn đường là cô gái Vĩnh Linh đi nhanh hơn chạy. Lần đầu tiên tôi nghe “mấy eng vui tính hỉ“ “Bộ đội sông Dinh hờ“. Ngày ấy hành quân xuống bến đò sao nhiều cây dứa gai thế. Bộ đội đi soàn soạt gai cào. Bây giờ thỉnh thoảng mới gặp một hàng rào rứa gai xanh ngắt, cắt tỉa gọn gàng. Con đường về Cửa Tùng nhỏ thôi, nhưng đẹp. Ngồi trên xe cứ bồi hồi, ước ao gặp người con gái chèo đò năm nào. Trong đêm, đứng ở mũi thuyền, quần sắn quá gối, khoảng trắng cứ nhấp nhổm trước mũi súng chúng tôi.

Khoảng trắng chân trần gái Vĩnh linh dàn dạt sóng Cửa Tùng. Biết rằng ước ao của mình vơì vợi quá. Bởi ai còn ai mất? Những người tôi gặp trong cái đêm xuân 68 ấy? Mà nếu có còn thì các o cũng đã như mình. Già nua. Bỗng nhớ về một bài hát của nhạc sĩ Ngọc Toán... “... Những chiến binh tìm về trận đánh, cứ lặng lẽ tìm về kỉ nệm. Tôi già rồi, em đâu còn trẻ nữa..."

Kỉ niệm vời vợi xa. Nay lại về với Cửa Tùng. Vĩnh Giang đây. Hai bến đò A, bến đò B Tùng Luật bây giờ đã trở thành di tích lịch sử. Cái bãi sông hiền lành làng Tùng Luật quần quật suốt thời đạn bom. Chỉ chừng hơn trăm sải nước mà máu không ngừng chảy ở quãng sông này mấy ngàn ngày đêm. Hàng trăm con thuyền, hàng ngàn người dân làm nhiệm vụ như người lính. Bộ đội chúng tôi chỉ một lần vượt sông, còn người chèo đò thì hàng chục lần qua sông trong một đêm dưới tầm bom pháo. Thử hỏi có ở đâu người nông dân đi nghĩa vụ dân công như nơi này. Đó là những chuyến đi ra đảo Cồn Cỏ, chở gạo, chở đạn và hơn hết là tiếp thêm niềm tin của người đất liền cho các chiến sĩ trên tiền tiêu sóng gió. Một thời. Cồn cỏ là tuyến đầu của Vĩnh Linh, mà Vĩnh Linh là tuyến đầu của miền bắc. Mỗi chuyến đi, trở về đâu còn nguyên vẹn. Để bây giờ trước mắt chúng tôi, đảo Cồn Cỏ vẫn hiện lên, như mỗi bình minh người Cửa Tùng hướng về hừng đông là thấy Cồn Cỏ. Người Vĩnh Linh ngày nay đang gửi gắm con cháu mình ra sinh cơ lập nghiệp nơi đó, để nối hòn đảo này với quê hương. Cửa Tùng vẫn đi về với Cồn Cỏ.

Nhưng lâu lắm rồi, thông tin về hòn đảo anh hùng đâu còn được nói nhiều như trước. Vẫn biết cuộc sống đổi mới hôm nay nhiều việc phải làm. Nhưng nhớ ơn và trả ơn thì cần phải làm trước tiên cho đạo làm người. Cồn Cỏ tiền tiêu nay trở thành kỉ niệm rồi sao? kỉ niệm cứ dần xa. Tôi không tin là thế, bởi Người Vĩnh Linh vẫn đau đáu ngày đêm bảo vệ con mắt biển khơi của quê mình. Một thế hệ thanh niên đã tình nguyện lập nghiệp, đang sống ở cái nơi mà cha ông mình tưới máu giữ gìn. Đi qua chiến tranh hàng ngàn, hàng ngàn người nông dân Vĩnh Linh ngã xuống dưới đạn bom trong tư thế của người liệt sĩ. Nghĩa địa của làng có bia liệt sĩ không?

Cũng ở bến đò này, các mẹ các chị mòn đêm rưng rức khóc, trắng những đêm tắm rửa khâm liệm cho liệt sĩ, băng bó thương binh từ bờ nam đưa ra. Đêm này qua đêm khác, bao nhiêu năm đất Vĩnh Giang, đò Tùng Luật đổ máu. Bao nhiêu ngày đêm chứng kiến những đứa con trai miền bắc miền trung chết trẻ. Người Vĩnh Linh đợi chờ vòi vọi chồng con trên những chuyến thuyền ra Cồn Cỏ trở về, chờ những đứa con đánh giặc phía Gio Linh trở về. Gần thế, chưa đầy nửa tầm pháo mà cả làng, cả nhiều làng ngóng trông vời vợi. Tôi bồi hồi như đang thấy lại tiểu đòan 47 Vĩnh Linh của tiểu đoàn trưởng Trần Văn Thà qua khúc sông này một đêm tháng 1/1968. Tôi cũng hình dung ra hai nhà báo quân đội Lê Đình Dư và Nguyễn Ngọc Nhu sang sông đêm ấy lỉnh kỉnh súng đạn và máy ảnh, rồi các anh chiến đấu dũng cảm như những dũng sĩ D47 và nằm lại mảnh đất Của Việt này. Bây giờ các anh đang yên nghỉ ở nghĩa trang liệt sĩ Gio Linh cùng với đồng đội của mình. Viết những dòng này, tự dưng thấy ngòi bút của mình bỗng ngập ngừng, chúng tôi bỗng bé lại trước các anh. Các anh vừa nổ súng ở chiến hào, các anh vừa viết, những bài báo được viết bằng máu. Chắc hàng năm những người làm báo Quân đội Nhân Dân vẫn về đây với các anh. Nén hương nào của người viết bây giờ tri ân với các anh cho đủ?

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_6473_zps28d5c58a.jpg

(LITANGU và một người bạn bên tượng đài Đặc công thủy ở Cửa Việt)


Dừng chân trên bến đò A Tùng Luật, tôi gọi điện cho một người đồng đội của tôi ở trung đoàn 48. Tuy đã nghỉ hưu nhưng thượng tá Nguyễn Huy Tưởng vẫn luôn nặng lòng với quá khứ đời lính của mình. Anh trả lời tôi trong xúc động cậu thắp giùm tớ nén nhang trên bến đò Tùng Luật nhé, bao đồng đội của mình và bao bà con đã hi sinh vì chở đò đưa chúng mình qua sông năm 68 đấy, tớ không đi được mà thấy có lỗi quá. Từ bến đò này ra đi sư đoàn tôi đã cùng các đơn vị bạn trút lửa đạn vào đầu kẻ thù và cũng ở bến đò này trở về chói lọi chiến công mà đơn vị tôi mãi tự hào có Nguyễn Như Hoạt. Người lính Đại đoàn Đồng Bằng trở lại với Cửa Việt càng thêm tự hào với cái tên Trung đoàn Vĩnh Định người anh em sinh đôi của trung đoàn 64 chúng tôi. Càng thêm tin vào truyền thống của sư đoàn, thương hiệu Đại đoàn Đồng Bằng anh hùng.

Xe chúng tôi đi lẫn vào rất nhiều xe mang biển số Hà nội, Hải phòng, Nam định, Phú thọ... Rất nhiều du khách người nước ngoài xuống xe ngay tấm bia di tích bến đò Tùng luật A. Họ chỉ chỏ sang phía bờ nam, rồi dang tay như tỏ ý khoảng sông ngắn thế mà đã ngăn chia hai vùng chiến tuyến mấy chục năm. Không biết trong đoàn hành hương ấy có bao nhiêu người như tôi, người chiến binh tìm về trận đánh, lặng lẽ với kỉ niệm, với bao đồng đội không về.

Nắng đầu hè oi ả. Cây cầu nối Vĩnh Giang sang bờ nam dẫn chúng tôi tới Cửa Việt. Vắng người, đường lại đẹp. Xe qua cầu rồi chạy dọc theo triền cát đụn lên thành đê chắn biển. Dọc con đê ấy là bãi tắm Cửa Việt. Làng quê vẫn lom dom. Nhà cửa vẫn chưa đông đúc. Cát vẫn trải triền miên, làng xóm nhỏ, cây trái bắt đầu loe hoe. Chúng tôi đi trong những hàng phi lao mới trồng lẫn những cây phi lao chồi, cây dừa chồi gộc ghệch. Một thời bom pháo chặt đổ cây mà có những cây không chết, nó bật chồi sống lại, xù xì, gộc ghệch, đứng trân trân giữa sóng và gió. Không còn tìm ra hố bom hố pháo. Bởi cát trắng như có khả năng tự khoả lấp vết thương. Rau muống biển bò loang, trổ hoa tím lên những vết sứt sẹo của mặt đất một thời không bình yên.

Chúng tôi qua một cánh đồng hoang, đó chính là nơi diễn ra trận đấu xe tăng ngày nào. Bây giờ một khu đô thị mới đang hình thành. Nhà nghỉ công đoàn, nhà hàng phục vụ cho du khách đi tắm biển khang trang còn tươi màu sơn trong nắng. Quảng trị đang đầu tư cho Cửa Việt hàng ngàn tỉ đồng để thay da đổi thịt vùng đất có quá nhiều kim loại trong cát này. Cảng Cửa Việt hôm nay hãnh diện về khả năng đón tàu trọng tải lớn cập cảng và khối lượng hàng hoá bốc dỡ qua đây ngày càng cao. Những con tàu ra vào cảng rúc còi trong bình yên của biển. Đồng đội tôi nằm lại đây chắc cũng mát mẻ hương hồn vì sự giàu đẹp đổi thay của nơi mình đã hi sinh. Ngoài xa, những con thuyền cá thư thái trên sóng trở về. Nơi ấy một thời tàu chiến Mĩ nhung nhúc hoành hành điên cuồng nã pháo vào đất liền, dội pháo lên thành Quảng trị, lên thị xã Đông Hà. Người Cửa việt hứng chịu tiếng xé tai của pháo biển suốt bao năm dòng.

Xuống xe, ngồi trên đụn cát ngắm biển cửa Việt, lòng nao nao nhớ Phạm hữu Lượng, Nguyễn Văn Luyện bạn cùng khoa khi xưa, những đồng đội mãi nằm lại trên vùng cát này. Những Sinh viên khoa Chế tạo máy từng nhiều ước mơ ước một ngày nào đó chế tạo những cỗ máy, con tàu cho đất nước. Xương máu các bạn tôi tan vào nắng gió Quảng Trị khiến cát phau phau nhức mắt. Tiếng còi tàu vào ra bến cảng như có tiếng hú vọng từ quá khứ. Đó là tự mình huyễn hoặc đó thôi để nhớ những dũng sĩ trung đoàn 48, 64 sư đoàn 320b vùi mình trong cát nóng để làm nên một chiến thắng, để lại sự hãi hùng cho lính TQLC Mỹ. Những địa danh Lâm Xuân, Mai Xá thị, với tiểu đoàn 47 Vĩnh linh quả cảm. Những Gio Mỹ, Gio Hải... và những người mẹ ở Cửa Việt đã nhường hầm cho bộ đội, vừa động viên các con mang súng to ra lòi cát cửa sông phục kích bắn tàu chiến Mỹ. Nhìn những người dân đi làm ruộng ở Gio Linh tôi không biết là trong những người dân hiền lành kia đâu là nữ du kích Nguyễn Thị Cúc từng cùng đồng đội diêt cả trung đội Mĩ năm nào. Xã đội trưởng Nguyễn Văn Mẫn của Gio Hải bây giờ sống ra sao? Con người đã đánh chìm tàu chiến 1200 tấn của giặc. Khúc sông Cửa Việt hiền lành kia, nơi đã từng có một thế trận Bạch Đằng vào ngày 4/3/1968. Ngày ấy người du kích Nguyễn Ngọc Lễ đã học theo cách của cha ông mình dùng tre hóp buộc chùm thả xuống sông theo hình dích dắc, vạc cọc tre nhọn cắm xuống sông để co cụm tàu giặc lại mà nổ súng. Hôm đó trong mớ tàu dính đạn có một tàu chở dầu bốc cháy và biến khúc sông cửa Việt thành một dòng sông lửa. Bây giờ, trong mỗi bài lịch sử mỗi trang sách giáo khoa ta thấy như còn mắc nợ với bao người, mắc nợ với sự thật lịch sử mà ta đang rất dễ lãng quên vì mưu sinh thường nhật. Dù ta có trót quên ghi lại cái thế trận Bạch Đằng trên sông cửa Việt ngày nào nhưng với đối phương chắc là nhớ đời, bởi khoa học cao siêu, vũ khí tối tân là thế mà bị thiêu cháy trên một cửa biển nhỏ nhoi bởi một đội du kích chất phác hiền lành, có cả phụ nữ. Thật khâm phục cho dòng sông này, cửa biển này vì triền miên trong lịch sử nó ngẫu nhiên luôn là nơi tâm điểm ác liệt của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Nó lại luôn là nơi gianh giới của sự tranh chấp của nhiều cuộc chiến tranh. Một vùng đất trống chỉ có cát, không đồi núi, không rừng cây mà bộ đội và du kích bám trụ suốt năm này qua năm khác để đánh giặc, để sống và sinh sôi.

Một thời dưới sông thì đặc công đánh tàu, trên bờ thì du kích và bộ đội đánh địch. Đất trời và sông biển vần vũ những bom và đạn. Chỉ có cát và nắng thế mà xe tăng quân giải phóng đột ngột xuất hiện như những thiên thần để rồi trận đấu tăng còn vang mãi trong kí ức những người lính tăng thiết giáp ngày nay.

Qúa trưa, chúng tôi bồi hồi khi gặp tượng đài của các dũng sĩ đặc công hải quân vòi vọi trong nắng. Tượng đài đơn sơ thế này sao? Nó đâm vút lên trời cao chứng minh cho một thời oanh liệt của đoàn đặc công M26. Một kì tích của Hải quân ta. Đoàn M26 hai lần được tuyên dương anh hùng và 3 trong 4 đơn vị là đơn vị anh hùng. Đoàn M26 là một đơn vị thật nhiều cá nhân đựơc mang danh hiệu anh hùng LLVT. Ngót mười năm, họ cắm chốt ở ngay cửa biển này. Ngót mười năm từ cửa Tùng tới cửa Việt là những chuyến đi về của họ giống như những chuyến đi làm đồng của một lão nông. Mười năm họ ngâm mình dưới nước đầu đội thuỷ lôi vai gánh pháo để để làm nên kì tích đánh đắm hàng trăm tàu chiến. Những người lính trở về mang theo những vết thương và mọi thứ bệnh tật chẳng một chút kêu ca. Những ngày tháng đánh tàu trên biển cửa Việt oai hùng chỉ còn lại những câu chuyện rỉ rả với con cháu trong bữa cơm chiều.

Chiến công lùi xa. Kí ức cũng lùi xa. Lịch sử sẽ muộn màng nếu quên đi những chiến sĩ hiền lành quê mùa ấy. Thật lạ, mảnh đất bé tí trên bản đồ Tổ quốc này lại là nơi hội tụ của những chiến công, những chiến công làm tiền đề trưởng thành cho nhiều vị tướng. Cửa Việt đã gắn liền với tên tuổi các tướng lĩnh, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Như Hoạt, Giang văn Thành, Nguyễn Khắc Nghiên, Nguyễn Huy Hiệu... Cửa Việt là cái nôi đã sinh ra hàng chục anh hùng của quân đội ta.

Chuyến đi về cửa Tùng, cửa Việt lần này, chúng tôi chộn rộn trong người nhiều cảm xúc. Những người dân nơi đây, những người lính đã từng chiến đấu nơi đây, đều mang bóng dáng anh hùng. Ý nghĩ ấy khiến tôi cứ đăm đắm nhìn những cụ già đang lặng lẽ kì cọ con thuyền gỗ trên bến. Con thuyền mỏng manh hiền lành gối đầu lên bãi sau chuyến ra khơi. Chủ nhân của nó biết đâu cũng là những người đã đưa chúng tôi sang sông giáp trận đêm nào. Cửa Việt. Điểm hội tụ cuối cùng của những cái tên anh hùng trên một dòng sông anh hùng. Con sông Đăk roong hào sảng chảy qua Khe Sanh về xuôi mang tiếp cái tên sông Cam lộ lẫy lừng. Khi ôm lấy thành cổ linh thiêng nó mang tên sông Thạch hãn, rồi đổ ra biển khơi với cái tên Cửa Việt. Không có một con sông nào trên thế giới này chỉ với chừng hơn 100 cây số mang ba cái tên mà cái tên nào cũng đi vào lịch sử oanh liệt nước nhà khiến bạn bè năm châu đều biết đến.

Buổi chiều quay lại Cửa Tùng. Trời buông nắng phía sau lưng. Biển lại ngơì ngợi xanh trước mặt. Đảo Cồn Cỏ mờ xa phía đông. Cửa Tùng sóng êm thế. Bờ đá nhiều mỏm lõm vào như dẫy hang động bọt trắng xoà tựa chòm râu ông già Nôen. Từ một nhà hàng rất đẹp kề trên bãi biển đang vọng ra câu hát quen thuộc, nhưng hôm nay tôi nghe sao khác lạ với ngày thường.

... 'Bên ven bờ hiền Lương, ... ơi câu hò chiều nay... sao mang nặng tình ai...’.

Đã năm mươi năm ra đời bài hát ấy, thế mà ngồi đây chúng tôi vẫn bồi hồi và sẽ còn thổn thức, rung động tới nhiều thế hệ sau. Dưới kia, du khách thảnh thơi thả mình trong lớp sóng dịu êm. Bãi Cửa Tùng đẹp xứng với cái tên Nữ hoàng, cũng là bãi biển một thời các con thuyền nhao ra biển khơi đánh giặc. Cũng từ đây hướng về bom đạn để tải đạn cho bộ đội diệt thù. Cũng bãi biển này khúc tráng ca của một thời “Giữ vững Biển trời Quảng Bình Vĩnh Linh“ vang lên.

Anh bạn nhà văn Quảng Trị từ Đông Hà phóng xuống, đi cùng là một nữ giám đốc còn trẻ. Chúng tôi là bạn, lại là khách thủ đô vào nhưng chẳng có khoảng cách chủ khách vì bạn tôi cũng từng là lính. Còn người nữ giám đốc cũng là con gái Vĩnh Giang. Cô sinh ra ở đây, mang cái tên rất là địa lí mà thật đẹp: Bến Hải. Bến Hải sinh năm 1975, ngày đôi bờ sông này đã nối liền. Cha mẹ cô từng là dân quân Tùng Luật đã đưa hàng trăm chuyến đò qua sông. Thật là chuyến đi có hậu. Chẳng gặp lại những người con gái năm xưa chèo thuyền trong cái đêm mùa xuân đầy đạn lửa thì được gặp người con gái của họ. Cô gái Vĩnh Linh nước da trắng ngần, thân thiện giỏi giang. Đôi mắt long lanh tự hào hướng ra phía biển kể chuyện quê mình cho chúng tôi nghe. Cô tự hào kể về cha mẹ mình trong những câu chuyện thật là giản dị. Trong câu chuyện với người con gái Cửa Tùng dù nhắc tới chiến tranh nhưng không còn thấy chút tự ti hoài cổ nào hết, chỉ thấy ở cô sự mạnh mẽ đáng yêu, táo bạo nghĩ về hôm nay, về phía trước với khát khao làm giầu. Thật mừng cho cuộc sống hiện tại và tin yêu vào lớp người như người con gái Vĩnh Giang này. Còn một chút nuối tiếc trong tôi là ngày trở lại đây không gặp được những đứa bạn học đại học với tôi một thời. Những đứa bạn mà bọn tôi gọi là lứa “sinh viên k8“ ngày xưa. Người Vĩnh Linh bây giờ đẹp hơn mà vẫn dũng cảm vẫn hiền lành dễ thương như ngày nào. Bâng khuâng nhớ tới bản hợp xướng của nhạc sĩ Doãn Nho từ lâu lắm rồi về vùng đất đầy gió cát.

Hợp xướng Sóng Cửa Tùng.
Chúng tôi ngồi đây mà vời vợi nhớ.

Vời vợi Cửa Tùng


LITANGU.

litangu
31-05-2013, 12:47 PM
Dĩ vãng

Ngẩn ngơ lên nhà xuống phố
Dĩ vãng chạy trốn dư âm
Một cánh rừng khô lá khộp
Tiếng Tắc kè gõ vào đêm

Ngẩn ngơ nghe thằng bạn gọi
Tưởng như tuổi trẻ chạy về
Xa ngái tiếng cười lính trận
Xa ngái hồn vương rừng khô

Ngẩn ngơ phố dìu dập sáng
Ngẩn ngơ đường bộn bề chiêù
Bụi nhiều từ xưa vẫn thế
Chỉ bạn bè ít đi thôi

Chuyện nay thì nghe khó vào
Chuyện xưa thì sao nhớ thế
Ba lô ở góc hầm nào
Nằm mơ áo bay giữa phố

Chiều nay ra đứng bờ sông
Nắng rớt xuống cầu xây dở
Có người đàn bà đứng mong
Một cánh buồm nâu dĩ vãng

Sơn Tây nắng

litangu
01-06-2013, 12:31 AM
Mùi trâu ám



Tôi có kế hoạch về quê vào tháng 9 năm nay. Kế hoạch này được vợ con nhất trí cao.
Có mấy lí do:
Thứ nhất là Tháng ấy là sinh nhật mình, sinh nhật mà không tổ chức ở cái nơi chôn nhau cắt rốn thì kém vui.
Thứ hai là tháng ấy chúng tôi tụ họp hội chăn trâu.

Nghĩ đến ngày ấy là đã nôn nao trong lòng, giống như được mời đi hội nghị to lắm, oai lắm. Về ngày sinh nhật, cũng chẳng thể 100% chính xác. Cha mẹ sinh mình vào thời kháng chiến chống Pháp giữa quê hương âm u thì cái sự khai sinh chắc chi đã đúng. Cứ mang máng vậy... Cứ nghe mẹ bảo đẻ mày vào gần rằm tháng tháng bẩy, vậy thôi. Nhưng cứ về nơi mẹ sinh ra mình là sung sướng rồi. Còn cái chuyện họp hội chăn trâu thì nghe lạ hoắc, nghe chéo ngoe giữa thời nay. Nhưng tôi thì sướng, sướng như mình lúc còn bé được mẹ mua cho cái quần cộc. Bỗng vài đêm nay, cứ hay nghĩ về ngày chăn trâu, mà cứ nghĩ về ngày ấy thì hình ảnh con trâu của đứa nào to cao béo gầy ra sao cũng lại hiện rõ mồn một. Thực ra cũng chả có gì lạ lẫm đến khó hiểu. Lúc bé bộ óc mình nó trắng tinh, mỗi sự việc xẩy ra như một nét chì vạch lên đó, nó hằn sâu đến khó phai mờ. Chứ còn như bây giờ cả bộ não trải ra đen như đít nồi vạch mãi nó không hằn lên được. Già hay quên là thế, già rồi học khó vào cũng là thế. Tôi thấy nó đơn giản vậy thôi.

Mỗi thằng chúng tôi một tâm một tính. Con trâu cũng vậy, chúng tôi thuộc tính nhau và cũng thuộc nết trâu của nhau. Con trâu của tôi là trâu đực, to cao nhất đàn gọi nó là Dòng. Bố tôi bảo nó nhiều tuổi hơn con đấy. Tôi chưa bao giờ tự trèo được lên lưng nó mà phải trèo từ đầu rồi hét nó: lên, lên. Nó ngẩng đầu lên là tôi tuồn sang lưng. Nó khỏe, nên bao giờ cũng tỏ ra đàn anh cho cả đàn. Gặp đàn trâu làng khác nó hung dữ lạ thường. Hễ có con trâu nào lấn sang đàn của bọn tôi là nó lao vào xua đuổi. Rất nhiều cuộc húc nhau xẩy ra với đàn trâu khác mà nguyên nhân cũng chỉ vì ganh ghét nhau vì cái tội lân la làm quen với những con trâu cái trong đàn bọn tôi. Con trâu nhà thằng Thành sừng choãi ngang đến yếu. Lại còn cái tật ăn đến nhỏ nhẻ. Hóa ra con này gẫy mất hai cái răng. Trâu mà gẫy răng thì hết sách. Chỉ chọn cọng cỏ, túm mạ be bé mà ăn như liếm, không vặt ngang cọng chè vè, ngang thân lúa như những con khỏe. Ăn ít thì đói, thì gầy. Mà đã yếu thì con nào cũng sợ, cứ lấm lét run run khi thấy con khác đến gần. Tội thế. Con trâu cái nhà thằng Vân thì vừa to đẹp lại cũng tầm tầm năm tuổi như trâu Dòng nhà tôi. Con Dòng và con Cái nhà thằng Vân thân nhau lạ kì. Không con nào lại gần con Cái được chỉ vì con Dòng nhà tôi lúc nào cũng vè vè con mắt. Ăn cỏ đấy, uống nước đấy nhưng nó vẫn để ý con Cái. Mà cũng lạ, con Cái cứ sán lại với con Dòng mọi nơi mọi lúc. Tôi đã có những hôm khốn khổ vì con Dòng không chịu ăn cứ đi theo sau con cái mà ngửi mà hít rồi ngửa mặt lên trời nhe một hàm răng trắng ởn khoái trí. Con Cái thì đứng chạng háng cong tớn cái đuôi lên mà lim dim. Con vật nó khoái nhau là nó hít cái mùi bài tiết của nhau. Chịu thật, đúng là súc vật. Tôi và thằng Vân nhìn hai con Dòng và con Cái tình tứ âu yếm nhau theo kiểu phân gio ấy mà cười hinh hích với nhau. Có những chiều, thả cả đàn trâu dưới hồ, chúng tôi ì ọp bơi lặn. Đàn trâu cũng phì phò đằm mình phả phê. Bỗng có đứa kêu, Ối Vân ơi trâu mày đâu? Cả lũ nhìn vừa đó mà không thấy con Cái nhà thằng Vân đâu. Con Dòng thì lim dim, trời đất ạ hóa ra con Dòng và con Cái làm cái chuyện vợ chồng. Con Cái chịu ngụp người dưới nước cứ chừng gần phút lại thò mõm lên phì phì rồi lập tức con Dòng lại nhấn chìm xuống. Tôi và thằng Vân phải lao vào can thiệp vì sợ con Cái chết ngạt. Chiều mát, cả đàn trâu ra về. Chúng tôi ngồi vắt vẻo lưng trâu, con nào cũng bóng loáng. Con Dòng và con Cái có vẻ thỏa mãn lắm dụi dụi cái sừng vào đít nhau rồi lại ngửa cổ nhe một hàm răng trắng ởn lên trời. Có ngày tôi học phụ đạo thêm để thi giỏi cấp huyện phải về muộn. Chúng nó đi hết cả. Con Dòng lồng lộn đi rõ nhanh. Có lúc nó chồm chổ như mất trí. Tôi dắt nó lên đồi chè. Cả chiều ấy nó đâu có ăn, nó ngó bên này nghiêng bên kia mắt cứ nhìn xuống chân đồi. Tôi cưỡi trên lưng luôn mồm thét rồi giật dây chạc mà nó vẫn không nghe. Chiều xuống bọn thằng Vân trở về. Con dòng nhìn thấy con Cái nó phóng từ trên đồi xuống. Tôi ngã quăng cu lơ, bàn chân gập lại bong gân, may không gẫy xương. Con Dòng lao xuống đồi. Thế là nó và con Cái kị sừng vào nhau, nó ngửi đít con cái con Cái cứ cong tớn cái đuôi lên thằng Vân hò hét thế nào cũng kệ, hai con vật cứ xoắn vào nhau. Tôi bò lết trên đồi chè, Vân bỏ trâu đấy cõng tôi xuống đủn lên lưng trâu ra về. Tôi nghỉ mất vài buổi học nằm nhà bóp lá bưởi nướng rồi tập tễnh đi học. Mấy ngày sau thấy tôi con Dòng lấm lét. Thì ra con vật cũng biết ân hận về cái lỗi của mình gây ra cho loài người.

Rồi chiến tranh phá hoại của Mỹ nổ ra. Ban ngày không dám thả trâu ra ngoài đồng. Cầy bừa cấy hái quê tôi làm vào ban đêm. Chúng tôi đợi khuya dắt trâu thả theo ven đường tàu hỏa nhiều cỏ và những bụi chuối. Nằm trên lưng con Dòng nghe nó thở phì phò mệt nhọc tiếng dứt cỏ cũng mệt nhọc tôi thương lắm. Trời khuya, chả biết sương xuống hay mồ hôi trâu mà thấy lưng nó dính nham nháp. Mùi con Dòng chua chua nồng nồng lan trong đêm.

Những ngày đông tháng giá, nhốt trâu ở trong chuồng lấy lá cọ che tứ phía mà chân nó vẫn phát cước. Mẹ tôi lấy bã quả khế ngâm bóp cho nó. Chân nó run rẩy nhấc lên hạ xuống rõ tội nghiệp. Ấy mà vài hôm sau lại phải ra đồng. Áp tết bố tôi bảo con đi cắt cỏ về để giành mấy ngày tết cho trâu ăn. Khổ thân nó mình có tết chứ nó làm gì có tết. Mấy ngày tết trâu nhà nào cũng buộc trong chuồng. Hết tết người lục tục ra đồng thế là con Dòng và con Cái lại gặp nhau. Chúng nó quấn vào nhau. Con Dòng ngoắc cặp sừng vào cổ con Cái rồi tựa hông vào nhau ngúc ngắc cái đầu hai tai cụp xuống không ve vẩy đờ đẫn. Mắt chúng rơm rớm nước. Thằng Vân đang đánh đáo chinh cười khanh khách, ghê nhỉ nhớ nhau ghê nhỉ. Cả lũ cười theo. Lũ trâu thây kệ mấy thằng trẻ con còn say mùi tết nhất mải đùa nghịch dọc đường, chúng sán vào nhau ngửi hít nhau giống như người đi xa về hỏi thăm nhau ríu rít. Tôi lên học cấp 3 đi xa nhà. Rồi đi đại học. Thằng Vân, thằng Thành thằng Đức thằng Tính… tốt nghiệp mười đi bộ đội luôn. Đàn trâu thành ra tan đàn sẻ nghé. Vì lũ em chúng tôi nó lại không đi với nhau giống chúng tôi lúc trước. Mỗi lần về nhà, có ngó qua chuồng trâu con Dòng thò mõm liếm liếm vào tay tôi mắt thật buồn. Cái lưỡi nó âm ấm ram ráp như cái bàn đánh săm xe đạp chua loét nước dãi lên tay tôi. Nó buồn. Tôi biết. Con Cái nhà thằng Vân lâu nay đi đàn khác rồi.

Tôi đi bộ đội. Biết thằng Vân nhập ngũ trước ở D38 F304B rồi vào chiến trường khu 5. Thằng Thành vào tít hút Cà Mau. Thằng Tạ Chức thằng Bùi Hồng sang Lào rồi hi sinh ở đó, chỉ có thằng Bình thì đi công nhân kiến trúc là ở ngoài này. Hết chiến tranh tôi về. Năm sau 1977 thằng Vân cũng về. Mùa đông năm 76 tôi quên béng chuyện con Dòng thì bỗng một hôm trong bữa ăn em trai tôi buột miệng: anh ơi con Dòng bị HTX mổ thịt rồi. Mẹ tôi mắng, thôi ăn đi không nói chuyện ấy. Thì ra con Dòng đã bị đem đi giết thịt vì năm 74 nó già quá rồi. Hôm ấy cả nhà tôi bỏ cơm. Khi người ta dắt nó đi nó lê chân chậm chạp và đôi mắt õng nước. Mẹ tôi và các em tôi không dám nhìn theo. Chiều ấy HTX bán cho mỗi nhà 2 kí thịt, mẹ tôi dứt khoát không lấy. Chỉ ra nhặt đôi sừng của nó mang về để vào đống rơm sau nhà và cả nhà đều tránh không nhìn vào đấy. Tuồng như không chịu nổi, Bố tôi lấy cái mê thuyền nan úp lên che đôi sừng con Dòng lại cho đến tận bây giờ. Nhà tôi mất vài ngày buồn hiu hiu. Chiều tối thằng em trai dẫn tôi ra sau nhà, nó lật cái thuyền nan rách úp đống rơm có đôi sừng của con Dòng. Tôi vuốt ve cái cặp sừng hai đầu nhọn còn đen bóng vẫn có mùi khen khét quen thuộc ngày xưa. Những cái rãnh vạch ngang phía gốc sừng có chút bùn khô dính lẫn những sợi lông trâu keo lại. Con Dòng của tôi đây, to lớn hùng dũng có cái đuôi thật dài đang cúi đầu cho tôi trèo lên nhẫn nhục hiền lành. Tôi lại nhớ đến con Cái nhà thằng Vân thật đẹp cặp mông thật nở cao lông đuôi thật dầy, nhớ cặp mắt con Dòng và con Caí mỗi khi nhìn nhau thật đa tình âu yếm.

Nhưng có một chuyện mà phải ít lâu sau em trai tôi mới kể lại. Sau ngày con Dòng bị giết thịt, con Cái nhà thằng Vân đi qua nơi người ta phanh bụng con Dòng. Ở đấy còn sót lại những tàu lá cọ đầy phân và máu con Dòng. Nó ngửi nó hít, nó òng õng nước mắt. Hít mãi cái đống phân con Dòng nó ngửa cổ nhe răng lên trời đứng bất động. Em thằng Vân kéo đứt dây chạc mà nó cứ gằm đầu xuống không chịu đi, bốn chân con Cái run lên bần bật. Những ngày sau đó nó không ăn, cầy bừa thì lúc đi nhanh lúc thì ghì bừa đứng lại. Rồi vài tháng sau nó gầy xơ xác. Hợp tác xã lại mổ con Cái. Thế là cặp trâu tài sắc một thời của xóm tôi biến mất nhẹ nhàng mà day dứt giống hệt người ta phá cái bờ ruộng con có tự bao đời để làm bờ vùng bờ thửa. Chiều quê, tôi lững thững ra chỗ sân kho HTX ngày xưa, nơi người ta giết thịt con Dòng con Cái. Mùi mồ hôi trâu nồng ngái bay về. Mùi trâu ám vào tôi tưởng như rũ mãi chẳng ra.

Suốt bẩy tám năm trời chăn trâu cùng nhau đến biết cả con trâu nào “yêu“ con trâu nào. Thuộc cả mùi mồ hôi của từng con, thuộc cả bàn chân từng con in trên bờ ruộng. Thuộc cả cách gặm cỏ của chúng, tiếng gọi nghé ọ của từng con. Tự lúc nào con Dòng, con Cái là người bạn thân của mình mà không nhận ra. Chuyện con vật yêu nhaulúc bé thấy vui vui, lớn lên thấy thắc mắc, lớn nữa về già thấy tình yêu của nó thật cảm động.

Thế mà chúng tôi lại chưa một lần họp mặt nhau. Chính chúng tôi mới thấy mình là lạ làm sao.


NTL

litangu
01-06-2013, 11:48 PM
Nửa kia của cuộc đời



Đây không phải là chuyện tôi kể. Đây là chuyện người khác kể tôi nghe. Nghe rồi thấy nên chép lại.

Họ già rồi. Nói đúng ra là họ có tuổi cả rồi. Thời trẻ họ cũng từng là người lính. Người đàn ông lính chống Mỹ. Người đàn bà là TNXP Trường Sơn. Ngày ấy họ chưa biết nhau. Ấy là chuyện biết tường tận về họ tên quê huơng bản quán. Chứ bộ đội đi chiến đấu trong nam thì ai mà chả biết TNXP là ai làm gì, sướng khổ ra sao.

Chiến tranh tạnh ráo đã lâu. Người đàn ông có vợ có con. Rồi sau vợ chán cái anh chồng lúc nào cũng áo lính cũ, đội mũ cối, lương ba cọc ba đồng mà động một tí là ngày xưa là đồng đội. Tối tối chồng người ta vùi đầu tính toán chứng khoán lướt sóng lướt ván còn đằng này cứ dán mắt vào ti vi xem phim tài liệu chiến tranh, vểnh tai nghe nhắn tìm đồng đội. Chị vợ ra đi để lại cho anh cái ba lô mà anh giữ như mả tổ, chị ta cũng không đòi hỏi chia bôi căn nhà tập thể 28mét vuông có bao lồng như chuồng cu. Chị ta mang theo đứa con gái năm ấy cũng đã váy ngắn hơn quần đùi cầu thủ cầu lông .

Người đàn bà tóc thì vẫn dày, loe hoe sợi bạc. Chỉ có nỗi lông mày thì rụng phân nửa nên trông khuôn mặt nó ngô ngô nghê nghê. Đi TNXP về được chuyển ngành sang công ty công viên. Khi xưa ở Trường Sơn quen với cây xanh thì bây giờ cây xanh là miếng cơm manh áo. Sốt rét thâm cả môi cả mắt. Chục năm sau nó nhang nhảng cái nước da thì quá lứa nhỡ thì. Chị Ở vậy. Chỉ được cái mau miệng và hay hát. Mà chị hát cũng khá hay, nhất là những bài ca về Trường sơn thời đánh Mỹ.

Hai người gặp nhau ở hội nghị CCB phường. Quen nhau, anh thích nghe chị hát những bài hát ngày xưa. Chị thích anh đi họp vẫn đội mũ cối. Anh kể cái đận hành quân qua binh trạm 32 gặp bom từ trường chị reo lên: đấy đấy binh trạm em đấy, em đấy...
Rồi họ thân nhau lúc nào chả biết. Mấy anh chị già rung động trái tim cũng khác trái tim lũ trẻ, nó đập nhẹ nhưng cũng dồn dập. Liếc nhau qua kính lão hình ảnh của nhau cứ nhập nhoè như nhìn người tình dưới làn pháo sáng.

Chị rất ít khi đến nhà anh và ngược lại anh cũng thế. Nhưng nhớ nhau thì nhớ lắm. Thời buổi bây giờ tuy cả hai anh chị vào loại lạc lõng. Nói như vậy không phải họ tụt hậu quá, bằng chứng là họ sài điện thoại di động nhoay nhoáy. Anh nhắn tin cho chị và rồi chị trả lời không thiếu một câu. Mỗi sáng nhắn cho nhau ông đi bộ ở hồ nào? mấy vòng rồi?. Bà có mua salopát chưa? Ra 30 Láng hạ có đấy!
Dào ôi, đau lưng là áp thấp nhiệt đới đấy ông ạ...

Ngày này qua ngày khác. Ông bà nhắn tin cho nhau sang chuyện tình cảm. Nhớ lắm ông ạ. Bà ơi giá mà bây giờ tôi với bà cùng đi trở lại Trường sơn bà nhỉ. Bà ơi họ bảo động Thiên đường là ở cái đoạn đường 12 cắt với đường 20 đấy. Bà lại nhắn cho ông: tháng sau ông có đi lên nghĩa trang Tây Tựu không? đèo tôi với...

Nhưng bà chả đợi được đến tháng sau. Ông đột ngột ra đi vì cảm nặng mà không ai hay biết. Người ta đưa ông lên Phùng Hưng. Bà biết. Người vợ cũ trở về cũng chẳng thèm lục lọi đồ đoàn của ông vì ông có cái gì mà lục. Cái hộp huân chương thì bà biết thừa rồi nó mốc meo vài cái kỉ niệm chương và huy chương xanh đỏ. Có cái điện thoại trông nhoáng qua là biết loại hai trăm rưởi ngoài hàng đồ cũ. Bà ta để nguyên rồi đặt cả cái hộp huân chương lên bàn thờ thắp thẻ hương vòng rồi khoá cửa.

Cái điện thoại ấy vẫn còn pin cho dù trái tim ông CCB đã thôi đập. Bà TNXP biết thế, nhưng bà vẫn nhắn tin cho ông . Chưa bao giờ bà nhắn những cái tin dài thế, thấm đẫm yêu thương đến thế. Một ngày, hai ngày tin bà vẫn nhắn cho ông và bà vẫn nghĩ rằng ông nhận được. Ngày thứ ba, bà soạn tin rồi bấm gửi đi. Một lát sau màn hình hiện lên dòng chữ: “bạn không thể gửi được tin nhắn tới thuê bao này“. Bà phản xạ rất thông thường bằng cách bấm lại số máy của ông. “tò tí te... tò tí te... "

Bà TNXP bỏ máy xuống. Bà khóc.

NTL

litangu
02-06-2013, 11:23 PM
Chuyến tàu cuối năm


Tôi đứng dưới tán bàng khô khốc lạnh lẽo sân ga. Cây bàng này ngày xưa lúc tôi lên đường vào bộ đội bị bom chặt cụt ngọn. Cuối năm 75 hòa bình tôi về nó lại chỏi lên những túm cành mới. Rồi người ta lại chặt bớt ngọn mấy lần. Bây giờ nó có sáu bẩy tầng, nó gộc ghệch sứt mẻ già nua. Mấy búp lá như mầm chông thâm thâm trông thật giống những con chim bất động. Người ta treo một cái lập lách trên cành bàng làm kẻng. Đứng ở sân ga chỉ mong có cái người mặc đồ xanh tím mũ kê pi từ trong phòng đi ra gõ keng keng keng để ồ lên… tàu về!

Lâu lắm rồi dễ đến hơn mười năm tôi mới đi tàu hỏa mà lại đi vào chiều ba mươi tết. Cái ga tàu nhà tôi thân quen đến mức nhìn mãi lại như gặp lần đầu. Chợt nhớ có bài hát nào có câu: …”đứng một mình đất quen thành lạ...” Giỏi thật! lâu đến nỗi kỉ niệm quen thành lạ… Ga tàu này với tôi cũng như thế. Mưa lay phay, khách chừng mươi người đứng trong hè. Họ nhìn tôi vẻ ái ngại cái ông già vô công rồi nghề lại đứng ngoài trời mưa bay. Con đường ray hun hút xám, mấy luống rau của người nhà tàu trông thật non thật quen thuộc mà lâu nay tôi không được thấy. Một con chim sâu run rẩy lội trong vạt rai diếp. Sao nó chỉ có một mình? cô đơn và cũng lạnh.

Chuyến tàu cuối năm này cũng còn kha khá khách về xuôi. Ngày xưa còn bé, chiều ba mươi tết tôi ngồi trong hiên nhà nhìn con tàu chạy qua đếm xem có bao nhiêu khách để khoe với bố. Bố ơi con đếm được 5 người họ ngồi cùng một toa. Bố bảo, ừ đấy là những người rất đáng thương. Sao phải thương hả bố? Chiều ba mươi họ không được ăn bữa cơm xum họp với gia đình. Nghe bố bảo thế, từ ấy tôi rất thương những người khách cô đơn trên chuyến tàu chiều ba mươi vút qua ngõ nhà tôi. Toa tàu tôi ngồi có chừng hơn mười người. Mấy đứa trẻ hò reo chạy ngược chạy xuôi thoải mái. Vài người lớn chắc đi xa gật gù nửa ngủ nửa thức. Vùn vụt trôi qua những ngôi nhà sáng đèn. Những gia đình xum họp tất niên. Tàu dừng ở ga Việt Trì, mấy cặp vợ chồng con nhỏ xuống hết. Còn bao nhiêu khách tự động gom lại một chỗ cho ấm cúng. Bây giờ là lúc những người đồng hành lên tiếng với nhau. Dãy ghế bên kia Hai ông bà già khắc khổ có nhẽ ngoài bẩy mươi ngồi bất động, bà già ôm cái túi tôi nhìn ra thì là cái ba lô lộn. Hai bàn tay ông già giữ cái bình lá gói một cái cây hoa gì tôi không biết tên. Cả hai ông bà nhìn trân trân ra trời đêm. Hai thanh niên ngồi đối diện với tôi suốt từ lúc lên tàu không nói lời nào. Té ra họ cũng không quen nhau. Một chị nạ dòng nằm ngủ chân gác vào hai cái thùng táo Trung quốc. Cái áo ji lê dài màu nâu vải bóng rất điệu chùm kín mông thỉnh thoảng lại giật nẩy lên.

Một cậu con trai hỏi ông già:
- Bác về quê ăn tết ạ?
Ông già lắc đầu. Bà già ôm chặt cái ba lô xích lại gần. Đôi mắt bà già thật buồn lo lắng. Tôi lên tiếng:
- Chắc hai bác lên thăm người nhà trên ngược.
Chừng như thấy tôi cũng lớn tuổi hai ông bà an tâm hơn. Ông nhìn bộ dạng tôi rồi khe khẽ:
- Tôi lên thăm con. Bà già lau nước mắt víu chặt mép ba lô rồi cúi xuống áp vào cái bọc vải nhàu cũ kĩ…
- Con ơi.
Tôi chợt hiểu, đã nhiều lần tôi đã gặp những gia đình từ biên giới Lao cai về, những cha mẹ đi mang con mình về như thế. Tôi đã gặp những bà mẹ lại bế hài nhi của mình trong những cái bọc vải nâu, bế con về trong cái bị rách của đời người mẹ đồng bằng Bắc bộ.
- Ba mươi mấy năm nay tôi mới đưa cháu về ăn tết đấy ông ạ. Chả còn ai, em gái nó đi lấy chồng xa, com cóp mãi giờ mới đủ tiền lên Mường Khương đưa em nó về.
- Thế bác mang cây hoa gì về thế?
- Cây hoa ở bên mồ em nó tôi mang về cho em nó vui. Ngày bé nó cũng thích trồng hoa lắm, khổ! vườn nhà thì bé mà nó chăm chút đến là lắm hoa.
Bà già lại cúi xuống cái ba lô như muốn hôn lên lần vải thô mộc….
- Cái ba lô này người ta gửi về bảo là của cháu nó đấy ông ạ. Rồi bà cúi xuống lau nước mắt lên cái ba lô cứng quèo loang lổ.
Tàu vun vút chạy. Gió lành lạnh. Người đàn bà buôn táo nhỏm dậy:
- Ga nào rồi? Ga nào rồi? Không ai trả lời chị ta cả. Lại nằm xuống làu bàu… Hãm thật.
Bên kia hai anh thanh niên mời nhau hút thuốc. Một cậu lớn tuổi hơn nói giọng Sài Gòn:
- Về đến Hà nội cậu đi đâu nữa?
- Em đi về chỗ làm luôn?
- Làm gì Ba mươi tết?
- Dạ ông chủ em gọi, ba mươi tết nhà hàng đông khách lắm. Em trông xe ở sàn nhẩy ngoài Hoàn Kiếm. Anh nói giọng miền nam thở dài. Mười bốn năm nay chưa vô sàn nhẩy... cũng nhớ...
- Anh mới ra hả? Anh người nam nhướng mắt: Sao biết?
- Dạ em thăm bạn em mấy lần rồi nhìn anh em đoán ở Tân Lập về.
Người kia bật cười: Ha ha! giỏi giỏi. Tớ mười bốn năm rồi đó đi từ Ba Sao lên Hồng Ca rồi về Tân Lập. “Thầy“ tớ bảo cho mày ra đúng tết nhá! Tớ thì chỉ mong có lần được xem pháo hoa ở hồ con Rùa. Tôi bật cười: Hồ Hoàn Kiếm chứ!
Cậu thanh niên người nam quay sang:
- Dạ con quen cái tên Hồ con Rùa trong Sài gòn.
Rồi rất tự nhiên và háo hức cậu ấy hỏi:
- Bác ơi bác ở Hà Nội có xem pháo hoa đêm Giao thừa chưa? Một lần trong đời đi ở hồ con rùa nhìn pháo hoa là sống đủ đó bác.
Tôi bảo:
- Tôi thì chưa ra ra bờ hồ đêm ba mươi bao giờ nhưng các con tôi thì năm nào cũng có mặt. Đêm nay thằng con trai tôi làm truyền hình phải quay phim ở đó.
- Ôi thế thì có thể cháu sẽ gặp con trai bác đêm nay. Bây giờ mấy giờ rồi nhỉ, à 9 giờ may quá.
Chả ai hỏi thêm câu gì, đột nhiên cậu ta nói:
- Mười bốn cái tết vô vị trôi đi cháu chỉ biết khóc. Ba má cháu già lắm rồi, tết này chắc vui lắm đây. Ngày cháu đi trại ba cháu bán nhà dọn đi nơi khác vì xấu hổ. Bây giờ về cháu phải đi tìm chỗ mới… Nhưng cháu sẽ phải thức suốt đêm nay ở bờ hồ con rùa, có phải ai ở Sài gòn cũng được ngắm tháp rùa đêm Giao thừa đâu bác nhỉ?
-… Cháu sẽ phải học nghề và lấy vợ… Thầy cháu trên trại cho cháu tiền mua vé tàu Thống nhất và dặn cháu thế. Cậu ta ngó ra ngoài cửa sổ, đường phố Yên Viên sáng rực rỡ. Cầu Đuống nghiêng nghiêng trong ánh đèn. Chợt nhớ câu thơ Hoàng Cầm. Ừ nhỉ cây cầu Đuống cũng nằm nghiêng. Nghiêng đến nỗi chỉ sợ nó đổ.

Một nhân viên đeo biển Trưởng tàu đi đến. Anh ta chúc mừng năm mới ông bà già và mời thuốc lá chúng tôi. Người đàn bà buôn táo nhỏm dậy rút thỏi son tô vội cặp môi dầy nhoẻn cười:
- Nhà tàu hôm nay tốt bụng sởi lởi thế.
Tất cả cùng cười. Tàu tu tu còi vào cầu Long Biên. Hà Nội rực rỡ lung linh những hình thù nhấp nháy in xuống mặt sông. Tôi hỏi ông bà già:
- Hai bác đi luôn hay sao bây giờ?
Ông già bảo:
- Tôi thuê tắc xi đi luôn về Hà Nam chắc là kịp giao thừa cháu nó về tới nhà.
Rồi quay sang bà già:
- Bà nhỉ, cho con nó mừng. Bà già lại áp cái ba lô lên má: ừ cho con nó mừng.
Chị hàng táo lê sềnh sệch hai bao táo ra đầu toa miệng toang toác: vắng thế, chả bù…

Hai thanh niên chia tay nhau mỗi người điếu thuốc, cậu miền nam phởn chí nhìn sân ga: ôi mát mẻ quá chả thấy lạnh tí nào.
Tôi xách cái lồng gà lững thững xuống tàu.

Đêm Giao thừa Hà nội nhẹ lâng

Giao thừa 2013

baoleo
03-06-2013, 11:49 AM
Mùi trâu ám
.......

Thế mà chúng tôi lại chưa một lần họp mặt nhau. Chính chúng tôi mới thấy mình là lạ làm sao.

NTL

Ta luôn tự biện minh về nỗi kiếm tiền, mưu sinh, để khất lần việc tình cảm.
Cũng không cần phải đổ tội cho cái nghèo, kiểu như: chỉ đến Tết, khi đã có miếng thịt treo trong nhà rồi, ta mới tìm ra chợ mua hoa.
Bạn bè, người thân thuộc, họ luôn sống nếu ta còn liên lạc, còn nhớ về nhau.
Nếu khất lần mãi, có khi còn sống, những đã tưởng 'nhau' đã khuất núi rồi.
Em sẽ phấn đấu hơn con trâu trong bài.
Sẽ tận dụng cơ hội để gập tri kỷ bạn hiền.
Thời gian chẳng còn lâu, bóng chim đã bay qua, gần hết khung cửa rồi.
Anh nhắn nhủ hay lắm.

litangu
04-06-2013, 09:15 AM
Kỉ niệm trên đường đi chiến đấu năm 1972

http://xuthanhnet.wordpress.com/2011/11/26/lang-cu-nghề-xưa/http://xuthanhnet.files.wordpress.com/2011/11/untitled.jpg?w=593



Dưới chân hòn Vọng Phu



Tròn bốn mươi năm xa, tôi vẫn nhớ cái hình người hoá đá trên núi Nhồi. Ở đất nước mình cái hình người đàn bà bế con chờ chồng sao mà nhiều thế. Câu chuyện xưa của tổ tiên truyền lại nó cứ vận vào đời sống dân tộc mình hay sao? Nghĩ mà buồn chứ đâu có vui. Chuyện chúng tôi đàn đúm nô nức ngày ra trận dưới chân hòn Vọng Phu này đâu cũng có vui gì. Thế mà bốn mươi năm đã qua. Những ngày ấy rét lắm. Tiểu đoàn 76 F304B chúng tôi hành quân cùng ngót chục tiểu đoàn khác đi B. Suốt đêm hành quân bộ qua cầu phao Hàm Rồng. Trời mưa, máy bay địch bay đêm thả pháo sáng rập dìu. Mệt. Buồn ngủ. Nước mưa thấm vào cổ chảy dần xuống lưng nhóp nhép. Kệ chúng tôi cứ thập thõm đi. Gần sáng tới một làng, có mấy bóng đèn bão của con gái ra dẫn đường chúng tôi cứ cung cúc đi theo. Đêm nay lần đầu tiên hành quân mang nặng và xa như thế khiến ai cũng rũ ra bải hoải và ngao ngán.

Trời sáng, ổn định xong nơi trú quân là đã đến lúc người nấu cơm người đi nhận quân trang lương thực. Ra đường nhìn thấy toàn lính áo quần mới mắt nhắm mắt mở. Đây là xã Đông Tân, Đông Sơn Thanh hóa. Trạm này to lắm, nghe nói thế. Chúng tôi được nhận thêm mũ tai bèo, hai đôi tất cao cổ, hai khăn mặt dạ dày trâu, 4 hộp thịt, một cân đường một cân sữa và mười ngày gạo. Cân đo đong đếm ăn xong là được ngủ. Tỉnh dậy nhìn ngọn núi trước nhà xám xịt, tiếng mìn phá đá thì thùng, buồn thế. Bỗng thằng Quyền Lạng sơn kêu lên: Chúng mày nhìn xem trông như là nàng Tô Thị. Cả lũ nhìn lên núi. Đúng thật hình người đàn bà cõng con trên lưng ngóng ra phía biển. Chợt nhớ chuyện kể rằng… ngày xưa có đôi anh em nhà nọ yêu thương nhau lắm… đến cái đoạn người chồng dong buồm đi mãi không về lại thấy nao nao buồn. Cả lũ buồn, Bê trưởng người Tầy Lạng Sơn cũng buồn, im lặng. Sao cắc cớ gì mà lại đóng quân ở ngôi nhà nhìn lên là thấy hòn vọng phu? Mà sao cái hình người hóa đá ấy nó cứ lù lù trong mưa phùn trong tiếng thì thùm của những ngày chiến tranh li loạn này? Thằng Quyền Lạng sơn bảo sao đất nước mình nhiều hòn Vọng Phu đến thế?

Tưởng là chỉ một ngày dừng lại đây rồi đi. Ai dè không biết lí do gì mà ở lại tới 5 ngày dưới chân hòn Vọng phu. Năm ngày ấy đủ để cho lính khám phá nhiều thứ ở một vùng đất xứ Thanh vốn đã đầy ắp cổ tích. Sau lưng xóm tôi ở là một con sông đào và vườn dừa thật đẹp. Thì ra ở đây có một công trường phá đá làm vôi, làm đá dải đường của TNXP. Tối đến, các cô gái đi lại nhộn nhịp giữa bạt ngàn áo lính. Đêm thứ hai, quen thung thổ khí hậu rồi lính ta tràn ra đường. Đông lắm, gặp cả bọn quân khu 3, cả bọn lính lái xe nhận xe mới cũng đang hành quân. Thỉnh thoảng lại gặp vài tốp lính áo quần nhàu nhĩ mệt mỏi từ Quảng trị ra. Ai cũng hốc hác và thất thần. Trời hết mưa, trăng tháng chạp vừa xanh lét vừa lạnh. Ven bờ sông máng rúc rich tiếng cười và ở dưới vườn dừa bóng người quấn vào gốc cây nghiêng ngả. Chúng tôi những anh không có gan ra vườn dừa thì tụ tập vào hàng quán. Cái thị trấn đông cứng người đủ loại hàng hóa mà chúng tôi thích. Còn mấy đồng tôi mua được tút thuốc Hòn Mê. Đêm thứ hai, trung đội đến giờ ngủ vẫn thiếu tới năm sáu chú binh nhì và cả một hạ sĩ.

Ngày thứ ba ở đây. Cán bộ tiểu đoàn nhắc nhở các đại đội phải quản lí quân số, quản lí tư tưởng, làm tốt công tác dân vận, cấm không đi lại lộn xộn. Đại đội lại quán triệt xuống trung đội, trung đội lại quán triệt xuống tiểu đội y như thế không thiếu chữ nào. Ai mà quản lí được ý nghĩ của lứa lính ngày mai ra trận giữa một rừng con gái xứ Thanh. A trưởng B trưởng, rồi cả C trưởng… luôn luôn ngó nghiêng, lẩm nhấm đếm quân số của mình. Rồi các ông ấy cũng nghĩ ra một cách để tập trung quân của mình vào lúc đêm tối: Tổ chức Văn nghệ tiểu đoàn.

Tối hẳn một lúc lâu, bốn đaị đội đi đều hàng ngũ ra một khu ruộng rạ gặt rồi. Chả biết dân làng được thông tin bao giờ mà khán giả đã chật cứng trên bốn phía bờ ruộng. Lính thì phải ngồi. Cố mà ngồi để còn vỗ tay. Và thế là lần lượt từng C lên hát. Tốp ca có, đơn ca có, tấu nói có, lại cả hát chèo nữa cứ í a lanh lảnh giữa đồng làng. Vui thật. Thành công lắm. Dân làng vỗ tay dàn dạt, lính ta cũng vỗ rát cả tay. Các o gái nghiêng ngả đấm lưng nhau thùm thụp hinh hích. Chừng 9 giờ là lính ta hết vốn ca nhạc. Chính trị viên tiểu đoàn dăm ba câu tư tưởng rồi C nào C nấy hành quân… về ngủ.

Bây giờ thì mới đến cái đoạn hay.

Chỉ có từ ruộng rạ vào xóm mà mỗi đại đội rơi rụng mất một phần ba quân số. “Kẻ thù” làm tiêu hao lực lượng quân đội chính là những khán giả ban nãy còn lung liếng tình tứ với các diễn viên, còn vỗ tay động viên nhiệt tình cho tinh thần “Ta vượt trên triền núi cao Trường sơn đá mòn mà đôi gót không mòn“.

Đêm trăng tháng chạp lành lạnh. Xóm làng về khuya huyền ảo và cũng không còn nhốn nháo nữa. Hòn Vọng phu cứ đen sẫm trong sương. Về đêm ngọn núi như kéo sập lại trước mắt mình. Người đàn bà cõng con trên lưng nở căng từng đường nét. Cái hình người đàn bà một con ấy, cái dáng đứa trẻ gục đầu trên lưng mẹ ai oán làm sao. Những người con gái ở cái vùng quê từng chứng kiến bom đạn Mỹ nhiều hơn cơm gạo này họ nói gì với những bạn tôi ngày mai ra trận, họ đâu có sai phạm, họ đâu có phải là gái không chính chuyên. Chiến tranh mang trên mình nó những điều hợp lí đến như vô lí.

Sáng hôm sau chúng tôi hành quân. Hàng trăm xe ô tô rợp lá ngụy trang xếp trên đường. Lính tập trung điểm danh ở sân kho HTX, ngoài sân là bà con địa phương, là các em học sinh và những người con gái đang bám vào nhau, họ ôm nhau, tay níu lưng nhau như muốn níu kéo điều gì. Xe nổ máy nhằm hướng nam. Làng Đông Tân lùi lại sau. Những cái nón làm đồng còn dính bùn vẫy theo, những tấm khăn đỏ vẫy theo và òa lên là tiếng con gái... anh ơi… đi nhớ... và òa lên là tiếng khóc. Những người chỉ gặp có vài ba đêm ở một làng quê xa lạ đang khóc trong cuộc chia tay với những người ra trận. Chúng tôi không được về thăm cha mẹ trước lúc ra chiến trường, cha mẹ các em tôi cũng khóc như thế, chắc là như thế.

Núi Nhồi lùi lại, tôi vạch tấm bạt trùm kín xe nhìn lại hòn Vọng phu. Cái hình người đàn bà cõng con nhìn theo chúng tôi mờ dần. Cả xe tự nhiên cất tiếng hát “Ta vượt trên triền núi cao Trường sơn đá mòn mà đôi gót không mòn… ”

NTL

litangu
05-06-2013, 09:35 AM
Ban Mê ơi !

Tặng những đồng đội tôi đánh Ban Mê Thuột 3/75





Ban Mê sáng – Xanh
Ban Mê trưa - vàng nắng
Ban Mê chiều - bụi hồng
Đêm Ban Mê - cà phê thơm ngực em

Ta đi tìm Ban Mê một đêm Sê rê pốc
Cầu phao nín thở thắt nghẹn mùa khô
Đồng đội tôi ôm giò Phong Lan mà khóc
Vào trận rồi ai mang được hoa theo?

Ta đi tìm Ban Mê trời đêm trong veo
Hoa Cà phê nưng nức thơm nòng súng
Gặp đứa cùng làng đặc công trần như nhộng
Thủ pháo đeo thắt lưng như đeo giỏ tát ao làng

Ta đi tìm Ban Mê có em
Gái cao nguyên ngực căng thơm như trèo rẫy
Em bảo nơi mình xắp vô là Ngã Sáu
Bồng bềnh sương… Ngã năm Ngã bẩy cũng theo em

Ta đi tìm Ban Mê có một sở chỉ huy sư đoàn
Họ bảo con đường ấy có nhà Bảo Đại
Tôi tìm bạn tôi ngã ở cổng nhà thương nằm lại
Bạn tôi mới biết Ban Mê là một con đường

Ta tìm Ban Mê có một “phi trường”
Đứa bạn cùng làng chết rồi không mặc áo
Bùn chét kín thân rơi vẩy khô trên đường băng bết máu
Mùi một thời cua ốc của làng tôi

Ta đi tìm Ban Mê pháo sáng rực trên trời
Lửa đạn vạch cái điều chúng tôi chưa từng hiểu
Lửa đạn nói một “mùa xuân hoa và máu“
Ban Mê gặp nhau chưa từng quen nhau

Ban Mê dài thế?
Ban Mê lạ quá
Bạn tôi hồn lạc phố lạc phường
Tôi về tìm cũng lạc giữa hương hồn
Tháng ba lang bang sương trên phố núi

EM – Ban Mê váy áo thơm cà phê sữa
Mấy chục năm thơm đến tận bây giờ
Ban mê ơi Ban mê ngày xưa
Chiều nay
Ta tìm đến quán rừng có nhiều cà đắng

Ban Mê tháng 4/2013

litangu
07-06-2013, 11:06 AM
Chuyện làng



Bây giờ chả cứ gì mọi người ít tuổi mà ngay cả tôi nghe kể chuyện đánh đấm đùng đoàng cũng thấy nhàn nhạt rồi. Chuyện tình thì đã qua. Chuyện đầu tư kinh doanh thì bại trận, nói đến là sởn da gà. Chuyện chính trị thì có nghe có nói cũng là hóng hớt chem gió. Mấy anh về hưu đi bộ buổi sáng rồi rủ nhau ăn sáng rồi chém gió chính trị, nuối tiếc oán than. Tôi dị ứng. Thế thì chỉ còn mỗi chuyện hồi nhỏ. Nói chuyện thời nhỏ cho nó lành. Mà nói đến thời thò lò mũi thì là nói đến làng đến bạn mũi thò lò. Làng nào mà chả có ối chuyện hay. Có điều, kể lại thế nào mà thôi. Với lại kể với ai?

Mà kể chuyện hồi nhỏ là hay chạm vào kí ức với người nhiều tuổi. Chứ với lớp trẻ thì cứ xin lỗi trước. Kẻo các cháu nó lại bảo ông già lẩn thẩn toàn là ngày xưa thế này ngày xưa thế kia...

Xóm Giữa làng.

Con đường tàu hỏa Hanoi - Laokay xẻ vào giữa làng tôi thành một đường kính, ở tâm đường kính ấy là giữa làng. Giữa làng thì đương nhiên có sự khác biệt ria làng rồi. Hàng bán nước mắm cá khô ở đó. Hàng Lò rèn, hàng nhuộm, hàng cúp tóc cũng ở đó và có một cái điếm để các nhà chức trách tuần phòng trị an. Tựa vào quả đồi có trường tiểu học là một cây đa và bãi cỏ rõ thật mịn làm nơi mít tinh.

Tôi nhớ xa xưa lắm có một cái sân khấu cột gỗ mái lá để diễn tuồng diễn chèo, là nơi thanh niên tập múa son mì ngày 2/9, ngày trung thu. Thời ấy mới hòa bình vài năm. Những người tản cư từ dưới xuôi lên chưa mấy ai về, làng tôi còn đông vui lắm. Ông thợ giày cặm cụi ngồi ở gốc vông sửa những đôi giầy Giôn những đôi Bát kết. Ông thợ bạc có cái đèn xì ngọn lửa bé xíu xanh lè chuyên kéo những cái vòng trẻ con. Khoái nhất là ông kẹo kéo. Chúng tôi túm đen túm đỏ quanh ông nuốt nước bọt nghe ông rao: ké…éo đê ê...ê. Hồi ấy chúng tôi mặc quần lá tọa. Cái quần lẽ ra phải luồn dải rút nhưng dải rút thì tút ra làm dây chơi quay còn thì lấy dây bẹ chuối buộc ngang quần kéo cạp lên thả xuống. Có những hôm mải chơi đứt đánh phựt dây quần tụt xuống mà vẫn mải mê quay vơi đáo. Thằng Vân bạn thân nhất của tôi bố nó đi Điện Biên Phủ về có dây dù làm dải rút quần trông nể quá. Thỉnh thoảng mượn nó một hôm. Hôm nào mượn được, mình cố tình để thò cái nút dây dù dài xuống oai phết. Một bữa đang ăn cơm tối nó gọi ngoài ngõ trả dải rút cho tao đê…ê. Tức ói máu vội lao ra vườn tước cái bẹ chuối treo cái cạp quần hôi mù vào bụng rồi ném trả nó đoạn dây dù. Tức cả đêm.

Cái xóm giữa làng này được gọi là xóm Làng. Đứng đầu là ông trưởng xóm. Nay Hòa bình rồi trưởng xóm thường là có chân chi bộ. Ông nội tôi không trong chi bộ nên thôi chức. Ông buồn, bà nội thì bảo may quá, cứ làm trưởng xóm chỉ tổ đun nước họp với hành, bờ rào nứa cũng tan hoang. Chả là mỗi đêm họp xóm ra về bà con dỡ rào vườn nhà tôi đốt làm đuốc đi về.

Tổ đổi công ra đời vui thế. Bao nhiêu chuyện vui buồn trong nhà nay mang cả ra tổ đổi công mà chia sẻ. Con người mới đi lên phới phới. Hồi ấy chả cứ gì quê tôi, đâu đâu cũng văn nghệ đâu đâu cũng làm sạch xóm làng diệt muỗi diệt chuột ăn chin uống sôi. Lũ trẻ nhỏ chúng tôi cứ mỗi tuần vào chiều thứ 6 đi cổ động. Đi Cổ động là xếp hàng đội ngũ chỉnh tề. Trống cà rình đi trước, người chỉ huy cầm cái loa bằng ống sắt tây mà hô to những câu khẩu hiệu. Tôi nhớ lắm và thích thú lắm những câu hô khẩu hiệu của anh Thêm Quỳnh toét mắt xã tôi. Anh cầm cái a lô (hồi ấy chúng tôi gọi thế) giọng sang sảng:
- Tích cực diệt muỗi diệt chuột là thiết thực bảo vệ cuộc sống của nhân dân!
Cả đoàn hơn trăm đứa trẻ hô to: Tích cực tích cực.
Anh Thêm Quỳnh lại hô:
- Toàn dân Thi đua làm sạch xóm làng! Chúng tôi lại hô theo: Thi đua thi đua!
Kết thúc bao giờ cũng phải có câu kết:
- Hồ Chủ tịch muôn năm. Chúng tôi hô Muôn năm muôn năm

Rồi là trống cà rình gõ dồn dập cuối lời hô. Cứ thế đoàn cổ động đi quanh co hết xóm trong xóm ngoài. Vui đáo để. Chúng tôi đi cổ động nhìn lũ trẻ cởi truồng chưa đến tuổi được đi cổ động cũng vênh váo ra trò. Anh Thêm Quỳnh toét mắt ngày ấy là thần tượng của tôi rồi. Cứ nhớ lại cái a lô bằng sắt tây là nhớ đến một thời xóm giữa làng của tôi thật hoành tráng.

Hồi ấy tôi nể nhất thằng Cư. Nó hơn hai tuổi nhưng học cùng lớp tôi. Nhà nó ở dưới Nam định lên từ hồi 45. Bố nó làm kiểm lâm trên Laokay. Cái gì nó cũng biết cái gì ở làng nó bảo cũng là bình thường. Nhà nó ở sát luôn đường tàu hỏa. Mỗi tối nó nhặt đá đường tàu về xếp ô vườn hoa nhà nó. Nó trồng toàn hoa mười giờ. Nó bảo tôi khi nào hoa nhà tao nở tao ới sang nhà mày cho bầm mày nấu cơm. Tôi kể lại với mẹ. Mẹ cười buồn, giờ ấy bầm còn ở ngoài đồng con ạ. Hồi ấy ngày có vài chuyến tàu thôi nhưng rất đúng giờ. Vài năm mới đổi giờ tàu một lần. Đổi giờ tàu là cả một sự thay đổi lớn đối với xóm giữa làng. Sáng, chín giờ là tàu Hà nội lên ngược. Chiều, 2 giờ rưỡi là tàu xuôi. Đêm: 9 giờ tối tàu ngược rồi 2 rưỡi sáng lại có chuyến xuôi. Cứ thế năm này qua năm khác tàu qua nhà là biết mấy giờ. Chỉ đến khi chiến tranh phá hoại của Mỹ nổ ra những chuyến tàu xuôi ngược mới thất thường. Bao nhiêu năm tiếng còi tàu mặc định vào giấc ngủ trẻ con của tôi. Nhà cách đường tàu dăm chục mét tiếng chạy xập xuỳnh của tàu hỏa cứ như ru ngủ vậy. Lúc mới biết đọc chữ hàng ngày cứ đánh vần những chữ viết trên các tấm biển gỗ chon cạnh đường tàu. Ở ngay cửa nhà tôi có cái biển sơn trắng chữ đen không có dấu khiến dòng chữ trên đó thuộc từ bé mà mãi tới lớn mới hiểu. Cái dòng chữ thế này: DUONG VONG:… /BANKINH:… /TOCDO:… /GIOIHAN:… Hóa ra là họ ghi bán kính cong, tốc độ chạy và giới hạn tốc độ. Rồi, cái toa tàu bố tôi bảo là Voa gông. Sao lại là voa gông? ông trưởng ga ở ga nhà tôi họ gọi là Xếp. Chịu chả biết "Xếp" là gì những cũng gọi ông Viện làm trưởng ga là ông "Xếp Viện". Những kỉ niệm con con ấy rũ mãi không ra khỏi trí nhớ.
(còn tiếp)

ONGBOM-K5
07-06-2013, 11:22 AM
Chuyện làng



... Anh cầm cái a lô ( hồi ấy chúng tôi gọi thế ) giọng sang sảng :
- Tích cực diệt muỗi diệt chuột là thiết thực bảo vệ cuộc sống của nhân dân !
Cả đoàn hơn trăm đứa trẻ hô to : Tích cực tích cực . Anh Thêm Quỳnh lại hô:
-Toàn dân Thi đua làm sạch xóm làng ! Chúng tôi lại hô theo : Thi đua thi đua ! Kết thúc bao giờ cũng phải có câu kết :
- Hồ Chủ tịch muôn năm . Chúng tôi hô Muôn năm muôn năm
Rồi là trống cà rình gõ dồn dập cuối lời hô . ...

Nghĩ đến cái cảnh đi hô khẩu hiệu mà em phát khiếp, nhưng hồi ấy mới 13 tuổi thì biết gì đâu, chủ trương trên đưa xuống là mang mấy ông bác B quay đi riễu phố, ngực đeo tấm bảng "cả như tôi là mất nước", thanh niên thì vào Nam chiến đấu, chỉ còn lại người già trẻ con và lớp Thanh niên thuộc thành phần giai cấp "nãnh đạo" .
Anh phụ trách chõ mồm vào cái loa tôn (loại này gặp thằng Nhất bạn em là nó khoái lấy tôn về làm lò đun trấu thì hết sảy), và dõng dạc đọc to:
- đào ngũ như tôi là mất nước!
- "mất nước-mất nước-mất nước" _ chúng em cứ phải gào to 3 lần cho cái việc mít tinh tuần hành kiểu đó.
Thân phận con người lúc ấy sao mà nó "mong manh dễ vỡ" đến vậy

dongdoi_f2
07-06-2013, 12:15 PM
Thằng Vân bạn thân nhất của tôi bố nó đi Điện Biên Phủ về có dây dù làm dải rút quần trông nể quá. Thỉnh thoảng mượn nó một hôm. Hôm nào mượn được, mình cố tình để thò cái nút dây dù dài xuống oai phết. Một bữa đang ăn cơm tối nó gọi ngoài ngõ trả dải rút cho tao đê…ê. Tức ói máu vội lao ra vườn tước cái bẹ chuối treo cái cạp quần hôi mù vào bụng rồi ném trả nó đoạn dây dù. Tức cả đêm.

Hồi còn bên K, lính f2 vẫn xài quần đùi bộ đội bằng vải mỏng (phin), có thằng còn may ghép lại từ vải bao ruột tượng gạo!. Tất cả đều xài giải rút, có thằng xài giải rút từ dây giày cao cổ Nam Triều tiên (loại đi trận), giày này có đôi dây giày dù màu đen rất tốt, mỗi sợi dây giày vừa vặn giải rút cho 1 quần đùi!.

.VMQuang.
08-06-2013, 08:43 AM
Em còn nhớ ngày đó cứ khi chợ phiên người ta dựng ở đầu phố Minh Đức hai cái cổng . Một bên ghi Cổng sáng (to, cao), một bên ghi Cổng mù (thấp phải chui)và một cái mẹt ghi lên đó mấy chữ a, b, c ...bằng vôi. Mọi người đi chợ qua ai đọc được thì đi cổng sáng còn không thì phải chui Cổng mù. Bọn trẻ reo hò ầm ĩ khi thấy có người phải chui cổng mù. Một cách khuyến khích của "bình dân học vụ" lúc bấy giờ

litangu
08-06-2013, 08:59 AM
Hơ hơ! làm sao mà bác VMQuang lại biết cả cái tên cổ xưa ở quê mình? Vậy thì chắc hẳn VNQ người tổng Đan Thượng rồi! Đúng quá, hồi đó cổng chợ Minh Đức (gần ga Đan Thượng) vào thời Bình dân Học vụ có hai cổng. Ai đọc được chữ thì vào cổng sáng. Ai không đọc được thì đi vào chợ qua cổng mù.
Cái khẩu hiệu cổ động hồi đó thế này:
Người ta đi chợ thời vui
Tôi nay đi chợ phải chui cổng mù


litangu
08-06-2013, 09:00 AM
Chuyện làng (tiếp theo)


Người ta bảo: một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Cái hàng phở, hàng bánh cuốn giữa xóm nhà tôi là nơi kiểm chứng và ghi danh những cá nhân có máu mặt ở làng. Thời bé tôi biết mấy thầy giáo cấp 1, mấy ông buôn nâu mây và mấy anh công khu mới vào hàng phở (Công khu là thợ chèn đá đường tàu hỏa). Trông nể lắm. Khoan thai tự tin thả đít xuống cái ghế băng đen nhẻm ám mùi khói. Con gà luộc sẵn, treo chổng ngược cạnh bó hành củ tươi, trắng xanh như đon mạ. Nước dùng trong veo thơm sang tận tràn ruộng giáp đường tàu. Anh Nghi Vừng dậy vỡ lòng chúng tôi ngồi hàng phở thách đố với mấy ông Công Khu ăn hết một con gà và cả bộ gan gà. Thế là anh giáo Nghi mang cái tên Nghi gan gà. Anh giáo nhập ngũ năm 1960 rồi phục viên năm 63. Được hai năm lại nhập ngũ vào B4 đánh A Sầu dính bom na pan cháy hết mặt mũi, cháy mất cả một bên tai về làng chả ai nhận ra. Chỉ khi nói tôi là Nghi vừng đây thì người làng à lên: Anh Nghi gan gà, gan gà. Anh giáo Nghi cười. Như một người hành tinh khác đến thăm làng.

Làng nào cũng có khúc đồng dao riêng của nó. Đồng dao cho trẻ con và cho cả người lớn. Chả cần lên gân lên cốt về đồng dao giống như anh nhạc sĩ úp mặt vào sông. Đồng dao nào cũng là của chung cho thằng người cả, đừng gán ghép cho đồng dao những phẩm chất to lớn quá, chính trị quá, cuộc sống thế nào thì đồng dao tự nhiên nó sinh ra như thế và sinh ra ngay tại đó.

Làng tôi có xóm Dậm. Xóm ấy ở ria đầm Hà. Họ ở trên đồi cọ cổ thụ soi mình xuống đầm nước mênh mông. Đi vào xóm ấy phải qua một cái đập bằng đất gọi là bờ đắp. Ngàn ngạt những bụi tre và nương cọ. Tre cũng rậm mà cọ thì cao một xóm nhà toàn những cái tên nổi đình đám về lãng tử quê tôi. Thời tôi trẻ con tôi đã biết xóm Dậm nhiều chị đẹp gái lắm. Trai làng nhòm ngó gái xóm Dậm mà chả lấy được đâm ra tức mà làm thơ viết ở đình làng.

… Nhà ông Vang có bụi tre to
Có cô Năng lớn chẳng cho lấy chồng
Ai ai đến hỏi cũng không
Có anh Ngoạn đến là bằng lòng ngay...

Đến giờ tôi cũng không thấy họ về làng, chả biết anh Giáo Ngoạn đưa chị Năng đi phương trời nào.

Ngồi tè he ven đường đất đỏ thả trâu ăn dưới ruộng mới gặt. Lũ trẻ chơi đủ thứ trò. Cứ nhìn bọn con gái chơi Chuyền mà sốt ruột. Tay tung đến đâu mồm đưa đến đấy cái đầu chúng nó thì cúi xuống ngửa lên như con gật gù...
que mốt que mai /
cái trai cái hến
Con nhện giăng tơ
Quả mơ quả táo
Cán gáo sang đôi
Đôi tôi đôi chị
Đôi cành thị
đôi cành na
đôi lên ba

Rồi mấy đứa đứng ngoài hô theo đứa trong cuộc
Ba ta
ba mày
Ba cái cầy
Một sang tư… Tư củ từ, tư củ khoai, hai lên năm.

Nhìn quả chuyền bằng quả bưởi non tung lên hạ xuống chóng cả mặt, nghe đến cái đoạn
Năm rau Răm
Năm lên sáu
Thằng Vân đá tung cả bàn que chuyền. Tụi con gái chóe lên Đ… mẹ Vân Quí nhá, Vân Quí nhá. Bà Quí mẹ thằng Vân đang đon rạ dưới ruông kêu váng lên: Ối Vân ơi là Vân ơi mày để cho chúng nó réo tên cái nhà mày ra kia kìa… Thằng Vân dứ quả đấm về phía con Thành rồi chạy đi. Tàu khách về, cả lũ quên phắt cái chuyện chửi nhau chạy ra áp đường tàu đố nhau tàu có mấy toa. Lũ trẻ reo hò khi toa cuối cùng vút qua. Thằng thắng cuộc được cõng một đoạn từ gốc đa ra tới hàng phở Bủ Nộm.

Khoái nhất là nghe tụi con gái chúng nó chửi nhau. Lũ con trai chúng tôi đứng ngoài xuỵt thêm vào thế là chúng nó càng hăng. Đứa bên này bờ ruộng rẩu mỏ về đối phương bờ ruộng bên kia mà ra rả:
con đĩ đầu đanh /
nấu canh củ tỏi /
Mẹ chồng chưa hỏi /
đã đòi làm dâu /
Chồng chưa đi câu /
đã đòi xách giỏ /
Chồng chưa đi mò đã đòi rang tôm.

Hồi ấy chả hiểu mô tê gì mà chúng nó cứ tức tối cái bài chửi ấy thế. Nhớ nhất bà Quí mẹ thằng Vân chửi mất gà. Chao ôi bà ấy có giọng mới vang làm sao. Mấy nhà bên cạnh nghe mà ấm ức mà tức tối. Cứ chập tối là bà ấy tru lên:
Cha tiên sư bố mày, mày đi đằng xuôi mày chết đằng xuôi mày đi đằng ngược mày chết đằng ngược, mày lấy gà của bà mày hóc xương be mày đè xương cánh, mày cắm cờ xanh đầu ngõ mày cắm cờ đỏ đầu giường, con gà nó thành ma vương nó làm cho nhà mày tù đâm chết chém… Chửi đến nỗi chó trong xóm sủa ong óc mà bà ấy vẫn chửi. Thằng Vân kéo mẹ nó về mẹ nó vằng cho cái xuýt té ngửa.

... Còn tiếp.

litangu
09-06-2013, 12:03 AM
Chuyện làng... (tiếp theo)


Tính theo dọc đường tàu về phía ga có hai xóm. Đấy là xóm cầu Đất và xóm cầu Tây. Cái tên nó đã chỉ chính xác tình hình địa lí giao thông rồi. Xóm Cầu đất có cây cầu lát bằng thân cây cọ rồi đổ đất lên. Còn xóm cầu Tây là xóm ở gần cây cầu trên đường tàu hỏa. Cầu này Pháp xây dựng đường tàu hỏa mà có cầu. Đích thị là cái cầu thằng Tây làm.

Hai xóm tính tình khác nhau rõ rệt. Cầu đất dặt những nhà chuyên đơm đó đánh dậm. Mùa đông thì soi cá ngủ cá cóng. Mùa hè thì be bờ lại đơm đó. Chuyện đó đơm là cả một thú vui mà khoa học đáo để. Thời ấy những ruông sâu chỉ cấy một vụ mùa. Từ tháng 11 dương trở đi bỏ trắng. Cá tôm nhiều lắm, đỉa cũng nhiều như cá. sang mùa hè nắng oi ruộng rạ đã thối ai muốn be cái ruộng nào chỉ cắm cây nêu lên đó xí phần. Xí phần rồi là không ai xâm chiếm nữa. Thường thì tháng tư tháng năm ngập nước bốc bùn be bờ cho cao rồi mở 4 cái chổ bốn góc chừng một mét. Rang thính bằng cám gạo cho thơm, chập tối trộn với đất khô ném xuống ruộng. Mà rắc thính cũng phải nhẹ nhàng đừng có ùm ùm cá bỏ đi hết không vào ruộng. Cá theo bốn cái cửa vào ăn rất nhiều. Nửa đêm bịt bốn cửa lại đặt cái đó ở đấy. Cá tôm muốn chuồn ra là chui vào đó. Đơm đó có cái thú vui là ngủ ngoài bờ ruộng mà trông đó. Đêm khuya ngủ quên rất dễ bị người khác đi đổ đó của họ tiện thể họ đổ luôn của mình. Hồi tôi mười một mười hai tuổi đã có ruộng đó đơm riêng rồi. Mẹ tôi không cho đi ngủ đêm trông đó, nhưng tôi thích đi theo các anh lớn ngoài đầm Hà. Đêm, trải mấy tầu lá cọ trên bờ đầm tán phét nghe lõm tõm cá quẫy vui đáo để. Đi ngủ ngoài đồng trông đó chỉ để nghe các anh lớn nói chuyện đàn bà chuyện tiếu lâm. Có những chuyện nghe đến lớn mới hiểu.

Người Xóm Cầu đất hiền hơn xóm Cầu Tây. Bố tôi bảo, xóm ấy ngụ cư. Họ dưới xuôi lên, quen chạ người nên họ khôn. Hỏi chạ người là thế nào bố tôi bảo là đông người thì phải va chạm nhiều mà va chạm nhiều thì phải chống chọi nhiều nên khôn. Ra thế, sau này về Hà nội thấy đúng. Càng chạ người, người càng khôn. Giống như người hàng chợ mà nhất là chợ to như Bắc Qua, Đồng Xuân họ khôn dã man. May mà mình ra Hà nội sống chứ nếu không thì đen đủi cóc cáy như thế này sao mà mở mặt ra được.

Hòa bình mới lập lại vài năm là được xem phim. Điện ảnh đi về vùng sâu vùng xa. Tôi nhớ lắm, lần đầu tiên tôi được xem chớp bóng là năm 1958. Bộ phim đầu tiên tôi xem là phim Liên xô. Ngọn lửa không bao giờ bị dập tắt. Từ vài hôm trước loa loa váng cả xóm làng. Tôi nhớ như in giọng anh chớp bóng đi phát thanh các làng… A lô a lô. Thưa toàn thể đồng bào đội chiếu bóng lưu động số 20 chúng tôi về đây phục vụ đòng bào hai bộ phim. Bộ phim thứ nhất: Ánh bình minh. Bộ phim thứ hai: Ngọn lửa không bao giờ bị dập tắt. Phim chiến đấu của Liên xô, giá vé người lớn một hào, trẻ em năm xu. A lô a lô. Thế là hôm sau thanh niên làng cử người đi khiêng máy nổ. Chao ôi, nó chạy xình xịch phả khói khen khét thích thế. Mấy ngày đó làng xóm chộn rộn nôn nao chỉ mong chóng đến tối. Hôm chiếu phim các ngả đường làng trên xóm dưới người gìa trẻ em tấp nập, họ đến sớm lắm trẻ con mang cả đuốc để lúc về soi đường. Người lớn xách theo cả chai nước cho con lại còn lôi cả tàu lá cọ kê đít ngồi. Nhà tôi giữa làng chả phải đi xa, nhìn lũ bạn xóm xa mình cũng thấy tự hào, tự hào vì nhà ở gần bãi chớp bóng. Khi máy nổ xình xịch rồi đèn bật lóe sáng cùng với tiếng reo òa lên của dân làng. Họ căng dây khoanh bãi đễ soát vé. Một vé năm xu phải mất một giỏ cua bán ở chợ Đan Thượng mới có. Đứa nào không bắt cua thì một gánh củi. Dậm dịch kiếm tiền từ hôm trước. Tôi cứ nhớ cái ánh đèn điện ở cổng xé vé bãi chiếu bóng làng tôi thủa xưa. Nó như một cái sự khai phá những cái đầu u mê của làng mình, nó bắt đầu cho sự ước mơ thèm khát ra đi của tôi và các em tôi. Thú thật nhờ có cái đội chớp bóng nên mới bé tôi đã thuộc những bài hát thuộc loại đi cùng năm tháng. Từ lúc chiều họ mở thật to những bài hát trên 2 cái loa to như cái thùng tôn treo trên lưng chừng một cây tre. Chiếc khăn Piêu, rồi Buổi sáng trên nông trường, lại cả Bên ven bờ Hiền lương mấy năm sau bài Tình ca của Hoàng Việt cả làng tôi thuộc. Mấy chị thanh nữ đi cấy ruộng đít chổng lên trời í ửn hát Tình trong lá thiếp, trông mấy chị nhấp nhổm theo nhịp hát nghe mà si mê...

.......

Trungsy1
09-06-2013, 05:41 AM
Xóm cầu Đất và xóm cầu Tây

http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/CUOI NAM 2011/CUOINAM2011079.jpg (http://s261.photobucket.com/user/trungsy1/media/CUOI NAM 2011/CUOINAM2011079.jpg.html)

Cái cây cổ thụ này chắc anh Litangu sẽ nhớ:

http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/CUOI NAM 2011/CUOINAM2011098.jpg (http://s261.photobucket.com/user/trungsy1/media/CUOI NAM 2011/CUOINAM2011098.jpg.html)

Sông Thao đoạn chảy qua Hạ Hòa từ đường sắt nhìn sang. Bãi giữa là lau tốt bời bời, không phải bãi ngô

http://i261.photobucket.com/albums/ii45/trungsy1/CUOI NAM 2011/CUOINAM2011091.jpg (http://s261.photobucket.com/user/trungsy1/media/CUOI NAM 2011/CUOINAM2011091.jpg.html)

huuthanh
09-06-2013, 06:41 AM
Năm 65 tôi được ba cho theo chuyến công tác kiểm tra đường sắt HN-LC. Chiều lên tầu ga HN, tối qua Việt Trì, sớm tinh mơ xuống đâu đó giữa đường vì đoạn tiếp theo bom đánh hỏng tự bao giờ.
Đi bộ vào cơ quan đường sắt, qua một chiếc cầu đường bộ chừng nửa giờ thì máy bay Mỹ đến ném bom. Lần đầu thấy từng hai quả bom lừng lững rơi, tiếng nổ giật trong núi đồi trung du. Không có bắn lên, cầu này chắc không được bảo vệ.
Một tuần đi ngược không biết tới đâu, trẻ con mà, tôi chỉ nhớ Mậu A, Mậu Đông. Đi bằng tầu, ô tô ray từng đoạn. Nhiều đoạn đi bộ tránh bom nổ chậm đang đào. Có lúc suýt lạc giữa những nương lúa rồi lại mò về chỗ cũ, đi qua bom đào dở cho khỏi lạc. Lượt về có xe đón, đến Yên Bái buổi tối lò mò còn xem đống xác máy bay có cái cánh quạt của Skyrider. Còn nhặt dưới đường bụi bặm quả lạ khô cứng lắc nghe tiếng hạt ở trong kêu khẽ. Các chú nói là quả cây thuốc phiện.

litangu
09-06-2013, 09:00 AM
Sáng dậy, đã thấy hình ảnh quê mình. Cám ơn TS1 lắm.
Quê mình có cả đồi rừng có cả sông và đồng rồi lại lắm đầm ao. Bán sơn địa như thế nó ám vào mình, con người mình cũng lang bang bán sơn địa.
Cái hình bãi giữa ấy là ở giữa xã Lệnh khanh của huyện mình cách nhà mình 4 km. Hồi những năm 60, 61 nó trông như một xóm. Cũng tre pheo, mía mít. Dân trong bờ sang trồng ngô mía và làm cả lò mật trên đó. Mình nhớ cây gạo rõ cổ thụ trên bãi ấy. Thế rồi chừng năm 70 nó dần biến mất. Sau 30 năm nó lại hình thành trở về. TS1 ơi, đó không phải là cây lau đâu mà là cỏ voi người ta trồng đấy. Cỏ voi để cho bò cho trâu ăn. Chiều chiều dân mình lại cắt hàng thuyền về để chăn nuôi. Bãi giữa với bọn mình là kỉ niệm những mùa đông cạn nước chiều học xong kéo nhau ra lò mật mía để xin "nước hai" uống, rồi mang theo cả củ dong giềng nhúng vào nồi nước mật đang sôi chừng 20 phút để về ăn cho ngọt. Ăn củ dong giềng thơm cái mùi mật mía. Khoái tỉ lắm. Mà bạn biết nước hai ở lò mật là gì không? lạoi nước không còn là nước mía mà cũng chưa phải là mật. Thơm ngào ngạt từ bãi giữa bay vào làng. Bây giờ chả còn nữa... nhớ như người trai mất mát cuộc tình.

Huu Thanh thân mến: Những năm máy bay Mĩ đánh phá quê mình. Cây cầu đường sắt chỗ TS1 đứng chụp ảnh đó là một trọng điểm. Nó từng mấy lần bị sập. Sập rồi ta làm cầu tạm cho tàu đi Mĩ lại đánh lại sập. Những lần như thế khách đi tàu đều phải tăng bo. Họ đi qua làng tôi và ngủ nhờ nghỉ nhờ ở nhà tôi. Một lần ông Chủ tịch Bát Sát đi họp Hội Dân tộc TW cũng đi như thế và nghỉ lại nhà tôi. Nghe ông ấy nói chuyện với bố mà mê li. Sau này lớn lên mình cũng lại nhiều lần tăng bo như thế. Năm 1972 hành quân vào B tàu đưa vào đến cầu Tào là xuống tăng bo qua Hàm rồng vào Thanh. Ôi, tăng bo, tăng xê... những cái từ xa ngai ngái lại trở về

litangu
09-06-2013, 10:55 AM
Chuyện làng... (tiếp theo)


Cho tới bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao quê mình có truyền thống hát Xoan mà mình chả biết tí Xoan ghẹo nào cả. Chả nhẽ Xoan nó chỉ đến Hưng Hóa là hết đường đi ngược? Nhưng mười tuổi tôi đã biết hát chèo (ngạc nhiên chưa?). Chèo chả riêng cho một tỉnh nào, nó sống với lúa nước đồng bằng Bắc bộ lâu lắm rồi nên người quê tôi biết cũng là dễ hiểu. Nhưng, cho tới năm 1962 khi có chủ trương đưa người vùng xuôi lên khai hoang miền ngược thì chèo mới rộ lên và thế là hát chèo như tự thân trong mỗi con người làm ruộng miền bắc phải có. Ngày ấy đồng bào Duy Tiên Hà nam lên quê tôi. Bồng bế đìu díu đến là thương. Nhưng sự khổ ải với họ không lâu, họ lao vào làm đồi rừng làm ruộng với quyết tâm phi thường. Dân quê tôi từ ngạc nhiên đến dần dần bị cuốn hút theo cái tính chịu khó của họ mà làm ăn. Dù khổ ải lam lũ đến mấy, tối tối các bác các chị Duy Tiên lại tập trung ra sân kho HTX để hát chèo, tập diễn những vở chèo cổ mang từ dưới xuôi lên.

Lần đầu tiên được ngồi xem Trương Chi, xem Lưu Bình Dương lễ xem Cây đa bến Cốc… nước mắt cứ dàn dụa ở sân kho HTX. Những chị những bà ban ngày làm cỏ lúa làm nương sắn hóa thân vào vai diễn cảm động đến thế. Lũ trẻ con chúng tôi bây giờ cũng hát: Gà rừng, hát xẩm xoan. Tụi con gái thì thích mấy điệu lới lơ, đào liễu, sắp qua cầu… Lớn lên đi bộ đội trên đường Trường sơn cứ nghe hát chèo đêm khuya là nhớ quê đến nao lòng. Lúc ấy hình ảnh các chị áo cánh nâu ngực căng thấm mồ hôi mê mải diễn chèo trong lúc máy bay Mĩ gầm gào trên đầu. Quê mình thiêng liêng biết bao. Chuyện làng như một liều thuốc bổ cho người lính vượt Trường sơn đầy những bom và đạn.

Trường cấp 1 Đan Hà của tôi có từ năm 1957. Trước đó, lớp cha anh phải học tư thục Minh Đức hoặc phải về Ấm Thượng cách 10km. Ngọn đồi kề đường tàu hỏa rợp những cây xoan và cây nhội rất to. Tôi leo lên cái dốc đến là dài đầy sỏi, nhiều bụi về mùa hè và mùa đông thì đôi bàn chân đi đất đau thon thót vì những hòn sỏi ấy. Thầy hiệu trưởng già nói tiếng Pháp xen lẫn tiếng Việt với đồng nghiệp mỗi lúc hứng thú một điều gì đấy. Mùa đông thầy mặc áo ba đơ xuy và mũ nồi. Cả nhà thầy đều là giáo học và con cái đều đi xa hết cả. Tiếng gõ thước kẻ lên bảng, tiếng học trò ê a đọc bài và tiếng trống tùng… tùng ra chơi sao mà nhớ lâu đến thế. Ngày ấy cứ mỗi lần ngồi trong lớp nhìn chuyến tàu ngược Hà nội lên là xôn xang những ước muốn rồi một ngày nào đó đi xa. Suốt đời tôi đi học từ cấp 1 đến lúc đi đại học chưa bao giờ tôi được học trong căn nhà xây. Tôi chỉ biết đến lớp học lá cọ với những cái bàn lung lay rây đầy mực tím. 50 năm sau tôi vẫn nhớ những dòng chữ mà ai đó viết trên mặt bàn bằng thứ chữ cứng cáp, tôi đoán là của các anh lớp 4. Một bài thơ thế này:

Em là con gái Minh Sơn
Bóng em thấp thoáng sớm hôm trên đồi
Nhanh tay hái búp chè tươi
Gió đưa thoang thoảng ngát mùi hương bay
Nhựa chè đen nhuộm bàn tay
Ửng hồng đôi má em say hương chè.

Những năm ấy xã tôi Đan Hà được đổi thành xã Minh Sơn. Phải đến năm 1964 mới đổi lại là Đan Hà như thời xưa cũ. Không biết bài thơ ấy của ai, các anh chị lớn học từ ai? chỉ biết đọc rồi nhớ rồi thấy mình yêu làng mình quá. Yêu đến nỗi lấy cái đinh 5 phân vạch dưới bài thơ ấy tên mình Nguyễn Trọng Luân ước ao một ngày nào đó cũng làm được một bài thơ về làng mình như vậy. Ao ước ấy suốt đời đến giờ vẫn không làm nổi.

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/hinhxelua2_zps03ebf5c2.jpg
Một chuyến tàu qua làng tôi ( năm 2002)

ONGBOM-K5
09-06-2013, 11:07 AM
Chuyện làng ....( tiếp theo )
...Yêu đến nỗi lấy cái đinh 5 phân vạch dưới bài thơ ấy tên mình Nguyễn Trọng Luân ước ao một ngày nào đó cũng làm được một bài thơ về làng mình như vậy . Ao ước ấy suốt đời đến giờ vẫn không làm nổi .
Em chào bác Nguyễn Trọng Luân
soi mãi đến....hôm nay thì bác mới....thú nhận @litangu có tên khai sinh là như vậy. Hehehe
Em có đề nghị này, mong bác đừng giận nhá : Truyền thuyết "mượn cục xà phòng" là có nguồn gốc từ Hạ Hòa phải không bác. Bác có thể kể cho chúng em nghe nhé.

litangu
10-06-2013, 12:47 AM
Chuyện gặp ở trong ngày họp mặt trung đoàn


Thành lệ, cứ cuối tháng 12 hàng năm là Trung đoàn 64 F320A của chúng tôi họp mặt. Trung đoàn thành lập 22/1/1946. Bây giờ đã 67 tuổi. Lần nào cũng thế các CCB áo quần sùm sụp đi tàu xe về Thủ đô trong cái giá lạnh cắt da cắt thịt. Năm kia năm kìa lúc thằng Minh ngoài Bãi Cháy bạn tôi chưa ốm nặng nó đã cởi cái áo rét to sù sụ của nó cho thằng Lù ở tít Hà giang về. Hôm ấy họp ở Bộ TL Lăng HCM. Nhìn đồng đội người dân tộc cao có mét 6 mặc cái áo bông của thằng Minh đi vào lăng viếng Bác trước giờ khai mạc mà thấy thương. Thương thằng bạn Hà giang một thương thằng Minh hai. Nó bảo mình rét đến mấy cũng không bằng chúng nó trên cái vùng toàn hơi lạnh của đá. Mày không nhớ là nó ở C25 sao?, toàn đi khiêng thương và tử sĩ, nó khiêng tao trận làng Dịt đấy, hì hì mẹ kiếp! nó chửi: thằng lày ăn cái téo gì mà ló lặng téo chịu tược. Nó chửi vậy thôi, chứ lúc pháo bắn nó lại bảo thằng khiêng đầu bên kia: Tịt mẹ… mày từng có vứt cáng xuống là nó chết lố.

Năm nay thằng Minh nằm bẹp rồi chả đến được. Thằng Lù Hà Giang cũng không về, nhưng nó từ Yên Minh Hà Giang xuống Hàm Yên Tuyên Quang chỉ để gửi thằng Bình bò cũng C25 một can rượu ngô về cho anh em. 200 người uống rượu Votka Hà nội chả mấy ai biết can rượu ngô rót lẫn vào bữa tiệc. Tôi biết, tôi ghé vào bàn mấy thằng Tuyên Quang. Chúng nó bảo lấy chai votka rót rượu của thằng Lù C25 mỗi thằng mang về một chai. Ngoài trời lạnh hun hút. Ngó qua cửa kính sang Trung Tâm Hội nghị Quốc gia bề thế cứ nghĩ thằng Lù hôm nay mà có mặt nhỉ, nó sẽ mang cái ảnh chụp chung ở khuôn viên trên đường Phạm Hùng về bản nó. Lại nhớ thằng Minh nằm lạnh lẽo trong phòng chạy thận. Những cựu chiến binh chúng tôi ngày càng yếu dần, khuôn mặt mốc thếch mỗi mùa gió bấc về lại càng thêm nhăn nheo mốc thếch. Chiến tranh lùi xa, những người dấn thân vào binh lửa vẻ vang ngày xưa ấy rơi rụng dần. Thời của cuộc sống tốt đẹp càng gần bao nhiêu thì những người lính chiến càng đi xa bấy nhiêu.

Vẫn thế, gặp nhau tay bắt mặt mừng thao thao ôn chuyện cũ, thằng này tìm thằng kia hỏi han những thằng không đến, nhắc tới những đồng đội không về, báo tin cho nhau tìm được mộ của ai. Ban Liên lạc thông báo những chuyến đi tìm đồng đội nơi chiến trường xưa rồi lệ phí, rồi mừng thọ, thăm hỏi, rồi sau cùng là liên hoan. Khi Ban tổ chức giới thiệu thân nhân liệt sĩ từ xa về dự, tôi cố ngó lên trên có hai người đàn bà gầy gò nhỏ thó lọt trong cái ghế bọc nhung của hội trường Bộ Tư lệnh QK Thủ đô. Mọi người sau mỗi lượt đại biểu phát biểu thì vỗ tay. Hai người đàn bà vẫn ngồi im. Có lẽ họ không quen vỗ tay bao giờ. Ngồi phía sau nên không nhìn thấy mặt họ, nhưng tôi chỉ thấy họ cúi đầu, thỉnh thoảng thấy xung quanh cười ồ lên thì họ mới ngẩng lên rồi lại cúi xuống.

Bữa liên hoan trưa hôm ấy thịnh soạn lắm. Mấy nhà tài trợ là lính cũ của trung đoàn ăn nên làm ra đã góp tới dăm chục triệu, rồi tướng lĩnh cũng gửi quà rồi anh em đóng góp. Cơm gần tết nên có cần phải có không khí tết những là bánh chưng và dưa hành. Rượu nhiều nhưng CCB già hết rồi kham không hết rượu. Tôi cố tình tới ngồi với hai người phụ nữ thân nhân liệt sĩ. Thì ra họ là hai mẹ con từ Phú Thọ về. Trông người con tiều tụy chả kém chi người mẹ. Tóc cả hai đều bạc, người con thì bạc ít hơn vì chị mới có 40 tuổi. Đó là vợ và con gái liệt sĩ Đinh Xuân Sắc ở Huyện Thanh Sơn. Tôi hỏi chị ơi gia đình thấy mộ của anh chưa? chị bảo nhờ ơn giời ơn Bác Hồ tôi đưa được cốt của anh về rồi, cả chú Nhu nữa. Trời ơi thì ra hai anh em trai anh Sắc và Nhu đều là lính 64 và đều hi sinh năm 72 ở Kon Tum. Người con gái bảo phúc nhà cháu còn lớn nên đưa được bố và chú cháu về. Năm 71 đánh xong Nam Lào bố cháu về phép thì có cháu vào năm 72. Cháu bị thần kinh và rồ mất mấy năm. Cháu đi lang thang ở Việt trì người ta lại dắt về. Từ ngày đưa bố cháu và chú cháu về tự nhiên cháu khỏi rồ. Bây giờ mẹ cháu ở với cháu và hai đứa cháu ngoại. Chồng cháu bỏ cháu khi cháu đi lang thang, thế là ở nhà bà cháu rau cháo nuôi nhau. May mà bây giờ cháu khỏi bệnh…

Người mẹ bê cái bát mãi mà chả biết gắp thức ăn gì. Cái bàn ăn có cái mặt kính xoay cứ chập chờn những đồ ăn mà ở nhà chị thấy thoáng qua vào ba ngày tết. Chị lại ngước lên nhìn những người đồng đội của chồng mình đang ồn ào phấn khởi nói cười cụng li dô dô hớn hở. Giọt nước mắt lăn khe khẽ trên góc mũi người nông dân thật chậm. Đột nhiên chị ngước lên nhìn tôi, nghe nói chú cũng người trên Phú thọ ta? Chú biết anh Sắc nhà tôi chứ. Tôi nói dối, vâng em có biết, anh ấy tốt với chúng em lắm. Chị ừ ừ à vâng, chồng tôi hiền lắm... cái đũa rớt xuống nền nhà. Người con cúi nhặt cái đũa cho mẹ tranh thủ quệt ngang mắt.

Mấy thằng lính Phú Thọ ngồi mâm bên tôi vẫy sang giới thiệu với chị. Chị ơi đây toàn là lính Phú Thọ đàn em của anh Sắc và anh Nhu đây. Chị tươi lên: thế à, thế à. Bên chú năm nay lúa khá không? Các cụ còn khỏe cả không? Tôi thưa Chị ơi em biếu chị 2 trăm hai mẹ con đi xe về. Chị giẫy lên, hội CCB xã cho tiền tàu xe rồi chú ạ. Thằng Trung thằng Liên mỗi đứa biếu một trăm cứ ấn vào túi cho chị. Thằng Tính điếc Thanh Ba lôi thằng Trung ra ngoài ông cho tôi mượn trăm, về nhà tôi giả. Rồi nó bảo chị, có trăm đây chị mua thẻ nhang bông hoa thắp hương cho anh dùm em. Thế là hai người đàn bà oà khóc, mấy thằng lính già cũng khóc. Tiếng nhạc loe loe loi lói bài hát Úp mặt vào sông quê nghe câu được câu chăng. Phòng ăn la liệt chai bia chai rượu và người ta bắt tay nhau lia lịa.

Chia tay mẹ con chị, trong cái gió bấc tháng chạp bóng hai mẹ con người đàn bà đều không còn chồng gầy gò xiêu xiêu ven đường Phạm Hùng đầy bụi. Tôi ngoái lại. Tiếng còi xe Ben làm tôi giật bắn người.


Hà Nội
Tháng chạp Nhâm thìn

litangu
10-06-2013, 11:07 PM
Có một lá thư không được xé, phải giữ.

Tiểu đoàn lính Sinh viên 3002 chúng tôi vào đến chiến trường sau ba tháng mười ngày hành quân vượt Trường sơn. Cuộc hành quân ấy đoàn tôi hao đi vài chục chiến sĩ. Vừa từ ngã ba Đông dương về tới Kon Tum lại nhận lệnh vượt sông Sa thầy qua đất Campuchia tìm mót sắn để làm lương thực cho đơn vị chiến đấu bên đất nhà mình. Đoàn lính đi mót sắn toàn quân sinh viên và cán bộ giáo viên chừng trên 400 người cặm cụi hơn hai tháng bên Khơ me để kiếm cái ăn cho đơn vị. Thôi khỏi phải kể những ngày ấy chúng tôi đói và ốm đau thế nào. Kết thúc đợt tìm kiếm cái ăn ấy chúng tôi hành quân về Gia Lai để bổ sung xuống đơn vị chiến đấu.

Lại qua sông Sa Thầy, đi về hướng đông. Lại gặp lính mình quần đùi gầy ngẳng nghiu trên các nẻo đường ra phía trước. Chúng tôi đi chừng hơn mười ngày thì tới một vùng cách Pơ lei cu chừng dư một tầm pháo. Chập chùng là những cánh rừng đầy gai xấu hổ xen lẫn những nương cà phê của dân. Chúng tôi đói, chúng tôi sốt rét khật khừ suốt đường hành quân.

Về đến Gia lai, tiểu đoàn tôi tách làm hai. C4 và c2 về E64 còn c3, c1 về E48. Vậy thế là sinh viên đại học Sư phạm, đại học Nông nghiệp với một số trường trung cấp về 48 còn chúng tôi sinh viên Cơ điện, Y khoa với một số trường cao đẳng Luyện kim, cao đẳng Xây lắp 3, Địa chất… về 64. Hai đại đội xếp hàng ở một sườn đồi thỉnh thoảng veo véo pháo địch bắn qua đầu. Lính cũ bảo kệ mẹ nó, lúc nào xoèn xoẹt thì nằm xuống. Nghe mà nôn nao chỉ sợ xoèn xẹt đến ngay bây giờ. Họ xếp quân thành hàng ngang. Rồi cán bộ đi ngắm lần lượt. Mấy tay dáng chừng cán bộ đeo túi mìn mo lần lượt nhòm từng thằng rồi chỉ người này lắc đầu người nọ. Tôi sốt quá nằm dưới chân chúng nó, tôi không thể đứng lên được tai ù đi rét thấu từ trong rét ruột. Thì ra, những pháo cối, DKZ, thông tin, cơ quan E được ưu tiên chọn trước rồi sau đó mới đến bộ binh chiến đấu. Tôi liếc mắt lên, thằng Ngô Thịnh K6, thằng Tiêu K4, thằng Khang K4 đều đã được người ta dẫn đi. Tôi vẫn nằm, cơn sốt càng nặng hơn, đầu rú o o như có con nhặng xanh trong óc. Chúng nó đi hết rồi, vài thằng cúi xuống chào tôi để chia tay. Tôi vẫn nằm dưới đất nước mắt ứa ra nhìn theo chúng nó bẻ cành lá ngụy trang chùm lên đầu lùi lũi đi theo người nhận quân về từng đơn vị chiến đấu. Máy bay OV10 rà rà. Cán bộ quát tháo che kín ngụy trang vào không thì chết cả nút. Buồn thế, mờ mịt thế pháo địch vẫn thỉnh thoảng u ú bay qua. Tôi biết chúng tôi rất gần địch rồi.

Chỉ còn vài thằng sốt rét cuối cùng vét nốt về C7 D8. Người cán bộ nhận quân chửi thề: đ... mẹ chúng nó, cứ thằng nào khỏe mạnh to con D bộ và trực thuộc nhặt hết còn mấy thằng rẻ rách thì dí cho về chủ công, mẹ nó chủ công cái con c… , đ... mẹ cho bọn D bộ chúng nó xuống đây mà đánh nhau.

Tôi và mấy đứa dìu nhau vặt vẹo chừng một giờ về đến kiềng chốt c7. Người đón tôi là một B trưởng mặc quần đùi rách tươm. Mặt mũi rất bẩn, tóc queo queo từng túm như rễ bèo tây. Hàng tháng không tắm nên tóc tai bết lại như thế. Anh ấy bò dưới hầm lên. Anh tên Ngô Văn Trăng hơn tôi hai tuổi. Nửa muốn cười nửa muốn thân thiện nhưng thấy tôi dặt dẹo quá đâm ngán nên nụ cười B trưởng hé ra một nửa rồi tắt. Sốt à? anh ấy hỏi. Vâng em sốt vài ngày nay. Ăn được không? Dạ không muốn ăn. Phải cố mà ăn không là chết, chết chỉ có thiệt cha mẹ mình mày ạ. Mày vào hầm nằm đi. Nói rồi anh ấy bò đi luôn. Một thằng lính cũ cũng bé quắt ngồi ôm khẩu B40 ở nóc hầm lầu bầu, có đ… gì ăn mà bảo cố ăn...

Làm quen với chỉ huy ngần ấy câu thôi thế mà tôi cứ hình dung ra họ sẽ hỏi lí tưởng của đồng chí là gì? đồng chí có suy nghĩ gì khi về đây?. Chả ai hỏi thế cả. Mấy anh lính cũ đưa cho tôi nắm lá chua bảo: ăn đi, càng chua càng đỡ sốt rồi họ bò đi ra vị trí điểm chốt của họ. Tôi không ngờ rằng ngày đầu tiên về đơn vị lại là ngày tôi lên chốt mà lại lên chốt lúc tôi sốt cao. Tôi lơ mơ như thế cho đến lúc thấy bom nổ. Tôi chồm dậy, mặt trời xuống núi rồi nghe lính cũ bảo T28 ném bom ngoài đường 19. Đêm ấy tôi nằm dưới hầm với mấy người lính cũ toàn quần đùi rách hôi rình rình. Tôi bỗng nhớ thằng Chung Ninh bình nó về C5 với thằng Lương Lợi bây giờ ở đâu? mấy thằng cùng trường ở đâu? đêm đầu tiên ở tiền tiêu nghe não nề côn trùng và thi thoảng tiếng pháo bay qua rấm rứt.

Hôm sau tôi đỡ sốt. Cuộc ra mắt của tôi là một trận bò ra rừng tìm lá chua và một cây chuối non. Tôi thái đọt chuối, thái lá chua trộn với mì chính và muối thành món nộm rất ngon. Lính trên chốt đói nên háo lắm ai cũng khen. Anh Trăng bảo tao còn nhúm thuốc Miên thằng Luân mới vào có giấy pơ luya bỏ ra để hút. Cả mấy anh em sướng sáng mắt. Tôi lật cuốn sổ nhật kí lấy ra lá thư ông già gửi trước khi đi B. Tôi bảo em chỉ có lá thư này là pơ luya. Anh Trăng bảo thư ai? đọc xem nào! Thư nào cũng hút tất. Anh Trăng nhỏm đầu bảo thằng Đấu cảnh giới trên miệng hầm rồi giục đọc đi đọc đi. Tôi đọc, vừa đọc vừa khóc. Bố tôi là thầy giáo nên cụ viết rất tình cảm và khúc triết… tôi đọc đến câu... ”Luân ơi thầy chỉ mong rồi đến một ngày con lại trở về đi học ở trường đại học Cơ điện mà thầy mẹ mong ước con sẽ làm kĩ sư và tiếng hát con lại vang lên vui ấm mái nhà ta...”. Anh Trăng quát to lên: Thôi không đọc nữa, lá thư này không được xé, phải giữ. Mấy thằng trong hầm cũng khóc. Anh Trăng lại quát, khóc cái đ... gì. Thư nào chả là của chung. Chỉ giấy báo tử mới là của riêng. Sống mỗi người mỗi nhà chết mỗi người mỗi mồ. Đ… mẹ, lính bọn mình sống mấy thằng một hầm chết mới mỗi thằng mỗi mồ. Mà chưa chắc đã được mỗi thằng mỗi mồ.

Đêm ấy, đầu mùa mưa mà trời chiến trường không mưa. Ngoài cửa hầm nhìn rõ cả những vì sao long lanh. Tiếng chim đêm khuya não nuột. Các nhà văn bảo đó là tiếng chim từ qui. Tôi không biết từ qui là gì cả chỉ nghe... trót thì bóp đến đau lòng.

Lá thư của bố tôi không được xé. Tôi giữ mãi tới ngày giải phóng trở về. Bố tôi nghẹn ngào lau nước mắt khi thấy lại tám trang pơ luya đã viết cho tôi trước ngày tôi lên đường đi vào Nam. Tờ pơ luya nay chuyển ngả màu như sáp mà nét chữ của bố vẫn tươi nguyên.

Anh Trăng đi học sĩ quan Cầu Lầy (quân chính mặt trận) trên Kon Tum vào năm 74. Tôi theo đơn vị đi đến hết cuộc chiến tranh giải phóng. Chả bao giờ gặp anh ấy nữa. Nay về già nhớ anh. Cái con người mới học hết lớp 7 ngày xưa mà nói câu… Lính bọn mình sống mấy thằng một hầm chết mới mỗi thằng một mồ. Thì ra, như tôi đây học cao hơn anh cũng đâu hiểu nổi anh, nghĩ được như lời người lính ít học trong lửa đạn chiến trường. Tôi chỉ nhớ anh Là Ngô Văn Trăng. Quê Tiền Hải Thái Bình. Anh Trăng ơi !

NTL

litangu
11-06-2013, 09:31 AM
Nhớ đồng đội lính SV

Tặng đồng đội (SV nhập ngũ năm 72)



Nhìn các bạn tôi tóc bạc cả rồi
40 năm nhoáng như ngọn gió.
Chỉ các bạn không về thì cứ như ngọn lửa
Cháy rì rầm những đêm Trường sơn

Uống đi bạn ơi, ngoài hồ gió heo may
Con đường Tình yêu* có tự bao giờ nhỉ?
Những người chết chưa một lần tình tự
Ảo ảnh người yêu tan vỡ ở chiến trường

Đồ án rách toang khi ngã lúc công đồn
Chúng tôi mang tên bạn về trong những bài tập lớn
Chúng tôi ra trường bạn về nơi qui tập
Còn bao nhiêu lỗi hẹn? hỡi mộ chí giăng hàng!

Hơn bốn mươi năm kỉ niệm mái trường
Bạn thì gần bốn mươi năm nằm lại
Hoa dại cứ bốn mùa đơm mãi
Những cánh hoa lạnh lẽo bạn tôi nằm

Chúng tôi về cứ bia rượu hàng năm
nhớ bạn thoáng qua đợi năm sau lại đến
22/12 miếng thịt ước mơ đời lính
Nay già rồi nước mắt lại chực rơi

Hãy rót chén rượu này xuống nước hồ Tây
Để hồn bạn một lần trở về cùng người yêu đi trong sương lạnh
Để con cháu đến nơi này sẽ nhớ ngày ra trận
Người yêu trao một cánh lá Tây hồ

Ai đã từng về lại chiến trường xưa?
Có hái được sắc tím hoa đồi vắng?
Có múc cạn được nước dòng Thạch hãn?
Những bài ca thay sao được nỗi đau này?…

22/12 đâu chỉ có năm nay
Tôi nhớ bạn đâu chỉ một lần rượu bia hò hẹn
Xin các bạn hãy về đây gặp những người lính chiến
Để cùng nhau nhớ mãi một mái trường


22/12/2011 Nguyễn Trọng Luân CCB ĐH cơ điện - F320A
*đường Tình yêu - đoạn đường sau trường Chu Văn An ven Hồ tây

.VMQuang.
11-06-2013, 04:17 PM
TÂM SỰ CÙNG BÁC LÍNH TÂY NGUYÊN

Trưa nay nhận điện thoại Bác gọi (Qua máy của Bác LXT) em mừng lắm. Những tưởng đến tháng Chín mới gặp Bác, nào ngờ… Cảm ơn cuộc đời, cảm ơn KQH đã là cầu nối để người lính, những người yêu mầu áo lính chúng ta gặp nhau (Đồng đội KQH cảm thông đừng nghĩ Q tôi thấy người hay bắt quàng làm thân, oan đấy)
Bác LTN mến!
Em không sinh ra từ miền quê ấy, mà chỉ có một phần tuổi thơ gắn bó với miền quê này, cái thủa mà ánh mắt nhìn cuộc đời trong veo đầy mơ ước, hứa hẹn.
Như Bác biết, gia đình em là một trong số dân ngụ cư. Năm 1954 từ TQ bố mẹ em chuyển về sống ở thị trấn Hạ hoà, một thời gian sau thì chuyển lên phố Minh Đức. Gọi là phố cho oai chứ nào có gì, vài ba chục nóc nhà với một cái chợ. Cửa hàng cung tiêu quanh năm chỉ bán dầu hoả và muối trắng, đầu phố là nhà ông bán thuốc bắc, cuôí phố là nhà ông lò rèn, vài ba ông thợ may và quán phở của ông Thái gù. Ầm ĩ và nổi nhất có lẽ là phản thịt của ông Sáu (dân làng thường gọi là ông Sáu bị). Ông có vóc người to, khoẻ, hai mắt xếch với hàng mi dựng ngược. Bọn em gặp ông ấy cầm con dao mổ lợn trong tay thằng nào thằng ấy chạy đến vãi tè…
Trường làng ở sau chợ, giáp với bờ sông. Kỷ niệm về những ngày đầu đi học lớp i tờ với em là cái vụt của thầy Thắm. Hôm ấy giờ ra chơi cùng mấy thằng nữa trèo lên cây sung chĩa ra bờ sông hái quả. Thầy Thắm đứng dưới gôc cây chỉ: Q hái cho thầy chùm nhiều quả kia. Em hái và nhanh nhẹn tụt xuống, chân chưa kịp chạm đất thì thầy vung cái thước kẻ bằng gỗ lim vụt cho hai cái vào mông. Thầy bị cụt một tay nên hình như sức mạnh dồn vào tay còn lại, nói không ngoa một chứ bây giờ sờ lại hình như vẫn cảm thấy đau. Ngay hôm sau em sợ không dám đến lớp, thế là bỏ học, chấp nhận nhuận một năm…

litangu
11-06-2013, 09:05 PM
@VMQuang: Lần đầu nghe bạn nhắc tới cái tên Minh Đức tôi nghĩ ngay là bạn đã biết quê tôi từ những năm trước 1960.
Khúc đường nơi nhà Q đã ở hồi nhỏ là cả một câu chuyện mơ ước của tôi hồi bé. Ngày ấy để được ra chợ, đi dọc phố chợ đã là sự may mắn rồi. Tôi rất chịu khó bắt cua hay kiếm gánh củi để mang ra phố chợ mà bán. Nhưng có lẽ tôi hay bán quả dọc nhất ngoài phố chợ.
Bạn học của mình ngày ấy ở xóm nhà Q bây giờ đi tứ tán. Mỗi lần về quê nhìn chợ phiên cũng nhiều mắt xanh mỏ đỏ nhiều sự đổi thay ở hàng hóa, chỉ có bãi chợ liền ra sông Hồng là vẫn thế. Lối xuống đò lở lói sau bụi chuối tây, chỉ có khác con đò nay không bơi bằng cây dầm xưa cũ mà chạy bằng máy nổ và sông Hồng thì ngày càng ít nước.

Dongdoi_D406
11-06-2013, 09:26 PM
Đọc những câu chuyện thấm đãm tình người, thật như cuộc sống của bác LTN, lại biết bác là lính F320 A em cảm thấy có cái gì đó thật thân quen vậy. Dự định sẽ PM cho bác ấy để làm quen X_X, may quá trưa nay Sư thày lại kết nối để em nói chuyện với bác, rồi lại biết bác đã học tại trường cấp IIIA Yên Bái, thật là vui như đã quen lâu rồi8->

Chúc bác chắc tay viết để em và mọi người được đọc nhiều hơn về những người lính :)>-

P/S: cuối giờ chiều nay, Sư Thày alô cho em và hỏi: trưa nay em gọi điện cho anh à? ;));));))

huuthanh
11-06-2013, 10:48 PM
Nhưng có lẽ tôi hay bán quả dọc nhất ngoài phố chợ .

Năm 65, 66 ở chân núi Tam Đảo bên Thái Nguyên thứ quả đến mùa chúng tôi hái vô tư là dọc chua. Những cây dọc rải rác khắp dọc đường vào chân núi, sườn đồi. Ấy vậy mà giờ thỉnh thoảng mới thấy ở tít sườn núi trên cao. Nhận ra nhờ dáng ngang cành... dọc, mà còn phải hỏi cho chắc.
Năm ngoái theo đề nghị của tôi đội Xã Mỹ Yên tặng cho một bao tải dọc về chia cho anh em nấu canh chua. Mỗi người hơn chục quả, canh chua quả dọc ngon thật nhưng nằm mãi trong tủ lạnh rồi cũng đến lúc phải vứt đi.
http://2.bp.blogspot.com/-YN27cdVfnFU/UCe3DHRhYGI/AAAAAAAALDI/i_aBdnL7q9A/s1600/mdf_MG_1999.jpeg
Riêng tôi được cho 5 cây dọc nhỏ có hơn gang tay. Cái giống ấy rễ cọc, một gang trên một gang dưới mà đứt giữa chừng chả có rễ con cho đất bám. Chiều về đến nhà ươm ngay vào bầu cát ẩm mấy ngày thì chết hết. Tính là năm nay có đi thì kiếm quả già về ươm từ hạt chắc có lẽ mới được cây.

litangu
11-06-2013, 11:26 PM


http://imagevietnam.vnanet.vn/ImageHandler/Upload/UploadPhotoAlbum/2011/2/14/14-2PSA08995_wh650_450.jpg

Trở về từ chiến trường Tây Nguyên. Vài chục năm sau nỗi ám ảnh mùa khô mùa mưa cứ như mặc định vào trí nhớ của tôi. Vào cữ tháng 10 mà có sụt sịt thì lại nói với vợ đổi mùa đấy mà! chả sao đâu. Thế mới biết làm người lính thì ngắn nhưng đời lính thì dài. Ông và cháu nội tranh nhau cái ti vi. Ông xem phim bộ đội cháu xem BIBI. Nó bảo lúc nào ông cũng bộ đội, bộ đội. Bà nó nguýt:
- Người ta đại sĩ đại tá ông mày hạ sĩ trung sĩ mà cũng hới mưng…
Cháu lại bênh ông:
- Ông là bộ đội đánh Mỹ, cô giáo con bảo phải yêu bộ đội , yêu người già.
Nói rồi nó lại ngước lên TV. Trên màn hình nhập nhằng mấy cô cậu đang thi Tài năng Idol… xanh xanh đỏ đỏ, Ban Giám khảo còn xanh đỏ hơn. Ông cháu tôi chóng hết cả mặt.

Tôi dọn về ở Hoàng Cầu này đã hơn mười năm. Con phố yên tĩnh và sạch đẹp. Phải nói là VIP. Tôi cũng là diện thơm lây. Đối diện nhà tôi là tay giám đốc một Công ty nhà ở HN. Hắn mua hai căn gộp một. Nhà đẹp. Con hai đứa, đứa học ở Mỹ đứa ở Anh. Tôi chỉ thích nhà hắn mỗi cây bàng. Cây bàng đứng bên vỉa hè nhà ấy choãi cành sang nhà tôi sát vào ban công. Cuối năm, lá chuyển màu từ xanh sang loang lổ vàng rất nhanh. Từng cánh lá rơi quay quay sang vỉa hè nhà tôi. Áp tết, lá vẫn nhiều nhưng đã có chiều yếu ớt. Những vết thâm như mụn ghẻ đỏ lan dần. Trăm ngàn cái búp như cái hoa ngọc lan màu xanh chỏng ngược lên trời trong khi vài cái lá đeo lơ lửng vẫn đọng lại. Tôi đứng trên ban công với tay ra là đến tán bàng. Cứ yên lặng, cố cách xa tán lá ấy để được nhìn và nghe lá rơi. Khi chiếc lá cuối cùng già cỗi buông uể oải xuống vỉa hè, tôi cảm thấy như đúng lúc ấy các búp non kia bừng dậy và chỉ sáng hôm sau thôi cái búp non như bóng đèn quả nhót chổng ngược xòe ra hai ba cánh lá xanh mỡn thật hiên ngang. Tôi đi vào nhà, có cảm giác buồn buồn. Sự thay thế cái già cái trẻ cũng hối thúc như cái cành bàng kia ư?

Cây bàng vô tư lớn và tôi cũng đã nhiều mùa đông ngắm nó. Mỗi mùa đông đứng trên ban công ngắm cây bàng thấy tiếng ho của mình lại dầy hơn. Chủ nhân nhà ấy chả bao giờ ra ban công cả. Chị vợ có riêng cái Xí nghiệp giặt khô là hơi cho mấy khách sạn. Hai vợ chồng hai doanh nghiệp cặm cụi đếm tiền. Nhà đó mỗi tuần có hai Osin lau dọn vài lần và thành lệ cứ ngày 14 âm lịch và 29 âm lịch hàng tháng cả hai vợ chồng lên chùa. Nể! mười mấy năm nay vẫn thế. Hương trầm thơm từ nhà ấy sang nhà bên cạnh. Có đận không có mùi hương nhang của nhà ấy thì vợ chồng tôi quên mất cả ngày rằm. Công nhận nó ở hiền, năng hương khói, phật trên cao cứ vun đắp cho nó cũng là lẽ công bình. Chỉ khổ vợ tôi mỗi chiều quét lá bàng cho vào túi ni lông sách đi đổ rác. Riêng tôi cũng không lăn tăn gì lắm bởi tôi yêu cái việc dọn lá khô này từ xưa rồi. Mà nhặt lá bàng nhà nó đi đổ rác cũng là sự trả công ngắm cây bàng.

Nhưng mỗi khi đắm đuối nhìn cây bàng đổ lá tôi lại nghĩ đến cây Khộp. Lính ở rừng Tây nguyên nên hay nhớ Khộp. Cái thứ cây chả hoa chả quả cũng chả đi vào thơ văn tình ái chi hết. Ngay người sống ở Pơ lây cu bây giờ cũng có biết nó là cây gì đâu. Họa chăng biết cây Kơ nia. Mà biết cũng là do bài hát của ông nhạc sĩ gì gì ấy. Khổ thân Khộp, có tên có đất có quê hương bản quán hẳn hoi mà yếm thế quá. Bao nhiêu tên đẹp Hải - Hồng - Thanh - Ngoc - Li - Lan… không mang lại mang cái tên Khộp. Chả trách con trẻ nứt mắt ra đã biết cây Diêu bông. Diêu bông là cái gì chả ai hiểu nhưng ai cũng biết.

Khộp mọc thưa, mã xấu chả đẹp đẽ gì. Xù xì và cộc cỡn là khác. Chỉ được cái lá to và mơn mởn xanh vào mùa mưa. Mùa mưa chúng tôi đi dưới rừng Khộp nghe râm ran mưa đổ trên lá. Những phiến lá to như cái bánh đa, có thằng bảo trông như lá sen. Búp non của Khộp thì cảm thấy như ăn được, nó mầm mẫm như cái dải khoai nước. Lính ta bảo có lẽ búp Khộp nấu canh được. Nói vậy nhưng chúng tôi chả ăn bao giờ. Lạ một cái rừng Khộp rất thưa cỏ. Khộp sống cả ở trên vùng kẽ đá, nó tích nước ở vỏ cây. Lấy dao đẽo lên vỏ cây phải sâu đến hơn một cen-ti-met mới vào đến thân gỗ. Cái lớp vỏ ấy thầm thẫm nước và ứa ra cái màu vàng kiểu gạch cua. Mùa khô, lá Khộp cong vênh lên đầy những mụn ghẻ vàng xuộm rồi rơi xuống. Trong đêm chúng tôi nghe lá rơi xuống đánh phạp. Chợt nhớ Trần Đăng Khoa nói lá rơi khe khẽ như là rơi nghiêng. Khộp không rơi nghiêng nó rơi phẹt cái xuống rất thật thà. Ở rừng, mọi thứ rất tự nhiên. Khộp cũng thế, ngay cái tên của nó cũng đã thấy thô ráp thật thà quá rồi. Lá khô của nó dẫm lên vỡ bung nghe lộp khộp, hay thật. Chả nhẽ tên nó tượng thanh từ cái chuyện dẫm lên lá nó?

Lính Tây nguyên thích khộp lắm. Vì rón rén đi bắn hoẵng ở những cánh rừng ngoài phía Lệ Thanh vào mùa khô. Cuối mùa khô hoẵng đi ăn đêm, trời trong đến nỗi đêm cũng cảm thấy màu xanh. Lúc ấy hay được hoẵng lắm. Nhưng lá khô rải đầy trên cỏ kẻ đi săn phải khéo léo đừng dẫm lên lá Khộp. Nó vỡ tung và kêu to như ta đập cái bánh đa vừng sẽ là cú báo động hữu hiệu nhất cho con thú. Đã có lần chúng tôi phát hiện ra thám báo địch vì tiếng lá khộp vỡ rôm rốp ấy.

Mùa khô 1974 ở chân đồi Chư Bồ trên đường 19 chúng tôi chôn những đồng đội hi sinh trong vạt rừng khộp. Xong xuôi rồi chợt nhớ đất mới còn đỏ thế này lính địch dễ phát hiện bèn lấy lá khộp rải kín mộ bạn mình. Chúng nó nằm lặng lẽ dưới thảm lá khộp hiền từ. Những ngôi mộ chết trẻ khoác tấm áo vá bằng lá cây Khộp, những tấm áo vụng về tức tưởi. Trên cao mây trắng lương vương vài sợi, trời mùa khô Tây nguyên thăm thẳm cao.

Khoác súng đi rồi ngoái lại thì thấy những cái lá khộp khô trên mộ bạn mình động đậy. Gió cao nguyên làm lá khô xô xuống cỏ. Chả biết tại gió hay mấy thằng nằm đó có điều gì không an tâm? Có điều gì muốn nhắn gửi?

Mấy chục năm sau tôi vẫn nghĩ chắc có gì đó chúng tôi khiếm khuyết. Có cái gì đó mà bạn tôi còn nức nở dưới nấm mồ đỏ quạch Ba zan. Đồng đội ơi, chúng tôi rồi sẽ trở lại. Gió xào xạc trên rừng Khộp rừng le khô rang. Pháo địch đuổi phía sau. Chúng tôi chạy. Chạy thoát ra khỏi vùng pháo kích. Chạy thoát khỏi cái rừng Khộp vừa chôn bạn mình. Chúng tôi thoát về, sau lưng còn đồng đội vùi mình dưới thảm lá rừng khô lốp đốp, dưới miên man hoa Dã quì vàng đến rợn lòng. Những nấm mồ bạn tôi mấy chục năm vẫn cựa quậy những cánh lá khô của rừng Khộp. Bây giờ những nấm mồ ấy đã về nơi qui tập chưa? và liệu có còn không?

Chả biết lá bàng tím biếc văn thơ kia hằng được người đời yêu quí có hiểu mỗi khi nhìn nó tôi lại nghĩ đến lá Khộp cong vênh nứt nẻ trong rừng Tây nguyên hay không nhỉ?

baoleo
12-06-2013, 09:25 AM
Anh litangu à. Anh viết về ‘Lá’, nhưng lại đem cho người đọc thấy về những cánh rừng khộp Tây Nguyên khô cháy.
Những cánh rừng khộp, cho dù xanh nõn trong mùa mưa, nhưng ‘cũng chẳng ăn được’, và luôn ‘….mã xấu chả đẹp đẽ gì . Xù xì và cộc cỡn là khác…’.
Rừng Tây Nguyên mùa khô, những lá khộp khô ròn, tan thành mảnh nhỏ như ‘…cái bánh đa vừng…’ trong gió chiều, và vỡ vụn trong trái tim của người lính Tây Nguyên, cũng như bạn đọc hôm nay, khi nhớ về ‘…những ngôi mộ chết trẻ khoác tấm áo vá bằng lá cây khộp…’ .
Những chiếc lá khộp khô ròn, thời chiến trường B3 Tây Nguyên xa ngải ấy, hôm nay, vẫn luôn được những người lính và những bạn đọc, tưới cho ướt mềm bởi những giọt lệ biết ơn nhưng kiêu bạc.

Để thoát ra khỏi tâm tư hơi ‘lụy’ của ‘cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi’ , em xin được tếu táo một chút về rừng khộp khô Tây Nguyên.
Đúng như anh litangu đã nhận xét, cây khộp không những xấu mã, mà chẳng còn có được tý công dụng nào.
Khộp không dùng để đóng đồ được, khộp cũng không dùng làm củi được, đun khó cháy và khói lắm, lại rất khó chẻ nhỏ. Bởi thế, hôm nay, rừng khộp vẫn còn rất nhiều, chẳng sợ lâm tặc và anh bầu Đức.
Đi trong rừng khộp Tây Nguyên, dẫu ngay trong mùa mưa xanh non, và cùng đồng hành cùng cô gái đẹp hàng tháng trời trong rừng, nhưng vẫn luôn thấy khô cháy.
Khộp thì khô cháy là đương nhiên.
Còn cô gái đẹp, lại là cháu ruột cưng nhất của Giáo Chủ Kiệt trùm địa phận Hà Nội và đằng Ngoài (Giáo Chủ Kiệt thì hẳn các bác biết là “gộc” thế nào rùi).
Như thế, đi trong rừng khộp, không khô cháy mới là sự lạ.

http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/AnhPhuong-1_zps5ca62020.jpg (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/AnhPhuong-1_zps5ca62020.jpg.html)

Dongdoi_D406
12-06-2013, 10:02 AM
Em chưa được đi qua rừng khộp của bác LTN và rất nhiều bác trên KQH, nhưng cảm nhận thật rõ, thật rõ tiếng lá rơi, tiếng bước chân dẫm chân trên lá khô
Tuổi thơ của em cũng gắn với rừng và suối. Rừng nguyên sinh có, rừng trồng có, rừng tạp có. Vào mùa xuân, mùa măng mọc, cứ sáng sớm từ trên giường chân chạm đất là chạy ra rừng với con dao tông trong tay đi tìm măng vầu mới nhú, mặc dù nhà đã có cả một nương vầu nhưng vẫn thích vào rừng tìm măng vầu về ăn, thuộc làu trong đầu nhưng nơi có bụi vầu, hay có măng vầu, biết thật rõ vầu đắng, vầu ngọt. Thích nhất là tìm được cái măng đang chuẩn bị đội đất nhô lên, chỉ nhìn thấy được một chút cái búp măng vừa kịp ló ra khỏi mặt đất mà nếu không quen đi tìm măng thì không nhìn thấy được.
Vụ măng vầu có lẽ ngắn hơn vụ măng sặt, xa rừng lâu quá rồi chỉ nhớ mang máng vậy thôi, đi tìm măng, muốn đi lấy măng sặt thì lại phải biết lách mình trong rừng sặt mọc chi chít, đổi lại lấy măng sặt không nhất thiết phải tìm măng mới nhú, mà măng sặt mọc lên như những cây chông bên dưới gốc sặt
Cứ bảo ăn măng độc, nhưng đã sống với rừng có lẽ nó là thức ăn chủ yếu của các gia đình khi mùa xuân về, khi nhưng cơn mưa phùn đến

baoleo
12-06-2013, 10:22 AM
@ Anh huuthanh và các bác:
Kinh nghiệm tổng kết hái măng thì nó bẩu thế này ạ:
1/ Măng ngon nhất: là măng đào (nó mới nhú, phải đào mới lấy được)
2/ Măng ngon nhì là măng bẻ (dùng tay, bẻ lấy phần trên được)
3/ Măng ngon tam là măng lay (anh huuthanh đã kể ở trên)
4/ Măng ngon tứ là măng đạp (lúc này nó đã già rồi, dùngtay ko được, phải dùng chân):((

dongdoi_f2
12-06-2013, 10:42 AM
Em chưa được đi qua rừng khộp của bác LTN và rất nhiều bác trên KQH, nhưng cảm nhận thật rõ, thật rõ tiếng lá rơi, tiếng bước chân dẫm chân trên lá khô
Tuổi thơ của em cũng gắn với rừng và suối. Rừng nguyên sinh có, rừng trồng có, rừng tạp có. Vào mùa xuân, mùa măng mọc, cứ sáng sớm từ trên giường chân chạm đất là chạy ra rừng với con dao tông trong tay đi tìm măng vầu mới nhú, mặc dù nhà đã có cả một nương vầu nhưng vẫn thích vào rừng tìm măng vầu về ăn, thuộc làu trong đầu nhưng nơi có bụi vầu, hay có măng vầu, biết thật rõ vầu đắng, vầu ngọt. Thích nhất là tìm được cái măng đang chuẩn bị đội đất nhô lên, chỉ nhìn thấy được một chút cái búp măng vừa kịp ló ra khỏi mặt đất mà nếu không quen đi tìm măng thì không nhìn thấy được.
Vụ măng vầu có lẽ ngắn hơn vụ măng sặt, xa rừng lâu quá rồi chỉ nhớ mang máng vậy thôi, đi tìm măng, muốn đi lấy măng sặt thì lại phải biết lách mình trong rừng sặt mọc chi chít, đổi lại lấy măng sặt không nhất thiết phải tìm măng mới nhú, mà măng sặt mọc lên như những cây chông bên dưới gốc sặt
Cứ bảo ăn măng độc, nhưng đã sống với rừng có lẽ nó là thức ăn chủ yếu của các gia đình khi mùa xuân về, khi nhưng cơn mưa phùn đến

Rừng của bác D406 là rừng nguyên sinh, rừng rậm, có nhiều cây phủ che mát.
Còn rừng khộp là rừng thưa, đầy nắng nóng, đi trong rừng mà không có lấy bóng râm nào, nóng và nắng kinh hòang, mùa khô chân đạp lá khộp giòn tan vỡ vụn, cây khộp khô loại gỗ nhiều dầu cháy âm ỉ nhiều ngày nhiều đêm, hầu như không có thứ gì ăn được, may mắn gặp tổ mối có cây lá giang chua,...

dongdoi_f2
12-06-2013, 10:47 AM
@ Anh huuthanh và các bác:
Kinh nghiệm tổng kết hái măng thì nó bẩu thế này ạ:
1/ Măng ngon nhất: là măng đào (nó mới nhú, phải đào mới lấy được)
2/ Măng ngon nhì là măng bẻ (dùng tay, bẻ lấy phần trên được)
3/ Măng ngon tam là măng lay (anh huuthanh đã kể ở trên)
4/ Măng ngon tứ là măng đạp (lúc này nó đã già rồi, dùngtay ko được, phải dùng chân):((
Vùng Tây nguyên có nhiều măng tre và măng le
Với măng tre, đào lấy được củ măng còn chìm mới là loại ngon, chứ phần nhô lên khỏi đất là loại thường.
Với măng le, cứ nửa chìm nửa nổi là ngon. Giờ chỉ có lão Bom muốn là có, đặc sản măng le ở Gia lai mang xuống bán cho Bình định thôi.

VOTMUOI
12-06-2013, 11:40 AM
Các bác tả rừng khộp nhiều rồi, em góp chút chuyện của em về rừng khộp cháy ạ.
Tuy thời gian trực tiếp trận mạc em chẳng bao nhiêu nhưng cũng qua mấy kỷ niệm khó quên.
Lần ấy vào cái độ đầu tháng 3/79, khẩu đội em đi phối thuộc với K3, cả ngày đội nắng trên những trảng hoang cây bụi mênh mông, bi đông hết nước, mấy "can vàng" của anh nuôi cũng hết nước, cố nhanh lên theo bản đồ thì sẽ gập khe suối rồi.

....................................
Mừng quá! kia rồi, cái dải xanh xanh nổi thành vệt dài, chắc chắn là cái khe nước. Trong bất tận của mầu vàng cháy, khô cằn, nổi lên chút mầu xanh như ốc đảo, bất giác tôi sờ cái bi đông của mình, nó đã nhẹ tênh như không còn tồn tại ở thắt lưng nữa, giọt nước cuối cùng đã bị tôi liếm nốt từ trưa nay.

Tiến tới gần bờ khe, cảnh giác một cách qua loa, chúng tôi háo hức ào tới.
Hỡi ôi! nước nó cạn xạch tự bao giở bao giờ. Bần thần một lúc, mấy thằng bắt đầu tìm tìm bới bới như thầy địa lý, chỗ mầu đất hơi thẫm lại, có hơi ẩm, đào.

Được một hồi, tất cả ngán ngẩm quăng xẻng thất vọng, duy còn cái hố chỗ TỐ đào thấy đất ẩm rõ rệt nhất, thay nhau nhẩy vào khoét, vẫn chỉ là đất ẩm mà thôi.

Mọi người chán nản bỏ, tôi nắm trên tay nắm đất được khoet lên vẫn thấy hơi ẩm ẩm, nhảy xuống đào tiếp, mệt không ra hơi, đầu tôi bắt đầu u đi. Mặc, vô thức và cuống quồng tôi vẫn cố đào đào, khoét khoét.
Vô vọng! Tôi bò lên miệng cái hố đã chừng sâu tới nách, một chân vẫn buông thõng bên trong, tôi nằm xấp cạnh hố, gối đầu vào cán xẻng tôi ngủ thiếp đi.

Tỉnh dậy, nghe chừng đã về đêm, ai đã lật cho tôi gối đầu vào ba lô, sờ thấy cái thân súng mát mát, tôi áp môi vào thấy dễ chịu, từ dưới lòng khe cạn, nhìn khoảng trời riu rít đầy sao, những ngôi sao sáng lấp lánh, ánh sao mầu xanh, mầu xanh của nước, rồi bỗng dưng những ngôi sao hóa thành những giọt nước đá, tuôn sa xuống. Ôi! còn gì cho bằng. Cả bọn nhao nhao lấy tăng, lấy xoong, nồi ra hứng.

Dậy! đi tiếp thôi! tôi nhổm dậy ngơ ngác, tiếng lao xao của mọi người và tiếng xoong nồi là thật, duy chỉ những ngôi sao thành những giọt nước đá là không, tôi nằm mơ.

Gần trưa. đội hình lọt vào cánh rừng khộp, toàn khộp là khộp, những thân, cành chĩa lên trời nhọn hoắt, những tia nắng lấp lóe cầu vồng còn sắc hơn. Rừng cháy.

Mặt đất đã bị một trận lửa quét qua, một lớp tro phủ kín, mọi thân cây đều để lại một lớp than đen, mặt trời ở khắp nơi, những bước nhập nhoạng theo bóng người phía trước, đang lung linh vặn vẹo theo lối chân hằn trên tro than, thành đường, trên nền rừng, lổm nhổm gốc cây bụi cháy, chỉ trực bẻ gập những bàn chân giờ chỉ bước đi theo phản xạ thực vật mà thôi.

Bốp. Hoa cà hoa cải tung ra bẩy sắc cầu vồng.
Không biết thế nào mà tôi đập thẳng mặt vào một cây to lù, thân súng tuột ra rơi xuống trước mặt, tung lên đám bụi tro, tôi ngã ngồi xuống nền rừng lổm nhổm.

Thôi! tôi chẳng muốn đi nữa, tôi muốn ngủ, cái vỏ bên ngoài là cái cơ thể tôi, chẳng cảm thấy gì nữa rồi, tôi chán nó, tôi chỉ muốn ngủ thôi.

Ai đó xốc tôi lên, đặt lại cái thân súng 12/7 nặng 22,5 kg lên vai, và tôi lại bước đi, mọi thứ như muốn vỡ ròn ra, đôi môi nứt ra không còn muốn cử động đến mi mắt đã bắt đầu cứng đờ.
...............................

litangu
12-06-2013, 12:23 PM
Vùng Tây nguyên có nhiều măng tre và măng le
Với măng tre, đào lấy được củ măng còn chìm mới là loại ngon, chứ phần nhô lên khỏi đất là loại thường.
Với măng le, cứ nửa chìm nửa nổi là ngon. Giờ chỉ có lão Bom muốn là có, đặc sản măng le ở Gia lai mang xuống bán cho Bình định thôi.

Măng le và măng giang thực ra mọc từ đất rất ít . Nó mọc ở nách nhánh cây chỉ ngắn và nhú như cái sừng bò . Nó đặc và giòn . Kiếm măng le và măng giang là một cực hình chứ không như liếm măng vầu và măng sặt . Chính vì thế mỗi khi nhìn đồng bào bán mớ măng le mình lại thấy không nỡ mặc cả

Dongdoi_D406
12-06-2013, 05:40 PM
Rừng của bác D406 là rừng nguyên sinh, rừng rậm, có nhiều cây phủ che mát.
Còn rừng khộp là rừng thưa, đầy nắng nóng, đi trong rừng mà không có lấy bóng râm nào, nóng và nắng kinh hòang, mùa khô chân đạp lá khộp giòn tan vỡ vụn, cây khộp khô loại gỗ nhiều dầu cháy âm ỉ nhiều ngày nhiều đêm, hầu như không có thứ gì ăn được, may mắn gặp tổ mối có cây lá giang chua,...
Vâng, rừng nguyên sinh hồi em ở đó xanh rì, mát mẻ, Có cả những thân gỗ to đổ ra đấy cũng không có người lấy về, những hôm rảnh rỗi em lang thang một mình trong rừng, lúc mỏi chân thì ngả lưng trên thân cây đổ mà ngắm rừng, ngắm những con gà rừng bay từ chỗ nọ sang chỗ kia

Hì, một chút hoài niệm về rừng, hy vọng không làm đứt mạch chuyện của bác LTN

litangu
12-06-2013, 07:53 PM
Lúc trường cấp 3 thị xã Yên Bái tách đôi để rời khỏi thị xã tôi mới học lớp 7. Năm sau tôi vào lớp 8 Hạ Hòa. Trường của huyện nhà thì đi xa lắm mà lại phải qua sông Hồng. Hai tháng đầu tôi học ở đó, cái làng có ông Tô Ngọc Vân và những ông cây đa cây đề của VN kháng chiến đã ở. Nhưng sau thấy cấp 3A Yên Bái về Văn Tiến (gần ga Văn Phú) tính ra gần nhà hơn thế là xin chuyển về trường 3A. Tôi thành học sinh của thị xã. Khổ nỗi tôi chỉ đi chân đất không có dép bao giờ nên bạn bè hay chê. Chê tôi cũng kệ. Cứ hết giờ học là tôi đi bẻ măng dóc măng luộc lên đem ra chợ bán lấy tiền mà học. Tôi đào măng vầu ở Lem ở Dóc. Cái địa bàn ấy là ở xã Thanh Hùng và Thịnh Hưng bây giờ. Cánh rừng vầu măng ngọt chạy dài cả chục km nối liền với rừng măng đắng. Trường B ở bên kia sông. Bên ấy có những rừng quế cổ thụ. có kì thi HS giỏi kéo sang bên ấy thấy những lớp học nửa chìm nửa nổi trong rừng quế thơm ngát. Còn bên tôi - cấp 3A - ở trong rừng nứa rừng vầu. Có hôm giờ ra chơi, đốt cái bếp củi bẻ mấy ngọn măng tai xanh nướng ăn rồi lại chạy vào lớp.
D406 chắc không hình dung ra cái lớp học ngày xưa của trường C3 Thị xã đâu. Bây giờ cánh rừng vầu măng ngọt và măng đắng ấy thành phường thành phố của thị xã hết rồi.

Dongdoi_D406
12-06-2013, 08:39 PM
D406 chắc không hình dung ra cái lớp học ngày xưa của trường C3 Thị xã đâu. Bây giờ cánh rừng vầu măng ngọt và măng đắng ấy thành phường thành phố của thị xã hết rồi.

Gia đình em về Yên Bái là cuối năm 1972, lúc đó em mới học cấp 1 thôi bác LTN, nên em cũng không thể biết trường cấp 3A và 3B lại là một trường cấp 3 Yên Bái tách làm đôi, và trường lại còn đi sơ tán nữa. Khi em vào cấp 3 thì ngôi trường 3B đã được xây dựng ba tầng khá khang trang rồi và nhà em lúc đó không còn ở trong đồi nữa mà đã chuyển ra ngoài thị xã gần ga Yên Bái bác ạ.

Vào KQH em lại được biết thêm bác VM.Quang và đặc biệt vợ của bác ấy lại là bạn thân của chị gái em, quả thật là trái đất vẫn chật hẹp :D

Tự xin xóa
12-06-2013, 09:44 PM
Em up bản đồ Mỹ (Năm 1965), khu vực quê bác Lính Tây Nguyên, trong đó có đoạn đường sắt từ ga Ấm Thượng đến ga Đan Thượng.

Link trực tiếp (Nguyên kích cỡ): http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/20130612-DanThuong-HaHoa-Small.jpg


http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/20130612-DanThuong-HaHoa-Small.jpg (http://s74.photobucket.com/user/rongxanhpmu/media/20130612-DanThuong-HaHoa-Small.jpg.html)

Tự xin xóa
12-06-2013, 09:46 PM
Còn đây là bản đồ đoạn từ ga Đan Thượng đến Yên Bái (Do file hơi lớn nên em phải cắt ra thành 2 mảnh để up được lên photobucket)

http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/20130612-DanThuong-HaHoa-YenBai.jpg (http://s74.photobucket.com/user/rongxanhpmu/media/20130612-DanThuong-HaHoa-YenBai.jpg.html)

litangu
12-06-2013, 10:08 PM
Măng lồ ô



“ Đuốc Lồ ô bập bùng lên ánh lửa...”
(lời bài hát - Tiếng chày trên sóc Bom Bo - của Xuân Hồng)

Với lính ta lời hát trên có mấy ai mà không nhớ. Nhưng tôi, chỉ đến khi vào chiến trường Tây nguyên thì mới biết cây lồ ô. Chúng tôi hành quân vào mùa khô đến chiến trường sắp vào mùa mưa và thế là Tây nguyên in ngay vào trong đầu là muỗi rừng sốt rét đất bazan bê bết suốt 6 tháng trời thùm thũm. Khi vào đến Kon tum gặp rừng le. Rừng le cứ khô rang lên dưới nắng tháng ba. Qua Kon tum vào Gia lai vượt qua những cánh rừng khộp là bạt ngàn đồi cỏ tranh và gai xấu hổ. Nghĩ sợ, đóng quân nơi này dấu kín làm sao đây. Nhưng đến lúc về đến kiềng thì ra rừng xanh mướt mát. Lồ ô đấy, thân như nứa, to như vầu mọc cao hơn chục mét. Rừng lồ ô thành từng vạt, từng vùng.

Ở đâu có nó đất mềm hơn, đỏ hơn. Tôi đã từng xuống suối mà ở đó lồ ô che trùm kín, tha hồ khoả thân vùng vẫy. Có lần xuống suối tắm gặp trung đoàn phó 64 Trần Biền cũng đang khoả thân thở phì phò với thác nước. Thác nước được che kín bởi rừng lồ ô thì thào thì thào.

Lồ ô xanh. Lồ ô cứng và thẳng. Lồ ô đứng chen lẫn với Pơ lang trên các lối đi vào cổng làng buôn. Lồ ô phanh thân ra óng vàng trên sàn nhà. Lồ ô đen sậm trên gác bếp đồng bào. Lồ ô mềm mại kết thành gùi hôn chặt trên vai trần gái Tây nguyên...

Với chúng tôi, lồ ô là toàn bộ ngôi nhà nửa chìm nửa nổi của lính. Cột kèo rui mè lồ ô đã đành, mái lợp cũng lại là lồ ô chẻ đôi úp 1 trên 2. Thứ ngói âm dương dài thườn thượt. Bàn ăn cũng bằng lồ ô. Bàn tác chiến, bàn mổ, giường bệnh nhân các viện 211, đội điều trị 17, các viện sư đoàn trung đoàn ở Tây nguyên thậm chí máng nước từ lán này sang lán khác ở bệnh viện cũng là thân lồ ô chẻ đôi.

Tôi đã từng làm giá viết giống như giá súng ngoài bắc bằng ống lồ ô. Làm thơ lên cái ống lồ ô đã cạo hết phần vỏ xanh, rồi xoay tròn mà viết mà đọc. Viết hết một vòng tròn thì tháo ống ra thay vào ống khác như ta thay giấy vậy. Suốt từ Kon tum về Gia Lai xuống Buôn hồ... tôi đều gặp lồ ô.

Mùa mưa 1973. Tháng 8 năm ấy chúng tôi đói lắm. Ngày 1 lạng gạo thôi. Sắn thì khá hơn: được 2 kg. Thức ăn chỉ có mắm kem. Con đường từ Stung treng về Tây nguyên mưa lũ... khiến mỗi người mỗi tháng 2 lạng cá khô. Không thuốc lá không mì chính... Chúng tôi sống bằng hái lượm là chính. Lồ ô thì cứ vô tư xanh và đâm măng. Tuy rằng thân nứa nhưng măng lò ô như măng vầu, mọc thưa và to. Nếu chỉ lấy măng trên mặt đất thì thật là phí phạm. Nhưng đào măng và tìm măng tai còn hồng thì là một nghệ thuật. Đó là những ngọn măng chìm dưới đất, nó đặc và ngọt. Tôi vốn sống ở thượng du nên đào măng vầu, bóc măng nứa là nghề sinh nhai từ bé. Vào Tây nguyên tôi trở lại đúng là thằng bé nhà quê đi đào măng.

Tôi và Khuất Duy Hoan cùng C7 đi kiếm măng. Thật dễ dàng, bởi lồ ô mọc rất suông. Măng nhìn thấy thật dễ. Chán lấy những măng tai xanh (trên mặt đất) tôi chỉ cho Hoan những kẽ đất lùm lùm nổi lên và có vết nứt: mày đào xuống đấy sẽ có măng. Thế là Hoan hăm hở theo chỗ tôi chỉ mà đào những ngọn măng thật đẹp và hồng đỏ. Mang về bóc ra và thái dọc thân măng. Lấy bao ni lông bọc bao gạo màu xanh lét của Trung quốc buộc 4 cái tai bốn góc rồi buộc lên bốn đầu cọc ngoài trời thành một cái vại. Thái măng đổ vào đấy rắc muối lên thành một chum măng chua ăn dần.

Chúng tôi ăn cả tháng mùa mưa những măng là măng. Lúc đầu thì ngon, ăn nhiều thì bụng sôi èo èo. Cứ sắn luộc ăn với măng xào. Cứ ăn miết miết như thế người bủng ra, sốt rét ập đến. Chúng nó bảo tại vì ăn măng nhiều mà sốt. Chả phải. Đói, nên yếu. Yếu thì anh vi trùng quật được thằng người. Thế thôi.

Tôi và Hoan và Tạ Cư người Cẩm Khê vẫn đi lấy măng. Lần này lùi ra phía sau cho yên tâm không sợ thám báo. Khu rừng lồ ô ấy gần C24 quân y. Rậm rạp và lồ ô đan ríu vào nhau. Chiều ấy mưa. Rừng thâm đen, muỗi ù ù. Mà cái giống muỗi khi đứng bóc măng nó ùa về ngay tắp lự. Muỗi bu bám trên tay, bám đầy chân mà đốt. Cứ được một ngọn là lại chạy chỗ khác. Chúng tôi lúi húi trong mưa. Măng được vài ngọn, muỗi đốt vài mũi, người ướt dượt.

Bỗng thằng Hoan kêu lên: chúng mày ơi lại đây. Tôi và Tạ Cư vội nhao lại. Trong chiều âm u rừng lồ ô sũng ướt mưa chúng tôi nhìn thấy những nấm mồ giữa cánh rừng lồ ô. Những nấm mồ đã cũ phủ đầy những lá lồ ô khô như những lưỡi mác hoen rỉ. Nhưng có một ngôi mộ mới. Lá lồ ô chưa kịp rắc dầy. Một cái ống lồ ô chẻ đôi viết bằng sơn trên mặt lõm: Đặng Văn Thống – Xuân Lũng, Lâm Thao, Phú thọ. Thằng Hoan mếu máo. Ôi thằng Thống trường tao đây mày ơi, nó mới chết được hai tuần. Chúng tôi cả ba thằng chả còn bụng dạ nào mà nghĩ đến măng, đứa nào cũng thuỗn ra kệ cho muỗi mùa mưa đang bu trên cổ trên tay vương đầy đất đỏ. Thằng Hoan cúi gạt đám lá khô ra khỏi ngôi mộ thì từ trên cao mấy lá lồ ô lại rơi xuống đáp nhẹ nhàng lên mộ thằng Thống. Chúng tôi về. Măng hôm ấy được ít lắm. Rồi những ngày sau, năm sau hễ cứ ăn măng lồ ô là tôi lại nhớ tới thằng Thống, cái thằng da trắng đá bóng hay, quê nó ở một làng rất nhiều tiến sĩ của đất học Lâm Thao.

Lâu rồi. Bốn mươi năm nay lồ ô Tây nguyên vẫn xanh mướt núi rừng. Có phá rừng, có khai hoang thì lồ ô vẫn cứ sống. Cho tới những ngày tham gia chiến dịch Giải phóng miền nam chúng tôi hành quân qua Gia nghĩa về Lộc Ninh, suốt chiến dịch tôi lại vẫn nhìn thấy những cánh rừng lồ ô trên con đường đuổi giặc. Ở Hà nội tôi vẫn có cái thú ăn măng vầu ngọt, măng vầu đắng vào tháng 2, tháng 3. Ra ngã ba Nguyễn Chí Thanh Huỳnh Thúc Kháng là mua được ngay. Chỉ có măng lồ ô là tít tắp xa. Chả biết ở Pờ lây cu thằng Khuất Duy Hoan kiếm được mà ăn không?

'Lửa bập bùng... cum cụp cum.... đuốc lồ ô bập bùng lên ánh lửa... '
Với người lính Tây nguyên lồ ô cứ xanh mãi.

NTL- LITANGU

lixeta
13-06-2013, 08:26 AM
Đọc thấy mọi người kể về măng tre, măng vầu, măng le, măng giang... mình cứ thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Tại sao L. và không ai viết về lồ ô cả? Bây giờ thì đủ rồi:)>-
Riêng về lồ ô, cho đến giờ tôi vẫn còn nguyên sự ngạc nhiên có từ 40 năm trước: Sao sức sống của chúng mãnh liệt đến vậy? Nào là bom tọa độ, nào là chất rụng lá cây của địch; về phía ta đằng thì bộ đội và đồng bào mình chặt cây làm hầm làm nhà, làm chông, đan gùi...; đằng thì đào măng ăn trừ bữa qua cơn đói... Thế mà nó vẫn sống, vẫn xanh ngút ngát. Thật là kỳ diệu:)>-

litangu
13-06-2013, 09:10 AM
Làm thơ một phát cho đỡ căng dây đàn



Một mình ngồi hát "Sông Lô chiều cuối năm"



Buồn thế, xa một trưa trên bến sông Lô
Nụ hôn màu hoa râm chìm tiếng ve nức nở
Bình Ca đâu? mà hôm nay nắng chói
Em về đâu? Hoa lau bạc một đời?

Nước lặng lờ, ngàn năm dòng Lô vẫn thế
Một ngày em về làm sơn nữ với rừng xanh
Mùa này bưởi non mới nhú
Ngàn xưa xa ngái đất Đoan Hùng

Chỉ có chúng mình thôi với tiếng ve, trưa, và nắng
Ai về bến sông?
Miệt mài rừng xưa tàn thôn trang lửa cháy
Em tôi về cùng dĩ vãng
Rừng phách ơi lá cứ đổ vàng

Bao giờ trở lại phố phường
Lại nhớ chiều nắng đậu vai người không còn trẻ
Ta run run giở mùa hè ủ trong trang sách trẻ nhỏ
Một mùa em làm sơn nữ với người yêu

Biêng biếc rừng, bàng bạc hoa lau
Biêng biếc mắt, hoa râm tóc
Anh và em loang lổ nắng miền sơn cước
Lá vàng đậu trên giọt mắt gió chiều

Sông Lô ơi sông Lô cô liêu
Ta và em đội trưa bến sông tiếng ve bời bời đổ rối
Nhớ em giữa mùa hè mà ta như thấy mùa đông tới
Một mình ngồi hát "Sông Lô chiều cuối năm"

NTL- LITANGU

litangu
13-06-2013, 09:54 PM
Chất độc da cam


Năm ngoái tôi hăm hở ra phường để xin bộ tài liệu về khai xét cấp tiêu chuẩn chất dộc da cam. Uỷ ban phường ngay sau nhà tôi, quen thuộc hàng ngày thế mà vào đến đây cũng thấy oai oai ngại ngại. Căn phòng ghi chữ phòng TBXH (tất nhiên là thiên hạ đều biết TBXH là thương binh xã hội). Có hai cái bàn, quạt máy quay, máy lạnh chạy. Mùa hè có bà nóng quá cứ tạt vào ngồi lúc cho mát ai hỏi nói vài câu vô thưởng vô phạt rồi đi ra. Bên ngoài nóng lắm. Hoa phượng đỏ như lửa treo trên bờ hồ Hoàng Cầu làm cho không khí càng nóng nực thêm lên. Tiếp tôi là hai cô gái trẻ. Một cô béo ị dễ đến 65 kí, mặc cái áo voan tím mỏng quá trời cười phơ phơ đang phát lương hưu. Chợt nghĩ có anh bạn bảo nhìn con gái bây giờ ăn mặc mà phát ốm lên. Ốm là phải, ai bảo cứ nhìn chúng nó mà tưởng tượng cái này cái kia lại chả ốm! Cô bàn bên cạnh xinh hơn, chân dài hơn lông mi cong hơn và ăn mặc thì khỏi chê. Cái áo phông chẽn có dòng chữ: Xin đừng quên em bằng tiếng Anh (ấy là tôi nghe nói thế chứ còn tôi có biết chữ Anh nào đâu).

Ông bạn CCB cùng phường bảo tôi ra gặp cái con bé Hương xinh xinh ấy nhờ nó làm cho. Tôi đoán là cô ta gọi rất thân tình: Hương ơi cho chú xin bộ chất độc da cam. Cô bé nhanh nhảu lẳng đánh xoẹt cho một tập tài liệu không ngẩng lên nhưng nói ngọt như chanh muối: Chú phải có bệnh đấy nhé, phải rơi vào 19 loại bệnh trong đó mà phải có bệnh án cơ. Mang đây cháu làm cho. Rồi ngẩng lên cười. Xinh thật. Mang về, tối ngồi đọc. Vợ hỏi nghỉ hưu rồi còn công văn công veo gì thế? Tôi nhát gừng đâu mà công văn. Vợ bảo chả công văn mà mộc chiện đỏ toe toét thế kia à? Này, tôi nó cho mà nghe đọc để xin cái chất độc da cam mỗi tháng hơn triệu nữa cộng với mấy triệu hưu không tốt quá hay sao. Vợ tôi sáng mắt lên. Tốt quá tốt quá, bằng lương hưu công nhân bậc ba bọn em đấy. Mà anh bị da cam đích thị rồi, đêm gãi cành cạch, da đen nhẻm xin tiêu chuẩn da cam là phải là phải. Tức anh ách. Tôi mà da cam thì... thì cô đã ngoẻo rồi. Vợ lườm đánh xuỵt.

Tối ấy vợ tôi có vẻ vui hơn mọi tối. Chắc nàng nghĩ chỉ nội tháng sau là khoản lương hưu hai vợ chồng sẽ được tăng lên nhờ cái anh Da Cam. Nào phô tô hộ khẩu, nào chứng nhận huy chương, nào xác nhận thời gian chiến trường, xác nhận ở chiến trường nào? Bệnh án ư, giấy vào ra viện ư? Vân vân và vân vân

Phải mất cả tuần chạy ngược xuôi mới xong. Này nhé, mình chiến đấu ở địa bàn Tây nguyên, có giấy xác nhận thời gian ở Sư đoàn 320A do cấp trung đoàn 64 cấp, giấy đăng kí kết hôn hộ khẩu rành rành. Chỉ còn lo có mỗi anh bệnh án. Soi đi soi lại 19 loại bệnh cần phải mắc thì chỉ thấy có mỗi loại bệnh: Rối loạn thần kinh ngoại biên là khả dĩ lo được. Chạy vào viện nơi mà năm 2008 đã nằm hai tháng. Mất chầu bia hơi buổi trưa thì mới sao chụp được cái bệnh án và cũng chữa lại là thần kinh ngoại biên. Mừng húm, về bảo với vợ trưa nay ra Mạnh Hoạch liên hoan một phát. Vợ còn sướng hơn mình, đi ngay. Buổi chiều gặp anh bạn CCB Phú Yên đang đi bộ ngoài hồ. Hắn bảo làm xong da cam chưa? mình bảo chưa, khó ghê ông ạ. Hắn bảo chi ra triệu rưỡi con Hương nó làm cho. Này nhé mỗi tháng được triệu chín, coi như bỏ tháng đầu. Sống 15, 20 năm nữa lãi to quá còn gì? Tớ xong rồi. Nhìn ông bạn CCB Phú Yên mà thèm, hắn cuốc bộ hít thở thong thả ven hồ như thiên thần.

Sáng hôm sau mang bộ hồ sơ mới đến cho cô Hương. Không quên kèm tờ 500 ngàn mới kính coong. Làm giúp chú nhé, xong đến đoạn lên quận chú lại một tờ nữa. Hương cười, lông mi carem nhướn cong lên (Khiếp, xinh thế!) chú yên tâm, cháu làm cho phường mình mấy phát rồi đấy. Cười và quăng tập hồ sơ của mình lên một chồng cao toàn da cam là da cam.

Tháng trời trôi qua, im thin thít. Sáng sáng vẫn gặp cả cô béo chân ngắn và cô Hương chân dài ăn lòng lợn tiết canh ngoài chợ Thái Hà. Nó nhìn mình lướt vèo qua đầu không quen biết. Đôi lần định hỏi Hương ơi cái da cam của chú thế nào nhưng lại nghĩ đang lòng lợn nhảy sang anh Da Cam không lô gích lắm lại thôi.

Hai tháng, ba tháng im như thóc mình không chịu được nữa lên quận Đống Đa hỏi. Phòng Thương Binh quận ở trong ngõ Thổ Quan, gặp mấy tay thanh niên nó hất hàm hỏi Bác cần gì? mình bảo đi hỏi về chất độc da cam. Nó bảo về phường gặp cô Hương. Bỗng nó gọi lại: Này bác có con không? có chứ, hai thằng con trai. Nó lại hỏi: có lớn không? Có chứ nó lớn rồi. Không! tôi hỏi con trai bác nó lớn là có to cao được không? Có chứ nó cao hơn tôi. Ờ thế nó có học hành gì được không? ồ có chứ hai em nó đều tốt nghiệp đại học, một thằng tốt nghiệp Học Viện Cảnh Sát, một thằng tốt nghiệp Học viện Báo chí Tuyên truyền.

Đến đây thì mấy nhà chức trách TBXH quận cười phá lên, thôi bác ơi bác về đi nhà bác thì da cam da quýt nỗi gì. Này nhé cái thứ thần kinh ngoại biên của bác xưa như Diễm rồi, lên giám định là đứt phừn phựt. Giá mà bác không đẻ được thì là ăn chắc triệu chín rồi hoặc con bác nó khùng khèo lồi mắt ngoẹo đầu thì mới được nhé. Thôi về đi anh già ơi. Chúng nó cười ha ha.

Tôi về. Đoạn đường từ Khâm Thiên về nhà xa lắc lơ. Cảnh sát đứng ở Ô chợ Dừa vẫy lại vì cái tội vượt đèn đỏ. May có tay cảnh sát vẫn thường cùng uống bia nhà Hoàn béo đầu ô nhận ra mình nên cho đi.

Nghĩ ngợi. Ồ đúng rồi cái tay CCB Phú Yên nó không có con. Ngoài 60 xin đứa con nuôi mới 5 tuổi. Nó da cam là phải. Đằng này mình đẻ tì tì hai thằng con trai khôn như rận lại chả bị thứ bệnh nào rơi vào 19 bệnh cần phải mắc thì sao mà ra màu da cam được.

Ngậm ngùi nói với vợ hồi đêm khuya. Thôi mình không bị da cam là phúc rồi em ạ, chả tội gì mà đâm đầu vào mấy cái thứ bệnh qui định kia. Vợ bảo ừ phải, chỉ cần bố mày gầy gầy đen đen thế này thôi đừng da cam nữa, em sợ lắm. Dưng mà em tiếc 500 ngàn quá. Tôi thở dài.

Sáng sáng lại vẫn thấy cô béo chân ngắn và cô Hương chân dài lòng lợn tiết canh. Hai đứa nó cứ phây phây, nó tợp chén rượu hệt như mấy cậu tắc xi Mai Linh cà vạt xanh ngồi bên cạnh.

Mới đây nhất tôi gặp Hương chân dài là sáng 27/7 vừa qua. Hương mặc bộ áo dài vàng có kim tuyến lóng lánh ngồi ăn vội tiết canh. Tôi đánh bạo hỏi Hương hôm nay có hội nghị hả cháu. Nó cười tươi, cháu đi hội nghị Thương Binh Liệt sĩ phường chú ạ. Tôi nhìn rõ mấy vệt tiết canh trên mép còn không đỏ bằng cặp môi của nó.

NTL -LITANGU

VOTMUOI
13-06-2013, 10:29 PM
Mục này của bác về lính Tây nguyên mà em là lính Binh đoàn Tây Nguyên nên em xin ké chút chuyện ạ.
Nhân nói về vụ bà thương binh xã hội bộ trưởng nói chuyện chiều nay em cũng nhấp nhổm. Số là, xưa ở chiến trường, trong một trận gần cả khẩu đội 12ly nhếch bọn em "ăn" quả đậm, một hy sinh năm thằng "dính", em bét nhè nhất chỉ sau ông hy sinh, suýt mất pha mà hồi đó chưa "sọ não" mà em nghi bây giờ có biểu hiện (viết ẩu trên trang KQH của mình cơ), ông hy sinh đã đành, năm thằng thương cùng, bốn nhận tiêu chuẩn thương binh "xịn" lâu rùi.

Đầu hồ Hoàng Cầu góc với phố Hoàng Cầu có cái nhà băng hoành tráng nghe đâu của một bác lính 72 xưa cho bọn nhà băng thuê lại bác LTN có quen không?

dongdoi_f2
14-06-2013, 09:08 AM
Mới có bài về Chât độc da cam/dioxin (Agent Orange) trong chiến tranh VN đây bác Litangu
http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/125043/noi-dau-da-cam-o-viet-nam-phai-den-hoi-ket.html

.VMQuang.
14-06-2013, 03:38 PM
Gia đình em về Yên Bái là cuối năm 1972, lúc đó em mới học cấp 1 thôi bác LTN, nên em cũng không thể biết trường cấp 3A và 3B lại là một trường cấp 3 Yên Bái tách làm đôi, và trường lại còn đi sơ tán nữa.:D

Trường cấp IIIA - Thị xã Yên Bái tiền thân là trường cấp III Thị xã Yên Bái được thành lập từ năm học 1957 - 1958, là ngôi trường cấp III đầu tiên của tỉnh nhà. Trong những năm giữa thập kỷ 60, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, thị xã Yên Bái cũng là một mục tiêu quan trọng của không quân Mỹ. Ngày 9/7/1965 trường bị máy bay Mỳ đánh phá. Những quả bom Mỹ đã biến mái trường thành khói lửa ngút trời. Cả một thị xã sầm uất, cửa ngõ của Tây bắc trở thành hoang tàn, chỉ còn lại gạch ngói vỡ và những mảng tường nham nhở. Trường phải chia làm hai đi sơ tán. Một nửa trường về xã Văn Tiến mang tên trường cấp IIIA, rồi sau đó lại chuyển về Tân Thịnh. Một nửa về xã Bảo Hưng mang tên trường cấp IIIB. Hai anh em sinh ra từ một mẹ nay trở thành THPT Nguyễn Huệ (Cấp IIIA) và THPT Lý Thường Kiệt(Cấp IIIB)

litangu
14-06-2013, 08:23 PM
Không chịu bị thương chỉ bị… yêu

Huấn luyện ba tháng rồi bắn mấy bài cả ngày cả đêm bia thằng còm bia di động rồi đánh vào thành phố chúng tôi bắt đầu hành quân dã ngoại để lên rừng Hợp Tiến đánh xe tăng. Trời rét như cắt ruột. Mỗi tiểu đội mang theo nồi xoong quân dụng để tự nấu hệt như sẽ đi Trường sơn. Trước khi đi, B trưởng họp và phổ biến. Đại để anh ấy nói rất nhiều nhưng ghê nhất là cái đoạn: Dọc đường hành quân nếu nghe pháo hiệu nổ mà trúng vào khu vực của mình đừng để mấy cha tiểu đoàn túm được một ai. Túm được nó sẽ kêu người đó bị thương. Bị thương ở B nào B đó san sẻ ba lô khiêng thương là ốm đấy. Chúng tôi ai cũng lo nhỡ mình bị thương.

Nửa đêm về sáng hành quân. Tôi không biết đi thế nào mà có một đêm chui qua cái đường tàu hỏa (đồ rằng đường Lưu Xá – Kép) rồi đi lên mạn Yên Thế để vượt núi sang vùng Võ Nhai. Tiểu đội mang bí xanh, cá khô. Thằng Trung địa chất vác bí xanh nặng nhất. Tôi thì mang mấy cân cá khô. Tôi nhồi cá khô vào ruột tượng đựng gạo. Hai ba ngày hành quân mệt, háo nước chúng nó cắt bí xanh ăn dần. Phải nói ăn bí xanh ngon đấy chứ, nhất là hành quân mất nhiều mồ hôi. Dần dần đến ngày thứ ba thứ tư là Trung hết bí. Nhẹ tênh. Mấy thằng mang gạo cũng vơi đi. Còn mình cá khô vẫn chưa ai đụng đến, nặng chình chịch, khắm lằm lặm. Lúc ấy ước gì chũng nó ăn sống được cả cá khô!

Sáng ngày thứ 7 của cuộc dã ngoại thằng nào cũng hao đi vài kí. Hốc hác mặt mày, run rẩy chân tay. Bắt đầu vượt qua một vùng ruộng trong thung lũng rất lầy. Chúng tôi vừa ló rừng ra nghe nổ đánh bụp quả pháo khói rồi từ trong bụi lao ra một ông tóm lấy tay thằng Trung hét lên: anh bị thương! thằng Trung đeo nhẹ nó giật phăng cái tay anh cán bộ choài người chạy đi mồm hét: tôi không có thương yêu gì hết! chạy nhanh lên. Cả tiểu đội tôi vụt qua, cả B tôi cũng vượt qua. Không thằng nào bị thương. Đằng sau lại nghe pháo khói nổ. Cười hi hí. Thằng C3 bị thương rồi.

Hai hôm sau về Hợp Tiến bắn xe tăng. Cả tiểu đoàn nằm đó 3 ngày. Cũng đào bếp Hoàng Cầm, cũng làm vệ sinh hố mèo cũng khiêng nước về nấu ăn lấy. Đêm đào hầm lót lá nằm. Bao cá khô của tôi vơi được mấy con. Thằng Trung mượn làm gối đầu. Khiếp! khắm thế mà nó vẫn ngủ được. Tôi bảo sao mày không thấy khắm à? Nó bảo ở quê có cá này mà ăn là sướng lắm rồi khắm khú nỗi gì.

Nằm ngửa mặt nhìn lên vòm lá rừng đen kịt trong đêm, sương rơi lóp tóp. Tôi và Trung rít thuốc lá Tam thanh thơm lừng. Bảo nó, may mà mày không bị thương, chứ hôm ấy phải khiêng nhau chắc ỉa ra quần mất. Nó bảo: có bị yêu thì bị chứ tao đ… chịu bị thương, hí hí, mình bảo tao cũng thế! Có bị yêu thì bị chứ đ… chịu bị thương. Chợt nó ngoẹo đầu sang tôi, khắm quá… mùi cá khô, mày mà cho vào ba lô thì đời ra bã. Hôm nào về đi tán gái làng nó thấy quần áo khắm thế này thì… các em gọi mày là Luân khắm. Hai thằng hi hí cả đêm.

Ấy thế mà chỉ một năm sau. Tháng 10/1973 nó ăn một quả phóng lựu bị thủng bụng rách gan, vỡ lá lách ở Tây nguyên. Thế mà nó không chết. Tài thật.

Bốn mươi năm sau tôi mới tìm được nó, bây giờ nhà nó ở bên Cát Lái.

NTL

litangu
15-06-2013, 09:35 AM
Thơ và nghĩ về những người nữ TNXP thời đánh giặc

Nhớ lại đời lính của mình đi qua chiến tranh tôi cứ hay ám ảnh về thân phận người đàn bà nhiều hơn. Chiến tranh in trên gương mặt người đàn bà nặng nề và đau khổ, nó hằn sâu đến cả vào không gian thời gian. Người phụ nữ Việt nam gánh chịu nỗi đau ấy có lẽ nhiều vào loại nhất trên thế giới. Mấy chục năm rồi chiến tranh qua đi mà nó vẫn hiện diện hàng ngày trên gương mặt người Mẹ người Chị người Em và cả người Con chúng ta. Hôm qua ngồi xem Quốc hội Ti vi, thấy chị Chuyền nói về xét chế độ cho TNXP… thấy mừng quá, vui quá. Con đường đánh giặc mình đi qua đã gặp bao nhiêu chị em TNXP. Với người phụ nữ ấy, anh hùng hai lần anh hùng chứ không phải lãng quên nhiều lần lãng quên như ta đã từng thấy.
Bài thơ dưới đây của anh Vương Trọng thật đau thật buồn cho một người nữ TNXP Chống Mĩ trở về một nông trường sau hòa bình.

Với đứa con ngoài giá thú

Đợi về khuya cả phòng lặng ngủ
Mẹ nhẹ nhàng ngồi dây vuốt ve con
Mặc người đời gọi con ngoài giá thú
Con vẫn trong tình mẹ vuông tròn

Mẹ làm mẹ mà chưa ừng làm vợ
Vẫn suất cơm tập thể quá khiêm nhường
Nửa làm máu nửa chia ra làm sữa
Hạnh phúc nào bằng san sẻ yêu thương?

Thôi nhắc chi những năm dài trống trải
Bao vầng trăng vô nghĩa rụng qua đầu
Tóc hoàng hôn thưa dần theo lược chải
Pháo cưới người như đốt để trêu nhau

Mẹ nhớ lại ngày con vừa trứng nước
Người ấy đi như chốn chạy nợ nần
Thèm trái chua mẹ trùm chăn ăn lén
Sợ mắt người như sợ mũi kim châm

Sinh ra con mẹ vẫn nằm giường một
Có khác chăng là kê lại góc phòng
Ngày nghỉ đẻ phải trừ vào ngày phép
Vuông vải màn làm tã giặt rồi hong

Vài tháng tuổi con đã quen kẻng thức
Mẹ đi làm con lên địu đi theo
Mẹ đào hố trồng cây theo định mức
Lưng mẹ gầy con ngủ giấc cheo leo

Ngày lưng mẹ đêm nằm trên giường mẹ
Mình mẹ lo khi trái gió trở trời
Ngoài giá thú sao ngoài lòng thương cảm
Để người đời ghét bỏ mẹ con tôi

Vương Trọng

motthoang_hn02
15-06-2013, 12:47 PM
Thơ và nghĩ về những người nữ TNXP thời đánh giặc

Nhớ lại đời lính của mình đi qua chiến tranh tôi cứ hay ám ảnh về thân phận người đàn bà nhiều hơn. Chiến tranh in trên gương mặt người đàn bà nặng nề và đau khổ, nó hằn sâu đến cả vào không gian thời gian. Người phụ nữ Việt nam gánh chịu nỗi đau ấy có lẽ nhiều vào loại nhất trên thế giới. Mấy chục năm rồi chiến tranh qua đi mà nó vẫn hiện diện hàng ngày trên gương mặt người Mẹ người Chị người Em và cả người Con chúng ta. Hôm qua ngồi xem Quốc hội Ti vi, thấy chị Chuyền nói về xét chế độ cho TNXP… thấy mừng quá, vui quá. Con đường đánh giặc mình đi qua đã gặp bao nhiêu chị em TNXP. Với người phụ nữ ấy , anh hùng hai lần anh hùng chứ không phải lãng quên nhiều lần lãng quên như ta đã từng thấy.

Chú ạ!
Hôm qua mẹ cháu nghe tin này cũng cảm thấy rất mừng cho đồng đội, vì bà Chuyền có nói 1 câu mà cháu rất nhớ:"Bộ sẽ cố gắng giải quyết chế độ cho các cựu TNXP, kể cả những người bị thất lạc giấy tờ"
Việc giải quyết chế độ cho TNXP hiện nay còn rất nhiều bấp cập, có thể là ở trên chỉ đạo xuống nhưng ở dưới "chưa thông".
Mẹ cháu là chủ tịch Hội cựu TNXP của phường, mọi chế độ của hội viên mẹ cháu lo lắng, giải quyết rất tốt được báo cáo thành tích cấp Quận - Thành phố, được đại diện cho 400 cựu nữ TNXP trong Quận lên nhận phần thưởng ngày 8/3, được truyền hình HP quay phóng sự về tấm gương phụ nữ Lê Chân tiêu biểu "Giỏi việc nước, đảm việc nhà"
Đó cũng là niềm vui của người làm chủ tịch Hội 6 năm không có phụ cấp, cháu nghĩ mẹ cháu sẽ còn nhiệt tình với công tác Hội đến cuối đời. Hôm trước mẹ cháu đi họp ở phường - Cuộc họp lãnh đạo phường với trưởng các ban ngành, bí thư - tổ trưởng dân phố với mục đích lấy ý kiến của dân.
Mẹ cháu cũng phản ánh vấn đề chế độ cho các cựu TNXP, các cựu TNXP rất thiệt thòi vì chưa được hưởng chế độ, lại không có lương hưu, chưa kể cuộc sống còn nhiều khó khăn như hội viên của mẹ cháu, 2 vợ chồng TNXP không có nhà ở phải đi thuê, nói dại chứ giờ 1 trong 2 mà mất thì không có chỗ nào mà đặt ban thờ (nếu chủ nhà đòi lại nhà). Khổ quá!
Rồi có bác 80 tuổi rồi, vợ bị liệt, con 2 thằng thì 1 thằng làm công an nhưng phá, bị ra khỏi ngành, nay đồi tiền bố mẹ, mai dọa đánh đập. 1 thằng thì nghiện chết rồi. Đến khi mẹ cháu lo thủ tục, giải quyết cho bác ấy cái bảo hiểm khám chữa bệnh miễn phí, bác ấy mừng lắm, đi đâu cũng khoe: Tôi 80 tuổi rồi, giờ mới có thẻ bảo hiểm đi khám ra quá nhiều bệnh! Rồi có lúc bác ấy lẩn thẩn, cứ ra nhà cháu bảo mẹ cháu phải đọc điếu văn cho nghe, sợ nếu lúc chết không được nghe. Nghĩ sao mà thấy thương quá!

Trong cuộc họp, vừa phát biểu mẹ cháu vừa xúc động vì thương đồng đội mà sức mình thì cũng có hạn thôi.
Đồng đội ơi, xin hãy cứ chờ! Chờ đến khi nào nữa đây? Có người mất 3 năm rồi vẫn chưa được thanh toán tiền mai táng phí. Thiệt tình......
Nhiều lúc thấy mẹ cháu lo lắng đến mất ăn mất ngủ để giải quyết chế độ cho đồng đội, đạp xe đi về chẳng quản nắng mưa mà cháu thấy thương quá, thương mẹ cháu bao nhiêu thì lại thương các bác/cô/chú TNXP đến giờ vẫn chưa được hưởng chế độ bấy nhiêu.
Mà thôi, cháu thấy buồn lắm, không muốn nhắc nhiều về vấn đề này nữa.....
Vài lời chia sẻ góp vào topic của chú nhân chuyện chú nhắc về TNXP, có gì không phải chú bỏ qua cho cháu nhé :D
Bà lão 65 tuổi nhà cháu đây, hình chụp năm 2004, bây giờ thì già hơn nhiều rồi ạ hì hì

https://lh3.googleusercontent.com/-72AhVSuHd8Q/UbwBoG1me2I/AAAAAAAAIxs/74J61WBRvcw/khucquanhanh.vn-untitled-1.jpg

motthoang_hn02
15-06-2013, 01:05 PM
Cháu cũng có thơ nhé :D

Gửi em, cô thanh niên xung phong
(Phạm Tiến Duật)

Có lẽ nào anh lại mê em
Một cô gái không nhìn rõ mặt
Ðại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất

Người tinh nghịch là anh dễ thân
Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn"
Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón

Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.

Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối

Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đọan đường này các em làm đâu
Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.

Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ
Ðất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim

Những đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
Rực rỡ mặt đất bình minh
Hấp hối chân trời pháo sáng
Ðường trong tim anh in những dấu chân.

Chiếc võng bạc trên đường hành quân
Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
Lại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?

Bụi mù trời mùa hanh
Nước trắng khe mùa lũ
Ðêm rộng dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi, đường vẫn liền đường

Cạnh giếng nước có bom từ trường
En không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiểu bom nổ chậm
Ðêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em, thương em biết mấy...

Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
Sẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có độ dài hơn cả độ dài
Của đường xá đời xưa để lại
Sẽ ra về bao nhiêu cô gái
Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ðể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Trước những công trình ngoằn ngòeo trên mặt đất.

Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong.

litangu
15-06-2013, 01:23 PM
Gửi một thoáng.

Trên đường chú hành quân vào chiến trường, ấn tượng khó quên đến quắt cả đời là nỗi khổ của TNXP. Cũng chường mặt nơi hỏa tuyến như các chú mà ngày ấy họ chả có tiêu chuẩn cấp phát như bộ đội. Họ ăn khổ hơn, họ làm việc bất kì giờ giấc, trang phục cấp thấp hơn, khi họ hi sinh mà những cái tên cũng khó thành liệt sĩ (!). Rồi mấy chục năm sau người đời mới nhớ tới. Một thời cái tên TNXP ẩn chìm vào đằng sau bao nhiêu thứ danh hiệu của sự chiến thắng. Các chú là những người lính thì thấy rõ nhất, nhiều khi tự nghĩ mình làm sao sánh được với những người phụ nữ đã từng là TNXP đánh Mĩ Bởi sự hi sinh chịu đựng, bởi sự đánh mất tuổi xuân con gái. Mà người đàn bà không có tuổi xuân thì nó đau đớn biết chừng nào? Chú gửi cháu bài viết này:

Những cọc tiêu ngủ quên



Chúng tôi gà gật ngả nghiêng, còn xe vẫn nhấp nhổm rì rì trong đêm. Lúc nãy còn nhập nhòe mấy tàn pháo sáng máy bay địch thả, bây giờ thì đêm yên tĩnh hơn, qua đèo Ngang lính ngủ chập chờn. Tôi vạch lá ngụy trang nhòm ra đường. Chỉ thấy vùn vụt lóang nhoáng những gốc cây đổ những ruộng bãi loe loét không một đốm lửa hay ánh đèn. Đêm khuya ở hỏa tuyến cứ như người nằm thao thức lặng yên mà lúc nào cũng lo lắng. Cả đoàn xe gầm gừ bỗng chựng lại. Trung đội à lên. Đến rồi hả? rồi lại lặng im. Cả ngày hành quân hết bộ rồi lại xe hết pháo biển lại máy bay người mỏi cứ như giần. Đêm cuối năm lạnh. Ở cái vùng tuyến lửa này mùa đông như nấp sau chiến tranh. Chiến tranh chùm lên con người cái tấm áo mưa bức bối lúc nào cũng nhơm nhớp mồ hôi và nước mắt lẫn máu. Xóm xa chó sủa óc óc. Mịt mù đêm bỗng nghe tiếng chó sủa thấy ấm lòng, thấy sự sống yên bình lạ. Xe lại chạy gầm gừ. Thì ra đoạn đường bom đánh sửa chưa xong có người gác yêu cầu xe đi thật chậm. Người gác là một đàn ông TNXP. Tay cầm cái đèn pin nhưng chỉ thấy khua khua mà không bật đèn. Chúng tôi tỉnh hẳn dậy vạch lá nhìn ra đường cố căng mắt trong đêm để như đề phòng xe tụt xuống hố. Ngồi cạnh tôi là cậu Hoa thợ lái xe ở mỏ Khánh hòa thì thào: mình đạp phanh cứng cả bàn chân ông ạ. Cả xe cười hinh hích. Bàn chân Hoa đạp dúi vào đít thằng ngồi trước.

Xe lắc lư bò. Anh TNXP bảo cứ yên trí theo cọc tiêu trắng mà đi. Chúng tôi nhìn trong đêm hai bên xe là những vệt trắng đứt đoạn, những vệt trắng song song nối dài. Xe chựng lại, lái xe ngó ra bật vội đèn pin rồi tắt ngay. Ồ! gần như chúng tôi bật lên một lúc. Những người con gái nằm ngủ gối đầu lên cuốc xẻng, mặt đậy áo mưa và những tấm khăn đen. Chân quần họ xắn lên tận đùi. Những bắp chân con gái trắng lấp lóa dưới sương đêm. Thì ra những người nữ TNXP tranh thủ nằm ngủ hai mép đường và sắn quần lấy cặp đùi mình duối dọc mép đường làm cọc tiêu.
Từ lúc ấy chúng tôi thao thức. Những cọc tiêu nằm ám ảnh mãi. Những cọc tiêu đang ngủ. Tôi nhớ đêm ấy qua Quảng Trạch Quảng Bình.

NTL

BinhBet
15-06-2013, 01:56 PM
chuyển bài về chỗ khác :
http://khucquanhanh.vn/diendan/threads/976-TO-QUOC-ME-HIEN-va-CAC-ANH.html#post39944

motthoang_hn02
15-06-2013, 11:59 PM
Gửi một thoáng.

Trên đường chú hành quân vào chiến trường, ấn tượng khó quên đến quắt cả đời là nỗi khổ của TNXP. Cũng chường mặt nơi hỏa tuyến như các chú mà ngày ấy họ chả có tiêu chuẩn cấp phát như bộ đội. Họ ăn khổ hơn, họ làm việc bất kì giờ giấc, trang phục cấp thấp hơn, khi họ hi sinh mà những cái tên cũng khó thành liệt sĩ (!). Rồi mấy chục năm sau người đời mới nhớ tới. Một thời cái tên TNXP ẩn chìm vào đằng sau bao nhiêu thứ danh hiệu của sự chiến thắng. Các chú là những người lính thì thấy rõ nhất, nhiều khi tự nghĩ mình làm sao sánh được với những người phụ nữ đã từng là TNXP đánh Mĩ Bởi sự hi sinh chịu đựng, bởi sự đánh mất tuổi xuân con gái. Mà người đàn bà không có tuổi xuân thì nó đau đớn biết chừng nào?
Chú à!
Trưa nay cháu viết bài trong topic của chú xong khoảng hơn 3 tiếng sau thì cháu có điện thoại của 1 anh bên truyền hình Quân đội thông báo sẽ xuống HP về nhà cháu quay 1 phóng sự ngắn về mẹ cháu nhân kỷ niệm 62 năm ngày truyền thống lực lượng TNXP VN (15/07) sắp tới, tự nhiên cuối tuần lại có thêm niềm vui nho nhỏ chú ạ!
Cháu sinh ra trong thời bình nên ký ức về người lính và chiến tranh, về các cựu TNXP cháu không được trải qua và biết nhiều. Nhưng với 1 bản tính yêu thích và tìm hiểu nên cháu cũng biết đôi điều cảm nhận.
Ngày cháu còn đi làm tình nguyện, về Vũ Thư - Thái Bình trao quà cho các nạn nhân chất độc da cam, cháu gặp 1 hoàn cảnh của cô ngày xưa là TNXP, chồng là thương binh và mất sớm, để lại 2 đứa con nhiểm chất độc da cam cứ nằm trong cũi bằng gỗ. Khi cháu trò chuyện tâm sự cũng kể mẹ cháu là TNXP trong kháng chiến chống Mỹ, rồi bỗng dưng cô ấy ôm cháu và khóc òa lên, rồi cô ấy nói:" Cô khổ quá cháu ơi, 17 năm rồi không được nghe con gọi 1 tiếng mẹ ơi"
Rồi cái đợt cháu đi tặng quà và thăm bệnh viện tâm thần ở Đà Nẵng, nơi có những người lính, cựu TNXP do sức ép bom đạn nên thần kinh không ổn định. Các cô cựu TNXP trẻ trung, xinh đẹp ngày nào còn phơi phới tuổi đôi mươi ở chiến trường vậy mà khi đứng trước mặt cháu là những người đàn bà ra ngẩn vào ngơ, kéo cháu vào 1 phòng xong hát cho cháu nghe (toàn ca khúc cách mạng) rồi ngồi trên giường vắt vẻo, xõa tóc ra soi gương. Có cô thấy trời mưa, sấm sét thì chui vào gầm giường, rồi hét toáng lên: "Nó đến đấy, nó đến trạm đấy các đồng chí ơi!"
Cháu xúc động lắm, chắc các bạn trẻ nếu không đi cùng chuyến tình nguyện ấy, sẽ khó hình dung ra được các nữ TNXP ngày xưa, bây giờ như thế nào. Thật là xót xa và thương cảm.
Cháu thấy cuộc đời mình tuy cũng hơi thiệt thòi, mẹ sinh ra không có sữa, nuôi bộ hoàn toàn và 3 năm mới biết đi, rồi bố cháu mất sớm nên 2 mẹ con vất vả, luôn phải tự lập chứ cũng chẳng nhờ được ai cả. Mẹ cháu là vợ 2 của bố, chồng mất sớm nên phải gánh vác giang sơn nhà chồng với gần chục người con riêng, khi đồng đội mẹ cháu nghe tin này còn phát hoảng lên, giờ thì họ phục mẹ cháu lắm hì hì
Cháu thấy mẹ con cháu còn may mắn rất nhiều so với những hoàn cảnh khác, chính vì thế cháu luôn động viên và tạo điều kiện để mẹ cháu hết lòng vì đồng đội. Ở cạnh nhà cháu có bác cùng quê, ngày xưa đi TNXP với mẹ cháu. Bây giờ không có chồng con gì, lại có mẹ già ở quê nên cứ về suốt, thỉnh thoảng ra lĩnh lương xong lại về luôn. Cháu thấy những người nào độc thân, về cuối đời rất cô quạnh, đặc biệt là nữ cựu TNXP vì cả tuổi xuân đã để lại chiến trường, giờ về già lẽ ra được vui vầy bên con cháu thế mà....Thật là thiệt thòi và tội quá!

"...Cô gái miền quê ra đi cứu nước. Mái tóc em xanh tuổi trăng tròn. Bàn tay em phá đá mở đường, gian khó phải lùi nhường em tiến bước.
Đêm đã về khuya sương rơi ướt áo, tiếng hát em vẫn vọng núi rừng, mặc bom rơi pháo sáng mịt mùng, em vẫn mở đường để xe đi tới. Yêu biết bao cô em gái vui ngày đêm mở đường, rừng trăm hoa thắm nở chẳng có hoa nào bằng...."

2 bông hoa ngày ấy của tuyến lửa khu 4 năm 1965.

https://lh4.googleusercontent.com/-nZzh9Wr7BSg/Ubycx4SQJDI/AAAAAAAAIyM/lT0b4nU_I8A/khucquanhanh.vn-IMG_0196.jpg

litangu
16-06-2013, 12:53 AM
Cám ơn Motthoang và chúc mừng mẹ cháu. Cho chú gửi lời thế này tới mẹ, rằng ai quên thì quên chứ những người lính thời CM thì không bao giờ quên TNXP và trân trọng như những anh hùng. Nhân cháu viết bài trên đây chú cũng gửi bài viết này lên topic.

Chuyện Trường sơn
(Ba lần gặp con gái)

Tôi không biết đặt tên chuyện này thế nào cho phải, nên cứ gọi là chuyện Trường sơn vậy. Đọc sách báo, tiểu thuyết về một thời đánh giặc chả thấy mấy ai viết về cái cảm giác sung sướng của người lính trên Trường sơn khi bất ngờ được gặp một người con gái ra sao. Cái sự có mặt một người phụ nữ trong đạn bom nó động viên mãnh liệt cho người con trai cầm súng thế nào? Hình ảnh người con gái đứng trước người ra trận thiêng liêng làm sao? Nỗi mong mỏi của người lính hành quân biền biệt ra chiến trường chỉ một lần thôi được gặp một dáng yêu kiều khác giới thì chỉ có người lính mới hiểu. Suốt hơn ba tháng leo Trường sơn tôi nhớ là mình đã ba lần được gặp con gái. Ba lần ấy chỉ có hai lần nhìn thấy mặt còn một lần không. Thế mà cảm giác xúc động xốn xang trong cả ba lần ấy đều rạo rực như nhau. Bây giờ già rồi viết lại mà vẫn nguyên xúc động, ngày ấy đã qua hơn bốn mươi năm.

Lần thứ nhất

Chúng tôi rời Cự Nẫm được 4 ngày. Bốn ngày ấy đi trong mưa. Mưa Trường sơn cứ ri rỉ không ngớt. Ba lô nằng trịch càng chĩu xuống vì mệt mỏi. Quần áo ẩm xì xì. Đoàn quân trùm áo mưa cúi rạp người lên dốc. Đứng trên đỉnh núi nhìn quay lại trong cái dáng trời thum thủm màu mắm tôm đội hình trông như một đàn gà tây. Ngày thứ tư đi từ 5 giờ sáng tới 5 giờ chiều chưa được nghỉ vì không có chỗ trú quân. Uể oải, lo lắng. Thỉnh thoảng tôi ngửa mặt liếm những giọt nước mưa chảy tràn vào khóe miệng. Trời gần tối, đang lên dốc cán bộ bảo sắp tới chỗ nghỉ. Ai cũng thấy khỏe hẳn lên. Cả hàng quân râm ran trò chuyện. Bỗng có tiếng cười lanh lảnh ngay trên đầu dốc. Trong mưa rì rầm tiếng cười trong veo hệt như tiếng cười trên cánh đồng làng mùa gặt cong eo những thôn nữ quê tôi. Chúng tôi ngước lên. Một cô gái. Một thím bộ đội hay TNXP không rõ vì thấy cô ấy không mang quân phục ôm một chú khỉ con ngồi vẫy vẫy đoàn quân.

- Em ơi…
- Thím bộ đội ơi… thím xung phong ơi
- Đồng chí ơi… đồng chí gì ấy... ơi

Tiếng gọi ùa vào nhau, tiếng cười ríu vào nhau. Bỗng chốc cái mệt đi đâu hết. Anh nào cũng cố gọi to hơn. Cô gái ngồi dưới mưa nhìn đoàn quân và chỉ cười, chỉ vẫy, vẫy rối rít cười líu ríu. Cô ướt run lên mà vẫn long lanh mắt. Trời xâm xẩm, chỉ có mắt cô và nụ cười thì vẫn sáng. Chúng tôi rẽ vào một khu rừng tan hoang bom B52 mới đánh. Đó là một khu vực kho hậu cần lớn của quân ta. Vương vãi đây đó những gạo mốc, nhà đổ, súng đạn văng đầy rừng, nồi niêu méo mó và áo quần phụ nữ lẫn cả quân phục mắc lủng lẳng trên cành cây.

Đêm ấy chúng tôi ngủ lại đây. Chập chờn. Phấp phỏng. Mệt nhọc. Chính trị viên bảo, đơn vị trông kho có một tiểu đội nữ mới hi sinh mất ba người. Chúng tôi nặng nề qua một đêm râm rỉ mưa, tâm hồn người lính chưa giáp trận lung mung khó tả. Sáng hôm sau hành quân sớm. Ở chỗ ngã ba rẽ ra đường chính lại có ba nữ bộ đội ngồi chờ sẵn. Ba khuôn mặt thẫn thờ nhìn chúng tôi đi về phía trước. Qua chỗ các em ngồi chúng tôi ai cũng xốc lại ba lô gọn gang, vươn thẳng người lên chào các em. Có anh còn bỏ mũ ra vẫy lại. Những người con gái ngồi đấy với nụ cười méo mó để chia tay. Suốt cuộc hành quân hôm ấy chúng tôi cứ nói chuyện với nhau về họ, về nước da xanh tái xám ngoét của họ mà chúng tôi chưa từng được nhìn thấy nước da ấy khi còn ở miền bắc.


Lần thứ hai

Hơn một tháng sau. Chúng tôi đến trạm bốn mấy (không nhớ rõ). Ở trạm này rẽ trái là đi về mạn Quảng nam. Gần đó có viện 47. Chiều rồi, nhưng nắng còn vương vãi trên tán lá rừng. Có tiếng hú từ phía trước truyền lại. Tiếng hú lan đến chỗ tôi. Tôi cũng hú, rồi người đằng sau hú tiếp. Hú… Hú. Cứ u... u... u mãi. Ai cũng hiểu phía trước có con gái. Đội hình chộn rộn, bước chân đang trĩu xuống bỗng thẳng lên, súng nghếch nòng hiên ngang chứ không chúc xuống nữa. Mấy chú mang nồi niêu lấy lá rừng phủ đè lên cái nồi đen nhẻm. Chả ai bảo ai, quân dung bỗng nhiên tươi tỉnh. Phải hai mươi phút sau chúng tôi mới gặp đoàn người đi ngược lại. Chưng hửng vì chỉ thấy có hai người đàn ông mang đồ dân sự B2 và một cái cáng. Nhưng kìa trên cáng là một cô gái trẻ, áo bà ba đen, tóc thật đen và mượt buông chùm ra mép võng. Hai giao liên khiêng võng đi thật nhẹ nhàng. Khuôn mặt người con gái đẹp làm sao. Cô cười tươi như hoa. Chào eng… chào các eng…

Phía trước, tôi thấy chúng nó dừng lại bám vào mép võng, chúng nó kêu... trời ơi… trời ơi. Tôi tiến lên, cái võng rúm như chỉ còn một nửa. Khuôn mặt như trăng rằm. Hai giao liên chừng cũng vui, chừng chừng lại. Cô gái lại cất tiếng…Các eng đi nờ.

Đến lượt tôi… Trời ơi. Bây giờ thì tôi nhìn rõ, người con gái cụt cả hai tay. Hai chân thì chỉ còn đến gối. Đoàn quân thì vẫn đi tay tôi vuốt dần dọc theo mép võng của cô không muốn rời và tay đồng đội tôi phía sau lại đang níu lấy. Hoàng hôn tắt trên đại ngàn Trường sơn. Cả đêm ấy tự nhiên bãi khách không ồn ào, không thấy hò hét ỏm tỏi. Đêm, chính trị viên nhận giao ban ở trạm về nói chuyện đấy là một dũng sĩ ở Sài Gòn Gia Định đang trên đường ra Bắc chữa chạy sau khi thoát khỏi nhà tù của địch. Ngày hôm sau, đội hình hành quân lặng lẽ hơn nhưng đi nhanh và gọn. Cán bộ hành quân thấy an tâm lạ thường, chẳng cần động viên tư tưởng. Tôi không biết cô dũng sĩ trẻ măng ấy liệu ra bắc có được lắp đôi tay giả để mà tự thay quần áo. Để tự chải mớ tóc dày đen như suối kia, để tự vuốt ve cái dáng eo thon trời cho ấy không? Đề tài ấy bọn tôi tranh luận mãi dọc Trường sơn.


Lần thứ ba.

Chúng tôi đã đi được gần trăm ngày rồi. Đội hình đã vơi đi mươi người, mặt mũi đã hốc hác, tái mét vì sốt rét vì đói, vì đạn bom. Gần ba tháng chúng tôi xa miền bắc, xa quê hương và bao kỉ niệm thời thanh xuân yên ả. Thế mà chúng tôi mới gặp có hai lần hai người đàn bà. Những đêm treo võng giữa rừng giấc ngủ của những người trai trẻ lại rưng rưng nhớ mẹ, nhớ quê, nhớ trường nhớ lớp. Chúng tôi đã từng kể cho nhau nghe về chuyện bạn gái khi còn trên đất bắc. Những câu chuyện về lính có người yêu và tình cảm của một cô gái nào đó với đồng đội mình cũng đều quí giá trân trọng biết bao đều lan sang đồng đội. Rất nhiều người lính chưa từng có người yêu, chưa từng một lần có cô gái nào đưa tiễn, nhưng không thể nói họ chưa từng có một lần xao xuyến về một người con gái. Vì thế, ngay cả những người chưa có người yêu cũng phải bịa ra một chuyện về bạn gái. Chuyện người yêu thật, chuyện người yêu bịa cứ trong veo đan quyện với nhau và những câu chuyện tình yêu ấy làm chỗ dựa cho tinh thần người chiến sĩ ra trận. Có người yêu khi ra trận là thương hiệu cho lính trẻ chúng tôi. Sau này khi đã hết chiến tranh nghĩ lại thấy thương những đồng đội mới mười bẩy mười tám ở quê ra đi chưa hề có người yêu cứ há hốc mồm nghe cánh lính Sinh viên kể chuyện gái rồi cười bẽn lẽn.

Chúng tôi đã vào tới gần bờ sông Xê Công để rẽ đi Tây Nguyên. Lúc ấy là tháng 3. Mùa khô ở cao nguyên Át tô pơ này đẹp lắm. Rừng khộp trút lá như một rừng bánh đa vừng. Suối cạn mà trong veo. Trạm nào cũng vàng ươm lá rừng và cuồn cuộn tiếng ve. Trạm 78 đông như hội. Quân vào nườm nượp nên bãi khách ở cách xa trạm dễ đến một tiếng hành quân. Từ xa chúng tôi nhìn lên lưng đồi có mấy căn nhà nửa chìm nửa nổi. Dưới tán cây cổ thụ có phơi… mấy bộ áo ngực của con gái. Ô… Ô... u... hú hú. Cả đoàn quân hú dài.

Đằng sau cũng lại hú. Lại có con gái rồi. Nhưng đội hình đi khuất rồi mà niềm mong mỏi chả thấy. Chúng tôi không thấy một bóng con gái nào chỉ thấy mấy cái cooc xê ấy thế mà bỗng dưng những anh nói tục cũng dịu dàng hẳn lại. Mười tiếng leo dốc mà sao như ai cũng đang sung sức. Chúng tôi đi mãi mới dừng lại trú quân. Anh nào cũng sang sửa áo quần như sắp gặp con gái đến nơi mặc dù biết mình đi đã rất xa chỗ mấy cái cooc xê ấy. Tối ấy anh nào cũng nhanh nhẹn, ân cần lịch sự với nhau. Lại còn huýt sáo, hát những câu hát tình ca không đầu không cuối. Cán bộ bảo, chúng ta ngày mai sẽ hành quân cùng một đoàn nữ cán bộ Tây nguyên vừa học xong Lục quân trở lại chiến trường. Đêm ấy là một đêm tuyệt đẹp. Nằm trên võng ngước nhìn bầu trời mùa khô sâu thăm thẳm. Rất gần đây thôi chỉ vài cây số là những tấm thân con gái dịu mềm thơm ngát hơn cả hoa rừng. Tôi cứ thầm tiếc giá mà binh trạm cho tiểu đoàn nghỉ ngay ở binh trạm bộ thì tuyệt biết bao. Rồi giấc ngủ đến thật nhẹ nhàng.

Sau này trong mấy năm chiến đấu ở mặt trận. Mỗi khi bước vào chiến dịch là cán bộ chính trị phải xuống tận từng đại đội để làm công tác động viên tư tưởng. Nhưng cũng có một lần trước khi đánh Lệ Ngọc ở Gia Lai nghe tin mấy cô văn công khu Năm xuống tới trung đoàn bộ. Ấy thế mà dưới đơn vị xốn xang hẳn lên, tinh thần phấn chấn rạo rực. Khí thế xuất kích với quyết tâm rất cao. Nhiều người viết sẵn lá thư để trước khi vào trận gửi cho mấy cô văn công. Ở đời, không có gì động viên đàn ông bằng đàn bà. Lúc ấy chỉ nghĩ vậy chứ làm sao dám nói.

Suốt dọc đường Trường sơn, ba lần gặp đàn bà với tôi là kỉ niệm đặc biệt. Kỉ niệm xúc động như những gì xúc động lớn lao nhất của cuộc chiến tranh mà tôi từng đi qua.

LITANGU

litangu
16-06-2013, 10:24 PM
Hạ sỹ


Ông Bường chết đúng vào hôm tôi từ Hà Nội về quê. Cả xóm nhốn nháo. Nào có ốm lâu la gì đâu. Đùng cái là đi. Ông Bường khỏe vào loại nhất làng tôi từ xưa. Mẹ tôi bảo ông ấy cảm có hai hôm. Cảm một cái là cấm khẩu ngay, may mà đang phơi lúa ở nhà. Đám ma ông Bường đơn sơ quá. Tôi chạnh lòng xót xa cho ông. Nhà tôi đỉnh đồi bên này nhà ông dưới chân đồi bên kia cách nhau hai trăm mét. Kèn đám ma não nuột. Tiếng than kèn sầu thảm đêm ấy cứ vọng nỉ non các triền đồi xóm tôi. Năm ấy mẹ tôi còn sống, bà làm chi hội người cao tuổi thôn tất bật lo tiếp khách trầu nước cho nhà đám cả đêm ở dưới nhà ông Bường.

Tôi khó ngủ quá. Khi còn bé, tôi phải đi chăn trâu sớm lắm. Bố tôi bảo cho đi theo ông Bường để nó dạn dĩ hơn. Ông cho tôi cưỡi trâu còn ông đi bộ bên cạnh dắt trâu nhà ông. Ông chỉ cho tôi cách trèo lên lưng trâu, cách đằm cho trâu, cách gỡ đỉa trong kẽ móng. Nghĩ lại kiến thức chăn trâu của tôi hiểu con trâu của tôi bắt đầu từ ông Bường. Ông là thầy dậy tôi vào nghề mục đồng chất đầy kỉ niệm đến tận bây giờ. Ông gọi tôi là thằng cu. Chả bao giờ gọi tên tôi là Luân sất. Ông bảo thằng cu mày học sáng là nhà có phúc đấy. Học sáng như mày có mà mấy mẫu chè cũng chẳng bằng. Nói rồi ông nhủ thằng cu gãi lưng cho bác rồi bác đi đuổi trâu cho.

Nhà ông nghèo. Khỏe và làm cứ hùng hục mà vẫn nghèo. Cứ lao lên rừng bóc măng nứa, đào măng vầu, kiếm mây kiếm vỏ khoai ăn trầu đến phiên chợ gánh è cổ ra chợ chỉ đủ tiền lọ mắm tôm và hai cút rượu. Ông nội tôi bảo: Bố Bường mày cổ cầy vai bừa quá. “Thứ nhất sơn tràng thứ nhì vác vã” chả nứt mắt ra được đâu. Ông Bường cười hề hề, số con nó thế cụ ạ. Số cái con khỉ làm gì cũng có đường đi nước bước mới nên được. Ông Bường dạ, con biết ạ. Nhưng rồi ông vẫn nghèo. Bà vợ ông bé lon chon chỉ giỏi mỗi một nghề lên rừng đào củ hà thủ ô đem bán. Thuốc nam đấy mà rẻ như bèo. Hai vợ chồng cả đời đầu đâm vào đít chổng ra khắp vùng rừng quê tôi mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Ấy thế nhưng chưa bao giờ thấy ông ca thán xin xỏ láng giềng cái gì.

Bố tôi quí ông lắm. Có hôm nào đánh được mẻ cá ngon nướng cháy lên cho thằng em tôi gọi ông lên uống chén rượu. Ông uống im thin thít. Uống nhiều chỉ thở dài rồi bảo bố tôi: Cậu ạ, tôi lo cho con Xuân nhà tôi lắm, học có lớp 6 thì chả theo được nữa bây giờ theo đít trâu, lại chả được khá gái như con nhà người ta nay mai thì… Bố tôi ngắt lời: Bác cứ lo xa, nó chăm ngoan thế để em đưa nó vào ban chỉ huy đội sản xuất rồi nó khắc khôn ra. Ông nghèn nghẹn được thế thì quí quá…

Con Xuân là con gái đầu, nó kém tôi 2 tuổi vẫn mày tao với nhau. Ở nhà quê cà lẵm cà lũi nên cổ thì ngẳng chân thì đen như chân cuốc. Được cái chăm làm và khỏe. Gánh củi của nó tôi cũng ngán chả lê được. Học dốt nên cứ ngồi cuối lớp. Tháng nào cũng đội sổ. Bà Bường réo váng lên dưới chân đồi, ối Xuân ôi là Xuân ôi cũng đóng tiền đóng gạo mà tháng nào mày cũng đội sổ, lớn bằng cái bồ vẫn học cùng với mấy đứa oắt con. Con Xuân ngượng lắm thút thít đứng ở gốc cọ không dám vào nhà, tôi đứng trên vườn sắn nghe bà Bường chửi mà thương nó.

Tôi đi học đại học, năm hai lần về nhà thấy nó lớn nghều nghều. Không gọi nhau mày tao nữa gọi nhau là anh em đàng hoàng. Nó làm chấp hành thanh niên nghe đâu tiến bộ lắm. Bẵng vài năm tôi đi bộ đội, cuối năm 75 tôi về. Ngày trở về từ miền Nam nghe mẹ tôi hỏi: con gặp con Xuân nhà ông Bường không? Nó viết thư về đấy nó bảo nó vào Gia Lai tìm con suốt tháng 5 vừa rồi. Ô thế nó đi đâu mà vào đó? Mẹ tôi bảo nó đi bộ đội năm ngoái, toàn là con gái thôi, kéo nhau vào Tây Nguyên viết thư về cho nhà mình hỏi thăm con ở đâu. Khổ thế! Thân gái vào Tây nguyên thì có mà… tiệt đẻ. Tôi chợt nghĩ những trận sốt trọc đầu phụ nữ ở chiến trường mình đã qua.

Năm 79 nó về. Đeo cái ba lô to sù sụ mà lưng nó vẫn thẳng. Thì ra được bao tiền cửa rừng nó mua cái ruột chăn bông cho mẹ nó. Nó bảo mẹ nó chưa từng bao giờ được đắp chăn bông. Hai lăm tuổi. Tóc rụng phất phơ và bãi, da xỉn xèn xẹt trông nó tội quá. Nó bảo khai hoang trồng cao su ở Đức Cơ, Lệ Thanh, Chư Pả chết vô khối vì bom mìn sót lại. Người ta lập nông trường. Nó thương bố mẹ xin về.

Thế là về, về lại theo đít trâu. Ngót ba mươi rồi. Chồng chả có. Cán bộ thôn bây giờ phải có văn hóa. Con Xuân chữ nghĩa đã ít lại rơi rụng ở Tây Nguyên đành chỉ làm xã viên mà thôi. Mấy năm quần quật cày bừa tuổi lên băm mà chưa có anh nào dạm hỏi. Nó buồn héo hắt. Bà Bường rin rít mày định làm bà cô hay sao hả Xuân ơi? Nó khóc, nó cay đắng mà trả lời mẹ - rồi con sẽ có chồng, ai sứt môi lồi rốn dở người hỏi con cũng lấy cho mẹ xem.

Mà có thật, một anh dở người chân lại không đều nhau ở làng dưới được người nhà dẫn lên hỏi cái Xuân. Nó chả nhìn vào ai cả nó gật đầu đồng ý. Thế là đám cưới cái Xuân nhà ông Bường diễn ra. Nhà trai gánh đến dăm con gà, hai yến gạo, buồng cau và mấy chai rượu sắn. Ông Bường ngồi bó gối nhìn lũ trẻ con hàng xóm ăn cỗ vây xung quanh cái nong lót lá chuối làm mâm mà thở dài. Ông thương con cái Xuân, thương lắm. Nhưng mà cái số nó vậy. Lấy chồng rồi nhà cửa chả có, nó bảo ông Bường: Bố làm cho cho con cái lều trong dộc con tự sống. Ông Bường bỏ ra mươi ngày dựng cái lều trên cái nương sắn đã bỏ hoang heo hút cho con gái. Trưởng thôn cũng ủng hộ bằng cách làm ngơ. Ngày chuyển về nhà mới có cả mẹ tôi đi giúp. Xuân gánh hai cái thúng là hết đồ đạc nồi niêu bát đũa áo quần tồng tênh ra đi, đầu cúi gằm lí nhí chào bố mẹ, buông từng giọt nước mắt. Bà Bường bám gióng cửa nhìn con lặng thinh. Cái bóng bà ngắn như cái vại tương mốc thếch dưới gốc cọ.

Cái lều của Xuân cô đơn trong vạt rừng hẻo lánh. Thi thoảng mấy đứa chăn trâu đi tìm trâu lạc ghé vào xin gáo nước. Phần ruộng của nó thôn ưu tiên chia lại cho toàn ruộng trong dộc để gần nhà. Nó chả phải ra đến làng ngoài. Tháng một lần nó ra chợ mua muối mắm. Người đi cứ nghiêng nghiêng. Hai ba năm vẫn chả có con. Nghe đâu cái anh chồng dở người không biết làm cái việc nối dõi tông đường. Cái Xuân cặm cụi bổ hố chôn hom sắn, trồng chuối tiêu kiếm sống. Nó bảo nó cứ chôn hom sắn đến khi nào người ta chôn nó thì thôi. Nó chỉ trồng chuối tiêu thôi, biết sống đến lúc nào mà cây trái những là mít mận.

Ở xa, tôi chỉ nghe họ bảo nó khổ mọi bề với nhà chồng. Có buồng chuối nào cứng quả là mấy đứa em chồng chặt biến. Sắn còn non chúng nó cũng nhổ, khoai sọ rễ còn trắng ởn mà nó cũng bứng lên nấu canh cho mát. Thằng chồng dở hơi lại ốm như người hậu sản. Còn cái Xuân không được phép ốm, ốm là chết cả hai cái mạng vật vờ nơi góc rừng. Lũ trẻ chăn trâu về bảo, trong nhà cô ấy có cả huân chương nhé, Hạ sỹ hẳn hoi. Cô ấy treo ở cột nhà, cô ấy sợ cái khung kính rơi nên lấy lạt buộc vào thân cột tre. Hơn bốn năm quân ngũ mà lại đi chiến trường trước 75, Hạ sỹ là phải. Cô Xuân Hạ sỹ của xóm tôi một thời đấy chứ.

Lại nhớ hôm đám tang ông Bường tôi thấy Xuân mặc áo bộ đội cũ rích choàng khăn sô. Tối về hỏi mẹ. Mẹ tôi bảo ừ mẹ quên không nói với con, cái hôm nó ra ở riêng thấy chả có áo quần chăn chiếu gì mẹ lấy hai bộ quần áo bộ đội con mang về từ lâu vẫn để ở nhà cho nó. Nó khóc bảo mẹ thế là cháu lại mặc quân phục lính Tây Nguyên lần nữa à.

Ông Bường đi rồi, con gái ông vẫn khổ. Quả thật ông Bường nhìn xa đấy chứ, chắc ông thương cái Xuân lắm, lúc tắt thở họ bảo mắt ông không nhắm được.




-- LITANGU- NTL

litangu
17-06-2013, 11:50 PM
Mấy thằng trinh sát gặp nhau trong bệnh viện

(ngày đi thăm Minh ở Bãi Cháy)

Thứ sáu (26/10) Tôi dậy từ 5 g sáng rồi đi xe ôm ra bến Lương Yên. Chuyến xe đầu tiên đi Hạ Long lòng vòng bắt khách khiến tới được Bãi Cháy đã 11 giờ trưa.
Mấy tháng không gặp Minh, gọi qua điện thoại cười đấy nói đấy nhưng thấy phều phào lắm. Tôi gọi Ngô Thịnh ở Thái nguyên bảo đi thẳng xuống Quảng Ninh gặp nhau. Thế là đi.

Từ bến xe Bãi cháy đi bộ vào bệnh viện chừng 400 mét. Tôi đi như chạy vì Ngô Thịnh bảo nhanh lên nó sắp sang phòng chạy thận là không vào được đâu. Tôi nhao lên phòng cấp cứu nhìn bạn mình tóc xơ trắng gầy gò dây truyền nhùng nhằng. Chả nói câu nào nắm lấy tay nhau rồi khóc. Cứ ngồi khóc như thế vài phút. Vợ của Minh cũng ngồi bên lau nước mắt mà không nói lời nào. Đột nhiên Minh cười và bảo, mày về hưu an toàn mừng quá. Ngô Thịnh bấy giờ mới được dịp lên tiếng: không lấy được cái gì của thiên hạ nên mới an toàn đó thôi. Minh lườm Thịnh. Cười mệt nhọc.
Căn phòng xung quanh Minh toàn những bệnh nhân chạy thận. Họ đều ở trạng thái nguy kịch đến nơi rồi nên chúng tôi không dám nói to không dám ồn ào mà nói khẽ, nhìn nhau, nắm tay nhau thôi. Hỏi Minh ăn chưa nó bảo ăn rồi họ bảo chỉ nên ăn bánh mì khô. Kiêng thế kia ư? Minh bảo sướng hơn hồi ở Gia Lai. Vợ Minh lau nước mắt. Hễ nói cái gì anh ấy cũng bảo sướng chán, sướng hơn hồi ở Tây Nguyên. Rồi lại bảo bây giờ chết lãi gấp 10 lần những thằng hi sinh.
Ôi chao nhìn ra ngoài cửa sổ ngọn cây Hoàng lan cao lấp ló ô cửa lá xanh mươn mướt. Minh bảo nằm hai tuần tao đếm những búp non cao lên mấy xăng ti rồi đấy. Lại nhớ hồi xưa nằm trong hầm ngó ra ngoài nhìn búp cây rau tàu bay trên Chư Ga ra mỗi ngày một khác. Minh giải thích cái anh thuộc loại rau nó mọc nhanh hơn cái anh họ thảo mộc. Vợ Minh nhắc nhẹ, anh ấy cứ thế thôi cứ nói như làm thầy giáo của em vậy. Minh cười, cả đời em là cô giáo anh rồi bây giờ sắp chết cho anh làm thầy giáo vài ngày đi em. Vợ Minh bật khóc, tôi và Ngô Thịnh thấy mắt lại cay xè.
Quay sang tôi Minh bảo, cưới vợ cho con mày tao cố lên Hà nội. Chao ôi! Nó cười. Xe nhà, thứ sáu tao chạy thận sáng thứ 7 lên chiều về. Phải lên và để nhìn thấy cầu qua sông Hồng nữa chứ, nếu lên cưới con mày là gặp nhiều thằng E 64 lắm. Tôi im lặng. Ngô Thịnh bảo ừ ừ lên được lên được. Tôi quay mặt ra phía cửa sổ nắng nhảy chập chờn trên tán lá Hoàng lan nhòe nhoẹt.

Kể từ cái đận họp tiểu đội ở viện Bạch Mai tới nay đã hai năm. Chả cứ gì Minh, tôi và Mạnh Tiêu cũng đã yếu. Thằng Tiêu thì mổ tuỵ đã hai lần, tôi thì huyết áp phập phù đến là mệt. Lính trinh sát mà yếu thế. Chúng tôi cứ hay ca cẩm với nhau như thế. Yếu thì yếu, ngày mai thằng Tiêu và thằng Hiền sẽ xuống Quảng ninh thăm mày nữa. Chúng tao dãn đội hình ra để mỗi ngày mày lại có tí vui hơn. Minh bảo ừ tiểu đội trưởng tâm lí thế là tốt.
Minh nắm tay tôi. Mày về quê mà sống đi. Bám Hà nội mãi sao hả Luân? Mày đào lại cái ao đi tao thấy bờ ao mày để rậm rạp quá. Cố mà chăm cây Hồng Xiêm đừng để nó lụi. Minh ơi mày về quê tao mấy bận mà mày nhớ thế? nó bảo nhớ chứ! nhớ như cái ngày tao và mày đuổi theo bắt tù binh ở trên đường sắt chân đèo Cả chỉ cốt để lấy cái máy 2 oát của thằng tù binh để lấy pin cho máy thông tin mình đang hết pin. Nhớ như cái lúc tao và mày thu trộm tấm lưới bóng của dân trên đồng Phú Yên hôm 1/4/75 để sau đấy về Củng sơn bắt cá. Nhớ lắm nhớ lắm. Lại nhoè đi, nhìn xung quanh bao nhiêu tấm đời trong căn phòng trọng bệnh chẳng rõ người nào, cứ nhập nhoè nhập nhoè...
Đột nhiên Minh bảo: Mày còn nợ tao một lời hứa. Tôi bảo tao hứa gì? Tuần trước tao gọi điện thoại bảo mày đọc bài Những Bóng người trên sân ga mày bảo hôm nào xuống thăm tao thì đọc. Tôi nhìn quanh. Ai lại đọc bây giờ ở đây. Minh buồn, sao lại nỡ thất hứa thế hả Luân?
.... Mãi hồi lâu tôi mới đọc. Bài thơ của Nguyễn Bính xa vời vợi với tôi lâu lắm rồi mà tôi cứ như mới đọc thuộc hôm qua... Những cuộc chia lìa khởi từ đây... rồi đến câu cuối... Buồn ở đâu hơn ở chốn này... Thế là chúng tôi lại khóc. Minh ngẩng đầu lên: Mày cố tình hay mày quên đoạn:
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng bóng đổ xuống sân ga
Minh ơi, tao quên tao quên. Nó nắm tay tôi. Ôi bàn tay cứng rắn ngày nào, bàn tay gỡ mìn ngày nào... bàn tay chúng tôi từng nắm chặt lấy nhau trong những đêm luồn rừng bám địch. Bây giờ nhăn nheo queo quắt.
Đã hai lần bác sĩ sang nhắc đến giờ đưa Minh sang phòng lọc máu. Tôi và Thịnh đỡ Minh dậy rồi vợ Minh dìu sang căn phòng lặng ngắt kế bên. Chúng tôi không được vào nữa. Minh bảo về đi, về đi. Ra ngã tư mà đón xe nhớ ngoài ấy có hàng phở đấy, ăn đi rồi về, đừng giận tớ không tiếp các bạn bữa trưa... Tôi chỉ gật gật nhìn bạn mình khuất sau tấm cửa kính trắng loá nhạt nhoà. Trưa ở bệnh viện lặng ngắt.

Nắng Hạ Long vàng và trời nhiều gió. Cầu Bãi Cháy hoa lên những đám bụi xe bốc mùi khen khét. Bạn tôi ở lại với Bãi Cháy với những ngọn núi đầy thông và gió biển những ngày vật vã cuối cùng. Tôi bỗng giật mình trở lại gần bốn mươi năm trước những đêm cùng Minh dẫn đường tiểu đoàn mình vào trận. Con đường đi đến cuối trận đánh cuối cùng của bạn tôi còn bao lâu nữa?

Hạ long 26/10/12 LITANGU

huuthanh
18-06-2013, 10:02 AM
Góp tí dưới xuôi theo dòng sông Thao từ quê bác Litangu đi xuống.
Mươi ngày trước thầy cô giáo và đám bạn già của tôi về thăm lại doanh trại cũ, bây giờ thuộc Lữ 543 Công binh, ở Hưng Hoá.
Cột Cờ thành Hưng Hóa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thành_Hưng_Hóa) mới được phục dựng lại trong khuôn viên doanh trại. Thời chúng tôi ở đấy nó chỉ là một đống gạch cũ. (ảnh lấy của bạn)
http://2.bp.blogspot.com/-5MrgI7tD8k0/UbWjS86Sc7I/AAAAAAAALsQ/2QDI6VUuwoY/s1600/mDSC_7594.jpg

litangu
18-06-2013, 03:44 PM
Sáng bật KQH ra đọc rồi lại ngồi lẩn thẩn giở nhật kí thời lính (cuốn sót lại). Phải lấy kính lúp vẽ bản đồ của vợ ngày xưa mới đọc được vì nhòe nhoẹt quá, chữ bé tí tẹo. Bỗng kí ức buồn chợt về. Hỡi ai đã có mặt trong trận đường 7 tháng 3/75 như tôi, làm sao quên được nó đi. Chẳng bao giờ, chẳng thể nào quên được. Biết là không liền mạch trang viết nhưng cũng cứ viết.

.... Hôm nay, ngồi nhìn những dòng nhật kí ngắn ngủi về những ngày tháng ba năm 1975. Những ngày mà cách đây đã 38 năm, thế mà nó cứ hiện về rõ mồn một. Muốn viết thật vui thật hóm hỉnh về chuyện sống chết mà lại cứ đưa mình về cái mạch suy nghĩ khác, tệ thế. Mình đa cảm ngay từ xưa bé nhỏ, cái gì nhớ thì day dứt, cái gì yêu thì đến đớn đau. Mới ngẫm lời xưa kẻ đa đoan thì đừng kêu ca sướng khổ. Muốn thăng tiến thì đừng đa đoan, biết dẫm đạp cũng là sự tích cực của đời.

Mà thôi, mình kể chuyện ở đây là với bạn bè chiến đấu thôi cơ mà. Xin kể:
Cái ngày 28/3/75 trong nhât kí có vẻn vẹn một dòng. Nhưng sự thật thì khôngphải. Nó dài lắm, dài đến tận bây giờ.

Tôi trích nhật kí "28/3/75. Hành quân tới ven một bãi lầy Phú yên. Ở đây dọc sông máng, bộ đội địa phương đánh một đoàn xe - hành quân đêm trên bờ máng đầu tiên. Nghỉ lại đây một ngày."

Gọi là hành quân thực ra chỉ có nhóm đi bám địch trước chúng tôi thôi, còn đơn vị vẫn ở đằng sau. Khi chúng tôi đánh địch trên CủngSơn Phú Túc thì có một đoàn xe đã vượt qua rồi. Về tới khúc sông máng, đường 5 này thì gặp bộ đội Phú Yên chặn đánh. Việc đó đã diến ra ngày hôm trước. Phía xa, làng mạc miền nam đầy những vườn dừa, những đồng lúa xanh ngút ngát, chiều nắng vàng sau lưng, chúng tôi hít căng lồng ngực cái hương đồng miền nam mà xưa nay vẫn hát "... Miền nam em dừa nhiều, miền nam em dứa nhiều..."

Không có quân địch, không thấy có súng nổ, chiều hôm ấy thật lạ. 5 thằngchúng tôi ngồi trên mép sông máng, dưới chân là đồng lúa xanh mượt mà. Bỗng từ dưới ruộng có tiếng động, nhỏm dậy! bờ ruộng bùng nhùng, thằng Luật nổ mấy viên đạn lên trời (may thế, nó không bắn xuống ruộng). Từ dưới bùn rùng rùng đứng dậy một chú lính ngụy, người bê bết bùn nước, tay xách cái làn nhựa đỏ lót kín bằng những mảnh ni lông, run rẩy: Thưa ông, con xin các ông...

Chúng tôi nhào xuống bờ ruộng chĩa súng. Nhìn vào cái làn đỏ trước tiên vì nghi đó là vũ khí. Không... Không có vũ khí nào hết mà là: một hài nhi, hai tay hươ hươ mắt ti hí... Người lính sụp xuống... Thưa các ông con đưa vợ con chạy từ quân khu 2, vợ con ngang đường sổ dạ rồi chết luôn. Các ông có bắt con xin các ông làm phước cho con gửi đứa bé này... cho nó làm... làm... người.

Người lính VNCH gục đầu nức nở. Năm đứa tôi nhìn nhau, rồi vội nhìn đi chỗ khác, bởi vì chả thằng nào muốn thằng kia nhìn thấy mắt mình có nước. Có tiếng đạn pháo vút qua đầu, người lính ngụy ôm chặt cái làn đỏ vào ngực: ới con ơi!
Chúng tôi cũng xà xuống che người xung quanh cái làn nhựa loe hoe những mảnh vải vụng về, và tiếng cựa quậy của đứa trẻ lọt lòng.

Thằng Luật B trưởng là đứa cục cằn nhất lên tiếng: thằng Luân chữ đẹp viết một tờ giấy chứng nhận quân giải phóng đã đồng ý cho anh này gửi đứa bé vào địa phương đi. Làm nhanh kẻo du kích họ lại không tin. Còn thằng nào có cái gì đưa ra.
Chúng tôi ngó vào trong làn nhựa ở đó có hai hộp sữa rồi, bây giờ chúng tôi mỗi đứa đưa ra một hộp nữa, tôi có mấy tờ tiền Trần Hưng Đạo đưa ra cho người lính, thế là chúng nó bắt chước moi hết tiền ra cho người bố tội nghiệp kia.

Người lính ngụy ngồi đờ đẫn cám ơn, chúng tôi giục: thôi đi ngay vào làng đi, anh không nuôi được cháu đâu, gửi dân họ nuôi thôi. Chúng tôi cảnh giới cho mà đi... Tôi nhìn người lính xách cái làn đi qua cánh đồng vào làng trong hoàng hôn, bước cao bước thấp cho tới khi người lính khuất sau vườn dừa yên ắng rồi chúng tôi mới hành quân.

Chiến tranh lùi lại phía sau còn kí ức thì lại nhao về phía trước mắt những người già.

Ba mươi tám năm rồi. Người lính ngụy ấy còn sống ở đâu? anh có tìm về Một làng ven con sông máng đường 5 Phú Yên tìm đứa con gái tội nghiệp của anh không?

Ba mươi tám năm rồi, cháu bé khốn khổ ấy còn sống ở đâu? Trong hàng đêm ngần ấy năm trời tôi luôn cầu mong cháu sống và làm người nhân hậu.

Tôi cũng đã già, cũng đã hơn một lần trở lại con đường máu lửa ngày ấy, tôi cũng đã từng ngồi khóc khi xem chương trình Kí ức đường 7 của Thu Uyên, bởi hơn ai hết chúng tôi là người chứng kiến tận mắt những mảnh đời bất hạnh vì chiến tranh.

litangu
19-06-2013, 02:57 PM
Chuyện trước ngày vào bộ đội

Cô Ấu


Ấu kém tuổi bọn chúng tôi. Năm chúng tôi đi sơ tán trên Đại từ Ấu mới 18 tuổi. Gái ở quê mới đi thoát li còn rụt rè ngượng nghịu. Nhan săc tầm tầm được cái nở nang mà hiền lành ít nói. Ấu được cử về làm chị nuôi bếp lớp K5ME.

Lúc ấy mùa hè, chiến tranh đang gay cấn ở miền nam, cả khóa 5 lên trú ngụ ở xã Phục linh huyện Đại Từ. Lên đấy coi như chiến tranh lùi lại đằng sau còn trước mắt ngót ngàn sinh viên là một thung lũng êm ả xanh ngắt đồng lúa chen vào núi. Ấu cũng như các chị nuôi ở cùng xóm với sinh viên. Làm cái bếp dưới lùm tre khá rộng. Nửa là bếp nấu, nửa ngăn đôi cho thằng thủ kho, thằng quản lí ngủ và học luôn tại đó. Cái căn phòng quản lí thủ kho trở thành trung tâm tán phét cho lũ chúng tôi. Ra đấy nói năng xì xụp nấu nướng thoải mái hơn nhà trọ. Ngồi nhòm qua ô cửa liếp ngắm Ấu mồ hôi mồ kê bên cái chảo to đùng má hồng rực lên bết những sợi tóc mai xuống tận cổ. Lúc Ấu kéo nước đít cong lên cong xuống, nách áo đẫm mồ hôi để lại sau lưng hằn lên cái vệt khô theo hình cánh con Dơi cũng thấy nôn nao.

Một hôm, dửng mỡ mấy thằng chỉ chỏ lúc Ấu đang thổi lửa bằng cái ống nứa. Cô ấy ngồi xổm cúi xuống thổi thì đít chổng lên. Hết một hơi thì lại hạ xuống để thở. Khổ nỗi cô ta ngồi dạng hang qua một cây củi dài mà đầu ngoài có cái chõe ra như đuôi cá. Thằng Thơm (bây giờ TPTC Cơ khí Hòn Gai) thách: đứa nào trêu cái Ấu mà nó không chửi thì ăn cả suất cơm trưa nay. Tôi liếc cây củi chạy dưới đít Ấu nghĩ ra cách và nhận lời. Cả lũ nín thở. Đợi lúc Ấu cúi xuống thổi tôi dẫm vào đuôi cây gỗ, nó bật lên Ấu nhao đầu lên phía trước. May, cô ta chống tay vào thành bếp lò. Chúng nó không dám cười to còn Ấu đứng dậy ra giếng đứng rất lâu im lặng...

Tôi đi bộ đội sau đó một tuần. Kể từ ngày ấy Đại từ với những bữa cơm độn ngô vàng loe chan canh bí xanh thỉnh thoảng hiện về. Mà lúc nào nhớ Đại từ là nhớ đến Ấu, nhớ cái khuôn ngực nở với tấm áo gụ may kiểu ở quê mộc mạc khó quên. Chả hiểu sao nhớ tới lớp học trên vùng sơ tán ấy là nhớ cái vệt mồ hôi của cô gái nấu bếp lớp mình.

Tôi trở về trường sau mấy năm chiến đấu liên tục ở Tây Nguyên. Trường về chỗ cũ và tiến gần ra đường số 3. Thấp thoáng những ba lô của lính vào mùa đông 1975 trong khu hành chính. Tôi đến ngôi nhà lá có cái ô cửa sổ ngay ngắn tờ giấy đề Văn thư. Người con gái ngồi trong ô cửa là Ấu. Thoáng giật mình, tôi chững lại để thằng Tăng Tiến nộp trước. Ấu không ngẩng lên chỉ hỏi: Anh ở K5E à? anh Luân còn sống không? tôi bấm thằng Tăng Tiến. Tiến cười: Nó chết rồi. Người con gái văn thư nói khẽ: nghịch thế dễ chết lắm. Vẫn cúi đầu làm giấy tờ. Tôi nhìn Ấu đẫy ra, tóc ngay ngắn cái áo cổ lọ được khoác ngoài cái đại cán xanh cửu long dáng công chức hẳn lên. Cô Ấu chị nuôi nay đã xinh hơn oai hơn rồi. Những ngày nắng mùa hè Đại Từ bỗng hiện về. Tôi đưa giấy vào, cô ta không nhìn lên chỉ nhìn vào tên người trên tờ giấy giới thiệu rồi đột nhiên thở dài cầm tập hồ sơ của tôi để ra một phía nói nhỏ nhẹ: để làm sau, đến người khác vào đi. Tôi chờ nửa tiếng đòng hồ nghĩ bụng Ấu vẫn nhớ chuyện ngày xưa… thù mình rồi. Hồi lâu vắng người Ấu gọi: anh Luân ơi, anh có bị thương không? Tôi bảo không! Ấu lại bảo vào bộ đội anh có hay trêu gái không? tôi bảo trong chiến trường chả có gái mà trêu. Đưa tập giấy tờ trả cho tôi Ấu bảo lớp anh ra trường đi hết rồi, anh lại chậm mất mấy năm nhỉ, mà cũng còn may chứ bao nhiêu anh không về. Ấu lại thở dài nhìn ra thung lũng có những cái ao cá xen lẫn ruộng lúa mùa đông.

Ngoài xa, phía bờ ao đi lên thấp thoáng ba lô con cóc và những cái lưng gù gù. Tôi không biêt nói gì cầm giấy về lớp K9A. Hai năm học tiếp đôi lần nhìn thấy Ấu trên văn phòng nhưng chưa lần nào Ấu nhắc lại cái chuyện ngày xưa tôi làm Ấu lao đầu vào bếp.

NTL - LITANGU

baoleo
19-06-2013, 03:24 PM
........ Ấu lại thở dài nhìn ra thung lũng có những cái ao cá xen lẫn ruộng lúa mùa đông.

.............Hai năm học tiếp đôi lần nhìn thấy Ấu trên văn phòng nhưng chưa lần nào Ấu nhắc lại cái chuyện ngày xưa tôi làm Ấu lao đầu vào bếp.

NTL - LITANGU






Trong cuộc đời, đôi lúc mình nhận được những tấm lòng đôn hậu của chị em phụ nữ. Và chính những cái đó, đã làm ta đàn ông hơn, mạnh hơn và trong sáng hơn.
Chị Âú có thể ít học và không giầu, nhưng tấm lòng của chị, sẽ được nhớ mãi, bác litangu à.

litangu
20-06-2013, 12:09 AM
Lớp học mùa mưa năm ấy ....

Sắp đến ngày 27/7. Lan man nhớ ngày xưa, nhớ ngày ở bộ đội và cứ lại nghĩ về những người bạn không về.

Có một dạo, khoảng mùa mưa năm 1974 ở Trung đoàn 64 của tôi có một lớp “tập huấn“ thật đặc biệt. Gọi là lớp tập huấn chứ thực ra đó là lớp học ngắn ngày chừng 2 tháng cho những chiến sĩ không biết chữ của các đơn vị. Lớp này do ban Tuyên huấn E quản lí và thực hiện. Cũng thời gian ấy tôi được điều lên viết bài cho Tuyên huấn. Tôi được ở cùng với các anh phụ trách lớp. Đó là những giáo viên C3 nhập ngũ tháng 9/72. Anh Lê Hoả dậy toán nguyên là hiệu phó C3 Hạ hoà. Anh Phạm Hoài Thuỷ dậy văn nguyên là giáo viên C3 Trần Phú Vĩnh yên. Anh Nguyễn Đức Vận dậy địa lí của Cao đẳng SP Phú thọ. Tôi hay xuống đó chơi với các anh và vì đại đội tôi có 2 người là học viên tham gia lớp ấy.

Kể về hai người đơn vị tôi.
Một là anh Vũ Xuân Canh người Quốc Oai- Hà Tây. Anh ấy nhập ngũ 3/67, đang là Bê phó. Ở C tôi, cán bộ B thì Canh là loại cứng. Thứ nhất, anh rất dũng cảm. Thứ nhì anh ấy thương yêu lính và luôn nhận phần khó về mình. Cái mà tôi nể anh ấy nhất là anh ấy luôn khiêm tốn trước lính. Đánh trận thì khỏi nói. Trong tác chiến anh ấy thông minh, xông xáo nhưng không liều lĩnh. Mãi ở caí chân Bê phó vì anh ấy không biết chữ (!)

Người thứ hai cùng trang lứa tôi tên là Học. Nó người Thái Bình. Tên là Học mà lại không biết chữ. Những lúc rảnh rỗi tán phét chúng nó bảo: mày tên là Học mà sao không đi học. Nó buồn. Nhà tao nghèo quá, bố mẹ tao cũng muốn cho tao đi học lắm chứ nhưng đông con lo ăn chả đủ... chắc chỉ thèm muốn cho tao đi học nên đặt tên tao là Học. Thế mà lại đi bộ đội? Thì tao cũng nói tao không biết chữ đấy chứ mà huyện vẫn cho đi. Đi thì đi, chúng mày đi được tao cũng đi được chứ sao. Ở Đại đội chả mấy ai nhớ cái chuyện thằng nào nhiều chữ thằng nào ít chữ làm gì. Bằng nhau tuốt, chiến trường nó công bằng cho mọi người khi cầm súng cả thôi. Thằng Học bảo nhiều hay ít chữ cứ vào trận khắc biết...

Một lần các anh Văn Hoá phụ trách lớp bảo tôi: hôm nay Anh Vận sốt rét nhờ Luân dậy hộ mấy buổi đi. Trong lúc tôi rỗi việc và lại cũng khoai khoái lớp học này tôi đồng ý liền. Tôi vào lớp. Cái lớp học dưới một hội trường nửa chìm của C26 (C an dưỡng cho lính ốm yếu đi viện về) rộng đến 40 mét vuông. Hai chục học viên đứng lên chào như một lớp học ngoài bắc. Lần đầu tiên tôi thấy xúc động đến vậy. Anh Canh, rồi thằng Học há hốc mồm nhìn thằng lính cùng đại đội đang làm thầy... là tôi. Tôi dậy cả toán lớp ba cả văn cả chính tả. Không biết các anh ấy soạn chương trình kiểu gì mà mới gần hai tháng ai cũng viết chữ rất tốt, làm toán rất cừ. Và đặc biệt ai cũng thích học văn học. Mùa mưa, rừng Tây nguyên cứ rỉ rả. Thỉnh thoảng pháo u ú qua đầu. Vèo cái đã hết chiều.

Tối ấy tôi ăn cơm với các anh giáo viên và ngủ ở lớp. Thấy anh Canh ngó vào nhà giáo viên. Thưa thầy cho em gặp anh Luân... à thầy Luân. Tôi chui ra, anh kéo tôi: thầy ra đây tôi bảo. Tôi ngượng quá, anh ấy cứ lôi sềnh sêch tôi về nhà của anh ấy. Hoá ra chiều ấy các anh kiếm được cái hoa chuối, dành dụm từ đời nảo nào hộp thịt lấy đuợc của địch, nấu nồi canh thơm phức. Anh bảo về đây ăn cùng với D8 mình. Anh gọi tôi là thầy, thằng Học lúc thì mày tao lúc thì thầy bà. Tôi bảo anh, đừng gọi thế nghe kinh bỏ mẹ. Anh Canh cười, thầy ra thầy trò ra trò chứ. Nhớ mãi, nhớ mãi cái câu anh nói trong rừng Tây nguyên mùa mưa cái năm còn chiến tranh ấy mà sau này thấy thiên hạ hay nhắc đến, hay vẽ thành khẩu hiệu ở các trường học. Thầy ra thầy trò ra trò. Ôi anh Canh ơi, ôí Học ôi. Câu nói của người bạn ít chữ năm xưa cứ như nói riêng cho chúng tôi vậy, cho những người còn sống đến bây giờ.

Lớp học kết thúc. Học sinh tuốt tuột được lên lớp bằng cái chứng chỉ: “Về đơn vị chiến đấu“. Hai tháng sau, tháng 12/1974 đánh giải toả đường 5 gần làng Dechí anh Canh hi sinh. Khi đi học về anh được đề bạt Trung đội trưởng. Thằng Học hi sinh đánh Tuy Hoà 31/3/75. Lúc hi sinh rồi ba lô nó vẫn còn lá thư nó viết nắn nót cho bố mẹ trên đường 7 mà chưa kịp gửi.

Gần bốn chục năm sau. Cái lớp học rất đặc biệt ở đường 19 ấy có còn ai nhớ lại? còn những ai đang sống ở đâu đó? Trong lớp học ấy có bao nhiêu người đã hi sinh? chẳng ai dụng công tìm kiếm thống kê làm chi. Sự học ở lính không chỉ ở nguyên cái chữ, ở câu thơ hay sự hoạt ngôn, con tính nhẩm. Như tôi đây, được học nhiều hơn anh Canh mà câu nói của anh năm ấy tôi đâu có nghĩ được.

Tôi cũng chỉ là kẻ ăn may và vay nợ các anh, vay nợ những người đã hi sinh đó thôi.

huuthanh
20-06-2013, 02:45 PM
Tôi đã từng dậy những người lính này "nhập môn quân ngũ" khi họ mới bắt đầu là sinh viên đại học.
Rồi họ nhập ngũ
http://lh6.ggpht.com/_e1j2gjyaF1c/S8AmAw2-m9I/AAAAAAAAG4k/S1kwnJrYsS0/s1600/DHTH1972NguonVThang1.jpg

Ba người trong số họ không về.

litangu
20-06-2013, 10:50 PM
Kỉ niệm về những vùng đất đã qua của đời bộ đội.


Chị Bảy Thơm



Lâu rồi kể từ ngày tôi và Nguyễn Công Thành ở đài THTP lên thăm chị nay đã 9 năm. Hai hàm răng rõ đẹp của chị lúc ấy nay đã rụng mấy cái, chị cười mà không biết là chị cười. Khổ thế. Cái răng cái tóc cả hai cái đều báo hại chị. Một thời cái tên Bảy Thơm ở cái xã Tân Phú Trung này ai mà không biết. Gặp chị loe hoe tóc bạc xơ, răng rụng khiến hai má lóp lại. Nhìn không ra, phải nói là: em đây chị, em là Luân 320 này. Chị à à ờ ờ rồi khóc. Khóc chán rồi chị cười. Mà em vô lâu mau? ở lại không? Bỗng nhiên chị lại khóc. Mà em ơi chị không nuôi được em bữa cơm như ngày nào đâu?... nghe buồn thế, tôi và Thành nín thinh. Ngoài vườn mấy cây lê ki ma ( cây trứng gà) lá rụng nâu xỉn mặt sân. Cái lô cốt chắn cổng vào nhà chị biến mất tự bao giờ, bây giờ họ sắp chia lô bán đất. Ngôi nhà chị vẫn nép sau sự ồn ã của xã hội đổi mới giống như ngày xưa cả nhà nép kín nín thinh sau cái lô cốt ấy những chiến chinh giặc giã. Nín thinh bao nhiêu năm dài kể từ ngày anh hai chị đi tập kết.

29/4/75

Trung đoàn 64 đánh ấp Chợ (Tân Phú Trung). Cái lô cốt sát vườn nhà chị cố thủ tới 11 giờ trưa. Chỉ khi xe tăng tràn về từ phía Đồng Dù tiểu đoàn tôi mới dứt điểm được trận đánh. Chúng tôi ào ào tiến vào Quang Trung, VINATECO, ngã tư Bẩy Hiền rồi sáng hôm sau tiến vào giải phóng Thành Phố.

Một tuần sau, sư đoàn 320A trở ra Củ Chi đóng quân. Tiểu đoàn tôi lại đóng đúng ngay ấp Chợ xã Tân Phú Trung. Chúng tôi ra thăm cánh đồng chôn hơn bốn mươi tử sĩ của tiểu đoàn, đi lại những bờ mương, những dặng bằng lăng còn nhuốm màu khói súng. Cuộc sống của dân làng đang còn ngơ ngác thăm dò. Chúng tôi vào ngôi nhà gần cái lô cốt oái oăm kia xin nước và tắm nhờ. Ông già quắc thước chừng ngoài 60 tuổi mặc quần cụt ngồi khoanh chân trên phản. Ông nói nghe sang sảng, con bảy lấy cho mấy chú muợn cái thau. Ông phẩy phẩy cái quạt, tắm rồi vô chơi. Chúng tôi múc nước giếng tắm ào ào. Rồi vô sân kiếm cái ghế ngồi.

Ông già kể, sáng 30/4 tao một mình một xe dắt con dựa bám theo giải phóng tụi bay vô thành phố, suốt cả ngày không thấy thằng hai thằng tư tao mới về. Mới giải phóng mà có ông già gọi quân giải phóng là thằng xưng tao cũng thấy chờn chợn. Ngồi nghe vậy thôi mấy thằng chưa dám hỏi gì. Ông bảo, mai vô đây tao kêu con bẩy nướng bánh tráng nhậu vài li đế chơi. Tò mò quá. Nhậu bánh đa nướng với rượu đế? chưa bao giờ tôi từng biết. Tối sau chúng tôi lại vào. Chị bẩy nướng mấy cái bánh đa vùng này và thái mấy qủa xoài xanh. Ông đưa li nào thì tôi uống li ấy. Hồi đó tôi chưa từng uống rượu nhưng cứ uống và thấy cũng hay hay. Rồi nghe ông kể. Trong lúc ông kể thì chị bẩy lụi hụi gọt thêm xoài, nướng thêm bánh.

... “Thằng hai đi tập kết theo mấy anh mới hơn mười tuổi. Lớn lên thằng ba thằng tư kém nhau mỗi đứa 2 tuổi, cũng đi giải phóng lúc mỗi đứa vừa mười tám. Thằng năm mãi tới 71 cũng đi huyện đội. Cái năm 70 thằng ba bị bắn chết trên Tân Thông, nó đưa xác về để ngoài chợ phơi hai nắng. Đêm tao mò ra lấy xác nó đem chôn. Một mình một cây dựa tao vác nó ra tận ấp bàu trâm…” Rồi ông khà. ông nhìn ra ngoài vườn , chị bẩy cũng thở dài nhìn vào đêm… ”30/4 tao mừng quính quáng… dắt cây dựa nhằm đường qua thành ông Năm theo bộ đội đi tìm thằng hai thằng tư thằng năm. Tao hỏi chả ai biết thằng hai thằng tư với năm là thằng nào. Năm ngoái tao nghe có người trên huyện nói thằng hai được đi Nga xô học làm cũng lớn lắm ở ngoài y tế. Thế nào mà nó chả theo về giải phóng. Thằng tư đi bộ đội xuống tận Bến Tre. Thằng năm dông lên Tây ninh. Hôm nay vẫn chưa đứa nào về. Tao ở cái vườn này từ ngày thằng Mĩ chưa xây cái lô cốt kia. Nó làm lô cốt rồi, nhà mình rặt bộ đội với tập kết ai cũng kêu bỏ đó đi. Tao thây kệ tao cứ ở đây nó mới ngán. Tao chả đi đâu hết ngày tao ra đồng tối tao về ngủ. Con bẩy đi phụ nữ tau dặn, liệu mà giữ lấy thân...”

Chị bẩy trông mặn mòi, chị làm phụ nữ xã, hoạt động hợp pháp. Hai mươi lăm tuổi chưa có chồng. Nghe đâu có thương anh nào đó trên bộ đội Củ Chi mà ảnh hi sinh rồi.

Mươi ngày sau chúng tôi rút về đóng trên Đồng Dù. Vài tuần mới được ra khỏi doanh trại lại chạy nhờ xe honda xuống Tân Phú Trung ghé vào nhà chị. Ông cho bữa cơm, học uống rượu đế. Vài tháng thấy nhà đông hơn có người đàn bà và hai thằng nhỏ 6, 7 tuổi. Chị bảo vợ và hai con anh tư ở Bến tre về. Anh tư hi sinh từ năm 1970 cùng năm anh ba. Tháng 8/75 tôi đến chị mừng quýnh khoe mày lâu không xuống không gặp anh hai. Ảnh về rồi cả vợ người bắc nữa, ảnh làm lớn ở cục quản lí dược đó, vài bữa anh đi ở dưới thành phố. Chị ba về lại Bến Tre hai đứa con để đây ở với nội. Tao nuôi luôn.

Rồi những năm sau làng quê giải phóng thay da đổi thịt hừng hừng vô tổ hợp, tập đoàn. Cái cầu Bông cách ấp Chợ cây số cũng xây lại mang cái tên cầu An Hạ. Cánh đồng phía tây ấp Chợ một con mương đào lấy nước dài hút mắt mang cái tên Phạm Văn Hai, rồi nông trường này nọ mọc lên. Những dặng bằng lăng ngoài bờ ruộng thì chỗ còn chỗ chặt đi. Những cây bằng lăng còn xót lại hoa vẫn tím ngan ngát mỗi độ tháng năm về. Tân Phú Trung mà tôi biết vẫn thơm khói bếp bánh tráng nổi tiếng cả nước. Biền biệt mấy chục năm xa tôi vẫn nhớ về Ấp Chợ nay có khu công nghiệp mới, có công nghiệp nuôi dế làm mồi nhậu cho nhà hàng, tôi lại nhớ cái lô cốt sát bên vườn nhà chị bẩy.

Năm 2003. Tôi đi công tác, lên thăm Tân Phú Trung. Con đường xuyên Á từ ngã tư An Sương lên Tây Ninh rõ to và phẳng đẹp đỏ nhưng nhức hoa giấy. Dừng lại ở cầu Bông nhìn xuống dòng nước rợp những thân dừa nước và lau sậy khi xưa bây giờ chỉ thấy là quán xá. Cái chợ xưa vẫn còn đó. Cái dốc lên chợ nay ít dốc hơn. Chỉ có một nối nhớ cũ của tôi vẫn không thấy khác là những bờ mương, bờ ruộng vẫn đầy kịt lục bình như xưa. Lục bình xếp chĩa lên trời bạt ngàn bông tím, cái hình bông lục bình như hình một ngôi tháp chàm thu nhỏ. Những cái tháp màu tím xen kín sít vào nhau, lũ cào cào châu chấu tí tách đùa rỡn với tấm thảm màu tím hệt như màu của hoàng hôn ấy. Củ Chi vời vợi xa mà gần.

Nhà chị bẩy vắng quá. Cái cổng cũ biến đâu. Tôi và bạn mình đi vòng lối sau vào nhà. Cái vườn chia năm xẻ bẩy bằng rào ô rô khô tái. Chị bẩy móm mém. Nội mất rồi, hai thằng cháu đi làm phụ hồ rồi đánh bạc cá cước bóng banh chi đó. Người ta xiết nợ. Chị có tiền góp hụi rồi bể hụi. Vườn bán dần giờ chỉ còn cái nhà.

Tôi hỏi chị trả nợ xong chưa? chị bảo hai đứa cháu lấy tiền bán đất trả nợ rồi đi biệt. Trả hụi chưa hết chị tính bán nốt cái nhà rồi lên Tây ninh tá túc nhà anh năm. Chị ba về Bến tre lấy đời chồng sau con cái lúc lỉu đỡ sao được nữa. Anh hai cũng mất vài năm nay. Chị hai bán nhà Sài Gòn đưa con về bắc. Chị chả lo gì, chỉ nghĩ nếu về Tây Ninh ai hương khói cho cha và anh ba trên An Nhơn Tây.

Trước mắt tôi chị bẩy Thơm phụ nữ ngày nào giờ là một bà già móm mém trong ngôi nhà vắng. Ngoài kia tiếng máy ủi máy búa đang rầm rập thi công khu công nghiệp Tân Phú Trung. Cái vườn có những cây lê ki ma vẫn xanh mướt nhưng đã là của người khác. Bờ ao hoa lục bình thì vẫn tím.


Hè 2012
NTL-LITANGU

litangu
22-06-2013, 11:20 PM
Sắp đến tháng bẩy rồi. Mấy ngày nay nhận được nhiều cuộc điện thoại đồng đội gọi có đi Quảng trị Tây nguyên thắp hương dịp 27/7 không? Tôi mắc việc đầu tháng 8 trong Sài gòn không đi được, nghĩ tiếc chuyến đi với anh em. Lại nhớ năm ngoái CCB 325, 320 và nhiều thân nhân liệt sĩ đi QT, mình viết bài gửi theo. Nay đọc vẫn nguyên xúc động. Đưa lên đây các bác cùng chia sẻ.


Kính cáo anh linh liệt sĩ Quảng Trị

Kính thưa:


Súng Cổ thành đã im bốn mươi năm. Chiến tranh dẫu lùi xa chẳng thể rời tâm tưởng. Nay vẫn nắng vẫn gió nơi một vùng cỏ cháy, chúng tôi về tìm lại các anh đây, ơi những đồng đội tôi đánh thành cổ năm nào!

Hãy về với chúng tôi, dù chỉ là giây phút, để người đời sau và những người sống sót tri ân người hiến trọn tuổi xanh, tri ân máu xương xây đắp thanh bình, bái lậy hương hồn các anh xanh trong cây cỏ, bái lậy hồn thanh xuân lọc nước sông xanh cho ngọt lành cửa bể. Chúng tôi về đây, hương khói nặng đời mình.

Nhớ các anh xưa. Chân chưa rửa sạch bùn đồng sâu cầy cấy, tóc còn vương rơm rạ ngày mùa, trí ngổn ngang trang sách vần thơ, mơ ước đất quê hương trời cao biển rộng.

Đọc sách bình Ngô ngó nước sông Gianh luống thẹn một thời phân chia uất hận. Náo nức phong trào Hai giỏi, Ba đảm đang. Tuổi thanh niên nghe tiếng gọi lên đường, miền Nam là máu trong tim đồng bào miền Bắc.

Từ châu thổ sông Hồng đến biên giới vùng cao phía bắc, chẳng phân chia Tày - Nùng - Kinh -… khu bốn - khu ba. Mẹ dắt con lên đường nối bước chí ông cha, trong đội ngũ bạt ngàn người cầm súng có cả dáng em tóc xanh đồng quê 5 tấn, có cả tiếng máy reo cần mẫn đêm ngày. Nơi điểm danh cho một đời trai, nơi tuyến lửa xẻ Trường Sơn xốc tới.

Cha anh làm nên chiến thắng Điện Biên, khói lửa Bình Trị Thiên một thời hào sảng. Ta mang súng vượt qua dòng Bến Hải, sao trời reo khúc nhạc quân hành. Ta nhập vào đội ngũ quả cảm hi sinh khi Tổ quốc non sông đều hướng về Quảng Trị.

Ta kiêu hãnh làm đội hình đốt lửa, cho nhân danh một đất nước anh hùng. Ta đương đầu với kẻ địch hùng binh, những lính dù, thuỷ quân lục chiến. Ta vượt dưới B52, pháo bầy, pháo biển, khi non sông chọn ta đứng điểm đầu. Việt Nam ơi chúng tôi tuổi hai mươi, tuổi hai mươi chọn năm 72 Quảng trị. Tổ quốc ơi có nơi nào hơn thế, đội ngũ chúng tôi tề tựu để hiến dâng.

Chúng ta tự hào đất quê mình lịch sử bốn ngàn năm. Ta vượt Thạch Hãn đuổi địch đến bờ sông Mỹ Chánh. Nắng rực lửa bốn bề đạn lửa, bọt máu sôi tiếng gọi mẹ giữa dòng. Người trước ngã rồi người sau lại xung phong, cổ thành quyết trải máu xương gìn giữ. Ba linh tám, ba linh tư, ba hai lăm, ba hai mươi, ba mười hai và điệp trùng đồng chí, điệp trùng những lữ đoàn thiết giáp, pháo binh, vận tải, đặc công,... điệp trùng những người dân Quảng Trị anh hùng. Quảng Trị ơi hoa và máu suốt chặng đường, các anh nằm đâu nay xin về lễ hội.


Đâu chỉ tám mốt ngày đêm cổ thành máu tưới, mà cả mùa chiến dịch máu và hoa. Những Nham Biều, chợ Sãi hầm hập B52. Pháo kích nát cả những đêm Tri Bưu, Triệu Long, Triệu Thành, Tích Tường, Như Lệ... Trang sách bỏ quên tìm đường vào chốt nơi Thành cổ. Các anh ngoái về phương bắc gọi quê hương. Mùi cỏ cháy suốt mùa hè Ái Tử, La Vang, lá thư nhà chưa kịp qua cầu Thạch Hãn.

Thân dẫu chẳng còn nguyên dưới hàng hoa phượng đỏ, chí còn mơ ngày trở lại giảng đường.

Máu dù loang trên mặt sóng kinh hoàng, lòng nhớ mãi một mảnh vườn có mẹ.

Chúng ta một thời cùng chung đội ngũ, kẻ mất người còn day dứt mãi tâm can.


Đất nước thanh bình đau đáu nhớ các anh, hài cốt vẫn ở nguyên nơi cùng nhau nằm nổ súng.

Dưới đất này các anh trở thành linh bóng, chở che cho mùa màng cha mẹ làng quê.

Tượng đài nào xây cho xứng bóng các anh xưa, cho trùm mát uy linh một vùng thiêng Quảng Trị.

Thắp bao nhiêu khói hương cho đủ, hương khói nào thơm đến tận đáy sông? Chiến công là chiến công của toàn dân, xin đổ rượu xuống dòng Thạch Hãn, để bao người đồng đội uống hoà chung. Hoa gửi đến những tâm hồn trinh trắng, những mùa hoa vắt kiệt nắng quê mình.

Xin ngước về Cam Lộ, Triệu Phong, xin vái lậy phía Hải Lăng cát bỏng.
Xin được khóc với dòng xanh cửa bể, xin được quì hôn nắm đất ven sông.
Xin được lặng im một phút giữa Cổ Thành, mời các anh về điểm danh cùng bao nhiêu đồng đội.
Mời các anh về nhận lớp, nhận trường, nhận đồng hương từ muôn nơi tụ hội.
Ngửa đầu với càn khôn bái lậy những anh hùng.



Nguyễn Trọng Luân bái cẩn

Dongdoi_D406
23-06-2013, 12:13 AM
Thuyền xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm

Lê Bá Dương

litangu
26-06-2013, 02:03 PM
Litangu hành Phú Quốc
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0160_zpse0185585.jpg

litangu
28-06-2013, 09:54 AM
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0105_zps89b1022d.jpg

Còn một chút hoang sơ
Cũng để lòng thư thái

litangu
28-06-2013, 11:37 AM
Nghĩa trang hoa sứ trắng

Mười năm sau tôi mới trở lại Phú Quốc. Chuyến bay đi bằng tàu bay to không giống cái ATR 72 chòng chành phát sợ khi hạ xuống sân bay ngay mép biển. Biển ngời ngợi xanh và rừng thì cũng chập chùng xanh, buổi sáng ở đảo trong veo hí hóp lồng ngực kẻ già. Hành trang mang theo ra đảo ngọc này ngoài mớ kiến thức tìm đến nơi ông Nguyễn Trung Trực bị bắt, tìm đến nơi ông Nguyễn Ánh trú ngụ chui lủi trước khi chạy sang Xiêm, là mong tự tay mua vài chai nước mắm ngoài An Thới về nịnh vợ, là xách chai rượu Sim về Hà nội là kiếm vài con cá ngựa bơi ve vẩy ở làng chài Hàm Ninh, là vào cái suối Tranh nơi cô Hà Kiều Anh tắm tiên tắm thử một phát...
Mười năm trước tôi đi Phú Quốc tiêu bằng tiền chùa. Cũng 5 ngày trên đảo cũng rong ruổi từ nam lên bắc đảo rồi sang đông đảo rồi thăm thú nơi nuôi trai lấy ngọc mà chả nhớ chả thu hoạch được gì. Nhớ nhất buổi tối tắm khô ở Saigon Phuquoc Tourist và bữa nhậu trên đảo hoang cách bờ An Thới 30 km.
Từ sân bay về việc đầu tiên là hỏi tài xế đến nghĩa trang liệt sĩ của đảo. Người tài xế ngạc nhiên, bác có thân nhân ở đó hả? Ừ đông lắm toàn lính cùng thời ấy mà. Tài xế im lặng. Xe lên con dốc đất đỏ và dừng lại dưới gốc cây Hoàng Lan nép bóng dưới tán cây muỗm thật to. Ngọn đồi thật đẹp thật cao và lối lên cũng thật rộng. Tôi đi trong nắng sớm, hoa hai bên vệt bậc xi măng như những cái khuy áo vàng. Những con kì nhông chạy thoăn thoắt, và những con bướm đen rõ to phần phật cánh trên hoa. Tất cả hơn ba ngàn ngôi mộ nép dưới hoa và lá xanh. Lên đỉnh đồi đứng dưới chân tượng đài nhìn xuống cả một ngọn đồi hoa trắng, cả một rừng bia mộ nép dưới những lùm cây hoa Sứ. Chỉ có một loài hoa Sứ trắng thấp thoáng hoa đai vàng. Ôi ngọn đồi bông Sứ trắng của các anh. Ngọn đồi đưa các anh về với nhau dưới rờm rợp ngan ngát hương hoa, hàng đêm các anh lại tụ tập bên nhau để kể cho nhau nghe về những cái chết tức tưởi của mình của đồng đội mình, thì thầm bên nhau nỗi nhớ quê hương cha mẹ vợ con. Ngoài xa sóng biển rì rầm, sóng biển nơi này vỗ vào bờ từ hướng tây, ngọn đồi này không nhìn thấy mặt trời lên mà chỉ nhìn thấy hoàng hôn buông trên biển. Thương đến nao lòng khi nghĩ các anh cứ phải quay mặt nhìn về nơi đất khách, cứ nhìn về vịnh Thái Lan quằn quại đêm ngày.
Họ bảo các anh luôn nhìn về tận Thổ Chu, hòn đảo cuối cùng dân mình đang ở đó, rằng các anh vẫn đau đáu thương những người Việt ở Thổ Chu còn khổ quá, xa vợi quá. Ở đó cư dân rất nghèo một dạ thủy chung với lá cờ đở sao vàng của nước Việt.
Chưa bao giờ tôi từng gặp một nghĩa trang nào ghi dòng địa chỉ trên mộ chí đặc biệt đến thế. Khi cha mẹ cho con vào bộ đội con có tên, rồi con có đơn vị. Cái tên hòm thư đơn vị QGP thiêng liêng làm sao, nó là niềm tự hào cho cha cho mẹ, ngay cả khi cầm tờ giấy báo tử. KT, KP, KN… Những chữ cái đơn giản vô tình đến khô khốc bao năm nay thế mà vẫn là tự hào của dòng họ. Còn các anh, những người lính chết tức tưởi trong tù Phú Quốc không có cái chữ ấy. Các anh chỉ có tên theo lô tù theo phân khu trại. Cũng may họ chỉ ghi số mộ số hàng số lô rồi tra vào sổ sách để ra số hiệu trong tù của các anh. Tất cả các anh mang những cái tên chỉ là tên khai trong tù còn tên thật các anh gửi lại đơn vị mình nơi mình là chiến sĩ QGP. Đến nghĩa trang, cái tên người nhiều quá không nhớ nổi, chỉ nhớ tên quê. Tỉnh này nhiều quá, tuổi này nhiều quá mà thôi. Ở nghĩa trang Phú Quốc ta thấy khắp đất nước này có con em mình bị tù đầy tra tấn dã man ở đây. Ta thấy những chú học trò mười chín tuổi đã bị kẻ thù đóng đinh xuyên sọ, ta thấy những người lính ngoài bốn mươi tuổi bị giam cầm từ đất liền ra đảo rồi chết khi vợ dại con thơ còn chưa no đủ. Chiến tranh đằng đẵng mấy chục năm để con số hơn bốn mươi ngàn tù binh đã qua hòn đảo này. Chiến tranh có những nơi mà đời lính chiến của tôi đã qua không thể hiểu nổi. Rằng đi qua chiến tranh, sức lực chiến công của mình mới nhỏ bé làm sao khi đến nơi này soi vào các anh. Khi đến nơi tưởng niệm các anh ở An Thới. Nhìn những hiện vật man dại đã tra tấn đồng đội mình những tấm hình của hố chôn tập thể rợn người và những bài thơ các anh viết trong tù những bài văn học, toán học dậy lẫn nhau trong mong manh cái chết. Bó hương cháy rừng rực trên đỉnh đồi, dưới kia thị tấn Dương Đông đang hừng hực công trường. Khu trại tù nay vẫn hoang vu nhưng cây đã mọc trùm xanh vùng cỏ Mĩ xác xơ. An Thới như một thị trấn ven biển lớn ngoài bắc cuộc sống vẫn trùm lên vô tình với quá khứ.
Tôi rời ngọn đồi các anh tề tựu xếp hàng. Hoa Sứ rụng trắng trên bia mộ các anh. Có con thằn lằn phơi nắng như nằm hít mùi hoa trên mặt bê tông. Gió biển lại thổi rơi những cánh hoa lên mộ. Dưới kia, là những con người chiến đấu thật anh hùng và chết bi hùng. Các anh khi chết chả kịp mơ điều gì vì các anh chống chọi với kẻ thù là đao phủ người trần. Ôi, sao sáng nay tôi lại nhớ đến cái bài hát có cái câu… đêm đêm ngửi mùi hương, mùi hoa sứ nhà nàng… Tôi giận tôi quá, bởi tự mình có lỗi với các anh.

Phú Quốc 26/6/13 Litangu-NTL

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_8840_zpsd41eb9aa.jpg

Đài Liệt sĩ Phú Quốc
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_8847_zps1bbd4f2c.jpg
HOa Sứ trắng trên mộ các anh

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_8847_zps1bbd4f2c.jpg



http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0166_zps0e00a71d.jpg

Các anh cứ nhìn mãi về phía biển hoàng hôn

litangu
29-06-2013, 08:13 AM
Lời của người chiến sĩ nằm lại trên cao nguyên

http://i774.photobucket.com/albums/yy24/sapa612003/Quang Tri 40 years 1972-2012/02-4-2012/Hoasen.jpg

Chúng tôi những chiến sĩ binh đoàn Tây nguyên
Đã tan vào đất
Chiều nay bỗng thấy hoa sen thơm ngát
Đưa chúng tôi về với ao làng

Đưa chúng tôi về với mùa trăng
Em giặt áo cầu ao ngày tôi lên đường nhập ngũ
Gốc rơm xiêu bóng mẹ
Mấy mươi năm hoa cỏ vẫn thơm lòng

Khói hương chở chúng tôi ngày một ngày rằm
Bàn thờ nghèo chỉ lá trầu bát nước
Thân xác chúng tôi lấm đất bùn khi chết
Thì thảo thơm đã có cả xóm giềng

Chiều nay chúng tôi gặp hoa sen
Ai hái đó ? cho cao nguyên này man mát
Em đấy ư ? ao làng còn hay hết ?
Cánh chuồn run run mùa hạ chúng tôi về

Cả Binh đoàn thao thức ở rừng xưa
Lòng đất lạnh vẫn từng cơn sốt rét
Ai đưa về đây hương hoa sen kiếp trước
Máu Ba zan còn đỏ đến bao giờ ?

LITANGU

litangu
29-06-2013, 09:21 AM
Tôi gửi ca khúc này lên đây để các bác CCB cùng chia sẻ với người Lính Tay Nguyên


http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=Sm7iZsKgxlU

litangu
30-06-2013, 09:41 AM
Sẽ có rất nhiều chuyến đi của những người lính trong tháng bẩy này về chiến trường xưa
Tôi viết bài thơ này tặng họ .


Hành quân tháng bẩy



Tháng bẩy mỗi năm một lần
Phía chiến trường xưa lại gọi
Những người lính già lập cập
Lại cùng nhau hành quân xa

Hành quân với hương và hoa
Với tên người xưa rất cũ
Với nỗi niềm đau rất thật
Những vết đau không có mùa

Nào đi thôi chúng mày ơi !
Tưởng như mình đang còn trẻ
Phía trận địa xưa rừng thẳm
Hay thành phố xá xinh tươi

Hành quân đi tìm lại nhau
Đi tìm tiếng cười đồng đội
Đi tìm nỗi buồn của cha
Đi tìm nước mắt của mẹ

Nào ! lên ba lô lần nữa ,
Lại gặp nụ cười của em
Ven đường xe qua nắng bụi
Trường Sơn đâu ? Trường sơn ơi

Nào đưa đây tao vác cho
Những là hoa là nón lá
đường vào biết bao nhiêu cô
Mộ chí còn không hay đã…?

Thuốc lào nhớ nhé đừng quên
Chúng nó nằm trong hang đá
Thèm thuốc quê mình đến thế
Khói vẩn vơ vào chiều xưa

Hành quân mang trích ngang thôi
Giống như ngày xưa vẫn thế
Trích ngang xưa để vào trận
Bây giờ trích ngang tìm nhau

Hành quân xưa những nói cười
Bây giờ hành quân nghẹn thở
Vợ già và dâu và rể
dõi theo mình hành quân xa


LITANGU 30/6/13

litangu
30-06-2013, 09:02 PM
Dẫu bây giờ đã hơn 60 tuổi, nhưng nhìn hoa phượng đỏ trên đường phố Hà Nội lại bâng khuâng nhớ ngày đi học. Ngày ấy đã xa thật xa mà hoa thì vẫn đỏ hệt như ngày xưa. Khi vào Thành Cổ Quảng trị nhìn hoa phượng lập loè nhớ đồng đội cùng học khi xưa không về, lại nhớ trường nhớ lớp, lại nhớ thầy cô của mình. Thầy cô mình đã già lắm, nhiều thầy cô đã về cõi vĩnh hằng, cũng có thầy trở thành người bạn chiến đấu với mình những năm đi đánh giặc. Bây giờ các thầy cựu chiến binh ấy già lắm, yếu lắm rồi mà bài giảng của các thầy vẫn vang đâu đây. Tôi viết lại câu chuyện dưới đây nhớ thầy giáo của mình đồng đội tôi thời ấy.


Thầy Đấu



Bây giờ thầy đã nghỉ hưu. Ngôi nhà của thầy cũng xây ba tầng nhưng thanh thoát bên bờ sông Thao. Thầy không đi dậy thêm, nhưng nhiều học trò vẫn tới nhà nhờ vả thầy mỗi kì thi đại học. Thù lao cũng thật đơn giản, cân chè, ống gạo nếp, vài cân đỗ lạc, hoặc nải chuối tiêu mang từ trong xóm.
Tôi là học trò của thầy từ cuối những năm 60, nhưng tôi hay gọi thầy bằng chú vì thầy là chú họ của tôi. Nhưng có lẽ thầy coi tôi là bạn nhiều hơn bởi tôi là đồng đội của thầy. Viết lại những chuyện về thầy thật khó, bởi trong tôi thầy là người thầy kính trọng, người chú thân tình và lại là người đồng đội vào chết ra sống cùng nhau.

Mùa hè 1972
Năm ấy oi ả khác thường. Nước sông Hồng lên ù ù. Trời đầy những mây đùng đục vần vũ ngày đêm. Trống hộ đê, trống báo động tàu bay nghe cứ rối cả ruột. Chạy ra đắp đê, lại chạy vào xóm chui suống hầm trú ẩn, ngày có tới vài chục lượt. Người bã ra như tàu chuối gặp lửa. Làng xóm cứ như cái chảo sao chè hầm hập nóng mà cái nóng không chịu nguội dần, nó hâm hấp như nồi cám sôi. Đấy là những ngày chú Đấu và tôi cùng nhập ngũ.
Tôi đang là sinh viên năm thứ ba, còn chú là hiệu phó trường cấp ba Vĩnh Chân. Chiến tranh thật lạ, nó đưa trai tráng, nông dân, công nhân, nhà khoa học, thầy giáo... về trong một đội hình không phân biệt sang hèn, nhiều chữ hay ít chữ, bằng nhau tuốt tuột và cùng cầm lấy súng.
Ở quê tôi, nhiều thầy giáo nhập ngũ ngày ấy lắm. Tôi nhớ Thầy Lê Hoả - Hiệu phó cấp ba Hạ hoà, Thầy Hoài Thuỷ tổ trưởng văn trường cấp 3 Trần Phú Vĩnh Yên, thầy Nguyễn Đức Vận, thầy Rồng, thầy Kế cả thầy Hưng con trai của vị lãnh đạo sở. Thầy Triệu Đấu năm ấy đã 32 tuổi. Cùng đơn vị là những học trò của các thầy. Tập luyện, mang vác, mọi sinh hoạt thầy trò đều gắn bó san sẻ. Thầy trò chia nhau sợi rau điếu thuốc. Mặt trận cần gấp quân chiến đấu, chúng tôi không hề có ngày nghỉ phép mà đi thẳng vào chiến trường. Những tháng ngày đó lũ học trò chúng tôi đâu hiểu đựơc bụng dạ tâm tư của những người lớn tuổi. Những người có cả một đội tàu há mồm mong ngóng nơi quê nhà. Các thầy trầm tư, các thầy hí hoáy viết lách, trò chuyện với nhau bọn tôi nghe câu được câu chăng. Nhưng đứa nào cũng thương các thầy giáo của mình. Trong ba lô căng phồng ngày xuất quân, thầy nào cũng có những quyển sách giáo khoa môn mình dậy. Hồi đó tôi không hiểu tại sao lại thế. Để hiểu sự mang sách giáo khoa đi chiến trường tôi phải mất nhiều năm học tập sau này mới lí giải được.
Thầy có cậu học trò học cũng khá mà thầy rất quí. Nay lại về ở cùng một tiểu đội. Thế là suốt đường hành quân hai thầy trò tha hồ mà giở lí, giở toán ra bù khú. Một hôm, trú quân ở rừng Khăm Muộn đất Lào, câu chuyện hai thầy trò lan sang cả tiểu đội. Thanh, cậu học trò lúc nào cũng bắt đầu trước bằng những kỉ niệm ở trường. Thưa thầy, à anh... à đồng chí. Thầy Đấu bật cười, cậu cứ ấp úng như tớ gọi cậu lên bảng ấy. Thanh cũng cười, vâng thì em cũng đang lên bảng đây. Thầy ạ, hôm đi bắn B40 em mới hiểu ra bài toán khi đạn ra khỏi nòng sẽ không bay đường thẳng nữa. Ông cụ non! Chú Đấu lẩm bẩm, vậy nên tớ cho cậu kiểm tra hôm ấy 4 điểm là phải, làm đúng bài mà không hiểu bản chất. Đấy lại bản chất. Thanh làu bàu. Cả tiểu đội cười ồ.
Thanh khoẻ lắm. Những ngày ôn thi tốt nghiệp vừa rồi nó vẫn đi gặt chiêm cho mẹ nó. Nó gánh tới 70 cân lúa. Nó ăn cũng gớm. Thầy Đấu vẫn thường ưu tiên nó. Có cái bánh mì mua được ngoài quán cũng giành cho nó. Mỗi chủ nhật kiếm thêm mớ rau con cá cải thiện thầy làm đầu bếp còn lũ trẻ thì xông vào nếm náp và khen nhiều hơn chê. Hành quân qua cao nguyên Pô lô ven cả đơn vị hễ dừng lại ở trạm giao liên là chia nhau đi vào làng bản đổi gà, đổi rau hoặc bất kì thứ thức ăn nào để ăn thêm. Mặt mũi ai cũng sạm đi sau những ngày trèo đèo lội suối. Trên đường Trường sơn nhìn các thầy giáo còng lưng leo dốc bặm môi nhẫn nại, mồ hôi lưng áo trắng như tấm mo nang. Học trò muốn san xẻ ba lô nhưng chẳng thầy nào chịu. Dọc đường cả tiểu đội cứ nhìn vào cái lưng còng của thầy nghèn nghẹn, cảm xúc giống như nhìn lên tấm bảng ở lớp mới hôm nào. Chúng tôi đều coi các thầy như là chỉ huy của mình mặc dù tất cả các thầy cũng đều là binh nhì như chúng tôi. Lũ học trò đã đổi tất tật những gì mang theo từ miền bắc. Lúc đầu thì là ảnh mấy cô diễn viên điện ảnh thời ấy mà chúng tôi mua ở những hàng sách báo dọc đường. Sau đó là đổi cả ảnh bạn gái, kim chỉ, giấy viết thư. Tuy chẳng bằng lòng nhưng thầy cũng đành chịu vì thương trò đói quá. Dọc đường thầy hay để ý vặt nắm lá bứa, bẻ vội ngọn măng rồi căm cụi ca cóng. Một đêm, ở trạm T78 ngã ba Đông dương. Trạm này đẹp. Gần sông lại gần dân nên đổi được con gà, ca cóng xong lên võng. Máy bay địch thả pháo sáng bên kia sông. Thầy trò lại rì rầm. Ngày mai sẽ hành quân theo hướng đông, sẽ về mặt trận đường 19 Tây Nguyên. Lũ học trò thì chả cần biết, ồi! đi đâu chả là mặt trận chả đánh nhau.
Hành quân vào tới vùng cao nguyên Kon Tum thì thằng Thanh đổ sốt. Chiều vừa dừng chân thầy đã vào bản gần đó đổi trứng gà. Thầy gọi thằng Việt Anh đi cùng. Thầy có cái khăn mu soa thêu con chim rõ to màu đỏ. Cô gái người dân tộc thích quá . Nhưng thầy không biết ra hiệu quả trứng gà là thế nào. Thầy loay hoay. Ngay lập tức thằng Việt Anh để nắm tay vào đít, một tay vỗ mông phành phạch, mồm cục tác cục tác rồi đưa nắm tay lên xoay tròn một vòng. Cô gái đỏ mặt và hiểu ra là trứng gà. Hứng trí vì lập chiến công, thằng Việt Anh bất ngờ hôn vào má cô đồng bào một cái. Và thế là sinh chuyện to. Cô gái bắt đền quầy quậy: "Bồ đồi khồng tột chớ, khồng tột, bồ đồi ngừi mồm mình… đền lường khồ “ (Bộ đội không tốt chứ, không tốt, bộ đội ngửi mồm mình… phải đền lương khô... ) Chính thầy Đấu phải dứt ruột trả một bánh lương khô cho cô gái đồng bào để dắt thằng việt Anh ra khỏi bản.
Đêm ấy thằng Thanh cắt cơn sốt, mồm lại nói như sáo. Đang đêm Thanh hỏi:
- Sao thầy lại tên là Đấu?
- Mỗi cái tên nó có cội nguồn bản chất của nó. Thầy trả lời
Nó lại tiếp: em là Chử Lương Thanh thì là gì?
Im lặng lúc lâu thày bảo: tâm hồn trong sạch. Cả tiểu đội ồ lên. Nó không trong sạch lắm đâu thầy ơi, nó nói dối con bà chủ ở ngoài Thái Nguyên là nó có vợ rồi làm cho con bé ấy khóc sưng cả mắt.
Thầy dịu dàng, nó tốt đấy. Rồi tiếp: Tên thầy là do ngày mẹ đẻ thầy, nhà nghèo phải đi vay hàng xóm đấu gạo… nhà đói lắm.
Lát sau thầy kể, ở làng thầy có người cũng tên là Đấu nhưng là vì đẻ ra giữa năm cải cách, lúc ông bố bị lôi ra đấu tố vì tội có những ba con trâu. Người chồng thì đang bị đấu tố trong khi người vợ thì đau đẻ. Nên cũng đặt tên là Đấu. Nhưng Đấu này là đấu tố không phải đấu gạo như thầy.
Cả tiểu đội lao nhao, sao lại bị đấu tố vì có ba con trâu, mà đấu tố là gì. Thầy lăn mình trên võng, thôi bao giờ trở về đi học nữa bọn em sẽ biết thế nào là cải cách ruộng đất, là đấu tố. Cái gì cũng có bản chất của nó, mà bản chất nó đơn giản thôi nó nấp sau những thứ ba lăng nhăng lằng nhằng gọi là hiện tượng. Thầy ngủ đây. Đêm Kon Tum hun hút đen. Những chú lính chìm trong giấc ngủ có tiếng súng đì đùm xa gần với nhiều điều háo hức vời vợi.
Nhưng có một cái võng mắc ở gốc cây săng lẻ trong cùng, một đứa không ngủ. Ấy là thằng Hóa. Nó ít nói ngay từ khi vào lính. Nó học cùng lớp Thanh nhưng dốt hơn. Nhà nó nghèo kiết, bố nó bỏ hai mẹ con lên làm ăn trên Ba Khe Nghĩa Lộ rồi tịt không về. Hóa cứ đơm đo cua ốc mà đi học, không có tiền gạo đi ở trọ, nó cứ chân đất đi về gần mười cây số. Tính nó cục. Một lần kiểm tra viết môn Vật lí của thầy Đấu. Khi trả bài nó bị điểm hai. Mặt nó gằm tím lại. Ra khỏi lớp nó xé bài kiểm tra làm tư rồi cho vào túi sách. Vụ việc này khiến nó bị kỉ luật. Từ ấy nó lại càng ít nói. Hôm vào bộ đội thầy Đấu bảo, bây giờ Hóa đừng mặc cảm làm gì, thầy trò là đồng đội là bạn bè rồi. Nhưng nó chỉ cười bẽn lẽn. Nó vẫn buồn. Đêm nay nó không ngủ, nó đang nhớ mẹ, mẹ nó một thân một mình quanh năm lam lũ ăn củ khoai củ dáy sòi cả bọt mép. Hôm nhập ngũ mẹ nó phải bán cái chum đựng nước lấy chục đồng cho nó mang đi. Hồi ở nhà nó chỉ ước ao làm ra tiền để mua cho mẹ nó cái quần vải láng Nam định thay cho cái quần chân què vá chằng vá đụp của mẹ mà chưa kịp làm thì đã đi bộ đội. Nó lại cũng đang nghĩ về thầy Đấu, thầy cũng khổ mà thầy vẫn yêu quí chúng nó...
Một chiều. Dừng chân ở trạm khách, mà trạm này gần ngay con sông Pô cô. Tính đến nay đã tròn trăm ngày hành quân. Ai cũng hốc hác, mắt thì lồi to ra, trắng rã. Môi thì xám lại. Các thầy giáo của chúng tôi trông càng thảm hại hơn. Mắc võng, đào hầm rồi khiêng nước về nấu cơm mà ai cũng bải hoải. Nhìn thằng Hóa, thằng Thanh buồn xiu thấy Đấu tán vui. Trông hết khí thế rồi à? tớ chuẩn bị sẵn nắm lá bứa rồi kiếm cái gì làm mồi nấu canh chua cho tỉnh táo. Thằng Hóa rụt dè đề nghị, bắn đạn AK lấy mấy con cá con thôi thầy ạ. Lần đầu tiên thày tán đồng chuyện bắn cá dưới suối. Thế là mấy thày trò kéo nhau đi. Con suối nông chừng bắp chân nhưng phải đi xa một chút, sợ cán bộ chỉ huy phát hiện. Vừa nổ hai phát vớt được dăm con cá to như ngón tay trỏ thì có tiếng quát: Đứng lại, lính Xê nào kia. Thầy trò nhìn ra là chính trị viên đại đội và cậu liên lạc chạy tới. Chính trị viên mặt đỏ rần lên, nhưng nhìn thấy có ông thầy giáo cấp 3 nên nỗi giận hóa ngập ngừng…
- Vô kỉ luật… lính tráng vô... vô văn hóa. Ông ấy quát
- Đi về… họp! làm… kiểm điểm. Khi Chính trị viên bỏ đi rồi, thầy Đấu vẫn lặng im. Thằng Hóa mặt đanh lại, sao ông ấy nói thầy trò mình như thế, không có tôn trọng đồng chí... trên dưới gì hết. Đói bỏ mẹ...
Thầy nói khẽ, ông ấy nói đúng đấy. Văn hóa không phải từ thứ bậc cấp chức mà ra đâu các em ạ. Thầy trò dốc ngược nòng súng đi về bãi trú quân. Nồi canh chua ngon quá mà thầy thì cứ ắng lặng chả nói gì.
Đầu năm 73. Thầy Đấu được điều về trung đoàn 48 sư đoàn Đồng Bằng. Còn Thanh lại về trung đoàn 64. Từ ấy bặt tin nhau. Ở chiến trường thư gửi làm sao được, cách nhau hai ngày đi bộ thôi nhưng lính tráng có bao giờ biết ngày nghỉ là gì, chiến trường không có khái niệm chủ nhật để mà đi thăm nhau. Cũng chỉ nghe vậy, chứ thầy đi rồi, bịn rịn lúc ấy còn sau đó chúi mũi vào chiến dịch này chiến dịch nọ. May mắn đêm khuya im tiếng pháo mới chợt nhớ quê nhớ mẹ cha và nhớ các thầy các bạn.
Một năm sau. Một năm ở chiến trường nó làm con người đổi khác nhanh chóng. Chỉ một năm qua trận chiến nó sàng lọc mọi thứ sáng chưng ra, chiến tranh nó làm cho tâm hồn ai đẹp thật thì đẹp ra, Chiến tranh không có mập mờ gianh giới giữa xấu và tốt. Chỉ có tốt thật và xấu thật . Ấy thế mà hai sự ấy cứ cùng sống với nhau cho tới hết chiến tranh. Hết chiến tranh xấu tốt nó lại kí sinh lên nhau, mập mờ. Lạ thật.
Bây giờ Thanh đã là A trưởng C11 chủ công của tiếu đoàn 9 anh hùng... Mà anh hùng từ ngày đánh Nam - Lào kia đấy. Có điều, nó ngót đi đến dăm bẩy cân. Bạn bè bảo, ồi dào cứ gì mày mới ngót chúng tao bây giờ củng chỉ còn hơn bốn chục kí thôi, mày mà cứ giữ kỉ lục sáu lăm kí thì khi bị thuơng chúng tao khiêng sao được. Một hôm Thanh đi công tác lên trung đoàn bộ về khoe nhận được thư tay thầy Đấu đọc cho tiểu đội nghe. Thầy bảo thầy được điều về C16 bắn 12,7 li. Thầy Nghĩa, thầy Hưng xuống DKZ, thầy Hỏa về C17 công binh… Thầy dặn học trò của thầy đừng tụt tạt nhé, phải chiến đấu cho xứng danh học sinh Xã Hội Chủ Nghĩa. Giữ vững bản chất của học sinh Hạ Hòa nghe không? Đấy, lại bản chất. Rồi nó chùng giọng. Thằng Hóa hi sinh rồi chúng mày ơi. Thầy Đấu bảo đánh Chư Nghé nó lên cửa mở đánh bộc phá bị đạn thẳng thấu phổi máu và bọt sùi ra đầy lưng. Dứt điểm rồi nó vẫn chưa chết, nó ôm lấy thầy, trước khi tắt thở nó xin lỗi thầy về việc đã xé bài kiểm tra ngày trước. Thầu Đấu ôm trò của mình khóc hực hực. Thư của thầy nhòa quá chúng mày ạ. Nó tiếp:
Này nghe thôi nhé, thầy buồn lắm vì chuyện gia đình ngoài kia, ở nhà làm sao ấy. Thầy bảo đừng nhắc tới chuyện vợ… Khổ các thầy quá nhỉ, già hơn cả mấy ông lãnh đạo trung đoàn, đánh nhau vận động mang vác ở chiến trường thì theo sao nổi bọn trẻ… Đêm ấy nằm bên thằng Hưởng nó bảo, tao cứ nhớ mãi bài vật lí đạn ra khỏi nòng đi cầu vồng của thầy Đấu. Nhưng lúc hành quân trên Trường Sơn thầy có tâm sự với tao, chỉ có con đường đi thẳng nhất là từ trái tim mình đến tim kẻ thù, thế là thế nào nhỉ? Thầy cứ làm tao khó hiểu bỏ mẹ. Mấy cái võng toàn học trò cấp ba cùng một trường huyện không đung đưa nữa. Chúng nó im thin thít.

Chiến tranh lắm chuyện tình cờ. Tháng 4 năm 1974 trung đoàn 64 tổ chức đánh cứ điểm Lệ Ngọc. Trận ấy có đại đội 12,7 li của E48 đi phối thuộc tăng cường. Đêm chiếm lĩnh trận địa tình cờ thầy trò gặp nhau. Gặp nhau vào cái lúc áp sát đồn giặc, hừng hực, hồi hộp, phấp phỏng… Trong đêm, Thanh bò tới hầm pháo của chú Đấu. Bộ râu quai nón lởm chởm của thày kì sát vào má nó thật ấm áp. Thầy Đấu nói gì nó chả nhớ chỉ thấy như bên mình một người ruột thịt mà bỗng dưng được gặp ở giữa cái nơi sống chết khiến nó thấy tin cậy, yên lành. Chợt, nó lục cóc ba lô đưa tặng thầy cái bàn cạo cụp xòe của lính Mỹ. Tặng rồi nó mới nhớ ai đó nói tặng dao là xui lắm. Nó xin lại. Thầy Đấu cười: bàn cạo còn cách xa dao, lo gì. Mà em tặng bàn cạo đấy chứ có phải tặng dao đâu. Bản chất vật lí không phải như thế đâu ông cụ non ạ. Thanh cười, thầy cũng cười.
Gần sáng nổ súng. Sau một hồi hỏa lực bắn áp chế, bộ binh vụt lên đánh bộc phá liên tục mở cửa. Đã vào sát tường đất. Bị chững lại. Sau cơn choáng váng bất ngờ vì pháo của ta, hỏa lực của giặc hoàn hồn bắt đầu nã đạn về hướng quân ta đang lao lên đánh bộc phá. Mũi của Thanh nằm sát cửa mở. Không ai ngóc lên được. Chớp lằng nhằng với đủ loại đạn phun về phía Thanh và đồng đội. Nghe tiếng quát: Hoả lực điều lên ngay... Đột nhiên tiếng 12,7 li chát chúa liên hồi bắn thẳng vào đột phá khẩu, rồi DK bắn vào lô cốt đầu cầu. Chỉ chờ có vậy, mũi xung kích vọt lên. Ầm... Ầm. Bộc phá liên hoàn nổ rung cả óc. Thanh cùng với tiểu đội vụt qua cửa mở mù mịt khói. Lửa đạn vun vút vạch ngang vạch dọc trên đầu dưới chân. Mặc. Bộ đội lao lên như xé toác căn cứ địch. Trận đánh xong lúc 7 giờ sáng. Các đơn vị rút ra ngoài. Thanh len lỏi những cáng thương chạy lên tìm chú Đấu. Họ bảo, có ông thầy giáo bị thương nặng chuyển ra phía sau rồi. Ông ấy bị mảnh cối lòi cả ruột. Ngồi bệt xuống bờ suối, nước mắt nó trào ra.
Nó gọi:
- Thầy ơi!.
Thanh biết. Luồng lửa của đạn 12.7 li bắn thẳng vào cửa mở là của khẩu đội thầy Đấu. Nó chạy dưới làn đạn bắn thẳng của thầy. Phía sau lưng, thầy đứng thẳng lên tì vai vào súng nghiến răng bắn mở đường cho học trò của mình, máu chẩy dọc hai chân quần ướt đẫm. Chỉ chờ có thế, đơn vị ào lên, mở được đột phá khẩu và giải quyết dứt điểm trận đánh.
Bây giờ thì Thanh hiểu. Đường đạn ngắn nhất mà bay thẳng là thế, là từ trái tim mình tới trái tim kẻ thù.



NTL - LITANGU

litangu
02-07-2013, 07:46 AM
Dáng chiều trên những dòng sông chiến tranh

Quê tôi cũng ở bên sông. Con sông Hồng bên lở bên bồi như bao dòng sông khác. Lớn lên nghe tiếng ầm ào mùa nước, nghe tiếng bồi băng xoàm xoạp trong cơn lũ rợn người. Nghe tiếng gọi đò đêm khuya năn nỉ day dứt. Nghe tiếng đàn trâu phì phọp lúc hoàng hôn, tiếng trẻ con nô đùa vùng vẫy, tiếng đập chiếu bôm bốp dội đi dội lại đôi bờ. Những con đò gác đầu nằm nghiêng lên bãi cát. Những mùa đông vắng người con đa đa gật gù đi mon men cạnh những chiếc thuyền nan lười biếng. Những chiều tôi đứng trên đê nhìn sang dãy núi xám mờ bên kia sông, dãy núi chạy dài lên tận Nghĩa Lộ thấy những tàn lửa lập loà cứ hình dung ra một ngôi nhà cheo leo trên cao và những đứa trẻ cũng chân đất như tôi ngồi nướng sắn...

Tôi đi học, vẫn chân đất đến trường. Ngày vào đại học, tôi đi xa nhà mang theo đôi dép cao su mà mẹ phải bán hai gánh sắn mới mua nổi. Rồi quê tôi bị bom Mỹ thả vào ga tàu hoả, vào ngôi trường mái lá bên sông.
Rồi tôi đi bộ đội. Ngày đi B tôi không được ghé thăm nhà. Tôi đi thẳng vào chiến trường năm 1972. Ngôi làng nghèo bên sông ấy và hình bóng cha mẹ cứ chập chờn hiện về ở Trường sơn đung đưa trên võng.

Một đêm cuối năm 1972 chúng tôi qua sông Mã. Cái cầu treo phía nam Hàm Rồng ập ình trong bóng đèn đỏ lòm từ cây đèn bão của người gác cầu. Cả tiểu đoàn vôi vã qua sông trong mưa phùn rét buốt. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên nghe con gái Thanh Hoá nói trong đêm với nhau: Bộ đội ở mô mà hiền chúng mày nhở? Rồi chúng tôi bì bõm trong đêm, con sông Mã oai hùng trong thơ ca, trong trí tưởng tượng của chúng tôi sao nhỏ nhoi hiền lành như những người con gái dẫn đường ở cây cầu phao đêm ấy.
Hai tuần sau, áp tết Nguyên đán chúng tôi tới sông Gianh. Đêm ấy khuya rồi, chừng 12 giờ đêm chúng tôi xuống ca nô ở Quảng Thuận. Rét lắm. Mặt sông trắng như sữa bởi sương mù. Tôi không định hướng được bởi không trăng không sao lại mù sương. Bỗng nghe hò (xin đừng ai bảo là tôi viết văn nhé). Tôi ám ảnh mãi đến bây giờ vì câu hò trong màn đêm sương dưới sông Gianh năm ấy...
“ờ... ơ hò Chừ sông Gianh thì mãi chỉ mừ sông Gianh
Chừ... anh đi đánh giặc... ờ ờ ơ dù có xa... ờ ơ mãi chỉ là anh là anh của ơ ớ mình...”.
Tiếng ơ ờ, anh anh mình mình nằm vắt ngang trên sông mãi không dứt.
Chen chúc nhau trên ca nô chật cứng và ai cũng mỏi mệt nhão người nghe con thuyền nào trôi giữa sông có tiếng hò rất ấm trong một đêm rất lạnh. Bên tôi, chật ních những người ra trận dựa vào nhau mệt mỏi không có lời hưởng ứng. Chiếc ca nô cứ ngược sông Gianh oàm oạp rồi rẽ sang sông Son óc ách. Nhưng tôi biết tất cả đều không ngủ và ai cũng lắng nghe tiếng hò trên sông đêm ấy. Đêm sông Gianh với tôi là một đêm thổn thức.
Mờ sáng, cả đoàn quân leo lên bờ sông. Bờ bãi là lau sậy, con đường đất loe loét bùn bọc chiều dài một triền ngô non. Con đường lê bùn nhoét vào tận làng Cự Nẫm. Ngôi làng nghe cái tên thật lạ lẫm với người học trò miền bắc như tôi. Ở lại Cự Nẫm mấy ngày từ 22 tháng chạp tới 26 tết mới ra đi.
Chiều chiều ra bờ sông nhìn khói bếp len lỏi vườn cây, nhìn những đứa trẻ nướng khoai bên bờ sông lại nôn nao nhớ nhà. Cứ tự hỏi đã có biết bao người lính miền bắc đã qua dòng sông này? mình là người thứ bao nhiêu và còn bao nhiêu người qua đây nữa?
Những ngày tiếp theo là chuỗi ngày hành quân trên Trường sơn. Chúng tôi qua sông Sê băng hiêng, rồi sông Bạc. Những con sông ở Trường sơn nhỏ thôi nhưng lởm chởm đá, kì bí hiểm trở. Có con sông chảy từ đông sang tây và lại có những con sông chảy từ phía tây về hướng Tổ quốc mình. Có điều lính vượt sông bao giờ cũng vào lúc còn đêm. Chỉ nghe óc ách, và ầm ào của hàng trăm người lính lội dưới dòng. Vượt qua sông sợ nhất là có pháo sáng. Lúc ấy mặt sông trắng xoá ra nhìn rõ dép cao su của mình dưới nước. Người đã sang bờ bên kia là cắm đầu chạy, còn đội hình đang ở giữa sông thì dìm cả người xuống sông.
Tôi từng gặp một dòng sông đẹp mê man trên dường hành quân. Đó là con sông Xê Công ngay gần trạm 78. Chiều ấy chiều thật vàng, bãi khách là một khu rừng lá vàng trên bờ sông. Những con thuyền từ phía Miên bơi sang đổi thuốc lá. Lần đầu tiên đổi cái mui soa được gói thuốc con gà. Chúng tôi nằm trên võng nghe tiếng con gái vọng dưới sông và tiếng cười của họ rơi lanh lảnh trên mặt nước. Hôm sau chúng tôi đi theo hướng mặt trời nhằm về Kon Tum.
... Chúng tôi vượt sông Pô kô (con sông hợp bởi ĐAPLA và KRONGPOKO) đi về hướng Gia lai. Lại một chiều trú quân ven sông. Cán bộ nhận quân cấm không cho lính ra bờ sông. Mắc võng trong rừng le nóng ngột ngạt ong ong trên đầu tiếng máy bay L19. Tắt nắng, máy bay cũng chuồn từ lúc nào, chúng tôi ra ngồi trên tảng đá nhìn sang sông trong nhập nhoạng tối có một con thuyền độc mộc trôi xuôi, một người đàn ông đóng khố chèo thuyền như đang chui vào cổ tích. Con thuyền len lỏi qua từng vạt đá, nó nhấp nhô lặng lẽ. Nửa đêm chúng tôi qua sông. Khúc sông cạn đầy ghềnh đá mà hiền lành. Người cán bộ nhận quân nói, mùa khô nó hiền thế thôi chứ mùa mưa thì khủng khiếp lắm. Tháng 6 năm nay đơn vị mình lật cánh từ Kon tum về Gia lai đưa cả thương binh nằm trên bè kéo qua, dây đứt bè chìm dưới thác mất cả thương binh, buồn quá. Chúng tôi im lặng không dám hỏi lại và người cán bộ cũng im lặng cho đến sáng. Con sông Pô kô huyền thoại với lũ học trò lâu nay bây giờ lại càng thêm huyền thoại. Chúng tôi để lại sau lưng tiếng nước chảy vớí dòng sông tựa hồ những con thác trườn trên rừng đá lởm chởm để đi về phía súng nổ. Thân xác các anh thương binh giạt vào đâu trong cái con sông đầy ghềnh đá hang hốc ấy?

Ba năm trời trong cánh rừng phía tây Pờ lây cu. Qua mùa mưa lại sang mùa khô hết tác chiến lại tăng gia, hết lên nương lại giữ chốt, nhiều khi nhớ nhà là lại thấy con sông quê mình hiện lên, lại thấy hình ảnh bố mình cõng cái thuyền nan đêm đêm đi kiếm cá. Nhiều đêm lẫn trong tiếng pháo kích từ Thanh An, Hàm rồng, Mỹ Thạch nghe lanh canh tiếng gõ thuyền của bố trong đầu, lại có lúc bắt gặp một thiếu nữ Tây nguyên ra suối gùi nước bần thần nhớ những đứa bạn gái quê mình chân trần cong lưng giặt ở bến sông.

Mùa xuân 1975. Mùa tháng ba hoa cà phê trắng muốt rừng, hoa Dã quì vàng miên man trên đồi, chúng tôi cùng đại quân ào ào đánh Ban Mê Thuột, quân ta giải phóng cả dải Trị Thiên đến Tây nguyên. Đã mấy năm ở rừng bây giờ được tiến vào phố xá, tiến vào những địa danh mà những cái tên từ lâu ao ước. Chúng tôi qua Pơ lây cu, Buôn Hồ, Cheo reo rồi đuổi địch đang thất thần chạy nhào ra bể. Bàn chân chúng tôi tơ tướp vì hàng chục ngày đêm không ngủ. Chỉ có con mắt thì ráo hoảnh và ngập tràn hi vọng chiến thắng. Chúng tôi gặp nhau trên đường đánh địch, chúng tôi chỉ kịp gọi tên nhau trong khi mỗi người đều hối hả theo đội hình đuổi giặc của mình.

Tháng ba năm ấy tôi lại gặp sông.
Ngày 23/3/75. Trận đánh xe tăng bên bờ sông Ba ở thị trấn Củng Sơn diễn ra từ sáng đến trưa. Tiểu đoàn 8 của tôi dồn một đội hình xe tăng lên một ngọn đồi mà phía sau là sông. Trong cái phút không còn gì để mất, xe tăng địch cụm nòng tập trung về chúng tôi. Sáng hôm ấy C6, C5 đã hi sinh bốn chục người. Hơn ba chục xe tăng bị bắn cháy và bắt sống bên bờ sông Ba. Nắng, bốn bề lửa cháy. Khát, mồ hôi chảy kiệt thân người. Nhìn thấy sông Ba cả ta và địch nhao xuống vục nước vào mặt, uống ừng ực. Ôi con sông nào cũng ngọt.
Đêm ấy, cách trận địa đánh xe tăng chỉ chừng 3 cây số hơn mười ngàn dân di tản cùng với hơn một ngàn lính cụm lại cánh rừng bờ sông chờ vượt sông chạy về phía Tuy hoà. Sáng 24/3 trong nỗ lực ngăn dân lành không vượt sông tiểu đoàn chúng tôi phải dùng hoả lực tấn công vào quân địch. Cuộc chiến đấu diễn ra ngay trên bờ sông lẫn cả dân thường, xe cộ và bạt ngàn vật dụng của người li hương. Hàng ngàn người chen lấn nhau qua sông trên cây cầu ngầm. Hàng trăm người ngã xuống sông trong tuyệt vọng. Con sông Ba rên lên tiếng khóc tiếng la, tiếng kêu gào át cả tiếng súng. Chiều đến, trận đánh đã tàn.
Chúng tôi đã lội sang sông, dìu những người không biết bơi trong khúc sông đầy người chết chìm. Chúng tôi bố trí đội hình trong một cánh rừng cách bờ sông 2 km. Tối hẳn, tôi và hai đồng đội quay lại bờ sông Ba. Màn đêm buông ai oán trên mặt nước. Trong những vạt rừng ven bờ, trên bãi cát, nương rẫy tiếng khóc tiếng gào tiếng gọi cha gọi mẹ tiếng nỉ non côn trùng như ở một thế giới xa lắc không giống cõi trần. Những nấm mồ vùi bằng cát lúc chiều những nấm mồ đắp bằng cành cây lúc chập tối và những nén nhang lập loè rợn người. Cả chiều dài đoạn sông ba hàng ngàn hàng vạn đốm lửa rưng rưng đêm. Chúng tôi nấp trong bụi cây ven sông, tôi bỗng thấy miệng mình mằn mặn, nước mắt tôi đã chảy từ lúc nào. Sông Ba với tôi là kỉ niệm vừa vui vừa buồn. Mãi mãi ám ảnh về một dòng sông kí ức, xin đừng bao giờ lặp lại trong tôi.
Cuối dòng sông này là con sông Đà Rằng. Lại bên sông này tôi cùng đơn vị đánh trận 31/3 và 1/4 để giải phóng Tuy Hòa Phú Yên. Ngày 3/4/75 chúng tôi đi bên bờ Đà Rằng. Dòng sông rộng mênh mông ùa ra bể. Những thân xác con người khốn khổ tử nạn trên đường số 7 vật vờ theo sông Ba trôi về đây, rồi hoà vào bể. Chúng tôi đi ngược kí ức để rồi tiến đến những trận đánh cuối cùng giải phóng miền nam. Chúng tôi đi trong náo nức mà thương thắt lòng những mảnh đời bất hạnh dân lành. Cuộc chiến tranh nào cũng thế, chỉ người dân lương thiện là thất bại.

Tôi trở về sau chiến tranh.
Mùa đông năm 1975, đi trên bờ sông Hồng quê hương, mái trường cũ bom Mỹ tàn phá nay dựng lại vẫn còn xác xơ. Xóm làng tôi giống như con người mặt thì bừng bừng vui sướng nhưng thân thể thì ốm yếu qua mười ngàn ngày đêm chiến tranh. Chiều mùa đông tôi lại nghe tiếng gọi đò như từ xưa cũ, lại nghe thấy bãi mía khua những mũi mác lên trời lao xao kho khốc, lại gặp con đa đa run run đi trên bãi cát lạnh lùng. Bố tôi vẫn cong lưng cõng thuyền nan đi kiếm cá nuôi cả nhà qua cơn giáp hạt. Trước chiến tranh thế nào sau chiến tranh cuộc sống nhà tôi vẫn thế. Mới có bốn năm xa nhà tôi đã gặp bao nhiêu dòng sông, đã uống nước của những dòng sông ấy, đã vui, buồn với những dòng sông ấy. Chiến tranh cứ in bóng dáng tanh tưởi của nó lên những con sông, còn những con sông thì vẫn vô tư trôi chảy. Không có con sông nào muốn in bóng của chiến tranh lên nó cả. Ngàn đời sông cứ bên lở bên bồi, cứ ngân ngấn phù sa cho bờ bãi, cứ reo vui với mùa màng thanh bình xanh mê mải.


Tháng Bẩy, 2012

litangu
02-07-2013, 11:05 PM
Đọc thư tình của Lính


Đã là lính thì bên nào cũng giống nhau là chiến đấu với đối phương. Đã là lính thì người nhà bên nào cũng đêm ngày lo lắng trông ngóng. Người lính bên nào cũng là niềm thương đợi chờ của người thân, người lính nào có người yêu nơi quê nhà thì lại càng là nỗi lo tức tưởi của người con gái hậu phương. Lá thư đến với tay lính ít khi có tính giai cấp trong đó (tôi nói là ít chứ không phải không có) mà phần nhiều là nhớ nhung yêu thương đằm thắm hay suy cho cùng thư lính chỉ tất cả là tình thương con người. Thử hỏi có ai khổ bằng lính chiến? thử hỏi có ai mất mát thiệt thòi như lính chiến. Thư lính giống nhau lắm. Và lính nào cũng có thể đọc thư bạn mà cũng thấy như thư của mình.

Chuyện tôi kể, lại là đọc thư của lính đối phương.

... Chiến dịch giải phóng Tây nguyên 1975.

Đánh Buôn Hồ 12/3/75. D7 và D8 E64 ào lên thị trấn vào lúc gần trưa. Một trận địa pháo 4 khẩu không còn một tên lính nào. Chúng bỏ chạy về hướng đông. Chúng tôi vượt qua anh em cối 120 của sư đoàn còn đang khiêng vác ì ạch để tiến vào khu chỉ huy trận địa pháo binh. Căn nhà chỉ huy có dây mìn giăng ngay các cánh cửa sổ. May phát hiện ra rồi gỡ mìn, từ lúc ấy lính ta dò dẫm chứ không ào ào xông xáo nữa. Tôi thận trọng nhìn căn phòng của tên trung uý đại đội trưởng. Tiền đồn này cũng đơn sơ, nhưng chỗ ở của tên này ngay ngắn và rất nhiều sách (!). Tôi nhấc mấy cuốn sách của Hemingway trên cái kệ đầu giường hắn ra, có một phong bì lớn (loại phong bì công vụ của QLVNCH). Tôi rút ra một tập thư, ngay lá thư đầu tiên tôi biết là thư của con gái. Quay trở ra mấy thằng hỏi mày kiếm được gì không? tôi bảo nhiều lắm, biến thôi. Tập thư tôi nhét vào bụng áo.

Ngay sau đó lệnh trên cho chúng tôi tiến vào Buôn Hồ 2, tức là vùng thị trấn mới phát triển cách đó chừng 3 cây số. Một cánh rừng cà phê ngút ngàn gần một cái hồ nước thật xanh và sâu thẳm. Dừng chân triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu khi có quân đổ bộ đường không. Tôi lặng lẽ giở thư ra đọc. Tất cả 25 lá thư của một người con gái Sài gòn H. T. H. Nhung gửi cho thiếu uý và nay là trung uý Thái Anh T.

Tôi đọc say sưa và trong tôi hiện ra một đêm người sĩ quan trẻ từ Cao nguyên về Sài gòn thụ phép gặp cô sinh viên năm nhất ở một nhà người bạn. Rồi những ngày cô ấy nhớ chàng thiếu uý và đã từng bay lên Cao nguyên, đã từng lặn lội tới nhà người anh trai mình đang là chỉ huy một phòng trong bộ Tổng Tham mưu để nhờ chuyển cho bạn trai mình bộ sách “Chuông nguyện hồn ai’’ và “Giã từ vũ khí”. Những kì nghỉ chớp nhoáng của trung uý T về Sài gòn, những cuộc gặp nhau đẫm nước mắt và nụ cười, càng đọc về sau càng hiểu họ yêu nhau, yêu mê đắm. Giọng văn của thiếu nữ miền nam thật mới mẻ với chúng tôi. Nồng nàn, chân thật trong yêu đương, vừa nũng nịu vừa thiết tha căn dặn. Đọc thư của họ mà mình cũng thấy đời đáng yêu đến thế.

Tôi cố gắng không để cho mọi đồng đội xung quanh biết. Nhưng có lá thư hay quá không thể nín nhịn một mình được bèn gọi mấy thằng cùng nghe. Cứ tưởng chúng nó chê mình hữu khuynh đọc thư của lính nguỵ. Ấy thế mà nghe tôi đọc chúng nó cứ im thin thít. Có thằng thở dài... Tôi cũng thở dài rồi cả tiểu đội im lặng. Chính trị viên không biết, đại trưởng cũng không biết, chỉ có chúng tôi biết với nhau.

Chiều hôm ấy hành quân đi đánh Cư Pao rồi tiếp tục những ngày truy kích trên đường 7. Dọc đường 7 tôi lại thu thập được nhiều thư và ảnh của lính bên kia nữa nhưng tập thư tình của trận Buôn Hồ là thú vị hơn cả. Một hôm hành quân mệt quá rồi, dừng lại là nằm lăn quay ra rừng. Có thằng gọi to: Luân ơi đọc thư tình đi. Mình lấm lét rút ra một lá thư đọc cho cả trung đội nghe. Đại đội trưởng đi lại ngồi xuống cũng nghe. Cái mệt tan đi nhanh quá. Thằng nào cũng tưởng rằng đó là tiếng nói người yêu của mình, rằng sự yêu thương của người con gái nó lớn lao quan trọng thế nào với người người lính chiến biền biệt ở trận tiền. Tình yêu không có biên giới, tình yêu không có giai cấp không có phía bên này hay bên khác. Tình yêu ở mọi phía giống nhau, tình yêu không có ta và thù, tình yêu chỉ làm cho cái thù hằn trong con người bớt đi. Tình yêu là của chung vì đó là trái tim con người. Rồi những ngày sau chiến dịch cuốn như lũ, chúng tôi tiến vào Sài Gòn khi chưa kịp chuẩn bị nghĩ là mình sẽ gặp Sài Gòn.

Sáng ngày 2/5/75, Tôi được chọn thay mặt chiến sĩ trung đoàn giao lưu với giáo sư sinh viên tại trường TH Lê Quí Đôn kế bên Dinh Độc Lập. Buổi trưa, chợt nhớ ra lá thư của cô SV Luật khoa với chàng trung uý pháo binh trên Buôn Hồ, tôi liền đi dọc đường Trần Hưng Đạo tìm đến nhà X15. Đường phố to quá dài quá mỏi cả chân. Cái số X15 cũng nhiều nhà sau một cái cổng sắt to. Tôi bần thần đứng ngoài cổng nhìn vào. HTH Nhung ở đây ư? Hỏi ai bây giờ nhỉ? và nói mình là ai? chả nhẽ nói tôi đuổi người yêu của cô chạy rồi lấy thư tình của cô để mang ra đọc. Đọc chán rồi nay lai tìm gặp cô ư?

Tôi quay trở về. Sài Gòn nắng tháng năm vàng như mật. Tôi khoác khẩu AK báng gấp đội mũ tai bèo chìm vào trong người và xe ngơ ngác. Cứ nghĩ trung uý Thái Anh T bây giờ ở đâu nhỉ, còn sống hay đã tử thương? Cô gái mang cái tên thật đẹp HTH Nhung ấy bây giờ còn ở lại thành phố này hay đang lênh đênh trên biển bỏ lại đằng sau tình yêu nồng nàn một thời với một người trai lính chiến.

Ba mươi tám năm rồi, nhớ lại những lá thư tình của người lính phía bên kia mà vẫn thấy bâng khuâng.


LTN

baoleo
03-07-2013, 08:57 AM
Đọc thư tình của Lính .............................
.......................Tình yêu không có biên giới , tình yêu không có giai cấp không có phía bên này hay bên khác . Tình yêu ở mọi phía giống nhau tình yêu không có ta và thù , tình yêu chỉ làm cho cái thù hằn trong con người bớt đi . Tình yêu là của chung vì đó là trái tim con người . ................................
Tôi quay trở về . Sài Gòn nắng tháng năm vàng như mật . Tôi khoác khẩu AK báng gấp đội mũ tai bèo chìm vào trong người và xe ngơ ngác . Cứ nghĩ trung uý Thái Anh T bây giờ ở đâu nhỉ , còn sống hay đã tử thương ? Cô gái mang cái tên thật đẹp HTH Nhung ấy bây giờ còn ở lại thành phố này hay đang lênh đênh trên biển bỏ lại đằng sau tình yêu nồng nàn một thời với một người trai lính chiến .
Ba mươi tám năm rồi , nhớ lại những lá thư tình của người lính phía bên kia mà vẫn thấy bâng khuâng
LTN

Hay quá, anh Luân à. Nhân văn là đấy, chứ cần phải đi tìm đâu xa.
Câu chuyện này, chỉ dừng ở chuyện ngắn thì phí quá. Anh viết thành kịch bản phim đi. Kiểu như: ' Những lá thư tình của kẻ bắn tôi'.
Em nghĩ rằng, tình tiết câu chuyện của anh, nhân văn, gay cấn, lâm ly, và lôi cuốn hơn nhiều, những bộ phim kinh điển như: 'Người thứ 41'.

huuthanh
03-07-2013, 05:25 PM
Những bài liên quan văn phạm, ngữ pháp, chính tả đã được chuyển về chuyên đề tương ứng (http://khucquanhanh.vn/diendan/showthread.php?t=993). Mời các tác giả liên quan sang bên ấy (http://khucquanhanh.vn/diendan/showthread.php?t=993) thảo luận tiếp :-)

daquy1791978
03-07-2013, 07:03 PM
Để mạch cảm xúc của bác Litangu luôn dâng tràn, nhân tiện tôi có góp nhặt được vài hình xin gửi tặng bác LTN, chúc bac Litangu vui, khỏe.

Trước biển, ta bỗng thấy mình nhỏ bé làm sao... !
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0181_zps7725db28.jpg

... chợt nhớ những tháng ngày sống giữa rừng Trường Sơn...
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0379_zpsa0b05e0c.jpg

Lặng lẽ... bâng khuâng... nhà tù Phú Quốc...
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0150_zps383783a7.jpg


Chiều, chiều muộn...
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0438_zps5fa028bf.jpg

ONGBOM-K5
03-07-2013, 08:07 PM
Để mạch cảm xúc của bác Litangu luôn dâng tràn, nhân tiện tôi có góp nhặt được vài hình xin gửi tặng bác LTN, chúc bac Litangu vui, khỏe.


... chợt nhớ những tháng ngày sống giữa rừng Trường Sơn...
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0379_zpsa0b05e0c.jpg


Tấm hình chụp bác NTL rất là đẹp. Cảm ơn bác Dã Quỳ

Cry
03-07-2013, 08:45 PM
Trước biển, ta bỗng thấy mình nhỏ bé làm sao...

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0438_zps5fa028bf.jpg

Cảm ơn Bác daquy1791978 vì những tấm hình thật đẹp!
Chú litangu ơi cháu thích tấm hình này quá,cho cháu xin coppy về làm kỷ niệm nhé?!
Chúc chú sức khỏe và có nhiều bài viết hay cho cháu và mọi người đọc ạ!~o)

litangu
03-07-2013, 09:57 PM
Chúng tôi lính sinh viên thủa ấy


Cho đến tận bây giờ hai chúng tôi vẫn ở bên nhau như một duyên nợ. Đã 40 năm kể từ lúc cả hai vẫn còn trai trẻ, đều hăm hở với cuộc đời với nhiều khát vọng và rất nhiều bâng khuâng với khoảng trống ở phía trước. Chúng tôi cùng vào đại học một năm, cái thủa sinh viên đi bộ hàng ngày đường cõng gạo kiếm củi và học bài bên bờ suối, nhớ nhà cùng ngồi khóc bên bờ suối. Quê chúng tôi ở xa nhau. Sỹ ở tận Sơn La còn tôi ở cuối Phú Thọ ấy mà hai đứa gần như anh em ruột. Đời người chả nói trước được điều gì nhưng ước vọng thì chẳng ai cấm. Cứ ước mơ đi, cứ hy vọng đi, có hy vọng dám ước mơ cũng đã là hạnh phúc rồi. Hồi xưa chúng tôi bảo nhau như thế. Rồi hai đứa ước mơ Sỹ bảo: Tao sẽ về làm bác sỹ ở nông trường Mộc Châu. Tôi bảo: Tao sẽ về làm kỹ sư nhà máy chè Phú Thọ. Hai đứa bâng khuâng nhìn dòng suối La Hiên êm ru đầy những cánh hoa rừng trôi. Ấy là những ngày cuối thu 1970.

Bạn sẽ hỏi: hai đứa tôi không cùng trường, cùng nghề, sao thân nhau từ lúc mới vào trường? Sỹ học Đại học y khoa Thái Nguyên còn tôi học Đại học Cơ điện Thái Nguyên nhưng tôi có bạn cùng học với Sỹ. Ngày xưa thứ 7 đi bộ vài chục cây số lên thăm nhau là chuyện thường . Lên thăm bạn tận núi rừng Võ Nhai tôi được bạn gửi sang ngủ nhờ Sỹ thế là thân nhau. Nói vậy thôi, chứ không dễ. Hồi ấy hắn cũng gườm gườm nhìn tôi ngụ ý rằng: đã lên tán gái lớp bọn này lại còn tá túc, lắm chuyện. Nhưng thân nhau rồi thì chẳng có ai cắt nghĩa được là vì sao. Sau này lớn tuổi, hai thằng cùng kết luận thân nhau là do cả hai đứa mình là đàn ông thế thôi. Đoạn đời trong veo là những năm sinh viên đi sơ tán. Rừng cũng đẹp, suối cũng đẹp, con suối La Hiên có những khúc quanh chằng chịt dây rừng che kín như một cái kén tằm khổng lồ. Nghe bọn nam trường Y tả về những sáng chủ nhật tắm tiên của nữ sinh trường Y mà cứ như được lên tiên vậy. Những ngày gặp nhau, Sỹ kể cho tôi nghe về sinh hóa, về giải phẫu, chẳng hiểu gì cả. Nhưng nghe nó nói về lời thề Hypograts thì hiểu. Và rồi hai đứa có nhiều dịp để nói về lời thề đó. Tôi chỉ có một cái quần xanh chéo và cái áo phin trắng chuyên dùng mặc khi đi đến trường khác, Sỹ bảo: Mày diện thế, nó cũng có một bộ như thế nhưng chẳng dám mặc phung phí như vậy, nó bảo chỉ Tết về mới diện thôi. Nó cũng mặc quần nâu gụ như tôi. Sao hồi ấy bọn tôi không mặc cảm với bạn gái nhỉ? thản nhiên yêu đời, yêu bạn bè cũng thật thản nhiên.

Chiến tranh lại đưa chúng tôi gần nhau hơn. Mùa hè năm 1972 tôi nhập ngũ. Vào cái ngày cởi bỏ bộ áo sinh viên nhận bộ áo lính, hai thằng òa lên khi nhìn thấy nhau, ở cái xóm cây thị huyện Phú Lương. Hôm ấy hai thằng nằm ngửa mặt nhìn trời cùng nhớ ngày hôm qua là một cuộc đời xa thẳm cái ngày hôm nay của hai đứa. Bạn bè tôi, bạn bè Sỹ đứng lặng ven rừng nhìn chúng tôi lên xe đi về phía trước, hai thằng nhìn qua lớp bụi đỏ rưng rưng nhớ trường nuối tiếc thời trong trẻo đang lùi lại phía sau. Những tháng ngày hành quân Trường Sơn là cái vạch ngang trí não của bất kỳ những người lính đánh Mỹ. Khổ cực đến tận cùng, vui cũng tận cùng mà lãng mạn cũng tận cùng. Sỹ bảo tôi, ở đây không có cái gì nửa vời mày ạ, nửa vời là chết là mình bị mất mình. Hai đứa chuồn đi bắn sóc trong rừng khiến binh trạm báo động náo loạn cả lên. Có một đêm, nó ngồi ngoài tảng đá bờ sông Xê Băng Hiêng lần giở ba lô kiểm đếm kỷ vật Miền Bắc mang theo vào chiến trường, rồi chẳng hiểu nó nghĩ gì mà trên đường leo dốc sáng hôm sau nó bảo: Tao viết bài thơ về trị thủy Sông Đà, để con đường đi lên Hòa Bình sẽ thơ mộng hơn. Khủng khiếp quá, hóa ra nó có ý tưởng lớn quá.

Vợ tôi thường tâm sự với vợ Sỹ, hai ông ấy Pê đê thì phải. Ở Thủ đô cách nhau vài dẫy phố mà hai tuần không gặp nhau là đã thấy lâu lắm, đi làm về mệt mỏi ấy thế mà có điện thoại là đi liền. Thật ra tôi với Sỹ đâu thích nhậu nhẹt, bao nhiêu bức súc lo lắng con cái, hai thằng dốc cho nhau nghe. Rồi chuyện gia đình, chuyện ở quê, mồ mả ông cha. Chưa bao giờ chúng tôi nói chuyện về cơ quan, nói về vai diễn cuộc đời mình.

Ở Tây Nguyên nó làm y tá đại đội hỏa lực, rồi y tá đại đội quân y. Mỗi năm tôi sốt rét nặng là gặp nhau ở viện. Trong bom pháo đì đùng hai đứa lại chúi đầu thì thầm mơ ước. Một chiều mùa mưa trong căn hầm tối om tôi và nó lại tổ chức kiểm nghiệm quân trang. Chiếc khăn mùi xoa có hai con chim, tập giấy Pơluya buộc bằng sợi chỉ mầu, những tấm ảnh bé như con tem mờ mờ. Những thứ của cải được bọc cẩn thận, hai đứa nâng niu nhẹ nhàng và mường tượng ngày trở về học tiếp đại học. Sỹ bảo: tao và mày đi sau chúng nó, sau trước có nghĩa lý gì đâu, miễn là đi tới đích. Trong cơn sốt rừng hầm hập nghe nó nói mà như thấy cắt cơn, tôi cho rằng nó động viên mình đó thôi. Rồi nó bảo lời thề Hypograts ở chiến trường luôn bộc lộ tự nhiên mày ạ. Chiến tranh là phép thử thông thường của cuộc đời, không cần thề bồi chi hết, con người thế nào nó phơi ra như thế, hai đứa nói với nhau như hai ông cụ non. Có chuyện hai thằng ít khi nhắc lại là cái đoạn đời cùng tá túc nhà vợ. Trở về sau 30 tháng 4 hai thằng lại vào đại học, ra trường cùng lấy vợ, hai cô vợ đều là người Hà Nội, hai thằng đều không có nhà. Tôi đi học tiếp trường nữa, nó cầy đầu học lên cao học. Dù ở nhà vợ, vẫn học hành ỉ eo đèn sách bao nhiêu phiền toái vợ lo hết. Nó bảo tôi, vốn liếng quái gì đâu ngoài cái sự chịu khố mà bố mẹ đẻ cho mình từ bé, chiến tranh dậy cho mình cái lý thuyết hoặc là mình chết hoặc là mình sống. Hai thằng cười như méo mồm hút chung nhau điếu thuốc giữa Thủ Đô những năm 80 vất vả.

Trận đánh cuối cùng của chúng tôi là trận Cầu Bông trên đường tiến vào Sài Gòn. Sáng 29/4/75 một quả cối nổ ngay phẫu trung đoàn, anh Bàn y tá người Phố Chới Quảng Ninh chắn đằng trước gục ngay. Sỹ đỡ anh ấy dậy, anh Bàn chết trên tay Sỹ. Trở về Sỹ lấy trong ba lô của anh cái áo Mông tơ ghi cộc tay giữ làm kỷ niệm. Lúc còn ở Củ Chi hai đứa hay dở ra xem và nước mắt cứ tự nhiên ứa ra. Năm 1978 khi tôi thi tốt nghiệp đại học, tôi bán hết cả dép đúc Tiền Phong cả tăng võng vẫn không đủ tiển trả nợ và thi cử. Sỹ đau lòng đưa tôi cái áo của anh Bàn sau nhiều dằn vặt để tôi bán đi lấy tiền thi tốt nghiệp. Bao năm nay, tôi cứ nhớ cái khuôn mặt dại đi của nó khi tôi bán cái áo đó. Rồi tôi trở thành kỹ sư, quản đốc, rồi lên giám đốc. Cái áo của anh Bàn thi thoảng hiện lên, hiện lên rồi mờ đi sau bộn bề cuả đời, bộn bề cơm áo.
Nhưng chúng tôi không thể chịu đựng hợn được nữa. Một ngày cuối năm 2003 tôi và vợ tôi trở về Củ Chi. Sau vài ngày tìm kiếm, may mắn cho tôi, tôi tìm được mộ anh Bàn. Sỹ đang đi công tác ở Nhật Bản. Tôi gọi điện, Sỹ nghẹn ngào mếu máo: Mày ơi chúng mình có lỗi nhiều quá… Hai tháng sau tôi và Sỹ vào thành phố Hồ Chí Minh và một đêm mắc võng trên Củ Chi, nằm nghe sông Sài Gòn thì thầm với lục bình trôi, cùng trò chuyện với anh Bàn và bao đồng đội của mình. Hai đứa cả ngày không nói với nhau lời nào. Chúng tôi đang trở lại với chính mình, với đoạn đời máu lửa và nhờ nó cả hai chúng tôi trưởng thành. Sỹ bảo rằng như thế mình sống lại đúng là mình. Có một lần, khi đã là giám đốc viện k74, phóng viên hỏi, Sỹ trả lời chỉ có 4 năm đời lính chiến thôi nhưng tôi học được cả cách làm người cho một đời. Thật là lãi lớn, tôi bảo nó.
Bố mẹ tôi làm nông dân. Còn bố mẹ Sỹ làm công nhân nông trường tít trên Mộc Châu. tôi bảo: nhà mày chỉ như nhà tao thôi. Nông trường là nông dân ở tập thể chứ gì, nó cãi nông dân như nhà tao tiên tiến hơn, tôi cũng thấy có vẻ thế thật, nhưng hai đứa thân nhau nên sự hơn kém ấy không ảnh hưởng gì. Ba lô của nó có gì tôi biết hết. Từ cái album nhấp nháy, cái sợi dây len mầu của ai, nhật ký ghi về cô gái nào thậm chí nó còn bao nhiêu thuốc lá sợi tôi cũng biết. Sau giải phóng Miền Nam trở về, cái bật lửa Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu là vật có vẻ là đáng giá nhất. Mà đáng giá thật vì đó là kỉ vật trận đánh cuối cùng của chúng tôi ở Sài Gòn, chỉ đơn vị tôi mới có. Một dạo, tôi ở nhờ nhà vợ trên Bưởi. Sỹ sinh đứa con trai đầu nhưng cũng không có nhà, hai vợ chồng ôm con lên ở nhờ nhà bà ngoại của vợ trong làng Trích Sài. Hai đứa lại ở gần nhau. Tối tối tôi đi tắt làng theo những cái tàu seo giấy vào chơi nhà nó. Nhà tối om. Muỗi tháng ba từ ngoài vườn hồng xiêm réo vi vu. Bên ngọn đèn dầu, nó đang học tiếng Pháp. Cuốn từ điển Pháp - Việt trên bàn là của thằng Tốt cùng đại đội cho Sỹ hồi tháng 5/75. Hai đứa rì rầm chuyện với nhau. Tịnh chẳng có chuyện ngày xưa nữa, toàn nói về con nhỏ, về vất vả của vợ, về nỗi lo lắng về nay mai của mình . Hút lóp má điếu thuốc cuốn Đình Bảng lặng im nghĩ về những ngày ở chiến trường nhiều mơ ước. Mới có vài năm thôi mà chuỗi ngày chiến đấu đã xa lăng lắc.

Mồng 05/04/1975 cả dải đất Miền Trung đang như một cơn lũ quét. Sư đoàn 320 đuổi địch chạy nhào ra biển Đông Tác Phú Yên, chưa kịp giặt khô bộ quần áo bùn đất và khói súng đã lộn về đường số 7 lên xe tiến vào Sài Gòn. Tôi và Sỹ gặp nhau trên đường nó đi lấy gạo, nó ôm tôi giữa rừng. Vậy là còn sống. Cứ biết đến hôm nay đã mày ơi. Nó dành dụm từ hôm đánh Cheoreo tới giờ có 8 bao thuốc lá cho tôi. Kịp dúi vào tay nhau những bao thuốc, hộp sữa con chim rồi hối hả chia tay. Chả biết lần sau gặp lại nữa không, hai thằng ngoái đầu nhìn nhau trong ngột ngạt nắng và gầm rú của máy bay trên đầu.

Ở gần nhau thật đấy nhưng cái thời ấy làm gì có điện thoại viễn thông như bây giờ. Chỉ biết nó khổ mà tôi cũng khổ, toàn dân khổ. Tôi ra trường rồi đi làm nghề bán sắt, nó làm bác sỹ quân y. Cắm đầu vào học, vào làm. Rồi một hôm vợ Sỹ tìm đến tôi nói là mai Sỹ bảo vệ luận văn Phó tiến sỹ ở trong học viện quân y. Sáng hôm sau, tôi đi rất sớm, vào gặp nhau trước khi đi công tác Nam Định. Sỹ đang cùng các nhân viên hành chính bưng bê, xếp đặt bàn ghế cho hội trường. Dúi vào tay nó bao thuốc Dulhill đỏ và hai mươi nghìn rồi đi, hẹn nhau thi cho tốt. Hai đứa cùng ngân ngấn nước mắt, hóa ra bây giờ còn yếu đuối hơn lúc đánh giặc trong rừng. Ngày bảo vệ Tiến sỹ của nó chẳng có hoa, có thê tử bầu đoàn chớp ảnh gì cả. Lẳng lặng vào đời khoa học chẳng hứa hẹn tung hô như bây giờ. Tiến sỹ rồi vẫn thế. Đi và về với thứ bệnh tật của người nghèo. Có năm, một hội thảo tận Thành phố Sài Gòn, tiền vé máy bay mua cũng oải, tự mua mà đi. Cái nhà bé như chuồng chim đầy ắp lo lắng. Sách vở gắn trên tường, chuồng heo treo ngoài tường cứ nương tựa vào nhau mà đi lên, kỳ quái thật.

Thời gian hai đứa tôi hay gặp nhau nhiều ấy là lúc Sỹ lên làm viện trưởng K74. Cái bệnh viện nằm ở đây dễ vài chục năm rồi, cũ kỹ, hiền lành và rất khiêm tốn. Miền trung du cằn cỗi bình yên, bình yên đến mức tự ti, hiền lành đến mức bé lại trước bộn bề thời mở cửa. Chúng tôi nói chuyện nhiều về việc cơ quan mới của Sỹ. Nó nói về viện 74 như nói về quê hương của nó. Nó bảo, ở đây họ đánh thức tao về gia đình về quê hương nhiều lắm mày ạ. Rồi nó bảo, những chiều Trung du tuyệt đẹp. Những bông hoa súng tím cánh chuồn chuồn trên những đầm nước quanh bệnh viện làm con người tử tế và yêu cuộc sống hơn. Cốc bia hơi trên đường Láng bỗng như dìu dịu làm khô đi giọt mồ hôi cuối chiều hè Hà Nội. Rồi vài năm sau, viện 74 ngày càng khá hơn, là địa chỉ tin cậy cho những người mắc bệnh lao ở vùng phía bắc. Chẳng thể bảo ấy tất cả là công của Sỹ, nhưng những ngày vất vả đơn điệu tự ti lùi lại phía sau khi có một ông giám đốc nghiêm túc và yêu thương con người trên đó thì ai cũng tin. Ai cũng từng nhớ, giám đốc Sỹ từng không quên ngày sinh nhật của chị lao công cho tới các bác sỹ trong toàn bệnh viện. Bây giờ, hai đứa tôi xắp lên ông rồi. Nó cứ đi họp và đi công tác liên miên. Bực mình hỏi mày đi họp suốt ngày không chán à? Họp là việc đời, còn làm việc với các bộ phận chuyên môn, với các bác sỹ trẻ là việc đạo. Mày vào viện tao mà nhìn khuôn viên giữa lòng bệnh viện. Một bệnh viện lao to nhất nước mà sạch sẽ, trong lành thật khó hình dung. Vài năm nay, cái cung cách tác phong làm việc của thầy thuốc nơi này thật đổi khác. Tôi mừng cho Sỹ và cũng thương cho nó. Thị thành nó khắc nghiệt hơn nhiều, yêu thương nồng nhiệt chưa phải là tốt cho tất cả người đời. Nhưng tất cả con người thì ở đâu cũng cần được yêu thương.

Hẹn hò bao nhiêu năm mà phải cho tới dịp 30/4/2008 vợ chồng Sỹ và vợ chồng tôi mới thực hiện được chuyến đi về chiến trường xưa. xe chạy theo kiểu ngày đi đêm ngủ, qua Quảng Trị, qua nghĩa trang đường chín, nghĩa trang Trường Sơn. Vào KonTum, qua Play cần. Dăktô, nghĩa trang thị xã rồi về Gialai, vào Đức Cơ xuống Phú Bổn Cheoreo. Tám ngày trời hai cặp vợ chồng già thơ thẩn toàn nghĩa trang là nghĩa trang. Bao nhiêu hương nhang, bao nhiêu là hỏi thăm rồi bao nhiêu là nước mắt mừng tủi, mỗi khi đọc được một cái tên đồng đội. Trời cao nguyên xanh và nhiều mây như ngày còn trẻ, tôi và Sỹ sống những ngày đẹp nhất của đời mình ở đây. Nắng cao nguyên tháng tư, hai thằng lính già đi dọc những hàng bia mộ trắng nhức mắt Tây nguyên thơm hương hoa café và bạt ngàn xanh cao su, hồ tiêu. Chúng tôi khấn với đồng đội, rằng nhờ có các anh nằm lại mà chúng tôi mới được trở về, chúng tôi nên người và đùm bọc cho các con em chúng tôi cũng nên người. Những người làm giám đốc như chúng tôi đây, cũng chỉ là kẻ vay nợ các anh đó thôi. Thời gian càng lùi xa thì các nghĩa trang liệt sỹ lại càng ngào ngạt hương thơm trong cõi tâm linh con người. Năm nay, ngày 27 tháng 2 một nhóm những người lính già vào Viện Lao và bệnh phổi Trung ương thăm Sỹ. Lẵng hoa ghi dòng chữ: Bạn chiến đấu sư đoàn 320A chúc mừng. Người mang hoa là một ông già 80 tuổi, Trung tướng Khuất Duy Tiến. Ông già ôm lấy Sỹ mà mừng về người lính trẻ dũng cảm ở chiến trường Tây Nguyên năm nào nay đã thành Phó giáo sư Tiến sỹ Viện trưởng. Chúng tôi ngồi bên nhau, tất cả đã đầu bạc. Thời gian sàng lọc kỷ niệm để cho con người còn lại những ký ức bền vững mà ký ức nào cũng tốt đẹp khi đồng đội tìm đến với nhau. Sỹ cũng như tôi, lúc này bâng khuâng nhớ về căn nhà nhỏ ở quê, ở đó kể từ ngày mẹ theo bố lên nông trường Mộc Châu, để rồi bốn chục năm sau, đưa mẹ về yên nghỉ trên cánh đồng nhà, ngai ngái cái mùi men gốm Chu Đậu. Tôi hình dung ra, cái bóng của Sỹ bước thấp bước cao trên bờ ruộng lúa trong chiều ra thăm mẹ. Lúa mùa xanh ngăn ngắt trong khoảng xanh bình yên thăm thẳm.

+ +
+

Gần đến ngày 30/4, tôi gọi điện thoại cho Dương phỉ, máy tò tí te, ngắt máy gọi lại thì te tí tò. Chẳng biết nó ở đâu mà “họp” tiểu đội.

Dương họ Hoàng. Họ Hoàng Trùng khánh Cao Bằng cũng có số có má hẳn hoi. Học trên tôi một lớp ở đại học, đến năm thứ hai thì nhuận, nên lại học cùng. Phải nói là hắn xấu trai. Nhưng lạ, con gái rất thích nó. Chịu không hiểu nổi cái chủ nghĩa ấn tượng của đàn bà. Anh em nhà Dương có tới 5 người cùng học đại học một thời với nhau. Sức nuôi của các cụ nhà thật khủng khiếp. Nó bảo chỉ mình bà già lo thôi, ông già thản nhiên ngồi ngắm lũ con mỗi khi về nghỉ hè nghỉ tết mà cười khoe với hàng xóm. Lúc tôi và nó nhập ngũ thì ông anh cả của Dương cũng vào bộ đội được một năm rồi. Hôm hai đứa xin đơn vị lên đại học Sư phạm Việt Bắc, chị Phương bảo, Luân ơi vào chiến trường đánh nhau thì nhớ đi kèm với Dương kẻo bộ đội ta bắn nhầm nó. Hai thằng cười nhe răng. Gớm đến nỗi nào đâu hả chị? Chị Phương bảo trông nó giống giặc phỉ hơn là giống chiến sĩ giải phóng.

Suốt ngày đi tập tành, đêm sinh hoạt trung đội nó hát "mộc niên hoa ơi” … rồi “được 5 ngày phép mất 3 hôm làm quen...’’ B trưởng tức lắm đưa ra kiểm điểm về tội hát nhạc vàng. Nó hỏi thế nào là vàng? chịu chả anh nào giải thích được. Hồi ấy chợ Hanh nơi chúng tôi đóng quân có một dẫy hàng xén. Mỗi ngày chỉ có 30 phút là ra quán được thôi, vậy mà ai cũng biết Dương. Ai cũng thương nó và tất nhiên nó mua chịu được rất nhiều chủ hàng. Tôi hỏi mày không trả tiền à? Trả sau, ai lại quỵt của nhân dân. Khó tin nhưng tôi im. Bốn tháng huấn luyện ai cũng có bạn ở lớp đến thăm. Chả thấy cô nào thăm Dương. Nhưng cô nào đến đơn vị thăm bạn cũng nói chuyện với Dương nhiều hơn với bạn mình. Hay thật.
Một chiều, đang cấm trại. B trưởng hốt hoảng như cháy nhà , tuýt còi tập hợp. Lệnh ban ra, đồng chí Dương đảo ngũ, mỗi tiểu đội cử một người đi tìm, chặn các bến xe, ga tàu. Hành quân đến nơi rồi, thành tích… còn gì là thành tích. Cả trung đội im thin thít.

Tôi biết, mọi người cũng biết. Nhưng chả nói làm gì. Chúng tôi dẫn cán bộ lên thành phố Thái nguyên. Nhà chú nó ở đấy, nó đến xin tiền ấy mà. B trưởng được chúng tôi đưa vào hàng nước chè kề bên. Tôi lẻn ra sau nhà gọi Dương, rồi nó chuồn về đơn vị trước. Đoàn chiến sĩ đi tóm cổ người đảo ngũ sau một hồi quanh quẩn bến xe và ga Thái nguyên buồn bã ra về, vừa đi vừa an ủi B trưởng. Về đến đơn vị mới 8 giờ tối. Thấy D đang sinh hoạt tiểu đội. Không nói năng gì anh B trưởng lôi nó lên ban chỉ huy. Và thế là một cuộc tập trung đại đội diễn ra ngay sau đó 15 phút. Khuôn mặt hầm hầm của đại đôi trưởng trông mà khiếp. Thôi thì đủ mọi nhời nhẽ, nhời nào cũng xấu, cũng nguy hiểm cho cách mạng với một kẻ đảo ngũ. Lặng im, lặng im mãi không có ai phát biểu. Dương thủng thẳng, tôi không đảo ngũ, đão ngũ phải bỏ hẳn đơn vị, tôi đi chơi rồi về, vậy phải nói là tôi đi chơi quá giờ. Nếu đồng chí đại đội trưởng thấy tôi không đủ tư cách đi chiến đấu thì bắt tôi ở lại, giống như cho tôi đúp lớp này, tôi xin chịu ở lại hậu phương. Cả đại đội cười ồ. Nhùng nhằng tới 10 giờ đêm, giải tán. Dương bị ghi vào lí lịch là đi chơi quá giờ. Không biết cái trích ngang ấy khi vào trường sơn giao quân có còn không?

Đêm trước ngày đi B, nửa đêm nó lội tắt cánh đồng ra thị trấn. Nó đi trả nợ. Nợ nần quán sá nào nó trả sạch. Gần sáng nó thì thầm vào tai tôi, sợ vào trong đấy mà hi sinh thì thành ma ăn quịt, ngại lắm.

Chúng tôi hành quân đi chiến trường vào mùa khô. Dọc đường hành quân thôi thì đủ chuyện, nhưng hay nhất là chuyện gái. Từ Việt bắc, đi tàu hỏa xuống Đông Anh rồi đi bộ vào Hà nội. Lúc lên tàu ở ga Hàng Cỏ mới nhìn thấy cô con gái chủ nhà nơi đóng quân nức nở ở cửa ga. Thì ra cô ấy đưa tiễn âm thầm Dương tới tận đây. Cả tiểu đội sau phút kinh ngạc thì lặng im, sau phút lặng im thì cùng rơi nước mắt. giỏi, giỏi thật. Suốt Trường sơn, nó ít nói. Sợ nó dao động tư tưởng, chính trị viên đại đội hay đi kèm bên cạnh. Một hôm nó vằn mắt, ông đi sang mà kèm cái thằng Chu Thành ấy ám mãi tôi, khó chịu! Lạ. Chu Thành là giáo viên Cao đẳng Cơ điện, rất nhiệt tình và vui vẻ việc gì phải kèm cặp. Ấy thế mà khi vào đến binh trạm 36 hắn ta đã đảo ngũ. Hỏi Dương, nó bảo loại người hèn nhát nhìn là biết không cần phải bom đạn thử. Hay thế. Tôi làm ủy viên ban chấp hành chi đoàn. Cứ 5 ngày hành quân thì chi đoàn lại họp một lần rà xét tư tưởng đoàn viên. Dương luôn là tâm điểm phê bình của chi đoàn. Nào là nói tục. Nào là chửi mấy tay cán bộ đùn đẩy cho chiến sĩ mang vác nặng hơn. Nào là đêm hay hát í ửn làm tiểu đội không ngủ được. Năm lần bẩy lượt đưa vào diện cảm tình đảng mà không ổn. Tôi thân với nó nên được chi đoàn giao nhiệm vụ giúp đỡ. Nó nheo nheo, hay đấy mày giúp đỡ thì tao để yên chứ thằng khác mà giúp đỡ tao thì tao chửi cho . Đêm trên rừng Trường sơn mùa khô đẹp lắm. Khi ve ngừng kêu thì cũng là giờ đi ngủ. Đang râm ran rạo rực bỗng ắng xuống và lập tức trời bổng vút lên cao. Nó bảo mày không nghe thấy đêm ở rừng mềm mại thế nào sao? Nghe mà thấy mềm à? Mày dốt, không gian thì phải nghe mới thấy độ dài rộng cứng mềm của nó. Loại mày không thể làm nhà văn được. Nằm im. Nó thì thầm mày sợ chết không? Mồm mày dở hả Dương? Nó thò cổ ra khỏi võng, Không dám nói thật phải không? tao biết ngay... Mà này mày đâu đến nỗi nào… ? Rồi nó thở dài lẩm bẩm, cuộc sống người lính chiến là một đời sống bất bình thường nên những gì tỏ ra bất bình thường của lính chiến chính là sự bình thường nhất. Tôi chịu.

Thế mà từ một anh lính nhiều khuyết điểm nhất ở ngoài bắc, không ở diện đoàn viên tiên tiến khi đi B, hay cự lại cán bộ khi họp hành. Vào chiến trường, Dương là người lập chiến công sớm nhất so với bọn tôi. Dương trở thành đảng viên trước tôi một năm. Chỉ một năm sau nó là B trưởng bộ binh nổi tiếng. Cả trung đoàn đều biết tên. Nào là gan góc, sáng tạo và sống chết vì đồng đội và đặc biệt là có tài đi bản đồ. Năm 74 nó về làm tiểu đội trưởng trinh sát tiểu đoàn 9 với 2 bằng dũng sĩ và hai lần bị thương. Trong thời gian trung đoàn tôi đánh ở phía tây Pờ lây cu khắp các ngọn núi, con suối chỗ nào Dương cũng in dấu chân. Nó trở thành tấm gương cho lính trinh sát toàn trung đoàn. Có điều lạ, nó tâm phục khẩu phục thằng Minh trinh sát tiểu đoàn 8. Dạo ấy hai tiểu đoàn thường đi đánh cùng nhau, trinh sát coi như gắn vào nhau một thời gian dài. Đêm đêm nằm bờ nằm bụi Minh và Dương tỉ tê chuyện nhà chuyện cửa, rồi hẹn nhau sau này còn sống trở về thì Dương lấy em gái Minh. Chả là Minh bảo tao có 3 đứa em gái vào loại: được. Từ đó Dương gọi Minh là anh và sau này cũng vẫn thế. Chuyện chỉ có thế mà ba bốn chục năm nay Dương vẫn tôn ti trên dưới với Minh với gia đình Minh. Dĩ nhiên ba cô em to vật vã của Minh đều đã lên bà, và chả cô nào lấy Dương.

Đầu năm 1973, mặt trận Tây nguyên đói. Tiểu đoàn chúng tôi vượt sông Sa thầy làm nhiệm vụ mót sắn. Người đi đào sắn đói mờ mắt, gùi trên lưng 25 kí sắn mà bò ra rừng mãi không về đến kiềng. Nhìn nhau chỉ thấy hai lỗ mắt và bộ răng khấp khiểng. Dương và Sỹ đều thuộc loại thiện xạ đêm nào cũng đi bắn thú rừng. Mà khổ, đêm nào cũng về không, chân tay run lẩy bẩy. Đại đội xuất hiện sốt ác tính. Ấy là cậu Khoái, người thành phố Thái Nguyên. Khổ thân nó, nó đói quá mắt đờ đẫn. Đêm ấy Dương và Sỹ lại đi. Chỉ cầu mong được chút gì cho bạn mình. Vừa đi hai đứa vừa khấn ông trời, ông thương chúng con ít thôi cũng được nhưng thương thằng Khoái với, nó sắp chết mà đói quá. Trong rừng đêm Dương khóc, Sỹ cũng khóc. Thế mà trời thương thật, hôm ấy hai thằng bắn được con mang. Chúng nó khỏe như chưa hề đói, chạy thục mạng về làm thịt mang. Nhưng trời thương có đến thế. Khoái chết trước khi thịt chín. Đặt nó nằm trên tấm tăng ni lông. Cả tiểu đội bó gối hu hu. Thằng Dương và thằng Sỹ thì không khóc được nữa. Hôm sau Khoái đi rồi, hai thằng lên cơn sốt rét. Mấy chục năm nay chả biết hài cốt thằng Khoái đã tìm được mà đưa về nước chưa. Những lần gặp Dương nó cứ lẩm bẩm về chuyện thằng Khoái chết vẫn không được ăn. Tháng sau chúng tôi bổ xung về sư đoàn chiến đấu. Lại vượt sông Pô kô để lại sau lưng những nấm mồ lính sinh viên chết vì bệnh tật và chết đói ở nơi rừng sâu heo hút bên kia biên giới.

Cuối năm 1974 sư đoàn tôi bí mật hành quân về Đắc Lắc để tham gia chiến dịch. Trăng mờ và sương lạnh. Đội hình chiến dịch nườm nượp. Người và xe lầm lũi. Tôi gặp Dương. Nó không đeo ba lô, vác 2 khẩu AK. tôi hỏi sao vác 2 súng. Tao bi thương chưa khỏi hẳn nên ba lô anh em mang hộ, nhìn ra thì thấy nó đi thập thềnh. Chia tay nhau ngay lúc đó và mãi gần một tháng sau gặp nó trên đường 7. Chân nó đã ngon rồi. Nắng chiều chói chang, bom đạn nổ vung vít. Ngầm sông Ba ào ào người và đạn bom. Trinh sát hai tiểu đoàn gặp nhau bờ sông. Phải vượt sông bám địch ngay, nó đưa cho tôi gói cà fê còn tôi thì cho hắn ba bao thuốc Ru bi. Dưới chân 2 thằng có một bao cát nằng nặng, nó lấy mũi giầy móc lên, những lá vàng kim thành óng ả rơi ra. Hắn cười, lấy chân gạt cát vùi xuống rồi lội ào xuống sông. Tôi cũng nhẩy theo bơi qua sông. Sau này nó bảo, tao chắc mày cũng không tiếc cái thứ của thiên ấy. Trở về học lại đại học với nhau nhưng chưa bao giờ nó tiếc nuối điều gì về những ngày đã từng chiến đấu khi xưa. Mọi chuyện bị đạn với nó nó kể chuyện như đùa. Một lần Dương bị bọn thám báo phục kích. Tụi thám báo lẳng cho một quả US rồi bỏ chạy. Dương cũng chạy, máu chảy ướt từ vai xuống tay, mặc kệ cứ chạy đã. Chừng xa địch rồi mấy thằng xúm lại băng bó. Đêm tối lại cũng hoảng nữa nên bị đạn vào vai mà băng vào tay, thế mà cũng ung dung về phẫu trung đoàn. Bữa ấy thằng Sỹ đang làm y tá được một trận cười no bụng. Dương và Sỹ lại có cớ ở gần nhau được mấy tuần. Thành tích lớn nhất của hai đứa nó là vào bản Ngo klê tán cô Mít. Dạo ấy ở vùng này có cô Mít đẹp lắm. Sỹ thì nhận tên là Dương và ngược lại Dương nhận tên là Sỹ. Khổ nỗi, cô Mít thích Dương thì lại hổn hển thì thầm "Mình yều bồ đồi… bồ đồi sỳ … bồ đồi sỳ … sỳ… sỳ… ". Vụ này tới ba lăm năm sau hai thằng vẫn cãi nhau.

Kết thúc chiến tranh, chúng tôi về đóng ở Củ Chi. Cấp trên muốn đưa Dương làm cán bộ đại đội, nhưng nó dứt khoát xin về. Hồi đó bọn tôi không dám làm như nó. Sợ kỉ luật, tư tưởng dã đám. Nó thẳng thừng nói với chính ủy, rằng khi có chiến tranh chúng tôi ra trận không chút so đo, nhưng bây giờ cho chúng tôi về học tiếp đại học mới có lợi hơn cho đảng, đừng có giữ chúng tôi. Chà, chúng tôi khoái. Nó xin nhận 4 con bò của tiểu đoàn đi chăn ngoài rừng cao su. Đi qua, thấy nó hát ngêu ngao bài Đàn bò của tôi với một lũ trẻ con.

Ngày tốt nghiệp đại học mỗi đứa một nơi. Dương về quê mình. Chỉ năm năm sau biết nó làm giám đốc một xí nghiệp ở địa phương. Và cũng chỉ sau vài năm lại thấy nó không làm giám đốc nữa. Nghe chuyện mà cười toát mồ hôi. Một lần có đoàn cán bộ lên thăm Sở công nghiệp tỉnh. Sở dẫn đoàn xuống Xí nghiệp Dương. Những năm của thập kỉ 80 đầy khó khăn ấy nhà máy nào kiếm công việc gì làm ra sản phẩm và có lương cho công nhân là may rồi. Xi nghiệp Dương làm vại sành chum sành. Thế là cuộc viếng thăm ấy Dương không chơi loại phong bì làm quà mà nó cho gói ghém mỗi quan trên một cái chum to tướng. Đoàn quan chức từ Hà nội lên đành ì ạch bê món quà ấy về tới tận… văn phòng của tỉnh. Nó xin thôi giám đốc để đi làm vận tải liên tỉnh. Mấy năm rong ruổi xa nhà, tiền thì kiếm được nhưng tình thì ra đi. Cô vợ chán cảnh chồng bỏ giám đốc đi chở hàng thuê nên cũng bỏ đi nốt, để lại hai thằng con trai đẹp như tượng, may mà nó giống mẹ. Trắng tay, chợt nhớ ra là tiền của chức tước không bằng vợ con thế là quay về nuôi hai đứa con trai ăn học. Nó làm đủ mọi việc bươn trải mọi nơi để hai cu cậu học hành đến nơi đến chốn. Thi thoảng về Hà nội gặp nhau, trong mọi câu chuyện thì hùng hồn nhưng nói đến con thì bỗng dưng chùng lại. Với nó, hai đứa con là tất cả. Chỉ có con mới làm nó vui làm nó trẻ lại.
Mới tháng trước gặp tôi và Sỹ nó bảo tao xin việc cho thằng lớn rồi, thằng nhỏ cũng xắp ra trường. Hồi này thấy tức ngực lại ho nữa. có khi bị lao mày ạ. Nhưng có bạn Sỹ làm bác sỹ viện lao thì tao bị lao cũng tốt để cho thằng Sỹ nó chữa.

Sỹ cười:
Dương ơi tao chỉ sợ bệnh láo thôi chứ còn lao thì mày yên tâm. Chữa được.

Litangu

litangu
04-07-2013, 11:06 AM
Chuyện kể từ bếp ra bàn ăn



Chả biết có nên kể lại hay không cái chuyện đố kị giữa con người với nhau thời ở lính. Nhưng già rồi ngẫm ra mọi sự cũng tuân theo lô gic vốn có của nó, cũng muốn con cháu hiểu thêm cái chữ nhân quả mà sách thánh hiền dậy. Chả giỏi giang gì để viết theo kiểu các nhà lí luận cao siêu hay thuyết rằng diễn dịch qui nạp hiện sinh linh tinh gì đó, thì thôi đành viết kiểu từ bếp ra bàn ăn vậy. Đây là những câu chuyện chứ chưa phải là truyện. Viết thế cho lành cho dễ hiểu với mình, với vợ mà nếu có ai trót đọc được thì cho là chuyện vợ chồng nhà nó chả rây đến ai.

Dưới đây là câu chuyện trong nhà tôi.

Bây giờ tôi vẫn hay gặp anh ấy. Từ ngày anh về hưu đâm ra hiền và dễ gần. Anh sống đầy đủ về tiền bạc, nhà cửa anh mấy cái ở Hà nội còn ở quê tôi không rõ. Anh bảo tôi: “Tổ mình thỉnh thoảng phải gặp nhau đấy tổ trưởng nhé. Tháng một lần ở Hiếu béo cho tiện cậu ạ”. Rồi anh cười hớ hớ. Hồi đó tôi vẫn đi làm nhà nước lương cũng đủ để uống bia vặt. Nhưng chức to nhất cuộc đời của tôi là tổ trưởng CCB trung đoàn. To là bởi tổ viên của tôi có 4 người. Là anh, thiếu tướng nguyên chính ủy trung đoàn, một anh cục phó cục quân lực BTTM, một giáo sư viện trưởng, một thượng tá trưởng phòng của tạp chí VNQĐ. Một tổ có toàn cán bộ cấp cao diện TW quản lí mà mình hô nộp tiền là nộp tiền, hô đi họp là đi họp, gọi điện thoại rõ oai nào là: anh nhớ phải có mặt đấy nhá, phải đeo huân huy chương đấy nhá. Thậm chí hét: “Anh ra Hiếu béo ngay đi”…
Vợ tôi nghe mà choáng. Hỏi, anh gọi ai mà hét to thế. Hì hì quát toàn những ông to cả đấy. Vợ thở dài, chả còn nanh vuốt gì nên chỉ giỏi quát mấy ông về hưu. Mình nghe khoái. Hơ hơ! mấy ông ấy hiền lắm cơ mình ạ. Lương bổng cao chức tước nghiêng ngả một thời nay vẫn sinh hoạt CCB thế là tuyệt cú mèo. Vợ tôi bảo, giá ngày xưa họ cũng hiền như thế! Đúng là lí lẽ đàn bà.
Ngày xưa đang chức hiền thế nào được? Hiền là tự sát. Hiền là để cho thiên hạ nó bảo mình ngu. Hiền quá thì mất thóc. Có chức quyền cao thì sự ác nó như là đương nhiên. Cái ác đâu phải tự con người, nó do thượng đế xắp xếp cao thấp, được sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới. Cái ác của thằng dân ngu cu đen quá lắm chỉ làm chết một vài mạng người, làm cháy một vài căn nhà nhưng cái ác của kẻ quyền cao nó có thể giết nhiều người rất nhiều người, đốt cháy cả một dãy phố cả một thành phố nhưng chết từ từ cháy từ từ, cái khác nhau là ở chỗ đó.
Vợ tôi vừa tuốt rau ngót vừa lườm. Lắm chuyện. Anh đã giết được ai chưa? Phấn đấu cả đời học hành rõ lắm về hưu được ngót 5 triệu mà nay hội này mai hội nọ, tù và đâu nhiều thế cho anh vác. Đúng là đàn bà. Nhìn ra ngoài cửa sổ nhoang nhoáng người xe chạy về hướng Trung tâm hội nghị Quốc Gia lại nghĩ xắp thi đại học đến nơi rồi, cháu mình ở trên quê liệu thi được mấy điểm?
Tôi kể với vợ. Lúc tôi vào chiến trường anh ấy là chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Lần đầu tiên được thấy anh là sắp đánh cao điểm 784 ở Gia lai. Tiểu đoàn chộn rộn chuẩn bị đủ thứ công việc thì chủ nhiệm chính trị xuống. Thấy một ông chừng ba mươi tuổi phương phi đeo túi mìn mo và súng ngắn có thằng Dưỡng công vụ đi cùng. Thằng Dưỡng thì tôi lạ gì, nó vào cùng đợt với mình hiền như đất người Phù ninh. Dưỡng nói nhỏ với tôi, lại tao cho điếu Tam Thanh. Mày lấy đâu ra thế? Nó suỵt, của chủ nhiệm đấy. Rồi nó bảo ông ấy nghiêm lắm. Nghiêm là sao? Dưỡng bảo ông ấy ghét mấy thằng có chữ tụi mày lắm đấy nhé. À ra thế. Tao biết thừa rồi, cán bộ chính trị dưới này cũng thế. Ông chủ nhiệm quán triệt chính trị viên cái gì nghe không rõ chỉ thấy chính trị viên gật gật vâng vâng. Chủ nhiệm về rồi chính trị viên cho quán triệt cả tiểu đoàn rất kĩ về kỉ luật dân vận với đồng bào với tù binh và đặc biệt là cấm lính tráng không được chú trọng vào tận thu ba lô của lính ngụy. Trước khi về thằng Dưỡng bảo tôi, mày có lấy được cái dù cối nào để tao cái tao cho chủ nhiệm. Rồi nó lại cho tôi điếu thuốc lá Tam Thanh nữa.
Mùa mưa năm 73 lính đói. Lính mang cả võng cả áo quần đổi lấy cái ăn. Một bữa mấy thằng lính D8 đổi được nải chuối chín từ bản Lungbang ra thì gặp chủ nhiệm. Ông ấy nhăn mặt, lấy chuối ở đâu? lính D8 thưa dạ đổi trong bản. Ông ấy quát vô kỉ luật! rồi giật phăng nải chuối đập bét xuống đất. Mấy thằng ngẹn ứ cổ lùi lũi đi. Đi rồi ngoái lại nhìn nải chuối be bét trên đất ba zan. Ú ú sèo sèo, pháo địch bắn. Thế là cán bộ chạy đường cán bộ lính chạy đằng lính.
Vợ tôi thở dài, ngày ấy bố mày khổ quá nhỉ. Thương bố mày thật đấy. Đứa cháu nội thấy bà hiền lành trở lại vội cười nịnh chiều nay bà cho con đi Bigshi nhé. Tôi hỏi vợ. Này em nhớ anh Hùng chứ? Vợ tôi nhướng mắt anh Hùng nào? Anh Hùng làm tướng ấy. À à có nhớ chứ nhớ chứ anh ấy vẫn gọi nhầm em là Thủy chứ gì, chắc ngày xưa anh lằng nhằng với cô Thủy nào đấy hả? Lằng nhằng cái con khỉ, đang chuyện trò nghiêm chỉnh lại nhẩy sang thủy với hỏa. Ông ấy lên to nên hay mắc chứng à ừ nhỉ. Vợ tôi nín thinh. Lại kể cho vợ nghe, đánh đồi Mắt Ngỗng anh Hùng làm đại đội trưởng để bộ đội thương vong mất 13 người. Cả đại đội chỉ còn hơn chục tay súng. Thế là bị kỉ luật. Lên nằm thu dung trên E bộ. Chủ nhiệm hành lên hành xuống suốt ngày bắt ca cóng ở ban 2. Hùng xin về đơn vị chiến đấu lập công chuộc tội mà không xong. Uất đến phát khóc. Ngày ấy anh lại đang lên viết sử cho trung đoàn 15 ngày ở chỗ trạm khách E bộ, thấy anh Hùng ngồi thẫn thờ ở bờ suối những buổi chiều nghe pháo địch rú qua đầu. Có lúc anh ấy khóc.
May là gần tháng sau ông Chính ủy họp ở mặt trận về. Ông ấy quát ầm lên kỉ luật cứ kỉ luật nhưng phải tin vào họ cho họ cơ hội sửa chữa chứ. Thiếu cán bộ như thế mà hành người ta suốt ngày lấy cơm đun nước ở phía sau là sao? Hùng được về đơn vị ngay. Về đơn vị anh ta phải xuống làm đại đội phó rồi lại lên đại đội trưởng đến chiến dịch HCM thì làm tiểu đoàn trưởng và bây giờ thành tướng. Ông chính ủy sau 1975 làm chính ủy sư đoàn ở QK3 rồi về hưu và mất ở quê Xuân Thủy Nam Định. Vợ tôi vừa đảo nồi măng vừa thở dài, ông chính ủy tốt thế nhỉ. Ừ, Ông ấy tốt lắm, ông ấy hay nói câu: Nhất tướng công thành vạn xác khô. Vợ tôi chau mày, bố mày nói toàn nho nhe khó hiểu quá.
Rồi tình cờ làm sao sau năm 79 ông Chủ nhiệm chính trị và anh Hùng lại cùng ra Bưởi học một lần. Ba năm sau tốt nghiệp trường QS cấp cao ấy Hùng thì về lại 320 làm sư phó tham mưu trưởng, ông chính ủy bị phốt để mất tài liệu về QK -B làm phái viên chính trị mặt trận. Mà sao cái ông chủ nhiệm ấy may thế, vẫn chẳng phải chỉ huy đánh đấm lẫm liệt gì vài năm sau lên tướng ở Thủ đô. Anh Hùng thì lại vào Tây Nguyên rồi ra bắc cũng làm tướng. Chủ nhiệm cũ bây giờ có ngôi nhà vật vã gần bia Hiếu béo cho thuê chứ không dám ở, ở đó thì mệt với những nhà láng giềng cũng là lính. Thì ra con người thế nào lúc trẻ thì già vẫn thế. Nhiều mưu nhiều kế lắm cơ. Chả cứ gì lính ghét mà người đời cũng ghét, họ bảo rằng anh ấy nham hiểm. Ồ mà hay thật, ông ấy có lần từng nói cho chúng mày chiến công, tao chỉ cần hô một phát động viên tư tưởng chỉ đạo tư tưởng là lính tráng chúng mày bắn nhau thục mạng. Vợ tôi nhìn tôi, hóa ra chính trị phức tạp thế hả bố mày? Chứ không à, làm cán bộ chính trị phức tạp lắm mẹ mày ạ. Đâu đơn giản như tôi làm Giám đốc lỗ lãi giành giành phơi ra cả thiên hạ biết. Vợ lại thở dài. Thôi dọn bát ăn cơm đi. Nghe chuyện bố mày em đau đầu quá.
Ngồi vào bàn ăn vợ tôi lại nhắc đến những người bạn lính của tôi. Thế mà sao những anh bộ đội bạn anh toàn người tốt anh nhỉ? Mà ông chủ nhiệm ấy bây giờ đến nhà mình thấy hiền quá hả anh? Hừ về hưu là hiền. Như con hổ bẻ hết nanh vuốt đi thì cào cấu gì nữa. Hiền là phải, hưu là hiền. Ờ ờ các bạn anh đều làm lính nên còn tốt. Chứ nếu lên to mà lại làm cán bộ chính trị thì… dưng mà phải thông cảm với họ thôi mẹ mày ạ. Làm to khổ lắm. Thôi mình ăn cơm đi.

Đêm chính tả 3/7/13

litangu
04-07-2013, 10:50 PM
Ước muốn làm phi công

Thời bé đi chăn trâu. Cả lũ nhổ trộm sắn của dân đốt lửa nướng lên gặm nhem nhuốc thú vị lắm. Vừa ăn sắn lùi vừa thao thao mơ ước lớn lên làm gì. Nhớ lại sao mà thấy mọi thứ nó vận vào đời người in như nó có từ thủa bé. Trong đám tôi có tới bẩy tám thằng tuổi sàn sàn như nhau. Thằng nào cũng hung hăng thích làm sĩ quan quân đội. Chỉ có hai thằng chưa hề thấy nó mơ làm sĩ quan bao giờ. Hai thằng ấy hiền, ngoan và yếm thế. Nó bảo chỉ thích làm nông dân thôi, thích có xe đạp có đài nghe hát xẩm xoan (hát chèo). Cả lũ cười ồ. Nó không cười nó nhẫn nhịn đi dắt trâu hộ chúng tôi còn chúng tôi thì thả hồn mơ ước sau này làm sĩ quan, làm bác sĩ, làm phi công.
Cái thằng ước làm phi công là thằng học lớp trên và học giỏi nhất trong đám chăn trâu nhưng lùn tè tè. Chúng tôi bảo phi công cao to lắm chứ, mày sao mà làm được phi công, lùn bỏ mẹ quyét rác ở sân bay cho xong. Nó lạnh tanh khuôn mặt. Lùn mà làm phi công cho máy bay khỏi phải cao lêu nghêu càng bay nhanh. Hơ hơ! nó học lớp 8, nó nói khí động học nghe hay quá. Ừ nhỉ máy bay bé đỡ bị ăn đạn.

Năm ấy, làng tôi đã bị máy bay Mĩ ném bom. Ném bom vào làng chả phải để giết dân chỉ vì làng tôi có tới hai cây cầu và một ga tàu hỏa chứ dân làng tôi thì nguy hiểm gì với thằng giặc Mĩ. Cái thằng ước làm phi công nấp trên đồi chè với chúng tôi nhìn máy bay vút lên cao rồi bổ nhào xuống nó hét: Nó pích kê rồi, sắp thả bom rồi! Nó thả bom cầu Tây rồi! Chúng tôi hé mắt nhìn trong tiếng gầm rú của thần sấm cổ ngỗng thấy lũng lẵng hai chấm đen vun vút lao xuống nổ uỳnh uỳnh khói bốc lên đen ngòm cả xóm. Nể thật. Sao nó lại nói là Pich kê? Pích kê là gì nhỉ? tối về hỏi bố, bố tôi bảo thằng Long nó nghe bố nó nói tiếng Pháp đấy. Tôi cứ nhớ cái câu pích kê ấy mãi tới bây giờ. Cứ nói lại cái từ ấy là tôi lại thấy những quả bom đen chũi rơi xuống làng tôi mà vẫn chả hiểu pich kê pích queo là gì.
Gần làng tôi có một đơn vị cao xạ Trung quốc. Có 4 khẩu 14,5 li bảo vệ cây cầu đường sắt. Họ hét inh om những câu gì nghe chẳng hiểu. Không có máy bay hét đã to, có máy bay đến hét váng lên đến khiếp. Súng bắn thường khi máy bayđã vút qua. Rồi sau lúc ấy họ lại hát, hát đến khỏe ở dưới ruộng vẫn nghe thấy tiếng họ lủng sủng loảng soảng trên đồi. Chúng tôi khoái nhất là xem họ làm máy bay bằng mảnh duyra nung chảy. Họ đổ huy hiệu bác Mao bằng khuôn cát nhân tiện họ đổ luôn máy bay. Thôi thì đủ loại từ cổ ngỗng đến vỉ ruồi đến cả trực thăng. Chả đứa nào thích xin máy bay trực thăng thích nhất vẫn là cổ ngỗng. Cái anh này ném bom hàng ngày dọc đường sắt nhà ga trông quen mắt mà cũng thấy nó hung tợn hơn cả các loại máy bay của giặc. Thi thoảng họ đúc cả máy bay cổ rụt của ta. Lúc ấy chúng tôi đâu biết là mig17 chỉ thấy bộ đội Trung quốc bảo nó là "Due nản phây tri" rồi ra hiệu bắn vào cổ ngỗng thế là thích lắm. Dần dà tụi chăn trâu gọt máy bay bằng gốc sắn. Thằng Long lùn gọt đẹp lắm. Nó say sưa cầm cái gốc sắn hình thù phi cơ uốn ** lượn vòng mồm ù ù vi vu lúc căng thẳng lúc giận dữ nổ ùng ùng ra chiều ném bom dữ dội.
Chiều tối thằng Bình nhẫn nại đi đuổi trâu về cho nó để nó cho cái máy bay gọt rõ đẹp buộc thêm sợi dây rừng khỏi rơi. Nó cười phơ phơ, mai lại đuổi trâu cho tao tao lại sản xuất cho máy bay của Liên Xô của Trung Quốc nhá, nhá. Thằng Bình cười gật gật.
Năm sau lũ chúng tôi chả đứa nào còn chăn trâu nữa. Vào học cấp ba theo thằng Long lùn đi tán gái làng bên. Nó vẫn không cao lên là mấy nhưng khỏe và hoạt ngôn. Nó học giỏi có tiếng ở cấp ba nhưng bây giờ không thấy nói mơ làm phi công nữa. Chắc cu cậu nung nấu trong lòng. Chúng tôi đi bộ chục cây số từ trường về nhà dọc bờ sông Hồng. Mùa tựu trường cũng là mùa lũ sông. Thằng Long dẫn tụi tôi vớt củi bán cho dân phố chợ lấy tiền mua chuyện kiếm hiệp. Suốt dọc đường đi học về chỉ nói chuyện về Hồ Mộng Điệp về Long hình Quái khách. Thằng nào cũng tranh nhau khen nữ bá vường Hồng Hoài Châu xinh đẹp rồi thì chỉ yêu thich Tam anh hùng trong Hồng Sa Chu tiên Kiếm. Thằng Vân nói như ngâm thơ: Sơn Đông Ngũ Triều Dương, Hà Bắc Triệu Phi Hùng, Hàng Châu Ngô quốc Ân. Thằng Long lẩm bẩm thế mới là anh hùng thế mới là kiếm khách. Cả lũ quên chuyện tán gái làng bên mà đắm chìm vào những anh hùng đẹp trai võ nghệ cao cường đang hiện ra trong mắt trong tâm trí mấy đứa học trò. Những câu chuyện học trò những cuộc vui học trò nhanh đánh vèo cái là đi mất.
Thằng Long nhập ngũ 3/67. Nó vừa đi thi giỏi toán tỉnh Yên bái. Nó bảo nó đi thi với con bé tên Kim Thuần bên Bảo Hưng. Con bé ấy đẹp dã man mà học cũng oách. Ngày nó nhập ngũ xã tôi có tới chục người. Cái sê ri 3/67 này nổi tiếng cả một thời KCCM. Lính 3/67 hầu hết đánh Mậu thân và đi tới ngày cuối cùng Giải phóng Miền nam.
Thằng Long vù một mạch tận B2 rồi xuống Rạch Giá. Chúng tôi nối nhau vào chiến trường thi thoảng gặp người làng còn riêng thằng Long biệt tích không ai biết. Cuối năm 75 nó lù lù về nghỉ phép. Nó chẳng được đi phi công như nó hằng mơ, nó đi làm lính bộ binh rồi vào U Minh làm lính địa phương. Oái oăm thật. Ước mơ thì cao siêu mà gần mười năm mặc áo dân miền tây đánh giặc lội sình lội ruộng miết miết lên cạn cũng khó chứ chả nói đến bay trên giời. Chả biết những đêm nằm trong rừng U Minh muỗi vắt rắn rết có lúc nào nó mơ bay trên giời nữa hay không?
Chỉ có thằng Bình nó cứ nhẩn nha nhẫn nhịn ấy vậy mà tươm. Nó đi bộ đội hai tháng sau nó về vì yếu sức. Nó về làm thương nghiệp tỉnh toàn ở Thị xã rồi Thị xã sau này lên Thành phố nó là dân Thành phố chính hiệu. Những thủa đói kém nó ăn gạo bông, tem phiếu đàng hoàng nhà tập thể của nhà nước. Sướng.
Thằng Vân đi bộ đội về xuống tỉnh nhờ thằng Bình xin cho làm chân bảo vệ cơ quan mất chục con gà và hai cân chè mới xong. Nghe thằng Vân kể lại thằng Bình ghét nhất cái tội thằng Vân hay kể chuyện hồi bé đi chăn trâu. Có lần Vân ta lỡ mồm nói rằng ngày xưa đi chăn trâu với thằng Bình thế là vợ thằng Bình té tát cho một bài về ngoại giao. Vân buồn tê tái viết thư cho tôi. Tôi cũng buồn, mà cũng thấy đúng chứ chả sai. Sự chăn trâu không ăn nhập vào một anh cán bộ tổ chức.
Hơn bốn chục năm sau mỗi khi về quê gặp mấy thằng chăn trâu ngày trước nay về hưu về mất sức thương tật đầy mình khề khà chén rượu cạnh bếp lửa kể cái ước mơ làm sĩ quan làm phi công cười nhe hàm răng thiếu huếch thiếu hoác đến vợ con và đàn cháu cũng giật mình. Chúng nó nhìn ông nội cóc cáy tri điền thế mà đã có hồi ước mơ làm phi công. Ôi giời ôi ông tao mơ làm phi công! Rõ là chuyện lạ chuyện không thể tin với chúng nó.
Có một năm nào đấy thằng Long về. Nó nói nó ở Thị xã Rạch Giá. Lấy vợ là con gái một người mẹ VN anh hùng có bốn con trai hi sinh cả. Nó bảo thương bà già vợ đã từng cưu mang mình những năm đánh giặc trong bưng biền nên ở lại rồi phục viên rồi làm Giám đốc XN đánh cá của tỉnh Kiên giang. Ô thế là nó lại làm Hải quân. Mừng cho nó chả lái máy bay trên giời thì veo veo rẽ sóng lái tàu ra khơi. Chả bắn nhau với ai chỉ đánh cá mà sinh sống. Vẫn oang oang như ngày xưa gặp mình ở quê nó nói rõ nhanh "Due nản phây chi tả mẩy quớ phây chi. Hơ hơ!“
Hóa ra nó vẫn nhớ nó vẫn mơ cái ước mơ làm phi công. Giời ạ, tao phục mày quá Long ơi!


LITANGU - NTL

Ad-trungsy1
06-07-2013, 05:17 AM
Đã chuyển các bài thơ ở đây sang Chùm thơ tháng Bảy (http://khucquanhanh.vn/diendan/showthread.php?t=996#post40730) theo yêu cầu của anh litangu

litangu
06-07-2013, 06:52 AM
HOA GIẤY


Thú thật, trước khi vào nam chiến đấu tôi chưa hề biết hoa giấy. Có thể quê tôi không có và những vùng miền bắc khác tôi chưa biết chăng. Chỉ đến khi về đánh Củ Chi tôi mới nhìn thấy hoa giấy.
19/4/1975 chúng tôi từ Chơn thành hành quân rồi vượt sông Sài gòn lúc gần sáng. Đoạn chúng tôi qua sông sau này là bến Dược chứ lúc ấy chỉ biết theo đường vạch ra của trinh sát cấp trên mà thôi. Chúng tôi đi bộ trên con đường cũ phủ kín lá và cỏ hoang. Củ Chi hoang tàn, Củ Chi bình địa với xe pháo cháy thui, những gò đống lở loét hố bom hố pháo. Dưới chân chúng tôi là gạch đá là mảnh bom, vỏ đạn dấu tích của mười mấy năm mảnh đất thép này đánh Mỹ và trụ vững để hôm nay có bàn đạp cho đại quân tiến đánh trận cuối cùng.

Nơi trú quân rất chật hẹp, nằm sát ra mép sông Sài Gòn. Bộ đội không được đi lại không được tắm lội trên sông. Mỗi người di chuyển đều có một cành lá tươi cầm theo che trên đầu. Máy bay địch lượn lờ và thỉnh thoảng một trận pháo đổ dồn từ phía Bình Dương, Đồng Dù ập tới. Tôi vốn là lính bộ binh lên trinh sát nên mấy ngày nay nằm gần đai đội cũ của mình tôi mò xuống C7. Lính mới bổ sung tháng 12/74 toàn quân Phú thọ nên bọn tôi nằm trong cỏ mà thả hồn tán chuyện quê hương. C7 đóng ở một khu đất dáng chừng trước đây là một xóm nhà dân trù phú. Vẫn còn những chân cột, góc chuồng lợn và cây trái ăn quả. Cỏ lau cỏ rác mọc tùm lum lên những nền nhà những góc vườn chả biết chủ nhân của mảnh đất này giờ lưu lạc góc trời nào. Thằng Hoà người phố Cao Bang đặt khẩu B41 tựa lên thân cây dễ còng quèo lá xanh che vòm như cái tán ô. Mà kì lạ phía bên trên chòm lá xanh là những cánh hoa đỏ chói, lẫn cả những cánh hoa trắng như cánh bướm. Những cánh bướm mỏng manh sau mỗi đận pháo nổ lại rung rinh lắc lưởi trên đầu. Gió Sông Sài gòn làm nó đung đưa, cái vòm hoa ấy xôn xao tiếng cười tiếng hát của lính.
Tôi bảo Hoà ăn chơi quá nhỉ. Nằm trong vòm hoa rõ là đẹp viết thư cho người yêu thế kia có mà quá là mày đi học nước ngoài đang kể về trời Âu. Nó bảo ừ thật đấy, em suýt nữa đi tây rồi. Trường Hùng Vương chúng em đi tây đông lắm nhưng em lại nhận giấy báo đi bộ đội trước. Đợt chúng em nhập ngũ là 29/4/74 anh ạ. Rồi đột nhiên nó hỏi anh có biết tên hoa này là gì không? Tôi bảo chịu chưa thấy bao giờ. Chúng nó - cả tiểu đội lao nhao, chúng em cũng thế không biết hoa gì, cứ nghĩ anh Luân học cao hơn thì biết. Tôi gật gù ra vẻ suy nghĩ chả nhẽ hoa bướm? vì cánh nó giống cánh bướm. Rồi rứt khoát tôi bảo thôi nhớ ra rồi đấy là hoa bướm. Mấy thằng ngồi im có vẻ thuyết phục. Thằng Hoà thì nói khẽ em không tin, nhưng đẹp quá anh ạ nắng càng to màu nó càng sáng lên, rực rỡ hơn. Sau này Hoà bình, em sẽ mang giống hoa này về Thị xã Phú Thọ trồng và sẽ gọi là hoa Củ Chi. Cả lũ cười nhăn răng, hoa Củ Chi là hoa Chỉ Cu đấy mày ơi. Thằng Hoà và tôi cười phớ lớ. Dưới kia sông Sài gòn xanh veo gió và trên đâu chúng tôi hoa vẫn rung rinh đỏ.
Sáng 29/4 nổ súng đánh trận cuối cùng. Trận đánh Ấp Chợ Cầu Bông diễn ra từ 5 giờ sáng tới 12 giờ trưa. Tình cờ khu ấp chợ Tân Phú Trung cũng miên man những rặng hoa giấy đỏ tươi và những hàng cây bằng lăng hoa tím.
Thằng Hoà hi sinh lúc 9 giờ sáng. Khẩu B41 của nó chỉ còn một quả đạn mang theo. Chúng tôi chỉ kịp nhìn nó cái thằng to cao da nâu bóng và chiến đấu rất lì được các bà con đang lau chùi khâm liệm rồi vội vã tiến vào Hóc Môn.
Trận địa Tân Phú Trung lùi lại đằng sau vẫn nôn nao màu đỏ của hoa giấy và man mác màu tím hoa bằng lăng.
Tôi trở lại An Nhơn Tây nhiều lần và lần nào cũng vậy lại đến bên mộ thằng Hoà. Cái bia ghi: Phạm Văn Hoà – Quê quán: phố Cao Bang TX Phú thọ - Hi sinh 29/4/1975 hiền lành như bao tấm bia đồng đội khác. Đến bây giờ thằng Hoà vẫn chưa biết tên cái loài hoa mà nó thích. Nghĩa trang An Nhơn Tây rợp màu cái loài hoa ấy. Đỏ thật tươi, sống thật mãnh liệt, bốn mùa rung rinh, và hoa cứ nở cả bốn mùa.

Litangu-NTL

litangu
07-07-2013, 08:20 PM
Bờ sông vẫn gió

Đã thành lệ khi nào tôi buồn hoặc trắc trở cuộc mưu sinh hay dằn vặt điều gì đó nặng nề tôi về lại Củ chi. Chẳng phải Củ Chi có người phụ nữ nào, mối tình nào hoặc điều gì đó ràng buộc trần trụi, chẳng phải ở đó có chùa chiền miếu mạo mà con dân đến cầu khấn giãi bầy để tôi đây lặn lội về cúng bái. Củ Chi với tôi là chốn để thả hồn thanh thản mỗi khi tôi buồn, chao đảo. Nơi đó tôi gặp lại bạn bè một thời trẻ trai một thời gian khổ, về đó tôi lấy lại sự cân bằng trong lòng vì tôi gặp từ thực tại và cả từ hư vô những cuộc đời thực của bao người tôi yêu tôi quí.
Chuyến bay tới Tân Sơn Nhất lúc 11 giờ trưa. Tôi nghe bạn tôi bảo anh em CCB F5 ra đón. Tôi nói luôn, ai nấy lo tự ăn trưa đi nhé tớ xuống là đi liền. Chỉ khi nào xong việc thắp nhang cho đồng đội ở An nhơn Tây mới được nhậu. Đầu dây bên kia xác nhận rồi cười ha hả. Tôi yên tâm.

Bạn lính sư đoàn 320 và sư đoàn 5 lần đầu gặp nhau mà như biết nhau lâu rồi. Kì lạ thế! chỉ sau cái bắt tay là cuốn vào chuyện như không còn phân biệt tuổi tác, phân biệt vùng miền. Điều kì lạ này chỉ có ở lính, chỉ có lính mới thân tình kiểu ấy. Giữa trưa ngồi trên xe í ới gọi nhau, thì ra một xe nữa xuất phát từ một điểm khác. Hẹn nhau ở chợ Hóc Môn. Nhá, nhá... rồi... rồi. Lại cười lại nhai vội bánh mì mà ngóng ra đường xe vùn vụt qua những địa danh thân thương từ mấy chục năm trước. Cầu Sáng xây mới to hơn vẫn rườm rượp những ô rô cóc kèn và dừa nước che thấp thoáng những xưởng mới nhà máy mới. Khu công nghiệp hay đô thị mới chưa lan tới đây sao? Tân Thạnh Tây, Tân Thạnh Đông vẫn êm đềm như nó vốn có. Hai xe hội nhau ngay phía dưới ngã tư Phú Hoà đông. Nắm tay những bạn bè sư 5 một cái rồi lên xe trong nắng nhắm hướng bắc đi tới. Qua Phú Hoà đông tới ngã tư Nhuận Đức bồi hồi đến lạ. Bên tay phải tôi con sông Sài gòn ngằn ngặt xanh những lục bình. Hạ cửa kính xuống mùi tanh ngái của con sông đầy sự tích ùa vào. Sông vẫn xanh, vẫn ngan ngát thanh bình và sông vẫn gió. Gió sông Sài Gòn với tôi như một kỉ niệm đẹp. Kỉ niệm nhào nặn trí nhớ, kỉ niệm tồn tại mãi rồi thẩm thấu trong cơ thể để về già nó vẫn tươi như mới ngày hôm qua. Nghiêng mái đầu hoa râm ra cửa xe để gió sông xoa nhàu lên tóc, mơn man lên khuôn mặt mình. Củ Chi là đây, là con sông ngàn ngạt gió là những chòm xóm lốm đốm cây trái, là những vạt ruộng dàn dạt hoa cỏ may là những chuyến xe bò lọc cọc trong chiều chạng vạng, là những thân áo bà ba nở căng thấm đẫm mồ hôi là ngọn đèn má ngồi đợi con điều nghiên trở về là những nấm mồ đồng đội tôi xếp ngang xếp dọc nằm lại nơi này.

Chúng tôi vào Nghĩa trang lúc giờ ngọ. Gần một vạn ngôi mộ rưng rưng trong tiếng ve kêu. Nắng. Nắng Củ Chi với tôi thương đến thế. Tôi yêu cái nắng đã từng làm cho hoa giấy nơi này đỏ căng lên, trắng sáng lên. Nắng nơi này làm cho lục bình hoa tím như những tháp chuông nhỏ xíu tung lên trời. Nắng trên những ngôi mộ chết trẻ cứ rần rật một bầu máu khát vọng sống của những người dưới mồ. Không biết tại nắng hay khát vọng sống của bạn tôi mà tôi đi dưới hàng ngang hàng dọc các anh cứ thấy ấm rừng rực, thấy như có nụ cười trẻ trung khi xưa và bàn tay níu kéo tay mình. Chúng tôi đặt bó hoa của các bạn sư 5. Chúng tôi đặt gói thuốc lào số 8 Hàng Gà mang từ Hà nội, đặt bánh cốm hoa quả rồi chụm đầu đốt nhang. Gió dưới sông đưa lên thổi bùng nắm nhang rừng rực. Ve ngừng kêu. Lạ thế! chúng tôi thưa với các anh rằng thuốc có ít, nhang không đủ, hoa mấy nhành xin lòng thành chia đều hương khói tới các anh. Tôi dẫn các bạn tôi đi trong chập chùng bia mộ, chỉ cho các bạn sư 5 biết đâu là ngôi mộ bạn tôi, đâu là ngôi mộ người cầm cờ vượt qua cửa mở Đồng Dù, đâu là những người đánh địch bọc hậu nơi thị trấn Củ Chi, những nấm mồ đồng đội E9, E48, E64 và những người phối thuộc... Hàng mấy trăm ngôi mộ cùng một ngày hi sinh: 29/4/1975. Tất cả bạn tôi đều ngã xuống trước ngưỡng cửa bình minh, bạn tôi một chút thôi... là kịp về với mẹ.
Tôi nhìn sang các bạn sư đoàn 5. Các bạn cũng rưng rưng nước mắt như tôi. Tôi biết rằng lúc này đây các anh cũng đang nhớ về đồng đội mình bỏ thân nơi xứ người. Các anh cũng đang nhớ về một thời máu lửa phía đất rừng Tây Nam. Nơi ấy bao nhiêu nấm mồ còn lang vải trong rừng hay phum nào sông nọ? Cuộc chiến mà chúng tôi đã qua chẳng phân biệt sự hi sinh, cái chết vì chiến tranh của những người cầm súng đều giống nhau đều bằng nhau là chết vì dân vì nước. Tôi và các bạn tôi đây đều có chung một ý nghĩ giá mà chúng tôi đến được tất cả các nghĩa trang tận vùng sâu, tận núi cao nơi các anh nằm... tôi cầu mong dẫu nằm ở đâu các anh cũng được thơm hương thơm khói của người đời sau.

Chiều hôm sau tôi về. Chuyến bay xuất phát khi nhà đài thông báo Hà nội đang gió to mưa lớn. Từ trên cao nhìn xuống con sông Sài Gòn quanh co nhàn nhạt vàng trong chiều hôm. Dưới đó, cuộc sống thanh bình tươi đẹp không thể nhận ra nơi này bom đạn khốc liệt đã từng qua. Tôi nhớ bữa cơm chiều qua trên Tân Thạnh Đông ấm áp tình đồng đội, tình người Củ Chi mà hai vợ chồng CCB Tân Thông Hội để lại cho tôi. Sự giản dị nhưng bốc lửa mà những người bạn chiến đấu khác chiến trường bỗng gắn bó thân thương. Tôi sẽ còn quay về Củ Chi như các bạn tôi ở 19c Ngọc Hà sẽ còn quay về Quảng trị. Vì ở đó có tuổi trẻ đời mình, có niềm tự hào và nỗi nhớ khôn nguôi một thời trai trẻ một thời lửa khói. Tôi sẽ trở về nơi bờ sông Sài Gòn rì rầm theo suốt đời tôi. Nơi ấy, bờ sông vẫn gió.

Tháng 7/2012

litangu
08-07-2013, 08:34 AM
Bài thơ tháng bẩy

Tháng bẩy sao cứ phải của riêng ai
Mưa ngâu lại đến buồn cho nhân thế
Dù cứ nghĩ và nhủ lòng như thế
Tháng bẩy về tôi cứ khóc đồng đội tôi?

Việc gì phải chọn một ngày để nhớ
Tình yêu thương chúng tôi gánh suốt đời
Đâu cứ phải một ngày cho liệt sĩ?
365 ngày? để tủi bạn bè tôi?

Thắp nén hương vẫn đang còn cháy dở
Hoa lấp lên hoa người vội vã xa về
Con trẻ sáng ngời khăn với áo
Chụp ảnh bên tượng đài hương khói chửa bay đi

Chỉ có lính già nước mắt khóc cho nhau
Ngực chói nóng gói thuốc cao huyết áp
Hồn người chết dìu chúng tôi đi suốt hàng ngang hàng dọc
Gọi nhau, gọi suốt đời này

Còn bao nhiêu người chẳng có mộ nơi đây
Còn bao đứa suốt đời trong khe núi
Còn bao đứa ngâm xương dưới đáy đại dương lạnh lùng và tăm tối
Tháng bẩy sao cứ phải của riêng ai?

Tháng bẩy phải là của tất cả chúng tôi
Của tất cả những người đã một thời cầm súng
Của tất cả cha ông ta từ thủa chưa có súng
Của sự ngượng ngùng cho cái gọi lương tri

Sao cứ đến tháng này mới nhớ những người mẹ mất con
Tôi ao ước dù biết rằng không thể
Ngày một ngày rằm thắp hương tiên tổ
Một nén hương cho người vì đất nước đã hi sinh

Sao cứ chọn năm chẵn để ghi ơn
Chúng tôi hiến thân mình đâu chọn ngày chọn tháng
Chúng tôi vào trận chẳng kể gì sự sống
Chỉ chọn cho mình vì Tổ quốc hi sinh

Chúng tôi không phải những linh hồn vạ vật lang thang
Rằm tháng bẩy đừng cúng chúng tôi bằng cháo lá đa và muối
Chúng tôi đội ngũ điệp trùng những người có tên có tuổi
Dù nghĩa trang bạn tôi chửa kịp về

Rồi sẽ đến một thời ngày giỗ vọng rất xa
Thành ngày “tết’’ có rất nhiều hoa trắng
Có đất nước nào suốt trăm năm chiến tranh dai dẳng
Mà nhớ sự hi sinh chỉ có một ngày?

Litangu- LTN



http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_6490_zpse166326b.jpg

.VMQuang.
08-07-2013, 09:27 AM
Hôm qua em về quê giỗ Bà Nội, em chụp mấy tấm hình tặng bác LTN

http://i1041.photobucket.com/albums/b420/vuminhquang1954/IMG_0009_zps5707d3e8.jpg (http://s1041.photobucket.com/user/vuminhquang1954/media/IMG_0009_zps5707d3e8.jpg.html)

http://i1041.photobucket.com/albums/b420/vuminhquang1954/IMG_0010_zpsf67072ce.jpg (http://s1041.photobucket.com/user/vuminhquang1954/media/IMG_0010_zpsf67072ce.jpg.html)

http://i1041.photobucket.com/albums/b420/vuminhquang1954/IMG_0012_zpsdd2fff04.jpg (http://s1041.photobucket.com/user/vuminhquang1954/media/IMG_0012_zpsdd2fff04.jpg.html)

http://i1041.photobucket.com/albums/b420/vuminhquang1954/IMG_0018_zps5551eac2.jpg (http://s1041.photobucket.com/user/vuminhquang1954/media/IMG_0018_zps5551eac2.jpg.html)

http://i1041.photobucket.com/albums/b420/vuminhquang1954/IMG_0015_zps28606bb5.jpg (http://s1041.photobucket.com/user/vuminhquang1954/media/IMG_0015_zps28606bb5.jpg.html)

http://i1041.photobucket.com/albums/b420/vuminhquang1954/IMG_0020_zpsbf8e714c.jpg (http://s1041.photobucket.com/user/vuminhquang1954/media/IMG_0020_zpsbf8e714c.jpg.html)

litangu
08-07-2013, 10:46 PM
Đêm tháng bẩy



Tôi cứ lẩn thẩn làm sao ấy. Người ta thì lo chuyện chứng khoán, chuyện bất động sản chuyện con cái vào được chỗ làm thơm chỗ tho... Đêm. Cả nhà ngủ tôi lại hút thuốc ngoài ban công lại tự mình nhớ về ngày xưa, chuyện trường cũ, chuyện đời lính. Và, những lúc ấy, cả người đã chết người còn sống kéo về như đang trò chuyện với mình cật vấn mình và rồi mình biện hộ, mình thú nhận những sai trái mà mình đã làm ngày xưa, mình hăng hái tự khoe những gì mình đã làm được, đã giành giật được trong cõi đời nhiễu nhương này. Mình hoan hỉ được chốc lát. Khi điếu thuốc đã tàn mình quay vào phòng ngủ, nhìn lên tường, bức ảnh chụp hồi còn ở lính với những đồng đội ĐH Cơ Điện, với tiểu đội trinh sát ở chiến trường đăm đăm nhìn mình, mấy thằng bạn như diễu cợt mình. Tắt đèn đi ngủ mà nụ cười mấy thằng bạn lính cứ tươi rói cứ vừa động viên lại vừa xát muối vào lòng. Quái lạ thật, tao có làm gì sai đâu, tao vẫn nhớ chúng mày đấy chứ, tao có đến nỗi nào... Một chuỗi cười vang trong đêm. Ha ha, hoá ra mày vẫn không thoát ra được cái mai con rùa quá khứ. Cựa quậy mãi mày vẫn chỉ là mày thôi con ạ. Còn nghĩ được đến chúng tao là còn được, có những thằng lính ĐH Cơ điện bây giờ nên ông nên anh có bao giờ nó nghĩ tới chúng tao, tới những thằng cùng cắt tranh chặt nứa Quảng Chu, chợ Mới Bắc kạn để làm lấy lớp mà học, cùng vét miếng mì trong cái rá khô không khốc ở Tích lương Đồng Hỉ ngày xưa đâu. Mày còn được, còn được...
Suốt đêm cật vấn mình, huyễn hoặc mình rồi lại tự an ủi mình. Mà thôi chính trị là số phận. Đời là vậy mà, mỗi người có số của mình. Giống như một lũ cá rô trong giỏ, cựa lắm thì trầy vẩy. Nhưng như cuộn phim cũ bây giờ tở ra, mọi nỗi muốn nhớ không nhớ ra được, thì trong đêm lại hiện về. Mọi điều đã quên lại thì nó bắt mình không được quên, nó hiện ra chói lói hệt như ngày hôm qua. Bạn tôi, những người lính SV đã hi sinh, đã bị thương đã từng hút chết lại hiện ra. Chúng nó vẫn thế, trẻ trung, cười toe toét, khuôn mặt thư sinh mà rắn rỏi. Chúng nó đưa bàn tay trai tráng đôi mươi xoa cái đầu bạc của tôi cười hơ hớ. Mày khá, cái thứ nhà quê ăn sắn giỏi hơn ăn bột mì mà lại có nhà Hà Nội, lấy vợ Hà Nội lại thích uống bia hơi Hà Nội nữa thì mày giỏi... giỏi. Mình đưa tay nắm vội bàn tay thằng bạn cùng lớp, vút cái chẳng thấy đâu. Cái thằng chết ở Quảng trị 1972 ấy biến mất. Ngoài trời i ỉ tiếng xe máy về khuya ở một ngõ phố trên đầu Ô Chợ Dừa. Đêm Hà nội buông tôi rơi về một đêm xa lăng lắc... cái đêm mùa thu năm 1977, tôi đi bộ từ Cát Linh ra La pho trèo tàu điện lên Bưởi mạnh dạn tỏ tình với một cô gái làng Bưởi, rồi ra về thì hết tàu điện cắm cúi đi bộ đến vườn hoa Giám nằm ngủ nơi ghế đá để sáng hôm sau trở về trường trên Bắc Thái. Rồi lại nhớ những cái đêm thật xa chiến chinh.
Một mùa khô trên Trường sơn. Lúc đó ở trạm T78 Ngã ba Đông Dương. Một ngày buồn của lính ĐH Cơ Điện. Hôm nay, đại đội phải khiêng gửi binh trạm bốn thằng lính Cơ điện. Năm ngày trước đó anh Đoàn k6M, Bùi Thái Hà k5IB, Bùi Tiến k5IA, Triệu Bình k6MA ngã bệnh. Dốc đá, suối sâu, trời nắng như rang lá rừng mà chúng nó vẫn lê lết không chịu tụt lại phía sau. Nhưng bây giờ thì hết chịu nổi. Anh Đoàn dễ cao tới mét tám giờ chỉ như cây khô gỗ khô nâu xỉn. Triệu Bình hai hố mắt lõm hút như cái sọ đầu lâu. Hà bún Thái Bình người như cái dải khoai nước. Còn Bùi Tiến (k5IB) nó không còn nói được nữa. Nó nhìn mình mà hai giọt nước mắt lăn ra nặng như hai giọt thuỷ ngân. Ngó vào võng lúc khiêng bốn người đi, bọn lính CĐ thằng nào cũng khóc, chắc chúng nó vùi xác ở đây thôi. Mà đây là tỉnh nào nhỉ? Cán bộ bảo đây là tỉnh Át Tô Pư của Lào. Trời chiều đỏ ôi ối rừng khộp nhiều lá rơi to như những cái bánh đa đầy mụn ghẻ. Đêm ấy những thằng Cơ Điện im lặng trên võng. Triệu Bình ơi, Bùi Tiến ơi, Hà ơi, anh Đoàn ơi. Chúng tôi mở mắt nhìn trời mùa khô Trường Sơn rin rít gió day dứt tiếng côn trùng.
Đã có những ngày trong cánh rừng biên giới mạn Gia Lai, tôi gặp những ngôi mộ ven con suối đầy rau môn thục. Cái thanh gỗ vạc một nửa ghi bằng thứ mực như sơn tên người tên quê. Tên người thì ít nhớ nhưng tên quê thì nhớ mãi. Khoái Châu, Kim Thành. Nghe mà thương quá. Đói đến tận lúc hi sinh. Chợt nghĩ những người bạn suốt đời ăn rau môn thục nơi này.
Bốn năm lặn lội trong đạn bom. Ngày tiến đánh Sài gòn lính SV cuốn ào ào theo đại quân. Tôi và Ngô Thịnh khoá 6 trường tôi đánh theo hướng Củ Chi về Dinh Độc Lập. Trong hướng chúng tôi có Tứ râu (sau về k10). Lương xuân Cảnh (k9), Cận k5, Lân k4, Ngôn k4, Hoàng Tuấn k5, Quyết k5, Dương phỉ k5...
Chiều ba mươi tháng tư, chúng tôi đóng quân trong khu nhà thi đấu Phan Đình Phùng. Khi thành phố lên đèn, Sài gòn như chưa hề có chiến tranh. Thành phố tinh khôi mươn mướt trong đêm, vẫn nghe thấy tiếng còi tàu từ bến cảng vọng về. Khuya lắm tôi và Ngô Thịnh nằm trên nóc nhà bâng khuâng nhớ những bạn bè Cơ điện không còn về đến đây. Tiêu k4 què chân trên đường 7, Văn Đình Hà k5IB chết vùi trong hầm trên Gia Lai, Lương Lợi k5ma thân thể phá ra nhiều mảnh vì hứng trọn một quả cối 81 trên Pờ lây cu, Vượng k4I chết khi chưa kịp vào chiến dịch Ban mê thuột, ... Dọc đường 7 lính VNCH nằm vương vãi bên rừng, họ sẽ được đồng loại chôn cất đâu đó, cũng giống như những nấm mồ bạn tôi hương hồn họ cứ âm u với rừng xanh.
Sài gòn tháng năm. Lại đúng vào mùa thi, những người lính SV chợt nhận ra mùa tất bật nôn nao kỉ niệm của mình. Không hiểu sao những người học trò nhớ về mùa thi cử là nhớ đến nắng. Bao người lính SV nằm lại rải rác trên những cánh đồng quanh Sài gòn vào đúng mùa thi cuộc đời. Cũng lại nắng cũng lại mùa lúa chín. Chúng tôi những người may mắn lãnh trách nhiệm trở về thi cử cho ngày mai, mang cả màu nắng nơi chiến trường nam bộ về theo. Lịch sử chọn lựa bọn mình, để bọn mình được gánh trên vai trách nhiệm bản lề vinh quang của tuổi trẻ. Nghĩ nhiều khi cứ tiêu cực không đâu. Tiên sư cái “anh Lịch sử“, sao không chia ra cho mỗi người một ít, cho đều nhau khắp toàn thiên hạ để ai cũng thấy cái sự vinh quang chói lọi mà cứ nhè đầu mấy thằng trai thế hệ chúng tôi. Rồi lại thấy nhớ mẹ dặn, con là trai thời loạn, làm trai nên khổ lắm cũng sướng nhiều. Phận nào chịu nấy.

Tôi trở về, náo nức hỉ hoan. Tôi tha hồ kể về chiến trận, bạn bè cùng lớp nghe say sưa và thán phục. Mặc dù chúng tôi kể chuyện chiến đấu vẫn là chủ nghĩa chiến hào, chứ chúng tôi làm sao dám nhân danh lịch sử cuộc chiến mà khoác lên mình tấm áo dăn dậy công thần. Chúng tôi đâu hiểu nổi đường đi nước bước của chiến tranh, chúng tôi làm tròn nghĩa vụ người lính. Làm những quân tốt trong bàn cờ. Chúng tôi lấp liếm những thiếu hụt kiến thức bằng những chiến công. Có lúc chúng tôi bước qua khuyết điểm bằng đôi dép cao su mang về từ chiến trường. Một thời sau chiến tranh thương hiệu lính SV trở về làm bao cô gái ngưỡng mộ.
Rồi chúng tôi ra trường, rồi có nhiều người thăng tiến. Cuộc sống cuốn đi với vợ con cơm áo chẳng còn nhớ tới ngày đã qua, nhớ tới một thời mình đã sống được là nhờ bao người đã hi sinh. Mình thăng tiến nhờ những người đồng đội không bao giờ thăng tiến, họ mãi mãi là binh nhì binh nhất đang nằm đâu đó trên Trường sơn trên cánh đồng miền đông miền tây Nam bộ và trên những cánh rừng Lào u ám. Mỗi năm một lần gặp bạn cũ cùng lớp cùng khoá, cùng đơn vị lại ồn ào rượu bia, vung tay múa chân kể thằng này thằng nọ làm cái này cái kia và cũng đôi lúc nhắc tới những người bạn hi sinh năm ấy ngày ấy rồi lại chìm vào trong men, trong cười, trong mắt. Rồi hát. Những bài hát một thời Trường sơn. Những người chết đã vào thơ vào nhạc những bản nhạc đi cùng năm tháng để bây giờ cứ muốn hả bia hả rượu là chúng tôi lại chui vào quán Karaoke mà gào hét.
Có những lúc mình cũng đã tô vẽ thêm cho màu sắc của một thời mình đã sống, kể cái khổ nhiều hơn nỗi khổ người khác, trận đánh nào cũng nổ súng đùng đoàng gay cấn, cũng có biết bao người lính dù không phải nổ súng ngày nào những gõ đì đùm nổ to trên bàn nhậu, mình cứ như đang không phải là mình bay lơ mơ trong vùng đạn lửa mà đạn thì chẳng bao giờ trúng vào mình. Nhưng kể xong rồi thì bỗng giật mình, mấy thằng bạn đã chết hiện về, mỉm cười độ lượng. Ừ, phải kể để cho người đời sau biết chúng mình đã sống ở chiến hào đánh giặc thế nào. Nhưng nên nhớ chúng tao vẫn để cho bọn mày cái hệ số an toàn không vượt quá giới hạn hoang đường đâu đấy nhé.
Nhiều khi cứ buồn bực về mấy thằng cùng lớp bây giờ lên to làm đến tướng làm đến chánh phó chủ tịch tỉnh mà quên hết bạn bè thì chính lúc đó mấy thằng chết ở Tây nguyên, ở Quảng trị lại hiện ra cười rất to. Đừng! Đừng trách nó. Nó đã rơi vào cái vòng xoáy của cách mạng nhiệm kì thì hãy để nó làm cho trọn vẹn cái phần đời ấy đi. Phần đạo vẫn còn nguyên đó nó sẽ phải gánh tiếp. Đến lúc nó nghỉ hưu nó già yếu nó nó sẽ ì ạch gánh nốt gánh phần đạo ấy mới khổ mày hiểu chưa?

Đêm tháng bẩy. Vài ngày nữa người ta sẽ đến nghĩa trang nhang khói. Chỉ một ngày 27/7 thôi, khói hương nghi ngút trên những nấm mồ, khói hương thì nồng nàn mà bia mộ thì dửng dưng. Nguyện ước của CCB SV Cơ Điện chúng tôi nhỏ nhoi mà sao khó thế? Giá những ngày này trường ĐHCĐ có một tấm bia tưởng niệm hàng trăm người SV liệt sĩ không về thì khói hương thắp cho các anh sẽ làm sáng trong thêm mái đầu lớp SV trẻ. Tượng đài thì dễ mà sao cũng khó thế. ĐH Kinh tế QD họ làm được, ĐH XD họ làm được mà sao trường mình... thì không. Bốn mươi năm trước Các bạn tôi từ ĐH Bách Khoa, Sư phạm, Y khoa, Nông nghiệp, Mỏ Địa chất, Ngoại Ngữ, Tổng Hợp, Ngoại Giao, Ngoaị Thương... tất cả không trừ một trường nào đều có Sinh viên ra đi chiến đấu. Cả miền Bắc bốn mươi mái trường Đại học với mấy chục ngàn người SV cầm súng ra đi, xứng tầm một tượng đài linh thiêng mà vẫn không có. Cái lứa SV CCB chúng tôi đã trở thành vô tình từ lúc nào vậy? Giá như, khi già lõ mõ rồi một ngày nao con cháu dắt mình đi vào khuôn viên Bộ Giáo Dục Đào Tạo ở đó có một bức phù điêu ghi rằng ở thế kỉ hai mươi đã có một lớp người trí thức trẻ ra đi hi sinh thân mình vì đất nước.
Thì vui lắm.

Nửa đêm, tôi bỗng thấy thằng bạn tôi Lương Văn Lợi người Đốc Tín Mỹ Đức thầm thì: thôi đừng lấn cấn chuyện tượng đài nữa mày ơi. Mày có nhớ ở trạm 45 Truờng sơn có một cây cổ thụ bọn mình gọi là cây đại học không? hàng trăm cái tên đã ghi trên đó, cứ thằng nào đại học qua đấy đều khắc thêm tên trường lên đó. Nó sừng sững linh thiêng trong một vạt đá lởm chởm. Nếu có một ngày nào biến cố địa chất xảy ra nó sẽ hoá thạch mà vẫn còn tên chúng mình, tên các trường đại học đã gửi học trò của mình đi kháng chiến. Tượng đài chúng mình đã khắc ở Trường Sơn rồi mày ạ. Tượng đài ấy sẽ hoá thạch. Cái gì hoá thạch chả âm thầm.

Đêm nay, đêm tháng bẩy tôi và các bạn SV Đại học từng đi chiến đấu sống sót trở về xin điểm tên các anh, nếu có thiếu tên ai xin anh linh đồng môn lượng thứ, xin các anh giúp chúng tôi kính cẩn chép lại tên tuổi bạn mình những người đã hi sinh cho chúng tôi trở về, để được kể chuyện chúng mình.


Đêm tháng 7 – Litangu


http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_8401_zps74845962.jpg

litangu
09-07-2013, 09:10 AM
Đã bao lần đi về chiến trường xưa. Đã bao lần những đoàn CCB đắng lòng và lặng lẽ chứng kiến những người mẹ già lắm rồi đi tìm con ngồi bên những ngôi mộ lạnh lùng. Tôi cứ nghĩ, chẳng bao lâu nữa mẹ sẽ ra đi về với tiên tổ, lúc ấy vắng vành khăn tang của người con đã hi sinh không còn về khóc mẹ. Trước lúc mẹ đi mẹ mang khăn tang đến cho con để con không phải gánh tội "bất hiếu"


Mẹ mang khăn tang đến cho con


Mỗi năm vẫn có một lần
Hương hoa xe pháo diễn đàn gọi nhau
Chiến trường trước chiến trường sau
Đi tìm tuổi trẻ tìm nhau một thời
Mình đi náo nức nói cười
Mênh mang kí ức cái thời xa xưa
Mình đi xe cộ đón đưa
Nhớ thì cũng nhớ say sưa cũng nhiều
Cũng rơi nước mắt rừng chiều
Bóng hình đồng đội hiện nhiều lại qua

Chiều nay bỗng gặp mẹ già
Ở đâu đến giữa chiều tà khóc con
Hoàng hôn phủ tóc hoàng hôn
Mắt không còn lệ mà mòn má nhăn
Mẹ ngồi lặng với nghĩa trang
Hương hoa đắng ngát khăn tang mẹ cầm
Lầm rầm gọi giữa chiều hôm
Mẹ mang khăn đến cho con đợi ngày
Mẹ về rồi cũng đi đây
Khăn này con đội vào ngày mẹ đi

Chống tay tàn nắng nặng nề
Bóng nghiêng cứ đổ cong về quê hương

Chúng tôi trở lại chiến trường
Nói cười bỗng lịm theo đường mẹ đi
Bao nhiêu những nấm mồ kia
Trên mình vẫn khoác mấy bề khăn tang

Tháng 7-13

baoleo
09-07-2013, 09:14 AM
Đêm tháng bẩy

................... ở thế kỉ hai mươi đã có một lớp người trí thức trẻ ra đi hi sinh thân mình vì đất nước...................
.............Nếu có một ngày nào biến cố địa chất xảy ra nó sẽ hoá thạch mà vẫn còn tên chúng mình, tên các trường đại học đã gửi học trò của mình đi kháng chiến. ......
Cái gì hoá thạch chả âm thầm.
Đêm tháng 7 – Litangu


Sâu sắc lắm.
Cảm ơn anh.
Lính Hải quân vẫn biết:

'Quãng nước sâu nhất
Thường là quãng nước lặng nhất'.

lixeta
09-07-2013, 10:57 AM
Minh họa cho bài thơ của quê LTN:

https://lh5.googleusercontent.com/-pqb75SVdyE0/UduKAjBH5cI/AAAAAAAAJIg/Bot7FUvY-SM/khucquanhanh.vn-1.jpg

litangu
10-07-2013, 09:29 AM
Các bác chịu khó đọc vậy nhé, bởi nếu tách ra nhiều phần nối tiếp tôi thấy sẽ không còn hứng thú nữa. Cuộc tra tấn này mong đồng đội KQH thông cảm.


Màu của nỗi nhớ

(Viết tặng đồng đội tôi những người lính SV chiến đấu ở QT năm 1972)




Gần nửa thế kỉ qua rồi
Màu của cát thì vẫn trắng
Màu của rừng thì vẫn xanh
Màu của sông vẫn veo veo ngọt
Màu của mặt đất vẫn bừng bừng khát vọng
Màu của bình minh vẫn đỏ nôn nao
Màu của hoàng hôn vẫn sẫm tím bần thần
Chỉ có màu của nhớ
Nỗi nhớ về Quảng trị
Mang sắc màu nào trong chúng tôi?

Khi chúng tôi hành quân
Chúng tôi là màu xanh
Mẹ tôi bảo thế
Chúng tôi chỉ như búp cây trong vườn mẹ
Người yêu chúng tôi cũng bảo thế
Chúng tôi là hi vọng cho cuộc đời em

Khi chúng tôi từ giã sách đèn
Thầy giáo bảo chúng tôi bước vào trang mới
Giáo trình thầy tôi không dạy nổi
Chỉ có dân tộc mình dạy được thôi

Chúng tôi qua miền bắc miền trung
Cơn đói không làm thay sắc mặt
Chúng tôi hát Tình ca
Bài hát ấy màu gì mà ba lô nhẹ tênh đến vậy

Có hai chuyến tàu ngược chiều nhau
Đi về hai đầu đất nước
Có những mái đầu ngước về nhau
Mái tóc và ánh mắt chúng tôi cùng một màu
Tổ quốc
Những con tàu dù đi về dâu
Vẫn hướng ra phía trước


Những đứa con trai của mẹ
Mang màu tóc xanh mẹ sinh ra
Nhuộm lên màu của khói bom
Làm nguỵ trang vượt sông giới tuyến
Những học trò của những mái trường
Rúc rích dưới chiến hào màu lửa đạn
Bạn gái ở hậu phương
hiện ra màu của những loài hoa
Chúng tôi mang màu những loài hoa chúng tôi yêu vào trận đánh


Quảng trị năm 72
Hoa phượng đỏ Cổ thành
Sao nhớ trường đến thế
Con đường đuổi địch đến sông Mĩ chánh
Cát trắng Hải Lăng và lúa trổ biếc Triệu Phong
Đồng đội ùa về
từ phía màu Trường sơn ngăn ngắt

Chúng tôi điểm danh các trường đại học
Khi vượt sang bờ Nam Thạch hãn
Người chỉ huy tuổi đánh trận nhiều hơn năm đi học
Màu tóc cũng như màu tóc chúng tôi
Mầu mây bồng bềnh đẹp đến lả lơi
Trước trận đánh hoa cỏ may cũng rung rinh thật lạ
Màu mắt những người bạn tôi nói điều gì với cỏ
Nửa thế kỉ qua rồi ai giải mã cho nhau?

Dãy số mang đầy ý nghĩa
Gắn vào đời chúng tôi
325, 320, 304, 308, 312...
Chúng tôi vi phân thành 95, 64, 48...
Chúng tôi tích phân từ những cái tên tiểu đội
đến Tổ quốc tôi yêu

Chúng tôi đọc Truyện kiều
Đọc Sông Đông êm đềm
Đọc Chiến tranh và Hoà bình... trong tầm pháo
Chúng tôi hát Đàn Sếu bay cho bạn tôi tỉnh dậy
Sau loạt B52.
Cả điểm chốt xem chung lá thư bạn gái ở nước ngoài
Giữa lửa đỏ mơ một vùng trơì Âu bạn mình đi trong tuyết lạnh
Ngước nhìn lên trời mây trắng
Áo mình xám khói đạn bom

Tên những ngôi làng chúng tôi đi qua lúc hoàng hôn
Tên những ngôi làng âm thầm đi qua nửa đêm gà gáy
Thân thương như làng tôi có mẹ
Tên những ngôi trường đổ nát
Hằn lên trí nhớ thanh xuân
Tên bạn tôi chìm dưới sông
Tiếng gọi mẹ xoáy vào sóng nước
Chúng tôi không thể tìm trong một trang thơ hay tiểu thuyết
Chỉ nhớ bạn tên là cầu đường, là văn, là sử
Chốt ở đầu cầu có đến ngót chục khoa…
Những khoa nào bạn vùi pháo Nham Biều đêm qua
Khoa nào bạn đói, đêm vượt Tích Tường giữ chốt
Khoa nào vào Thạch Hãn đêm rằm trăng thảng thốt
Máu bạn tôi sủi bọt thắm lòng sông

Những khoa nào về nằm xóm Trà Liên
O du kích sé áo băng lên mặt
Bạn tôi hát dưới hầm còn đêm thì oà khóc
Màu đêm Quảng trị đắng nụ cười em
Màu của bình minh màu của hoàng hôn
Màu của lính binh nhì màu nụ cười trai trẻ
Màu của sóng, màu cơn đói ngâm mình mùa mưa chiến hào Quảng trị
Ai chỉ cho tôi màu của lúc ta về?

Những chuyến xe chở ba lô liệt sĩ nặng điều chi?
Mà đêm nay sấm chớp rạch ngang dòng Bến Hải
Những trang sách học trò viết vội
Màu lính sinh viên
Trang sách nào cũng xanh
Ba lô nào cũng thênh thênh
ngọt ngào nụ hôn bạn gái
Bao bè bạn tôi nằm lại
Mồ bạn tôi ở Quảng trị màu gì
Mà chuyến xe nặng thế?

Chúng tôi trở lại Cổ thành
Trở về nơi có những căn hầm ngày xưa trên Cam Lộ
chúng tôi về La Vang Tích Tường Như lệ
Về Tân Lâm chợ Sãi Triệu Phong
San sát nghĩa trang Hải Lăng
Tìm thấy trường mình và bao nhiêu trường nữa
Bao nhiêu lớp, bao nhiêu khoa nơi này có đủ
Cùng nhau học bài lịch sử
Dựng nước Giữ nước của cha ông
Màu Quảng trị
Màu Đại học của một thời
Màu của đời chúng tôi
Chúng tôi day dứt nhớ

Chúng tôi đã già
bạn tôi nằm ở Quảng trị thì vẫn trẻ
Chúng tôi đi tìm lại mình Cổ thành rơi lệ
Tìm lại màu sắc một thời
Màu Lính Sinh viên



Litangu - NTL

litangu
10-07-2013, 09:39 PM
Bài Thơ Sông Tang


Tôi quen anh Hoàng Sơn Lâm tình cờ, anh là người bạn của bạn tôi. Bạn tôi cùng lính quân khu năm thời chống Mĩ với anh. Gặp nhau ở Bắc Giang chúng tôi ôn lại chuyện một thời gắn bó với Trường sơn, một thời hiến trọn tuổi trẻ đời mình cho cuộc chiến đấu của dân tộc. Hôm ấy anh Lâm chẳng nói gì về mình, anh cứ trầm ngâm nghĩ ngợi rồi anh bảo với chúng tôi, chuyện người lính như mình thì gian khổ ác liệt là lẽ thường. Bỏ cốc bia đang uống dở anh bỗng đứng dậy lấy xe phóng về nhà. Tôi và bạn tôi ngơ ngác. Lát sau Lâm trở lại cầm cuốn sổ cũ nát ố vàng nét chữ đã mờ run run đưa cho tôi. Lật đến một trang của cuốn nhật kí nói, anh đọc đi, cả đời tôi quí nó lắm. Hai chúng tôi ghé đầu đọc chung. Thú thật, hôm ấy tôi khóc. Câu chuyện về một nữ giao liên mà anh Lâm viết thành bài thơ xúc động. Sự xúc động chân thực bởi tất cả những cái tên, tất cả địa danh và sự việc là thực. Chỉ có nghĩa tình đồng đội yêu thương nhau lắm mới có thể viết được như thế. Ba chúng tôi im lặng mãi. Rồi anh kể về người con gái giao liên ấy nghẹn ngào… hơn hai chục năm sau ngày giải phóng Lâm trở lại Quảng Ngãi cùng với em trai cô giao liên đi tìm mộ cô. Tình nghĩa chân thành thiết tha với đồng đội của Lâm được đền đáp, anh tìm thấy cô gái… Chúng tôi lặng đi và Lâm lại khóc.

Tôi cứ như bị thôi miên trên trang sổ của anh, nét chữ nhập nhòe như hiện lên một đêm mưa lũ trời Trà Mi mấy chục năm về trước

Ba loạt súng nổ rền
Vang lời chào vĩnh biệt
Anh bàng hoàng đứng im
Có lẽ nào em chết

Bữa chiều nay có cá
Em trực, nón ngang qua
Biết tối về em đói
Anh phần cơm trong nhà

Anh khẽ gọi Vinh ơi
Không nghe em dạ nữa
Nồi cá còn ấm hơi
Từ nay… em vắng bữa

Ôi nỗi đau mất em
Phủ vàng hoe nấm mộ
Đất rừng tiếc thương người
Khóc thành muôn hạt đỏ

Hỏi bao nhiêu buổi sáng
Trà Thọ trắng sương mờ
Vai gùi công văn nặng
Em vượt đèo ”chín cô“

Hỏi bao nhiêu trưa nắng
Nóng ướt đầm áo lưng
Bàn chân em mải miết
Eo Xà Lang rẽ rừng

Hỏi bao nhiêu chiều mưa
Bộ bà ba sũng bết
Giữ khô gùi giấy tờ
Lội Nà Liêu quên rét

Thương em thương em lắm
Người sốt, trực gắng đi
Đêm nào anh làm đuốc
Soi cho em lối về

Một tháng bấy nhiêu ngày
Trên đường em không nghỉ
Còn tỉa bắp trồng khoai
Tăng gia cùng đơn vị

Nhà anh không sáng nữa
Đôi mắt đen ngời ngời
Dòng sông Tang lạnh ngắt
Tiếng hát chòi êm bơi

Anh ào qua con suối
Em nằm đó ven rừng
Phải đây là sự thật?
Trời xanh, cao vô cùng

Anh gỡ tóc cho em
Mái tóc hung gợn sóng
Xoáy lũ cuốn rối bời
Xát lòng anh muối đắng

Chiến trường không có ván
Liệm em bằng tấm tăng
Và những dòng nước mắt
Thay cho lời điếu văn

Hôm nay anh hành quân
Vai ba lô sải bước
Đường xuôi ngược vết chân
Dấu xưa còn mải miết

Em là dốc “chín cô“
Tà Veo soi mưa nắng
Một màu xanh sót sa
Nhuộm thời gian đằm thắm

(phà sông Tranh - Trà Mi tháng 12/1974)

…. Lâm ngước lên, mắt đỏ hoe.
Ngày 20/5/1995 tôi tìm thấy em. Trời ơi tôi còn thấy được mớ tóc của em và hàm răng thật đẹp. Tôi đặt lọ nước hoa nhỏ mua từ Bắc Giang mang đi bên mớ tóc em. Món quà đầu tiên cũng là món quà cuối cùng tôi được tặng em. Em hi sinh cũng đơn giản như sự hi sinh của nhiều người lính. Một cơn lũ đêm đã cuốn trôi em trên đường giao công văn… Bây giờ mộ em nhỏ nhắn khiêm nhường trong nghĩa trang Tịnh Bình, Sơn Tịnh Quảng Ngãi với cái tên Võ Thúy Vinh – chiến sĩ Giao bưu tỉnh Quảng Ngãi.
Mới hôm qua Lâm gọi điện cho tôi. Anh có đi Xuyên Việt lần này với hội CCB 1040 không? Nếu đi, nhớ khi qua Quảng Ngãi gọi hộ tôi một tiếng Vinh ơi, anh Lâm nhớ Vinh lắm.

Hanoi 10/7/2013- Litangu

litangu
12-07-2013, 07:43 AM
Biển khóc

Nắng như đốt lòng
Gió như cứa vào dĩ vãng
Bần thần những sáng đi bộ chậm chạp
Xe và người vút qua tưởng như ai cũng đi về phía biển

Ta nhớ những vết chân trộn vào nhau trên cát
Ta nhớ gió mặn ngực em
Ta nhớ con mực mắc câu đèn đêm
Biển hát

Ta nhớ thâu vào mơn man phi lao hát
Ta nhớ em quên những gì em từng biết
Vệt lân tinh trên bãi táp thủy triều
Vợ chồng thuyền chài ngủ lúc nào ?
Biển vẫn hát

Lững thững đường vành đai hối hả
Có vài sợi tóc rơi khi ta vuốt đầu làm bộ
Rớt xuống hoa râm
Mùa hè đang trốn về nơi biển hát
Ta đang nghe biển khóc

Hè 2013http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_0253_zps547f992b.jpg

litangu
16-07-2013, 10:04 AM
Tôi gặp những thương binh trên Trường sơn

Cũng giống như hầu hết những người lính thời chống Mỹ, chúng tôi đi đến chiến trường bằng đôi chân dép cao su của mình. Cũng giống như bao người đã viết về Trường sơn, về con đường huyền thoại của dân tộc mình, chúng tôi luôn tự hào trân trọng kí ức về 100 ngày vượt Trường sơn của mình. Trên con đường ấy bây giờ chỉ cắt khúc ra mà các công ty lữ hành đến được hẳn sẽ là những điểm đến đắt giá. Khốn nỗi, Trường sơn là con đường hành quân rồi không bao giờ trở lại. Bây giờ có trở lại là trở lại cái chỗ mô phỏng gần đúng đó mà thôi còn những lối mòn mà người lính bộ binh đã đi qua thi thoảng gần với những bản người Lào heo hút. Ngay bản thân những người dân trong bộ tộc Lào cũng thấy heo hút rồi.
Thế mà ngày ấy con đường chúng tôi qua đông như hội. Người vào người ra nói nói cười cười rồi cả những giọt nước mắt những tiếng khóc bật ra khi gặp người làng, khi đồng đội mình nhắm mắt hi sinh. Trên con đường ấy có cả trai và gái. Trên con đường ấy đủ những lứa tuổi đi đánh giặc, trên con đường ấy có cả cha con vợ chồng gặp nhau. Trường sơn thật kì diệu thật là linh thiêng.
Tôi đã gặp rất nhiều người lính bị thương đi trở ra cũng trên Trường sơn, đi bằng xe ô tô, đi bộ theo binh trạm nhưng có lẽ đi bằng đường bộ vẫn nhiều hơn cả. Chúng tôi lành lặn leo dốc núi vượt sông vượt suối đã khó vậy mà những thương binh đã mất một phần thân thể đã teo tóp bởi thời gian chiến đấu mà đi bộ thì đó là phi thường. Suốt đường Trường sơn cứ vào giữa buổi sáng thế nào chúng tôi cũng gặp những cáng thương binh đi ngược đường chúng tôi. Ở mỗi trạm giao liên có những đội cáng thương. Nhìn cáng là đoán biết thương binh là lính ở chiến trường nào ra. Nhìn cáng là biết thương binh nặng hay nhẹ. Lên dốc xuống dốc những cái cáng thương vẫn chạy. Giao liên họ bảo cáng mà đi chậm là không leo nổi dốc, phải chạy thật nhanh mệt thì nghỉ đi chậm là nó cứ chĩu xuống chân cứ díu lại. Có hôm thấy mấy cáng ra chúng tôi ngồi nghỉ thấy mấy anh lính giao liên đầm đìa mồ hôi kêu họ nghỉ. Họ chiều lòng ghêch hai đầu võng lên mỏm đá rồi ngồi hút thuốc với lính mới đi vào. Ngó vào cáng thấy anh thương binh mất cả hai chân. Chúng tôi cười bảo giao liên, thảo nào hai ông chạy nhanh thế. Người thương binh cũng cười lẽ ra mấy cha này phải cáng thêm một thằng nữa cho nằm theo kiểu J, Q, K mới đủ tiêu chuẩn. Rồi anh thương binh lại cười và bảo các cậu cho xin điếu Tam đảo, nhớ quá. Chúng tôi lại tiếp tục hành quân, từ lúc ấy ắng lặng. Người thương binh bình thản đón sự trở về như thế sao? Chắc không phải, đau đớn mất mát sẽ còn ở phía trước với anh ấy và cả chúng tôi nữa.
Cũng có những lần gặp những nhóm nhỏ ca cóng ngang đường không vào binh trạm. Họ đi lẻ quay ra. Không lương thực và vũ khí. Giao liên bảo, đấy là các ông tuột nõ (quả mít chín tụt nõ). Họ không nhìn vào ai hết lầm lũi tránh những cung đường đông và vòng qua trạm. Chiến tranh không thiếu gì những người như thế.
Một sáng, trời đẹp lắm chúng tôi leo một ngọn núi ở bình độ cao toàn là thông già. Lên đỉnh núi nắng chan hòa nhìn mây bay ngay dưới chân. Có hai người lính bá vai nhau đi ra. Chợt nghĩ, hay chưa, bá vai bá cổ nhau đi trên Trường Sơn kìa! Thì ra, hai người lính đi ra từ Bình long. Tổng cộng hai anh có: 4 chân, ba tay và hai mắt. Anh đủ chân tay thì mất hai mắt. Anh có đủ hai mắt thì mất một tay. Thế là binh trạm họ biên chế hai đồng chí này làm một dìu nhau đi ra. Tât nhiên hai người này vẫn là hai chiến sĩ, mặc dù khi hành quân thì hai anh này tính cho một.
Ngồi nghỉ với nhau trên đỉnh núi thông hai người thương binh cười thật hiền. Anh mất mắt kể chuyện nằm trong ấp chiến lược nhiều tháng trời, dưới hầm của một chị có chồng là du kích đã mất. Khoe với chúng tôi gái một con cứ nần nẫn như múi mít mật ngoài mình. Tao bị thương lòi mắt cô ấy khóc quá trời, cứ sờ sờ lên má lên tóc lên ngực cô. Sờ đến đâu cô ấy khóc đến đấy. Một thằng hỏi, anh sờ đến chỗ nga ba thì chị ấy khóc thế nào. Anh thương binh không có mắt quay về phía thằng hỏi mà lạnh lùng, tao chưa có vợ nhưng rõ ràng là chỗ ấy khóc ác hơn. Anh cụt một tay gắt, thằng cố đỉn mày đã hữu khuynh tư tưởng lại còn kể lể. Rồi quay sang chúng tôi các đồng chí đừng cười lính đặc công hay bộc tuệch ấy mà. Anh mù mắt bảo tao quê Thanh Miện tao có thuốc rê trạm họ ưu tiên đây cho chúng mày, vào trạm sau tao lại xin. Anh cụt một tay cũng bảo, ừ trạm sau bọn mình lại xin. Các ông đi nhé, cẩn thận vẫn là hơn các ông ạ.
Rồi sau này trong chiến đấu, những lần cáng thương về phía sau lại là những máu rơi rớt trên đường và tiếng rên tiếng khóc. Tôi vẫn luôn thấy lính ta chạy khi cáng thương. Những người lính vận tải gầy sốt leo heo vẫn cố chạy, chạy đến run rẩy. Tôi lại nhớ anh giao liên trên Trường sơn nói là phải chạy để khỏi nặng. Nhưng chắc chắn những người cáng thương đang chạy để sự sống cho đồng đội mình đến gần. Vài năm nay tôi vẫn gặp ở đường Hà nội những người cụt tay cụt chân đưa con ra thi Đại học. Họ ngồi ngoài hè đường nhễ nhại mồ hôi lặng ngắt nhìn phố phường náo nhiệt vẻ dửng dưng. Cái áo lính cũ rích đẫm mồ hôi đẫm lo lắng cho thế hệ con cái mình. Liệu có phải họ là những người thương binh tôi đã gặp ngày nào trên Trường sơn không?

http://ngominh.vnweblogs.com/gallery/2246/254534-DSC02550.JPG

litangu
18-07-2013, 08:39 AM
Thơ viết ở nghĩa trang

Chỉ vài hôm nữa đến 27/7. Ngày ấy ở các nghĩa trang lại rưng rức khói hương và nườm nượp những người hành hương những người thân và cả những đồng đội đến thắp hương cho những người đã hi sinh.

30/4 năm 2008. Sau ba mươi lăm năm tôi mới trở lại Pơ lây cu. Tôi bàng hoàng khi bước vào Nghĩa trang. Ở đây tôi đã gặp những người bạn thân, những cái tên đã cùng gắn bó với nhau từ gần bốn mươi năm trước. Trưa ấy nắng lắm nghĩa trang chỉ có một mình tôi. Vắng lặng. Tôi đang đốt nhang bỗng nghe tiếng chim giữa trưa lảnh lói. Tôi ngẩng đầu lên, tượng đài cao vút lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật. Con chim đứng trên mũi mác của lá cờ vẫn hót. Người tôi như lên sốt, nghe tiếng chim rất quen loài chim ngày xưa chúng tôi vẫn gặp ở chiến trường này. Ngay trưa ấy tôi viết:


Tiếng chim ở nghĩa trang Pơ lây cu


Nắng. Rưng rưng hoa quanh tượng đài
Trưa. Cao nguyên ba lăm năm tôi trở lại
Bạn nằm đâu bạt ngàn nấm mồ im lặng
Về đây một chút thôi bạn thì trẻ tôi già

Cỏ cây xanh trời nhiều mây đến thế
Mùa mưa này tăng võng có lành không?
Thuốc qui nin giữ gìn đường để ướt
Dưới mồ kia vẫn trận sốt run người

Nén hương rung lên bạn lại sốt nữa rồi
Chờ bạn cắt cơn sợi khói bay lên thẳng
Chói chang nắng, khói hương hòa vào nắng
Cúc Quì ơi, một thủa bạn và tôi

Đồng đội thì đông trở lại có mình tôi
Chỉ một mình tôi sững sờ đứng gọi
Cắm điếu thuốc trên nấm mồ hoa dại
Bỗng tiếng chim lanh lảnh trên đầu

Trên đỉnh tượng đài gắn quân hiệu ngôi sao
Con chim Kơ tia ở đâu về đứng nắng
Bạn đấy phải không những hương hồn trai tráng
Đã thành chim thiêng sống mãi với đại ngàn

Trưa 30/4/2008 LTN

litangu
20-07-2013, 07:41 PM
https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTm3HxsUQtUDGY0TNUNLAS9hWjyAinnx PdsGZj-FKLHpIPUYRIObA



Chiều mưa Ban Mê Thuột


Chiều mưa quá. Gió ơi, lạnh quá!
Ơi những người con phương bắc bạn của tôi
Ban Mê Thuột chỉ có hai mùa thôi
Các anh cứ bốn mùa nhớ mẹ


Mưa tầm tã. Chỉ vài hôm nữa
Là sang mùa khô rừng rực sắc hoa Quì
Ngày chúng mình về Đắc Đam hoa vàng thế
Ban Mê ở phía mặt trời, nhắm lấy mà đi

Súng nổ táp vùng xanh cà phê và xanh gió
Ba sư đoàn chứ đâu có mình ta
Hoa cà phê trắng nõn nà trên rẫy
Thơm đấy mà buồn ngày đồng đội biệt xa

Ba bẩy năm đúng mùng mười tháng ba
Hoa lại trắng lại rưng rưng nước mắt
Tôi uống cà phê Trung Nguyên như hẹn lần gặp mặt
Bạn bè tôi rơi sẫm giọt cay nồng

Mưa lạnh quá. Ban Mê ơi chiều nay về lại
Bước chân già, quán trẻ ngát mùi thơm
Tôi uống lạnh, trong xập xình cà phê ảo vọng
Bạn tôi về môi tím đứng ngoài hiên


Chiều mưa 11/12/2011
Ban Mê Thuột

litangu
21-07-2013, 10:55 PM
Ở Tây nguyên mùa khô là mùa chiến đấu. Mùa khô trời thật đẹp và cũng thật nhiều mất mát hi sinh. Nhớ về chiến trường xưa là đau đáu nhớ mùa khô.


Nhớ mùa khô Tây Nguyên


Ta tìm nhau lại vào mùa khô?
Tháng chạp da mình nứt nẻ
Chân tê tái ngược suối tìm môn thục
Bạn ở đâu? Da chắc đã đồi mồi

Con nai tác ngoài nương mình ôm nhau trong hầm
Sương lạnh rơi trên cổ người ngồi gác
Chưa kịp thiu thiu chợp mắt
Đến lượt mình giọt sương cứ dầy thêm

Ngước nhìn lên chốt Mỹ trong đêm
Pháo sáng phập phù - ú tim - cầm canh - súng nổ
Bắc đẩu đêm nào cũng thế
Mẹ ngồi chờ con phía ông Thần Nông

Cái bánh sắn lúc chiều một đứa chưa ăn
Ngã xuống lúc đánh cản địch tràn lên chốt
Đêm nay sao trời nhiều quá
Đứng đợi mùa đông bạn gái có choàng khăn?

Ôi cánh đồng làng vừa mới gặt xong
vắng người con trai vực trâu vụ mới
Đêm ở tiền tiêu nhớ
Ngày đi, em đứng khóc đầu đình

Mùa khô ơi, sương bạc những cánh rừng
Tây nguyên trong veo veo nước suối
Pơ lang đốt đèn thì thầm gọi
Bạn đi chiến dịch nhớ rồi về

Bạn tôi đi bao đứa không về
Đêm nay bản làng em gõ Tơ rưng cồn cào quá
Suối vẫn muôn đời thủ thỉ
Bốn mươi năm rồi...
Mùa khô của chúng tôi như chưa từng đi qua

Litangu

litangu
23-07-2013, 09:15 PM
viết về những ngày chưa vào bộ đội

Cánh rừng bạch đàn mang tên một mái trường

Tôi chắc nhiều bạn Sinh viên cũng giống tôi hay nhớ về ngày mới vào trường. Cái ấn tượng ban đầu nó đọng lại và kéo dài mãi về sau, với tôi là những ngọn đồi bạch đàn tuyệt đẹp ở khu K5. Rừng bạch đàn và hoa sim là nỗi nhớ một ĐH Cơ Điện thủơ ban đầu.


Ngày ấy khu đồi bạch đàn K5 san sát như bát úp. Chúng tôi đồ chừng cánh rừng này mới trồng được ba năm thôi nên cây bạch đàn chỉ to cỡ cổ tay cao vài ba mét. Những cánh rừng mà nhìn thấu từ chân đồi lên đỉnh đồi cỏ mịn như nhung vào mùa xuân mùa hè và chuyển màu vàng xỉn khi sang mùa đông. Dưới gốc bạch đàn là sim mua. Tôi đã có 3 mùa hè nhìn hoa sim hoa mua tím trên cánh rừng ấy trước khi lên đường đi chiến đấu. Chả biết trong số những bạn tôi mang theo vào chiến trường có mối tình hoa sim ấy không? Nếu có thì bạn trai nào ấy thật may mắn. Một thời ôn thi trên đồi. Chúng tôi đi cách xa khu K5, chúng tôi tránh ngọn đồi gần lớp để thêm sự yên tĩnh. Ở đấy, học mỏi mắt rồi thì ngả mình ra cỏ dưới lùm sim mà ngủ, mà mơ màng. Gần đấy có cô gái cũng đang cúi mặt áp lên trang giáo trình dầy cộp mà đờ đẫn với đủ thứ công thức trên đồi. Mùa thi rơi vào cuối năm và đầu hè. Cái mùa thi kì 1 bao giờ cũng co ro rét còn kì thi 2 vào mùa hè nên thơ lắm. Từ Đầu Trâu hom giỏ ra đến đoạn dốc Luyện Kim phất phơ những bóng sinh viên trên đồi. Người dân lên đồi kiếm củi tay có dao có đòn gánh. Còn những anh chàng cuộn trong tay cuốn sách mặt mũi tái nhợt vì không có miếng ăn sáng ấy là trò CĐ. Có những ngọn đồi cao, trên đấy còn lại những trận địa pháo của Trung quốc đã rậm rì những hoa trạc trìu, bụi sim và cây hà thủ ô cuốn nhằng nhịt dưới dẫy chiến hào chạy khoanh tròn. Chúng tôi hay ngồi trên đó mà ôn bài. Khỏi phải nói cái thú của học ôn trên đồi. Thoáng mát, vắng lặng. Trên trời mây trắng bay. Dưới đất bướm lặng lẽ đậu trên hoa sim hoa mua. Thấp thoáng đằng xa kia cô gái khác khoa ngồi bằng tấm bản vẽ cũ đăm chiêu trên sách… Một đàn dê dẫn theo đằng sau là một thằng nhỏ lên đồi. Ngồi nhìn sang phía khu Gang Thép khói lò cao đụn lên thành mây Thái Nguyên. Lúc đầu nó là mây đen, sau chuyển sang vàng rơm rồi lên cao là nó thành mây trắng. Hồi ấy chúng tôi nói với nhau cái phim Khói Trắng là hệ quả của Khói Đen. Một vùng đồi kỉ niệm xanh ngằn ngặt những kí ức trai tân. Mải mê nhìn khói trắng Gang Thép lúc quay sang sườn đồi bên kia cô bạn gái khác khoa đã biến mất chỉ còn vài tờ giấy xé ra từ bản vẽ bài tập Họa hình phơ phơ hiền lành trên cỏ.
Năm sau hoa sim vẫn tím như thế.
Con đường đi lên đồi bạch đàn vẫn đầy sim và hoa trạc trìu.
Thằng bé chăn dê năm trước lớn hơn một nửa cái đầu.
Còn chúng tôi thì bài vở nhiều hơn, chúng tôi cũng lớn hơn, lên đồi học ôn hay nhớn nhác tìm để nhìn nữ sinh đi ôn bài.


Nơi các nữ sinh hay ngồi năm trước nay có cô bạn khác ngẩn ngơ nhìn vô định đi đâu chả biết. Tôi vẫn ngồi xa xa, khói trắng ở phía khu lò cao gang thép vẫn phất phơ như cũ, nhưng lác đác trong số mấy thằng hay lên đồi nay đã thưa vắng. Chúng nó nhập ngũ rồi, mà nghe đâu chúng nó đã sang Lào chiến đấu tận Xiêng Khoảng. Miền bắc lúc ấy đang tạm hòa bình, chúng tôi lên tàu ở ga Hà Nội, ga Đông Anh yên bình. Hàng tối, cơm xong túm tụm ngồi ở lưng đồi trước lớp trò chuyện và hóng gió. Nhưng chả ai dám lên cao hơn xa hơn mà ngồi ở ven đồi. Lên trên cao sợ gió nổi bướm trắng bay loạn xạ. Những thân bạch đàn non uốn ** bao nhiêu thì những tàn giấy trắng vô tình cũng xào xạc. Chỉ có những cặp đôi gan dạ mới dắt nhau vượt lên trên ấy. Tôi lại mong đến sáng để đi vào ngọn đồi xa học bài như mọi ngày để lại thấy đàn dê thật hiền, lùm hoa sim thật tím, tím lặng lẽ trên cái trận địa pháo cũ bỏ hoang.
Ba mùa hoa sim, tôi đã ôn thi sáu lần. Ngần ấy kì thi tôi thuộc rất nhiều gốc cây và lùm hoa. Tôi thuộc con đường đất đỏ ngoằn ngoèo chui qua lùm tre ra ngoài đường số 3 nơi có XN Cơ khí Luyện kim. Thuộc con đường lên dốc rồi chạy vòng vào trong ao dài nơi anh Dự K4M người Lào bị chết bom. Lên ngọn đồi cao có cái cột điện xa hút trong khu K2, ở đấy sim mua cao quá đầu người. Cánh rừng phía K4 đi vào Sông Công… Rồi những đồi guột rậm rì đến nỗi bạch đàn không mọc lên được trong khu K4 luyện kim, K4 cán thép. Duy có một nuối tiếc chả được một lần học gần cô bạn nào. Ngồi đằng xa nhìn thằng Chi răng vàng người Yên bái ngồi bên bạn nó mà thèm.
Những đêm mắc võng trú quân trên Trường Sơn, thằng Lương Lợi K5MA và tôi lại nói với nhau ngày xưa giá mà có võng mắc trên đồi bạch đàn K5 ngồi học bài nhỉ? Kí ức về những dẫy đồi bát úp nơi Bắc Thái đưa chúng tôi về lại trường cũ trong ì ầm bom pháo. Ngày trở về, trường đã ra mặt đường số 3 giống như nhà làm có mặt tiền. Tiện lợi biết bao, khang trang biết bao và hoành tráng xiết bao. Những chú lính SV mới ở chiến trường về trong nỗi sung sướng được ra mặt đường nhiều khi bâng khuâng hoài cổ nhớ những ngọn đồi hoa sim tím. Đã vài lần rủ nhau đi bộ về khu ở cũ của lớp mình. Lại ngồi trên đồi mà ước gì giở trang giáo trình ôn thi ngày xưa để bắt gặp một cánh hoa rừng ngủ quên từ dạo ấy. Cái vùng đồi lớp chúng tôi bây giờ mang tên đồi K5, đồi K4. Cả cánh rừng trập trùng dạo ấy giờ mang tên khu đồi Cơ Điện. Hóa ra người đời chả quên cái gì dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ. Mà quên sao được cái nơi nuôi dưỡng mình, dưỡng dậy trong mình niềm tin khát khao kiến thức thủơ trẻ trung ngày ấy. Vài chục năm sau tôi và các bạn đã già. Các cô bạn gái ngồi trên đồi lơ đễnh ngày xưa cũng không còn trẻ phiêu bạt nơi nào? Những ngọn đồi bạch đàn ấy cũng chả còn hoang vắng như ngày xưa, chắc đã nhà ngói nhà bê tông xanh đỏ hay đã thành khu công nghiệp rồi cũng nên. Chỉ còn trong kí ức người trò cũ ngăn ngắt xanh cây cỏ và tim tím hoa sim. Rừng bạch đàn và dằng dặc sim mua gắn liền với thương hiệu đại học Cơ Điện của tôi một thời đã xa.


LITANGU

litangu
24-07-2013, 09:04 AM
Lần đầu tiên nhận thư con gái

Nghĩ lại thấy tội tội thân mình nhưng là kỉ niệm mà kỉ niệm thì buồn hay vui cũng trân trọng để nhớ, để coi như một thứ tài sản của đời.

19/3/1970 là ngày đầu tiên đời tôi nhận được một lá thư con gái. Cảm giác ấy đến giờ 43 năm vẫn bồi hồi. Rồi sau này, nhờ ơn trời tôi lớn lên và cũng quen biết vô khối bạn gái nhưng cảm giác bồi hồi như ngày 19/3 năm ấy thì không có nữa.
Ở nhà quê vào Đại Học, lại bé đen gầy vì đói kém nên tôi khiêm tốn về cái đường body. Ai đời, nhìn thấy các bạn gái cùng khóa thấy họ nhớn quá mình đều gọi là chị hết. Họ mặc quần tây xanh, thứ mà tôi chưa thấy ở quê bao giờ. Họ mặc áo lạ lắm cứ lồ lộ đằng trước đằng sau. Nhìn thấy thích quay đi thì tiếc mà nhìn mãi họ lườm cho. Đôi dép cao su không đủ 4 quai bỗng trở thành khó chịu vì nó kéo cái tầm mình xuống quá.

Bạn bè ồn ào thư từ đứa này đứa kia. Nghe mà thèm. Chúng nó khoe bạn nó đi tới trời Âu, những cái tên chỉ nghe thấy ở trong bài học Địa lí Thế giới mà thôi. Biết vậy nên lảng ra chỗ khác. Mấy thằng bé nhà quê ra cung cúc học và chơi với nhau biết thân biết phận tránh xa những chỗ mấy cô áo Hồng kông quần sa tanh. Ấy vậy nhưng thấy mấy thằng đi chơi với bạn gái khoa điện hay đồng hương xinh xinh về kể chuyện là xúm vào nghe. Nghe như nghe đọc chuyện đêm khuya vậy. Tôi ngủ cùng phòng với Hoàng Kim Tới. Hắn tài lắm. Đá bóng hay, biết hát nhạc vàng và mặt cứ đỏ phừng phừng. Mãi về sau nhớn rồi mới hiểu tạng như Tới ấy đàn bà ưng cái bụng lắm. Tới bảo: mày kém thế, không có đứa bạn gái nào à? đồ dưới Sú bà Trầm… Mình cười ngượng.
Sự có bạn gái là tự nhiên chứ cố cũng chả được. Hồi ấy và cả như bây giờ con trai mà không có cô gái nào theo đuổi hay để ý thì rõ là thương hiệu yếu kém. Mình yếu thật, yếu toàn thân
May mắn thay! ngày đó em gái tôi ra ở trông nhà cho bà cô ngoài thị xã Hồng Gai. Nó mồm mép tép nhẩy sao đó khoe với một cô gái cũng tuổi Nhâm Thìn như mình ở gần nhà bà cô là có anh trai học ĐH Cơ điện trên Bắc Thái. Nghe ĐH CĐ hồi ấy choáng. Run rủi là năm đó cô gái lại trúng vào trường Trung cấp Thủy lợi trên Sơn Cẩm đường đi lên Bắc Kan. Lúc ấy cô còn ở nhà. Cũng phải qua cái tết năm 1970 nhập trường, cô gái nọ chắc vì tò mò nên viết thư cho tôi. Và lá thư đến tôi vào 19/3/1970. Chao ôi, thư con gái. Tên con gái, nét chữ con gái. Tôi chạy ra đồi bạch đàn đọc xong rồi vào, cứ ngẩn ngơ phấp phổng như người chờ đến lượt vào thi. Bữa trưa hôm ấy ăn không thấy hăm hở. Hoàng Kim Tới biết, tối ấy hắn kéo tôi lên tầng trên giường hắn đòi xem lá thư. Rồi tới phân tích giảng giải nghe ù cả tai. Thư đi thư lại vài lần thì cô ấy vào năm học mới ở trường Trung cấp thủy lợi. Một sớm chủ nhật tôi năn nỉ mượn được xe đạp nhờ Tới đèo tôi lên thăm cô. Lần đầu gặp nhau Tôi giận cái thân tôi quá. Ngày ấy mới vào trường tôi cao có mét rưỡi rưỡi. Mà cô bạn gái gặp lần đầu cao mét sáu. Lại là người thị xã lại còn xinh mới chết chứ. Tôi thấy vẻ mặt sụp đổ thần tượng lộ rõ ở cô ta. Chiều tối ra về, đoạn đường xa vời vợi, cái xe đạp xích kêu kèn kẹt. Tôi buồn bao nhiêu thì anh bạn Hoàng Kim Tới cười vui bấy nhiêu.
Dăm bẩy lần thư từ tiếp theo rồi thì tạnh hẳn. Bạn ấy ra trường về tỉnh khi tôi đi bộ đội. Trên Trường Sơn tôi có bạo dạn viết một lá thư về nơi cô ở Cao Thắng - Hạ Long. Chiến tranh cuốn chúng tôi đi và bắt nhiều khi phải quên những điều vui buồn ở phía sau. Nhưng rồi hòa bình, lũ thanh niên từ mặt trận về bắt đầu dần dần nhớ lại, dần dần trở lại bản ngã của mình. Bây giờ tôi không thấp mét rưỡi nữa mà đã hơm mét sáu cũng khỏe mạnh như các chàng trai lính trận khác. Tôi tự tin hơn. Tự tin với cuộc sống của chính mình và tự tin khi đứng trước con gái. Chiến trận nó dậy khối thứ mà bên ngoài đời không dậy.

Năm 1977 sắp nhận đồ án, tôi và Đào Bá Văn bạn tôi về Hạ Long. Chúng tôi gặp nhau. Bạn ấy vẫn xinh và mới cưới chồng. Nét buồn của bạn khiến tôi cũng buồn. Phượng (tên cô ấy) lấy lá thư nhòe ố nước mưa Trường sơn ra. Bạn ấy bảo thư của Luân làm tôi sống dậy với kỉ niệm trên Bắc Thái… chưa bao giờ có lá thư mà tôi xúc động tôi bồi hồi đến thế.

Thì ra, lá thư đầu tiên Phượng gửi cho tôi làm tôi bồi hồi, làm cho tôi sung sướng. Rồi lá thư tôi gửi từ Trường sơn về cũng làm cho bạn xúc động cũng lại bồi hồi. Ra là hai lá thư có ích. Có ích lắm quí lắm.
Tôi già rồi bạn ấy cũng không còn trẻ. Kí ức cứ tươi mới như vừa hôm qua. Tôi tự nhủ người sung sướng đâu cứ gì tiền của nhiều chức tước cao. Như mình có kỉ niệm đẹp mình làm cho bạn vui mình cũng sung sướng.


Lời sau chuyện: Tôi viết lại truyện này vào đầu năm 2013. Viết xong được vài tuần thì nhận được tin bạn ấy đã mất ở Hạ Long. Tôi xin phép hương hồn bạn cứ gửi bài lên KQH. Âu cũng là nỗi nhớ và hàm ơn với người bạn gái rất xa.


NTL

motthoang_hn02
25-07-2013, 01:29 PM
Lần đầu tiên nhận thư con gái

Nghĩ lại thấy tội tội thân mình nhưng là kỉ niệm mà kỉ niệm thì buồn hay vui cũng trân trọng để nhớ, để coi như một thứ tài sản của đời.

19/3/1970 là ngày đầu tiên đời tôi nhận được một lá thư con gái. Cảm giác ấy đến giờ 43 năm vẫn bồi hồi. Rồi sau này, nhờ ơn trời tôi lớn lên và cũng quen biết vô khối bạn gái nhưng cảm giác bồi hồi như ngày 19/3 năm ấy thì không có nữa.

Cháu thật xúc động khi đi làm về, mở máy tính ra thì đọc được câu chuyện này của chú!
Cũng rất tình cờ, cháu đang viết dở lá thư cho 1 người bạn lính trong Bình Thuận. Thôi thì, nhân tiện đây cháu cũng chia sẻ cảm xúc lần đầu tiên gửi và nhận được thư của bạn trai, cũng là 1 người lính! hì hì
Cách đây 13 năm khi cháu còn học lớp 10, nhà trường phát động phong trào "Viết thư gửi chú bộ đội ngoài đảo xa" rồi các thầy cô tìm kiếm và cung cấp địa chỉ thư tay của những người lính ngoài đảo xa cho học sinh, nhiều địa chỉ lắm, cháu không nhớ rõ là bao nhiêu nữa, có đủ các đảo ở Trường Sa luôn. Ngày đó Internet đối với bọn học sinh chúng cháu chưa phổ biến nhiều, giá nó cũng đắt, 6000 đồng/h. Vậy nên cái tiết mục viết thư tay cũng được các bạn rất hào hứng (đặc biệt là bạn nữ). Mà buồn cười lắm ạ, toàn ngồi dò địa chỉ xem có tên anh nào đẹp thì gửi thư làm quen. Cháu thích tên Hải nên chọn người có tên như thế!
(nhưng mãi sau này mới biết, những tên đẹp trên địa chỉ thư như thế không phải tên thật của các chú bộ đội), rút kinh nghiệm tập 1.
Vì là dân chuyên Văn nên gì chứ, viết 1 lá thư làm quen với học sinh lớp cháu là chuyện quá đơn giản, thực sự là như vậy. Chúng nó toàn viết trêu đùa là chính, còn cháu, với 1 tình cảm đặc biệt dành cho người lính làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nơi đầu sóng ngọn gió thì cảm xúc hoàn toàn khác, cực kỳ nghiêm túc! Gửi thư đi mà cứ hồi hộp đếm từng ngày, chờ đợi và đợi chờ! 10 ngày rồi, sao mà lâu thế nhỉ? Ngày đó cháu chưa biết 1 chuyến tàu ra Trường Sa sẽ mất bao lâu, khó khăn vất vả như nào....Thế là từ hồi hộp, chuyển sang hụt hẫng rồi thất vọng vì mãi chẳng nhận được thư hồi âm gì cả.
Rồi 1 ngày đang ở trên lớp, cháu nghe thấy chúng nó kháo nhau: Lớp mình có thư gửi về từ đảo Trường Sa nhé, gửi cho cán bộ lớp hẳn hoi, chúng mày đồng ý không để tao bóc ra xem.....Thế rồi cả bọn cứ nhao nhao lên, la hét ầm ĩ, đứa cầm thư giơ cao, đứa với lấy, đứa chạy vòng quanh.....Trêu đùa thì thế thôi chứ rồi bọn nó cũng trả lại cho cháu, cầm lá thư trên tay mang đậm dấu ấn của lính đảo Trường Sa, cháu hồi hộp mở ra đọc ngấu nghiến từng câu từng chữ. Cái cảm xúc này cháu không bao giờ quên được!
Ngày đó, vấn đề về biển đảo và người chiến sỹ HQ chưa được quan tâm nhiều như bây giờ, nên chuyện lính đảo mà có thư gửi ra (bất kể là ai) thì họ trân trọng lắm! Đây là mối tình đầu tiên của cháu, thời học trò rất vô tư trong sáng với 1 người lính HQ xa mình cả ngàn cây số, có mỗi ưu điểm là cùng quê HP thôi :D
Cho đến bây giờ, cháu vẫn duy trì thói quen viết thư tay, vẫn giữ thư tay của rất nhiều người lính trên mọi miền Tổ quốc, vẫn duy trì những tình bạn bắt nguồn từ những lá thư như thế, dù điều kiện gặp nhau ngoài đời không được nhiều. Lần trước cháu có kể chuyện về những lá thư gửi lính, có 1 chú CCB ở đây trêu đùa:" Tôi mà là thủ trưởng của cậu lính đấy thì tôi sẽ làm như này:
Thư đến ông cóc chuyển ngay
Để xem tình cảm Thoáng này ra sao?"
Thật sự, cho đến bây giờ cái cảm xúc lần đầu tiên gửi/nhận lá thư ấy vẫn còn vẹn nguyên. Thôi lan man 1 chút, giờ cháu đi viết nốt lá thư dở để chiều đi làm qua bưu điện gửi cho sớm chú ạ :D
Một lần nữa cảm ơn chủ về câu chuyện, gợi lại trong cháu nhiều kỷ niệm vui buồn về những lá thư tay của lính!

https://lh6.googleusercontent.com/-jYqrNNhoVDE/UfDFatxHnsI/AAAAAAAAJSk/cYzIJP8SicA/khucquanhanh.vn-IMG_20130618_161625.jpg

https://lh4.googleusercontent.com/-jHA_Q_sUeEI/UfDFnqTl7nI/AAAAAAAAJSs/X7PYci7Cq_k/khucquanhanh.vn-IMG_20130618_160412.jpg

quany103
25-07-2013, 11:07 PM
Bác @litangu thật tài nhớ những kỷ niệm lâu ơi là lâu, bác khơi lại không phải tiềm thức riêng bác mà em đọc chuyện bác rồi tự nhiên nhớ câu chuyện ngớ ngẩn của em cũng đã 43 năm 7 tháng.
Ngày ấy em chuẩn bị đi lính cuối năm 1970, một buổi tối mùa đông cô bạn gái thân rủ đi chơi lang thang đi bộ phố Hàng Ngang, Hàng Đào, cô ấy tâm sự đang yêu anh trai của cô bạn gái tên Hà, cô ấy kể với mối vô vọng vì ngày mai anh ấy đi bộ đội, tôi hỏi:
- Sao không nói với ông ấy
- Con gái sao nói trước được
Ừ nhỉ thời ấy có yêu cũng chỉ để trong lòng đâu dám tỏ tình như bây giờ; tôi nói:
- Để tao viết thư cho ông ấy cho.
Thế là tôi đêm đó về hí hoáy viết gì đến bây giờ tôi không nhớ chỉ biết tôi tả về tình yêu của cô ấy mãnh liệt như thế này thế nọ lá thư dài 4 trang giấy học trò. Sáng hôm sau tôi đạp xe lên Hàng Ngang, dúi vào tay anh ấy lá thư viết hộ... Rồi đầu năm 71 tôi đi lính, qua bạn gái tôi, anh đã gửi thư cho tôi đông viên tôi huấn luyện cho tốt cùng thi đua với anh về bắn đạn thật, cứ vô tư tôi viết thư qua thư lại ngố ngố. Khi đang học quân y thì bạn tôi nhắn tin là anh ấy bị thương ở mặt trân Quảng trị, cô gái có Tình yêu ấy lại đến nhà tôi chúng tôi lai lang thang trên đường Trần Hưng Đạo, cô ấy nói nhiều mà tôi chẳng nhớ nổi nói gì, cuối cùng tôi hỏi:
- Anh ấy bây giờ là thương binh mất 1 tay vậy còn yêu không? nếu yêu ngày mai đến nhà thăm đi.
Tôi thấy ở cô gái có những băn khoăn tính toán, tôi bỗng hiểu rằng chắc là khó khăn đây.
Phải đến tết 1973 tôi mới gặp lại, anh đã nối lại được khuỷu tay, tuy có ngắn hơn trước vì bị cưa bớt nhưng vẫn lành lặn, anh đến nhà tôi chơi quá bất ngờ. Rồi tôi có hỏi anh có gặp Thanh Hà không? <em gái anh tên Xuân Hà> anh bảo:
- không.
Rồi anh tâm sự khi nhận được lá thư em viết hộ Thanh Hà anh đã cười muốn vỡ bụng, anh không nghĩ lại có chuyện tỏ tình hộ mà lại viết hăng hái, tình yêu mãnh liệt, ngây ngô đúng là ngố tàu thật. Đúng là đứa chưa biết yêu. Nhưng anh cảm thấy em rất gần vì trong đám bạn cùa em gái anh, em là đứa dám đi bộ đội và chịu đựng gian khổ nhất. Những tháng ngày ở Quảng trị anh luôn nghĩ chiến đấu, chiến thắng còn về gặp em.
Cũng tết năm ấy, chúng tôi đến nhà Xuân Hà chúc tết, ba má bạn và chúng tôi gặp anh. Cô bạn gái yêu anh gặp anh hơi ngỡ ngàng, bẽn lẽn tôi không để ý họ lắm, vì tôi vẫn cứ nghĩ tôi đã làm xong nhiêm vụ, rồi anh lì xì mỗi đứa 1 hào cả nhóm gần chục đứa nhao nhao nhân tiền, khi đến tôi anh chọn 1 hào mới nhất cho tôi, cả nhà anh ai cũng biết cô ấy yêu anh mọi người rất tạo điều kiện, ăn uống xong chúng tôi ra về.
Trên đường cả nhóm đi quanh Hồ Tây cô gái yêu anh nói tôi:
_ Anh Tú <tên anh ấy> không yêu em, nhưng có tình cảm với chị. Thật lòng em không thể yêu 1 anh thương binh, không có nghề nghiệp làm sao sống đây?
Tôi im lặng cho đến khi ra về, đêm nằm nghĩ mãi thế là thế nào. Với cô ấy có thể cho qua, vì cô đâu phải là lính làm sao hiểu nổi cái đau của tâm hồn và thể xác người lính đã trải qua những bom đạn dữ dội, giữa cái sống và cái chết của mùa hè đỏ lửa ấy và khi trở về là anh thương binh, hẳn anh cũng phải vật lộn với chính mình với cuộc sống ngày ấy.
Sao tôi lại ngu ngốc viết thư hộ chỉ vì quá nhiệt tình với bạn. Chị gái của anh là lính đi Bê năm ấy, gặp tôi chị cười tươi diu dàng nói:
- Em ngốc quá viết như thư hộ như vậy đàn ông sẽ yêu mình, chứ họ không tin Tình yêu của người kia.
Bây giờ tôi mới hiểu, thì ra lá thư nói về tình yêu đầu tiên viết cho nguời đàn ông đầu tiên thật ngốc thật buồn cười. Chắc suốt đời tôi không bao giờ viết được 1 lá thư tình giống như thế và đến bây giờ tôi vẫn không nhớ 1 chữ nào trong lá thư đó.
Đã 43 năm trôi đi, gia đình của anh luôn yêu mến coi tôi là người nhà, tôi và em gái anh vẫn thân nhau, chúng tôi vẫn gặp nhau và anh luôn coi tôi là MỐI TÌNH ĐẦU.
Còn cô bạn gái Thanh Hà chúng tôi không còn gặp lai nhau cho dù lần nào ra HN tôi cũng đi tìm.

Tự xin xóa
26-07-2013, 10:55 PM
Xin phép bác LTN, mạn phép bác chủ nhân cuốn sổ nhật ký, em post 1 đoạn nhật ký đi đường của 1 bác thuộc Đoàn chi viện Vĩnh Lộc vào đây. Bác này đi trên đường TRường Sơn rời Việt Nam tháng 2/1966. Bài đầu tiên đề ngày 9/2/1966.

Cuốn nhật ký này do phía Mỹ thu được trong trận càn Gianxơn City tháng 3/1967 tại Tây Ninh. Rất tiếc là không có chút thông tin về chủ nhân của cuốn sổ. Do hình ảnh copy của cuốn sổ màu đen trắng, nét chữ không còn được đầy đủ, nên một số chữ em không luận ra được, những đoạn đó em để dấu "..."

Sau đây là đoạn ghi chép ngày 13/3/1966, khi bắt đầu vào đất Việt Nam.


T7a – 13/3/1966
Vượt sông Xeka Su, chúng tôi đặt chân lên mảnh đất Việt Nam thân yêu sau hơn một tháng lênh đênh trên đất nước Lào, hôm nay tôi đặt chân lên mảnh đất Việt Nam thân yêu. Cái biểu hiện của khi đặt chân lên đất Việt là gặp những chiến sỹ Việt Nam, những chiến sỹ Giải phóng quân trong trang phục quen thuộc. Những gánh sắn .. trở về. Đó là những gánh mì do mặt trận vận động bà con trồng. Tôi nghe nguời ta kể về những bãi mì bạt ngàn này một cách đầy khâm phục.

Trước kia tôi thường nghe, khi nào gặp nữ giao liên, đó là đến đường dây dân chủ nhân dân [Đoạn này hơi mờ, em đoán không rõ có chính xác chưa].
Đi đến địa phận Kontum, trong khi chờ đổi giao liên, tôi hy vọng và tưởng tượng ra nguời nữ giao liên ấy. Nhưng mà mong muốn của tôi hoàn toàn vô ích. Tại vừa gặp lại anh giao liên nói tiếng Nghệ Tĩnh … trạm tôi đã đi qua. Vẫn cái lối hách dịch như bao con người có cái giọng nói khó thông cảm ấy./.

[Ngày 5/3/1966, tại trạm T76, bác này đã có trang viết với tiêu đề “Cái quyền của giao liên”. Do chữ hơi mờ, khó luận nên em không đọc hết được nội dung đoạn viết.]

Tự xin xóa
26-07-2013, 11:03 PM
Tiếp... tại trạm X7b ngày 14/3/1966


X7b – 14/3/1966
Vừa đặt balô xuống, các bạn tôi đã bàn đến chuyện đi lấy mì. Nghe nói là gần đây có những bãi mì bạt ngàn.

Đi giặt (?) vào, các bạn đã đi cả rồi. Tôi đành ở nhà vậy. Ba giờ sau, những nguời đi lấy mì trở về, mặt mày …. Ai cũng nói đến … khủng khiếp của đồi mì. Có anh còn nói: mày mà đi thì nằm ngay trên đấy chứ đừng hòng về được. Anh ta dọa một anh bạn sức khỏe kém như vậy. Tôi nghe cũng rợn tóc gáy.

Tuy ở nhà, nhưng mọi nguời cho một ít mì. Tôi vẫn có mì làm bánh hấp, luộc. Cả đếm ấy lửa rực cả đồi, chả khác gì ngày Tết nấu bánh cả.

Tự xin xóa
26-07-2013, 11:08 PM
Ảnh chụp trang nhật ký:

http://i737.photobucket.com/albums/xx18/rongxanhpmu3/KQH_Ky%20vat/2013072633053038-NhatkydoanVinhLoc.jpg (http://s737.photobucket.com/user/rongxanhpmu3/media/KQH_Ky%20vat/2013072633053038-NhatkydoanVinhLoc.jpg.html)

litangu
26-07-2013, 11:09 PM
Chào Sóc nhỏ. Thật là lí thú khi lại quay trở về với trí nhớ của lính.
Tôi nhớ, ngã ba Đông Dương lối rẽ trái là đi về Kon Tum, lối đi thẳng vượt sông là đi sang đất Cao Miên để về B2. Chỗ ấy là trạm T78.
Trục đường 559 có tên gọi là đường dây XHCN. Còn bắt đầu lối rẽ đi B1 về khu 5 hay lối đi rẽ từ T78 về B3 hoặc lối rẽ từ CPC về B2 thì gọi là đường dây Giải phóng. Quả thật có 2 hoàn cảnh thực tế khác nhau của đường dây XHCN và đường dây
Trên đường dây 559 (Trục đường chính - XHCN) mọi nhu cầu cung cấp và đường xá giao liên có tốt hơn rất nhiều so với đường dây GP. Bởi đường dây GP là do mặt trận tại nơi đó cung cấp và bảo vệ. Vì thế bất kì chiến trường nào khi đi vào đường dây GP (lối rẽ về mặt trận của mình) đều vô cùng khổ sở và khó khăn về vật chất cũng như tinh thần so với đường dây 559.

Tự xin xóa
26-07-2013, 11:15 PM
Trí nhớ của bác LTN vẫn "ngon" lắm :D

Trang trước cuốn nhật ký, trước khi đến trạm X7a và X7b, bác này có qua trạm T78 (ngày 11/3/1966), trạm T79 (12/3/1966).

Tự xin xóa
26-07-2013, 11:22 PM
Đoạn viết trước thời điểm đến trạm T78 (Em hơi nhảy cách một chút, do ưu tiên gõ những trang có thể đọc/ luận ra được chữ)


Con đường xe thồ được thay bằng con đường ô tô

Vượt xong cái dốc độ 45 phút chúng tôi bắt đầu đi vào con đường ô tô. Trước kia, khi con đường ô tô này chưa có thì nó mới chỉ là con đường của xe thồ, và nếu xa hơn nữa, nó chỉ là rừng cây. Sở dĩ chúng tôi biết được trước kia đây là con đường xe thồ vì còn nhiều chỗ đường ô tô đi tách ra chứ không bao phủ lên đường xe thồ, như có ý để cho nguời sau biết rằng trước khi có con đường ô tô này thì con nguời ta đã vận chuyển bằng những phương tiện thô sơ hơn.

Tôi đang đi một cách thoải mái thì một cái không may đã đến với tôi: bụng tôi đau quặn lại. Tôi đi bước không được nữa nhưng vẫn cố đi. Khoảng chừng 2 giờ sau thì bớt đau dần và hết hẳn. Có lẽ tôi bị đau bao tử rồi chăng?

Tự xin xóa
26-07-2013, 11:38 PM
Đoạn nhật ký về chuyện đổi đồ ăn trên đường


X2 – 20/3/1966

ĐƯợc nghỉ lại một ngày, lại trúng cái chỗ dân ra dân vô nhiều, nên anh em tha hồ đổi. Tất cả các thứ đều đem ra đổi để phục vụ cho cái ăn. Nhìn thấy các loại quần áo khác nhau của anh em mà dân mặc, có anh bảo: họ sẽ ăn mặc văn minh và sang trọng vì các đoàn của chúng ta đấy.

Dừng lại đây, trong số đồ đạc đổi đi ấy, tôi đã tham gia một phần quan trọng. Một cái áo ba lỗ (?), một cái khăn tắm, một tấm ngụy trang, …, 2 cuộn chỉ, một số kim băng, Nhờ đổi thế mà chúng tôi được một bữa nên thân. Sau gần 2 tháng trên đường về, hôm nay chúng tôi được nếm những món ăn bình thường trong cuộc sống bình thường, mà chúng tôi … được .. rất khác nhau: một nải chuối, một bữa cháo lòng lợn, một bữa thịt kho… Tất cả những cái ấy hôm nay chúng tôi đều được hưởng. Chúng tôi đổi được mì, chuối, gà và một con heo hơn chục cân nữa.

litangu
29-07-2013, 10:31 AM
Trở lại Củ Chi

http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/2010/04/images330013_3c.jpg


Chúng tôi trở lại Đồng Dù vào ngày 10/5/1975. Thực ra chỉ có trung đoàn tôi trở lại đây muộn như thế còn các E 48, E52, E54, Lữ công binh 7 và các đơn vị trực thuộc cùng sư đoàn bộ đã ở đó ngay từ ngày đầu tiên giải phóng. Trung đoàn tôi đánh tới dinh Độc lập rồi ở đó tới 6/5 thì kéo về Củ Chi. Chiều 6/5 đến Tân Phú Trung thì dừng lại tổ chức trận tập kích truy diệt bọn tàn binh chừng trăm tên trong ấp bàu Trâm.
Khi về tới Đồng Dù phải qua ba bốn lần chuyển quân trong 2 ngày trời mới điều chỉnh xong vị trí. Khiếp, căn cứ cũ của sư 25 Tia chớp Nhiệt đới rộng quá. 8 ki lô mét vuông bằng đúng khu gang thép Thái nguyên thời ấy. Điện nước trường trạm đủ tận răng. Vườn hoa cây cảnh xanh ngời. Các con đường trong căn cứ trải nhựa như phố xá. Ở rừng mới về nhìn cái gì cũng lạ cũng thích cứ như mình đang sống ở nước ngoài vậy. Mãi về sau này càng nghĩ càng thấy quân mình ấu trĩ vô cùng. Chả cứ gì lính đến mấy ông cán bộ cũng tò te trước các trang thiết bị quân sự, trước tiện nghi dân sự. Việc làm được đáng “nể“ nhất của lính là phá phách những đồ dùng sang trọng mà không phù hợp với lính, sau nữa là vất bớt tủ giường sa lông... thậm chí cả quạt điện cũng không được dùng riêng. Thu gom lại cả hàng đống quạt bàn nộp lên E, kho quân tiếp vụ cũng ùn ùn nộp E. Chúng tôi bắt đầu làm lấy giường nằm theo gu của lính. Dỡ trần nhà lấy gỗ ván ép làm giường và rồi tự mình chịu cái nóng Củ Chi hầm hập… Buồn cười thế, chả cái dại nào giống cái dại nào. Cứ tự trói mình cho khổ bằng thói quen của bộ đội cũ. Bao lâu nay đói, bây giờ được ăn uống đầy đủ tôi lên cân vù vù. Chỉ sau hai tháng lên được 7 kí. Ước mong được ra quân cháy bỏng ruột gan.

Chuyện trở về Củ Chi không phải là để kể chuyện phá phách trong căn cứ Đồng Dù. Kể chuyện đó biết bao giờ hết cười, hết buồn. Tôi muốn kể về con người Củ Chi về những ngày tháng sống với đồng bào Nam bộ, về những xuy nghĩ của mình về tuổi trẻ miền Nam mới giải phóng, những kí ức với người và đất nơi đó theo tôi mãi đến già. Chả biết tôi có kể được không?

Lần đầu tiên trong đời tôi nghe tới cụm từ "Gia binh“. Tất nhiên là tôi hiểu ngay gia binh là gì. Nơi chúng tôi tiếp quản từng vị trí cấp C, đều là trong gia binh. Đây đó ngổn ngang bát đĩa áo quần nồi niêu, ngổn ngang tủ giường đồ dùng gia đình. Đêm 10/5/75 tôi dọn dẹp nơi ở của mình, dọn dẹp thì ít mà ngồi xem sách vở giấy tờ thì nhiều. Lần đầu tiên tôi đọc những cuốn sách giáo khoa miền Nam. Lần đầu tiên tôi được xem những bài viết của học sinh trung học ở chế độ VNCH. Cứ ngồi lặng đi đọc các bài luận của học trò. Cũng vẫn là những bài dậy cho trò lòng yêu nước. Cũng vẫn là những bài nói về máu đỏ da vàng. Ngạc nhiên hơn cả là trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn chương của Tạ Tỵ thì viết hầu hết về các nhà văn miền Bắc. Ngạc nhiên nữa là bài thơ Đồng chí của Chính Hữu cũng có trong chương trình. Đêm ấy cứ bâng khuâng, đêm ấy cứ nhìn nét chữ của đứa trò nào đấy con của binh sĩ VNCH rồi tự hỏi đứa bé này đang ở đâu? nó liệu có được đi học lại không? Nhìn những nồi niêu vung vãi nhìn những bộ áo quần chưa kịp gói chạy loạn mà lũ chúng tôi bần thần những người vợ người mẹ trong căn nhà này đang thất tán nơi nào. Hồi ấy tôi rất kiêng kị dùng một thứ đồ gì trong vô vàn đồ dùng ở khu gia binh. Đêm, nằm trong căn cứ khuya lắm vẫn nghe tiếng Hon da è è ngoài xa và khi bình minh ưng ửng là tiếng xe bên ngoài hàng rào rộn rã. Cuộc sống vẫn ồn ã với miếng cơm tấm áo. Cuộc sống trong những ngày đầu giải phóng đầy những lo lắng mung lung như tiếng xe máy nghe xa xa lúc trời sắp sáng. Gần bốn mươi năm nay cứ khi nào nghĩ tới miền Nam là tôi lại hình dung ra tiếng xe máy lúc trời sắp sáng ở Đồng Dù Củ Chi.

Chúng tôi lao vào ổn định chỗ ở, ổn định tư tưởng được mươi ngày thì có lệnh hành quân di chuyển. Lại tất cả trang bị vũ khí và cơ sở vật chất chuyển đi. Nơi chúng tôi đến là xã Phú Hòa Đông. Thì ra để đề phòng Mỹ sẽ có thể đánh quay trở lại nên các căn cứ cũ đều phải bố trí thế trận của mình. Chúng tôi đóng ở nhà dân hoặc làm lán lợp mái tôn trong rẫy hoặc ngoài đồng. Mới gần một tháng thôi mà nay qauy về với cuộc sống cũ mà sao đã thấy khổ, thấy chán nản thế. Quen với gian khổ thì lâu nhưng quen với an nhàn sung sướng thì nhanh thế. Bốn năm nay mang tiếng đi chiến đấu ở miền Nam đã bao giờ tôi ở cùng với dân Nam bộ một ngày. Bây giờ, tận mắt tôi thấy cuộc sống của họ. Người Củ Chi chịu đựng gian khổ đến phi thường. Cố hình dung với đời cũng không thể hiểu nổi làm sao mà họ vượt qua được những ngày Mỹ càn quét với đủ quân binh chủng với hàng chục ngàn lính. Suốt một dải Phú Hòa Đông, Nhuận Đức, Phú Mĩ Hưng không thấy một ngôi nhà cho ra cái nhà. Chỉ thấy cỏ hoang lau lách và lục bình loang tím. Mươi ngày nay bà con đang lục tục kéo về làng cũ. Nhìn những lão nông quần cụt cởi trần vác tre vác lá, những cô gái áo bà ba chỉ một màu đen da xanh mái trong veo nhìn bộ đội. Yên lành và lặng lẽ thế. Chúng tôi mắc võng ngoài vườn một gia đình nông dân hai vợ chồng chừng bốn mươi tuổi. Trong căn nhà tuyênh toang ấy có một cái giường độc nhất cho người vợ ốm nặng còn người cha và hai đứa con mắc võng vào những cây cột chôn xuống đất. Tôi mắc võng vào hai cây trứng gà, nằm nhìn những con ong bu lên những trái cây rơi dập vỡ vàng ươm dưới đất. Nghe tiếng rên của người đàn bà ốm não nề. Sao giống người dân quê mình đến vậy? Rồi tôi hỏi trẻ con ở đây không có trạm xá à? Lũ trẻ không hiểu trạm xá là gì, tôi giải thích mãi chúng à à... nhà thương. Lấy đâu tiền đi nhà thương hả ông Giải phóng?
Chiều mưa. Tôi vẫn nằm võng ngoài vườn. Nước tom tom trên mái tăng. Ngó mấy con gà gầy sơ sác trú mưa dưới gầm võng buồn ghê. Nhớ nhà muốn bay về ngay miền Bắc. Chợt có tiếng rên rẩm. Thằng Hai kêu mấy ông vô nhà nằm, nằm ngoải mắc ốm quá. Thì ra người đàn bà ốm đau đang thương chúng tôi ngoài mưa. Mưa cứ ầm ầm, tiếng người đàn bà chìm vào sấm chớp. Hôm sau, đến giờ nghỉ trưa, tôi chạy bộ ngược lên phía đằng bờ sông Sài gòn. Tìm bạn tôi là y tá C24 vốn trước khi đi bộ đội là sinh viên năm 4 y khoa. Tôi bảo Sỹ. Mày có thuốc bổ không, mày xuống tiêm cho bà chủ nhà tao mũi, nhà ấy không hề có viên thuốc nào. Sỹ cũng gói kim tiêm rồi giữa trưa nắng chạy theo tôi. Tôi cũng không ngờ gia đình nhà chủ tôi lại xúc động đến thế. Sỹ tiêm cho chị ấy ống B12 rồi kéo tôi ra. Tao về đây. Nó ngoái vào, chị ơi chị cố ăn cho chóng khỏe, em về. Ra đường nó bảo tôi, bà ấy chả sống được đâu, gan cổ chướng đấy.
Rồi, nó đi như chạy sợ về muộn đơn vị lại cho là mò vào nhà dân tụt tạt. Cũng hôm ấy tôi thấy người đàn bà bệnh tật ấy ngồi dậy mà nói, cả đời tôi bây giờ tôi mới được chích mũi thuốc, thấy người khỏe liền. Trưa ấy nắng lắm. Tôi nằm võng nghe trái trứng gà chín nũm rơi bình bịch. Mấy đứa trẻ ngồi gốc cây ngó tôi thật lạ. Chiều tối, nghe hai vợ chồng nói chuyện với nhau, người vợ bảo hổng biết ông giải phóng chích thuốc chi mà tui thấy khỏe lẹ vậy ông à. Lại nhớ lời thằng Sỹ nói hồi trưa chả sống được đâu. Thấy buồn quá. Bao người dân hi sinh hết cho cách mạng không tính đếm cả thân xác mình, đến lúc sắp chết vẫn không hề biết viên thuốc mũi tiêm, bao nhiêu thuốc men gom được đều ủng hộ hết cho cách mạng.
Hai tuần sau chúng tôi lại kéo quân về Đồng Dù. Lại bắt đầu ngày thao trường tối hội họp bình xét. Lính thì bận kiểu lính cán bộ bận kiểu cán bộ. Căn cứ Đồng Dù ngoài Sư đoàn tôi còn thêm cả E công Binh 7 cả D xe cơ giới quân đoàn và một E pháo binh quân đoàn nữa. Đông nghịt người và đêm đêm đèn điện sáng như phố phường. Khu gia binh giờ phá hết những dãy bếp, những mảnh vườn, chỉ để trụi thùi lụi những ngôi nhà ở đập thông tường nối với nhau dài dằng dặc. Tháng 6/75 đội văn nghệ Sư đoàn được thành lập. Tôi cũng được gọi lên đó tập tành gấp rút trong nửa tháng, để rồi đi biểu diễn với bà con trong huyện Củ Chi. Lúc này nhạc cụ lấy được của đoàn quân nhạc trong Đồng Dù nhiều lắm. Chả có trình độ mà chơi những loại nhạc cụ cao siêu, lính chỉ lấy ghi ta, trống và chũm chọe lùng bùng lèng phèng suốt ngày. Mới giải phóng nên đội Văn nghệ được cưng lắm. Một tối chúng tôi đi diễn dưới Tân Qui. Đang lúc hát hợp ca Bác cùng chúng cháu hành quân, nghe cái bịch trên sàn gỗ sân khấu. Bà con la ré lên chúng tôi nằm bẹp ngay xuống sàn. Quả lựu đạn không nổ. Lí do thật đơn giản lựu đạn chưa rút chốt. Đêm ấy cuộc diễn vẫn không dừng lại. Du kích dàn hàng đứng kín sân khấu còn các má thì bảo các con không sợ, các má có chết cũng bao bọc được các con. Tới tiết mục của tôi, tôi hát bài Mẹ vẫn đào hầm mà nước mắt cứ đầm đìa. Các mẹ thấy chúng tôi khóc cũng khóc. Quanh tôi, cả dưới bãi cỏ kia chỉ thấy toàn cụ già, trẻ nhỏ và du kích. Thanh niên đâu không thấy? Chúng tôi hát trên mảnh đất mà chỉ hơn một tháng trước là dày đặc những lính CH. xa vài năm trước dày đặc những là lính Mỹ, chúng tôi hát trên một vùng du kích nhiều bao nhiêu thì ác ôn của địch cũng nhiều bấy nhiêu. Chúng tôi hát trên vùng đất mà giặc Mỹ đã càn quét bằng đủ quân binh chủng có tới vài chục ngàn quân hàng tháng liền, hàng năm liền đốt sạch phá sạch mà người Củ Chi vẫn sống, vẫn chiến đấu. Chiến đấu thật kiên cường và sống thật mãnh liệt sống thật nhân hậu.
(còn tiếp)

litangu
30-07-2013, 10:53 AM
Trở về Củ Chi

(tiếp theo)http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_9218_zpsb99d1947.jpg
LITANGU đứng ở cổng căn cứ Đồng Dù sau 38 năm



Mùa mưa miền Nam lại đến. Những trận mưa gõ trên mái nhà tôn ầm ầm, mưa rất to và nhanh. Ngồi trong nhà nhìn ra sân, bong bóng phập phồng trôi ào ạt rồi ùa xuống những giao thông hào cũ. Trong Đồng Dù đâu cũng thấy vườn hoa cây cảnh thật là đẹp. Có một thứ hoa vàng gọi là hoa đai vàng mùa mưa lá xanh mướt. Những vòm hoa giấy rực đỏ đến sáng cả con đường vào từng doanh trại cũ. Mưa chỉ vào buổi chiều tựa hồ đó là trận tắm rửa cho một ngày bụi bặm. Chúng tôi thích những trận mưa như thế, chúng tôi gọi là mưa miền Nam.

Ở Đồng Dù có nhiều cổng ra vào. Cổng chính đối diện với con lộ 15 đi tắt xuống Tân Phú Trung. một cổng phía ngoài Phú Hòa Đông và một cổng nhỏ đi ra rừng cao su Tân an Hội bây giờ. Nhưng có hai cổng nữa mà ít ai dám đi qua là hai cửa mở quân ta đánh vào hôm 29/4. Cửa mở của E9 phía Trung Lập xuống ngay trong tháng 6 đã rào lấp lại còn cổng cửa mở e48 thì vẫn để nguyên mà chả ai dám đi qua. Mấy chiếc xe tăng cháy nằm đấy, bao nhiêu là mũ cối quân trang của bộ đội bê bết ướt nhèm ở đấy. Mìn của địch vẫn dày đặc lại thêm vọng gác của E7 công binh ở những lô cốt đầu cầu nên chúng tôi không bao giờ ra ngoài bằng lối đó. Thế mà lính ta vẫn ra ngoài căn cứ được. Bắt đầu là mấy thằng công binh 17, chúng nó dò gỡ mìn theo lối gần nhất ra ấp Bắc Hà. Các hàng rào thép gai được chống lên một lỗ to bằng cái thúng. Ra vào đều phải ngụy trang để cán bộ không phát hiện ra. Cửa bên trong giáp với đơn vị chúng nó lăn một cái thùng phuy bẩn ép vào lỗ thủng chỉ cần lăn cái thùng ra một tí là chui vào lối đi ấy bò theo lối cỏ tranh mà ra ngoài ấp. Bao nhiêu cuộc tình, bao nhiêu sự làm quen và gắn bó cho lính và đồng bào Củ Chi bắt đầu từ đó.

Năm 1993 tôi và Nguyễn Công Thành bạn tôi trở về Củ Chi. Sau một hồi trình bày với anh em vệ binh Sư đoàn 9 (phải đưa cả thẻ nhà báo của Thành) mới được họ cho vào. Đến cái chỗ có lối chui ra ngoài bây giờ là một vườn keo rất đẹp Thành bảo tôi, chỉ có cái lỗ chui như của chuột mà tao cõng được cả một cái lu đựng nước ra tặng bà già người yêu. Nó cười xa xăm nhìn ra chóp nhà thờ Bắc Hà ló trên ngọn keo xanh mướt mát. Hồi ấy vợ nó là một cô bé ngoài Bắc Hà mới 16 tuổi bán nước mía ngoài đường Tám. Chúng nó yêu nhau rồi bây giờ thành ông nội bà nội ở Sài gòn. Đồng Dù điểm kết thúc cuối cùng cuộc chiến của tôi nhưng lại là điểm bắt đầu nhiều cuộc hạnh phúc trăm năm của bao người lính bạn tôi. Củ Chi như một ân tình bất ngờ mà thượng đế ban xuống đầu những chú lính 320A ngày ấy.

Khi tôi ở đội văn nghệ sư đoàn chúng tôi được ăn ở trong Tổng hành dinh của Lý Tòng Bá. Một điều rất dễ nhận thấy là ở đây rất nhiều hoa Sứ, rất nhiều những tấm bia xây rất đẹp có biểu tượng tia chớp giống y như tia chớp ở các bảng điện trạm điện bây giờ. Chiều chiều chúng tôi ra ngồi chân cột cờ ba vòng tam cấp rất cao nhìn về phía tây bắc. Ngọn núi Bà Đen phía Tây ninh xanh sám tít xa. Những lúc ấy tôi cứ nghĩ tới ngọn Ba vì ngoài Bắc khi tôi ngồi trên tàu hỏa về quê mỗi kì nghỉ hè. Chúng tôi ngồi đó mơ ngày về, mơ rằng cuộc đời sẽ thật lương thiện và ấm êm.

Đồng Dù sau hai tháng biết bao nhiêu đổi thay. Quân đi quân về liên tục. Khách viếng thăm cũng nhiều vô kể. Hết đoàn Văn công này Nghệ thuật kia vào biểu diễn cho chúng tôi xem. Bao nhiêu tán dương bao nhiêu là khen tặng ngập tràn hân hoan và địa chỉ trao nhau. Tất cả mọi thứ đó tan nhanh lắm. Chả ai người ta nhớ đến những người lính nhỏ nhoi như mình mãi được. Chả người lính nào mà lại chiếm được phần lớn con tim của những người ngoài cuộc đang rạo rực ban phát xúc động cho lính. Xúc động của lính chỉ người lính có. Dẫu yêu thương người lính đến mấy cũng không thể có xuy nghĩ của lính. Chỉ còn chúng tôi hát cho nhau nghe, diễn lại những trận đánh mình đã qua. Diễn: thực ra chỉ làm nguyên xi những gì mình đã làm trong chiến đấu vậy mà ngồi xem với nhau cũng khóc. Khán giả khóc. Diễn viên khóc, lính khóc cán bộ khóc. Thì ra trên đời chả ai nói thay được cho mình chỉ mình nói cho mình thôi, chỉ mình mới biết mình trung thực đến ngần nào thôi với đời mà trước hết là với mình.

Đã qua ba tháng sau Giải phóng. Đã có một đợt quân mới nhập ngũ tháng 4/75 bổ sung về đơn vị, đã có một số anh em có văn hóa lớp 10 đi học Sĩ quan ngoài Bắc. Đồng Dù vẫn nhộn nhịp một cuốc sống đầy chiến công. NHưng tôi biết đã bao nhiêu là nước mắt của đồng đội tôi sau nhiều năm bây giờ mới nhận thư gia đình. Nhiều oái oăm bắt đầu xuất hiện trong lính. Mấy anh lính già 67, 68 khóc vì vợ đã phụ mình, nhiều anh khóc vì được tin mẹ cha đã mất. Còn tôi, tôi chả có gì mất , tôi lại đang sống nhàn nhã hơn anh em chỉ viết lách và múa hát. Mỗi lần về lại A trinh sát của mình cứ thấy như mình có lỗi bởi thấy anh em đen cháy lại sau nhiều ngày bám địa bàn ngoài dân, thấy chúng nó thở dài mong ngày ra quân mà vẫn mịt mù.

Một tối chúng tôi diễn cho đồng bào Tân An Hội. Đây là thị trấn Củ Chi nên khán giả rất đông, rất nhiều học sinh đại học và trung học xem. Đêm ấy, chúng tôi không thành công. Mấy hôm sau tôi ra thị trấn, họ nhận ra tôi và cũng hôm ấy tôi được mấy thanh niên Thị trấn mời về nhà. Họ chỉ cho tôi xem bộ nhạc cụ trong nhà, nào là ghi ta điện, dàn trống hiện đại. Thấy tôi bần thần một cậu bảo tôi anh hát đi. Hát gì bây giờ? chả nhẽ lại Bác cùng chúng cháu hành quân, lại Đêm Trường sơn... mà hát nhạc vàng thì không dám vả lại cũng không biết nhiều. Thời đi học đại học chúng tôi hay hát những bài hát Nga và châu Âu, thế là hát. Tôi hát trở về Su ri en tô rồi hát Pa lô ma. Từ lúc ấy họ nhìn tôi rất khác. Bộ đội mà cũng biết hát những bài này à? Tôi bảo các bạn chơi bài Sóng sông Đa nuýp đi! họ tròn mắt. Thì ra bấy lâu nay thanh niên miền Nam chỉ cho rằng lính miền Bắc đâu có hát được những bài hát châu Âu ấy, thì ra bấy lâu nay tôi cứ tưởng họ cũng chỉ biết hát nhạc vàng rên rỉ mà thôi. Chúng tôi nhìn nhau ngạc nhiên, rồi chợt hiểu ra con người hai miền vẫn chỉ là một chỉ có điều họ và tôi đang sống trong hai hoàn cảnh khác nhau mà thôi...

Tôi quen với Thái và Tùng ở ấp Đông Tân An Hội từ ấy. Chúng tôi cứ tìm thời cơ để ra Củ chi bù khú với nhau. Rồi chúng tôi quên mất chuyện tôi là lính còn Thái và Tùng đang là học trò chưa hết tú tài. Hồi ấy chưa biết uống bia (lade) hay rượu. Thế mà lần nào tụ tập với nhau cũng phê. Tùng mới cỡ 15 tuổi mà đã bảo tôi, chừng nào anh về Bắc em chạy honda theo xe các anh ra Bắc chơi. Tôi cười, coi sự chú này nói là không tưởng. Rồi tôi về Bắc, ngày rời Đồng Dù Thái và Tùng không biết. Tôi có thư cho Tùng năm 76, 77 và cũng nhận được thư em. Rồi cuối năm 77 không thấy thư từ gì nữa. Tháng 3/78 tôi nhận được lá thư có tấm ảnh Tùng là bộ đội đi K rồi biệt đến bây giờ. Đã nhiều lần qua thị trấn Củ Chi toàn ngồi trên xe, toàn là du hí rồi vội vã quay về Sài gòn nhậu nhẹt. Củ Chi thật gần mà thật xa. Mình đã thành kẻ vô tình từ bao giờ vậy? Viết đến đây bỗng tự thấy mình xấu hổ.

Mỗi lần trở về Củ Chi là rạo rực nhớ tà áo trắng sân trường. Cái câu nói này với tôi, tôi chỉ thấy ở Củ Chi. Bởi lần đầu tiên vào tháng cuối 9/1975 tôi được dự khai giảng của trường Trung Học Củ Chi. Suốt buổi hôm ấy tôi nhìn các bạn học sinh kém tôi ba bốn tuổi mặc áo dài trắng phơi phới sân trường. Sau này cảnh ấy thật nhiều nhưng không còn xúc động với tôi như lúc còn ở Củ chi nữa. Lúc ấy tôi cứ nghĩ, trong rừng người trong sáng kia cái xấu làm sao len lỏi vào được (!). Hôm ấy tiếng trống trường khai giảng ở Củ Chi âm âm. Nó âm âm gọi hồn tôi tới bây giờ.

Trở lại Củ Chi mỗi lần là lại ngửi thấy mùi bánh tráng và nhìn khói bếp trong xóm lên hơi. Dẫu đi từ Bắc vô Nam cứ đến Củ Chi lại mua dưa leo để ăn. Lại muốn mang về Bắc lọ bột tôm vàng óng chấm sắn luộc vào đêm mùa đông. Trở lại Củ Chi là lại đứng trên cầu An Hạ nhìn cánh đồng lúa thăm thẳm để bừng lên lửa khói của trận đánh xe tăng trưa 29/4 và cái đồn Cảnh sát đầu cầu vắt oài ượt những xác lính trong trận mưa chiều hôm ấy. Sao mà Củ Chi nhiều hoa lục bình đến thế? đến bây giờ vẫn nhiều cứ tím cả cánh cào cào làm sôn sao cả nắng hè. Trở lại Củ Chi để đi giữa hoa. Sao mà Củ Chi nhiều hoa giấy thế? con đường xuyên Á gọi là đường Hoa Giấy đi thôi Củ Chi ơi. Tôi đi trong miên man hoa giấy mà nhớ bạn tôi gục xuống hôm nào. Ngày ấy hoa giấy cũng rực rỡ như hôm nay.

Trở về Củ Chi để thấy mình đã lớn, đã sống tốt với đời. Những người tôi gặp hôm nay chả ai biết đến tôi. Tôi ghé vào cổng Đồng Dù, phía sau cổng gác xanh ngát như ngày xưa, người lính gác nhìn tôi vô cảm như thấy một lão nông thất thường tính nết thấy lạ thì há mồm nhìn ngắm. Tôi chợt nhớ cái khẩu pháo 175 nằm ngay cổng tan hoang ngày 29/4 đã xa. Tôi tin các bạn tôi ngã xuống ở Đồng Dù vẫn nhớ tôi. Dụi mắt nhìn dòng chữ Doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thấy chập chờn các bạn lính e48 e9 và cả đứa bạn chăn trâu của tôi ở D16 đang cười.

Trở về Củ Chi để hi vọng gặp những đứa trẻ đã nghe tôi hát ngày xưa, hi vọng gặp các bạn Thái ,Tùng ở ấp đông Tân An Hội để lại ngồi hát như mùa hè năm 1975 rợp hoa và cờ đỏ. Trở về Củ hi là trở về với đơn vị của mình bởi tất cả đồng đội vẫn đủ biên chế đội hình trên nghĩa trang An Nhơn Tây. Trở về đây là về với tuổi trẻ đời mình.
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/photo1_zps03f1c523.jpg

Tấm ảnh chú bé Tùng ở Tân An Hội năm 78 đã là bộ đội đi K mà tôi chưa gặp.

LITANGU

dongdoi_f2
30-07-2013, 11:18 AM
... Trong Đồng Dù đâu cũng thấy vườn hoa cây cảnh thật là đẹp. Có một thứ hoa vàng gọi là hoa đai vàng mùa mưa lá xanh mướt. Những vòm hoa giấy rực đỏ đến sáng cả con đường vào từng doanh trại cũ. Mưa chỉ vào buổi chiều tựa hồ đó là trận tắm rửa cho một ngày bụi bặm.
...


Mới đây, hồi tháng 3.2013, tụi em có việc phải qua lại qua khu vực căn cứ Đồng dù vài lần. Bên ngoài Đồng dù, dọc tuyến đường nhựa mới, dân hay trồng loại cây thân mộc, cao vừa phải 5-10m, xanh tốt, lá nhỏ, có hoa thành từng chùm màu vàng rực, được họ gọi là hoa Osaka, không rõ sao lại có tên đó (ở các tuyến đường mới mở vào TP. Vũng tàu, cũng có hoa này).

Hồi 3.1979, tụi em có 10 ngày đóng quân tạm ở Đồng dù, trong dãy doanh trại ngay sau cổng lớn, dãy nhà này gần như tan hoang, nằm bên phải từ cổng đi vào. Từ cổng lớn đi quá sâu vào căn cứ thêm một chút là dãy nhà vòm của lữ hay trung đoàn pháo binh, khu vực này nhà cửa còn còn khá tốt. Lính mới được ở tạm là nhà cấp 4, mái tôn, nền xi măng, mùa khô nóng kinh hoàng, buổi trưa toàn phải chui gầm phản gỗ để ngủ, phản gỗ thì phải dội nước làm mát. Hồi đó là tân binh quân bổ sung của bộ QP đưa vào, một số cắt cho QĐ3, một số cho QĐ4. Trong 10 ngày nằm tại đây, để quản lính, sáng nào cũng phải đi đào ao nuôi cá phía đầu cuối căn cứ (góc tây bắc thì phải), đất ao toàn cát pha đất sét trắng, nước sông công lính, làm đến đâu thì làm.
Mỗi đầu nhà ở có giếng đào, thành ghép từ các tấm tôn lượn sóng uốn cong nửa tròn. Chỉ có đêm là gió mát lộng, mát mới ngủ được. Cũng ở Đồng dù Củ chi, lần đầu tiên, tụi em được uống nước của lính nấu bằng lá nếp (chính là lá dứa).
Từ chiều đến chập tối sau khi ăn xong, là lính tìm cách bát phố ra ngoài căn cứ, tụi em theo lối mòn của dân, họ vạch rào vào căn cứ kiếm/mót phế liệu như cọc hàng rào bằng sắt, tấm ghi sắt, tấm ghi inox..., bây giờ nghe bác Luân kể mới biết lối mòn chui rào là do các đàn anh mở đường từ 1975!, mấy bác lính cũ ở căn cứ chỉ dặn là đi theo lối mòn của dân thì không vướng mìn! Ra mấy quán dân ngoài đường đối diện căn cứ, cũng chỉ làm cốc chè đậu đen,... và nhanh chóng tìm trốn tụi vệ binh đi kiếm lính sau giờ sinh hoạt. Chú nào không may bị tóm, chắc chắn vệ binh sẽ nhốt vào 2 thùng connex để ngay ngoài cổng lớn ra/vào, cỡ 20 chú vào 1 thùng connex bé tí, lâu lâu tụi vệ binh lại tương cho 1 hòn đá hay cục gạch vào vỏ thùng connex, tụi bên trong lộng óc...
Sau gần 10 ngày, toàn bộ tân binh được chia về các đơn vị QĐ3, QĐ4. Đồng Dù là căn cứ cuối trên đất Việt, trước khi sang chiến trường K. Trong đoàn tân binh bổ sung cho chiến trường, có những tân binh hy sinh tại chiến trường K...

litangu
31-07-2013, 12:14 PM
Ngày ở Đồng Dù, những chú lính mới về đơn vị đầu 75 hay lính vừa mới bổ sung sau 30/4 rất ít khi được ra ngoài cổng. Mỗi tuần đều được phân phối rõ tiêu chuẩn một đại đội được 3 chiến sĩ suất sắc ra phố. Thời gian từ 7 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Tiểu đoàn bộ được 5 người hơn đại đội 2 người. Nếu ai về muộn sau 5 giờ thì sẽ vĩnh viễn không được xét cho lần sau. Nhưng trong đại đội phấn đấu được suất sắc thì khó lắm vì vậy có anh suốt từ ngày vào Đồng Dù cho tới lúc tôi được về miền Bắc chưa được ra khỏi cổng lần nào. Con đường chui rào có phải đơn vị nào cũng có đâu, nó chỉ rơi vào mấy Xê ở giáp hàng rào mà thôi. Trung đoàn tôi chỉ có thằng 25 vận tải và thằng 17 công binh là có lối đi ấy. Lối đi ấy như thể của riêng quí giá của chúng nó đơn vị khác không thể biết và không thể đi nhờ.

dongdoi_f2
31-07-2013, 01:23 PM
... Con đường chui rào có phải đơn vị nào cũng có đâu, nó chỉ rơi vào mấy Xê ở giáp hàng rào mà thôi. Trung đoàn tôi chỉ có thằng 25 vận tải và thằng 17 công binh là có lối đi ấy. Lối đi ấy như thể của riêng quí giá của chúng nó đơn vị khác không thể biết và không thể đi nhờ.

Hồi tháng 3.1979 tụi em vào Đồng Dù, gần cuối mùa khô, cỏ dại và cây leo hoang mọc từ hàng rào qua khoảng trống đến ruộng dân đều bị đốt cháy nham nhở, nền đất đen thui, đường riêng chui rào lại hằn lộ rõ vệt chân, do lính chui rào ra dân cải thiện, còn dân chui rào vào tìm kiếm mua phế liệu sắt trong căn cứ thải ra... Lính mới cứ bám theo đường này ra dân cho an toàn.

litangu
31-07-2013, 11:48 PM
Khuya rồi. Một nỗi nhớ, một tin nhắn vu vơ rồi tắt. Đọc nhật kí thời lính mông lung bao nhiêu là bộn bề đan xen vui và buồn. Trên ngược đang lũ. Con sông ở quê mình nước lên. Thế mà lại một sự nhớ người dưng tràn về.


Đêm thiếu phụ


Sao anh không về với em?
Đêm thiếu phụ em khỏa thân vào mộng
Thu úa sương đầu mùa giăng men kẻ si tình em xa lắc
Chỉ có đêm em thoát về anh

Em ở cuối nguồn anh ở ngọn sông
Em cứ uống như khát con nước nơi anh day dứt nhớ
Kẻ dâm đãng trinh nguyên người tình thiếu phụ
Cuối nguồn em nhựa ứa sóng vào đêm

Sao anh không một lần ghì chặt núi ngực em
Sao không thể một lần anh thô bạo
Thánh thiện thế để đời thành hư ảo
Hư ảo làm sao có nổi một cuộc tình

Thơ cũng chỉ là hư ảo đó mà anh
Chỉ có đêm, đêm trút xiêm y cho thánh thiện
Em khước từ lời yêu bằng thơ phiền muộn
Em là em thiếu phụ của đời trần

litangu

MB-OngGia
06-08-2013, 08:32 PM
chú litangu có chuyện gì mà lâu quá không thấy chú, hay là chú buồn chuyện gì thì cũng cố gắng để cho chúng cháu xem tiếp những tâm tình của người lính Tây Nguyên nghe chú.

litangu
07-08-2013, 09:19 AM
Đêm ở Sài gòn không ngủ

http://image.qdnd.vn/Upload/phucthang/2013/4/29/7785063920130429213820921.jpg


Kể từ 30/4/75 đây là đêm thứ hai mình mất ngủ ở Sài Gòn. Đêm 30/4 cả đêm không ngủ sung sướng mông lung vì được sống giữa Sài Gòn trong rạo rực của cả muôn người Việt nam. Đêm ấy trên sân thượng căn nhà của cố vấn Mỹ góc đường Pasteur - Phan Đình Phùng tôi thao thức với cây ghi ta và bình yên ngắm trời sao. Đêm nay sau ba mươi tám năm tình cờ cuộc hội họp của cựu SV đại học Cơ điện chúng tôi ngay gần đây. Lúc chiều tôi lững thững đi bộ trên đường, đứng phía bên ĐH Kiến trúc nhìn sang, ngôi nhà tôi ở đêm 30/4 thấp tẹt xuống lở lói nham nhếch. Nó đã trở thành khu tập thể của Bộ T.Mại từ lâu và bây giờ già nua khốn khổ. Nhưng kỉ niệm thì vẫn còn đó, hàng cây long não cổ thụ dọc nhà thi đấu Phan Đình Phùng còn đó, cây xăng góc đường Pasteur còn đó, tôi thì thành ông già lẫm chẫm qua đường ngây ngô ngước nhìn lên những vòm cây cũ, mái nhà xưa… Ngoài đường người xe hối hả nghìn nghịt chả ai để ý một lão già như lần đầu tiên ra thành phố nhìn cái chi cũng lạ.


Tôi khó ngủ, huyết áp tệ lắm nếu cứ thao thức thế này thì nó lại nhoi lên ù ù. Sợ lắm, giữa chốn xa Hà nội cả ngàn cây số máu dồn lên não thì khốn. Đêm khuya mấy thằng bạn chết vào sáng 30/4 trên đường Võ Văn Tần lại hiện về chúng nó cười bảo bọn tao bây giờ đi vẫn bị lạc mày ạ. He he, lạc là phải chúng mày đã đứa nào biết đường Sài Gòn ngang dọc ra sao. Vừa ra khỏi lũy tre làng đã làm ma Sài Gòn rồi. He he, chúng nó cười nhiếc tôi. Mày là thằng cố đỉn, bọn tao vẫn còn bản đồ mày quên là đêm 29/4 khi ở Hóc Môn được giao bản đồ tận Dinh Độc lập à? Ừ nhỉ nhưng tên đường thay đổi hết rồi mấy thằng lính mục ạ. Mấy thằng bạn ờ nhỉ ờ nhỉ… mẹ kiếp tao vẫn hay ra cái nhà 8 tầng của bọn cố vấn Mỹ mà chúng mình chiếm lúc trưa 30/4 ấy. Mẹ kiếp nó cứ hỏi giấy tờ, hỏi đăng kí phòng chưa? Đi bao nhiêu người? Mẹ kiếp nó bảo chả có c18 hay E bộ nào ở đây. Đây là khách sạn Vích To ri a. Mà này! bọn gác cổng ăn mặc kiểu đ... gì trông như thằng bồi bàn trong phim Liên Xô mày ạ. Hơ hơ, tôi cười. Bọn mày cố đỉn hơn bọ rồi. Bây giờ đấy là Khách sạn 3 sao đấy. Mấy thằng bạn tôi ngơ ngơ. Thượng úy hả? bọn tao đ… biết nếu biết bọn ấy là thượng úy thì bọn tao chào hỏi đàng hoàng. Anh hùng cả đấy chứ, ngày xưa đơn vị mình mấy khi nhìn thấy ông thượng úy can bộ trung đoàn. D trưởng bọn mình mới trung úy… bọn mình già rồi vẫn binh nhất. He he, chúng nó lại cười mẹ kiếp đúng là đời thàng mục ăn cơm cục uống nước đục… mấy đứa cúi xuống lau nước mắt rồi tiếp… nhưng mà còn sướng hơn khối thằng E mình nằm trên Tây nguyên. Nhớ chúng nó lắm đ. Làm sao chỉ đường cho chúng nó về Sài gòn chơi với tụi tao. Mày ơi chúng tao cũng nghèo lắm năm một lần có tiền vào 27/7 là rủ nhau lặn lội lên Đồng Dù Củ Chi họp mặt với mấy trăm anh em cùng sư đoàn. Lên đấy liên hoan cả thuốc lá ngoại thuốc lá Miên, gặp bọn lính xe tăng 273 thàng đ… nào cũng đen như châu Phi, cháy thui cả lại. Bây giờ lại có cả rượu nữa mày ạ. Khá phết đ... như hồi ở Tây nguyên rượu cần nhạt hoét rượu ở đây cấp trên gửi cho cháy cổ mỗi thằng làm vài tợp phê lòi tĩ. Ờ mà mày biết không có đến ngót chục thằng lần nào gặp trên ấy cũng thấy nó mang cờ đỏ sao vàng. Mấy thằng cầm cờ ấy toi rồi mà vẫn ôm cờ đến bây giờ, mẹ kiếp quần áo chúng nó tươm lươm tươm và cờ của chúng nó cũng lươm tươm lươm như thế. Mày biết không? đấy là mấy thằng ôm cờ trên cửa mở Đồng Dù đấy. Thương mấy đứa ấy quá. Tôi thấy chúng nó khóc rồi vụt biến mất. Ôi chúng mày ơi đâu rồi ! bạn tôi trong trẻo đến thế. Chiến tranh lùi xa lắm rồi mà chúng nó vẫn không thoát ra được cái vỏ quân trang quân giải phóng. Còn tôi, tôi thành người lính nửa vời rồi, đứng giữa đường mượn danh người lính để xuy tư để tuyên ngôn để cùng hò hét hát mãi khúc quân hành.

Ngoài đường xe vẫn ỉ eo. Tiếng động cơ xe máy ngày nay nó êm thế, chả giống như ngày xưa gần bốn mươi năm trước tôi nghe như cắn cứa nỗi lòng nhớ quê miền Bắc. Tôi ra ngoài hành lang nhà khách người có công hút thuốc. Chú bảo vệ hỏi bác không ngủ à? Các bác lặn lội vất vả quá hà? Tốn mấy tháng lương bác hỉ. Tôi lại ra đường, phố vắng tanh tôi đi dọc đường Nguyễn Đình Chiểu tới ngã tư Pat tơ lại mấy thằng lính e64 đứng đấy chúng nó bảo trinh sát đi đ… đâu đấy? bọn tao rủ nhau lên Lăng Cha Cả chơi với mấy thằng e273 đây rồi kéo vào cổng Phi Long Phi Hổ với bọn sư 10. Giời ơi bọn mày nói toàn cái tên từ thời củ mó lai hi tao nhớ sao nổi. Chúng nó hì hì, đ… mẹ trinh sát mà đ… nhớ tên những trọng điểm thì làm trinh sát làm gì. Hóa ra những thằng bạn này của tôi toàn về đêm mới đi chơi , có cái gì thật thân thuộc thân thuộc đến lạnh cả sống lưng . Ồi chúng nó đâu rồi ? Nhoáng cái , chỉ còn tôi đứng chơ vơ giữa đường, chú công an đứng gác cổng Lãnh sự quán Nhật bản nhìn tôi gườm gườm.

Tôi quay về, căn phòng khách giá 400 ngàn một tối quạt vẫn quay vù vù. Tôi giở láp tốp vào KQH thấy vẫn những nhời góp ý cay nghiệt, buồn lại ra. Gõ sang Vnexpress thấy chìm tàu ngoài cửa Cần Giờ. Buồn thế, những cái chết lãng nhách, những sự bon chen lãng nhách của đời. Buồn, lại mở cửa ra ngoài hút thuốc.

Đêm Sài gòn mượt mà tinh khôi. Y hệt sự tinh khôi đêm 30/4 ba tám năm trước. Tôi đã qua ba mươi tám năm bon chen bươn chải. Tôi đã có chút gia sản là con cái trưởng thành và người vợ biết lo lắng cho gia đình và yêu quí đời lính của chồng. Tôi cũng đã ngấm sự cay nghiệt của thương trường để tự nhận ra trên đời chả có gì hơn cái tình, nhất là tình lính chiến. Bạn tôi nằm lại đây làm ma Sài gòn vẫn ngu ngơ và hồn vẫn trong veo đến là thương. Rít một hơi thuốc thật đã tôi nói vào đêm, mai tôi lại lên Củ Chi với các bạn.

Đêm 3/8/13 Sài gòn.

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/IMG_1180_zps4401af15.jpg

Những người lính SV Cơ điện về nghĩa trang An Nhơn Tây Củ chi

antiem72
07-08-2013, 02:31 PM
Những người CCB SV Đại học Cơ điện lang rong ruổi ở SG nhưng không nhìn thấy bác Luân "không đen" đâu nhỉ ?

litangu
08-08-2013, 09:09 AM
. https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRXtgy-nPN82HeqlqLOsBHJKAnKB-Q3WT9q1rJStSHiXa9ZmrUcDA ( Bài thơ mới viết của litangu)



Đừng có buồn với hòn Vọng Phu

Đừng gọi những hình mẹ bồng con
Là hòn vọng phu nữa
Mẹ bồng con đi công viên đấy chứ
Tổ quốc mình mấy ngàn năm qua nỗi gian lao

Đừng có buồn sương với gió tự trùng xa
Đời vẫn thế có bao giờ hết kẻ thù nhòm ngó
Đá là đá chỉ mẹ với con là tất cả
Dải đất mình đá tạc tự hồng hoang

Sóng gió đập đến cong bờ cõi
Mà cha ông ta đâu có chịu cúi đầu
Thuyền ra khơi vẫn mang hình chim lạc
Dẫu biết rằng mộ gió để đời sau

Xin hãy đừng gọi mãi Vọng phu
Mẹ bồng con đi công viên đấy chứ
Trong xanh ngát tiếng chim và hoa rất trẻ
Có hồn thiêng hóa đá vọng rất già

Suốt chiều dài đất nước đã đi qua
Người lính chúng tôi đã bao lần gặp đá
Đá mẹ bồng con trong đạn bom sối sả
Chả bao giờ tôi gọi đó Vọng phu

Chúng tôi sẽ về , sẽ về để nuôi dậy con thơ
Để mẹ nó mỗi sáng mai đưa con đi trẻ
Chúng tôi không buồn và lao vào đời vần vũ
Cho nỗi niềm hạnh phúc đời sau

Đừng ủ buồn khi nhìn dải đất lắm thương đau
Thấy mẹ bồng con lại gọi là hòn Vọng phu người hỡi !

Tháng 7 Vu lan - litangu

litangu
09-08-2013, 10:31 AM
Mưa Ngâu


Đời bao nhiêu tuổi là bấy nhiêu cái mưa ngâu . Đời mình đã hơn sáu chục cái . Cái nào cũng não nề và buồn . Ấy vậy mà có vài cái vừa vui vừa buồn . Vài cái ấy chính là thời đánh nhau trong Tây nguyên .

Tháng bẩy là mùa mưa ở Tây nguyên , vì thế ngâu chẳng có gì lạ . Mưa ngâu là rỉ rả ngoài bắc chứ ở đây mưa dầm dề sùng sục suốt đêm ngày và nước ngầu lũ sủi bọt khắp mọi con suối rừng . Ngâu là cái quái gì ở đây , cầu ô thước cũng chẳng thể dựng nổi với cái mưa này .Vì thế với người lính không có khái niệm mưa Ngâu , chỉ biết mưa thì ít tác chiến và đấy là thời gian chúi mũi trong hầm , vật vã ở kiềng với sốt rét . Nhưng vật vã đến mấy cũng không sợ không thê lương bằng mùa tác chiến .


CHúng tôi học chính trị ở kiềng . Có cái hầm lớn nhất là nhà bếp , đại đội kéo nhau ngồi quanh bếp Hoàng Cầm . Ngọn khói từ nồi cơm ủ cái bao tải ướt bay là là không lên đến ngọn cây .Cán bộ đại đội và lính tráng mắt nhìn chằm chằm vào mấy nồi mít non sào mỡ thơm rừng rực . Càng mư càng đói . Càng đói càng sốt rét . Đói và sốt cứ song hành với nhau hành hạ lính Tây nguyên . THáng 8 /73 ấy học nghị quyết 21 TƯ. Chắc chả mấy bạn tôi nhớ nghị quyết ấy là gì . Tôi thì nhớ . Lí do tôi nhớ vì hồi ấy tôi thèm ăn quá , vừa sốt dậy cái gì cũng muốn ăn cho chặt dạ , nhìn cái gì trên nương rẫy cũng nghĩ cái này ăn được không ? Thế là cái NQ lịch sử này gắn liền với sự đói của tôi . Đêm tháng 8 , mưa lê thê chui ra khỏi hầm bò bết bát qua mũi súng thàng gác ra nương đồng bào bẻ mấy quả ngô non ăn cả râu ngô cả lõi bắp ngọt thon thót tận đỉnh đầu rồi bò về hầm . Thằng Đấu Thái bình nằm cạnh tôi tưởng nó ngủ thế mà nó trở lưng hỏi : Mày ăn ngô đồng bào hả ? Sao mày biết ? Nó bảo Tao cũng định đi nhưng mày bò đi rồi tao nằm im sợ B trưởng xuống gọi không có thằng nào trong hầm . Ngoài rừng mưa rậm rựt , có tiếng đại bác Thanh An đùng đùng rồi tan vào mưa . Nghĩ ân hận , tưởng nó không biết . Giá mà mang về cho nó một bắp ngô non nhỉ . Ôm nhau ngửi mùi chua mồ hôi của nhau lìm lịm vào đêm …


Có một loài hoa ở cao nguyên rất nhiều trên những sườn đồi hồi ấy lá to như cánh bướm vê tròn . Tôi vẫn nhìn thấy loài hoa ấy trên đường Hà nội , họ trồng lác đác . Mưa , lá và hoa dính cụp vào nhau gục xuống bất lực . Cỏ dưới mưa cũng gục đầu ràm rạp . Cả đồi cỏ nằm nghiêng về một phía . Cao nguyên chỉ có một luồng gió thổi mùa mưa nên cây cỏ cứ rạt nghiêng tuyến tính . Chiều nghiêng ấy từ đông sang tây . Mấy thằng dựa vách hầm rỉ nước bảo nhau Mưa rào ngoài mình bay từ tây sang đông cơ mà ? Sao thế ? thằng nào trả lời được cho cái bánh sắn chiều nay . Chả thằng nào trả lời . Sợ cái bánh sắn làm đói bạn mình thì ít mà sợ mình lộ rõ cái kiến thức nông cạn thì nhiều . Con người là thứ động vật kiêu hãnh nhất , ngay cả ở trong gianh giới mong manh nhất của sự chết vẫn sĩ diện đến đau đớn .

Bỗng một thằng hỏi sao lại có cầu ô thước ? mà cầu toàn là quạ ? Tôi quay sang nó thấy nể quá . Có đến nửa trung đội tôi không hiểu cái chuyện cầu Ô Thước . Tôi cũng chỉ lặng im trong tôi buột nhớ bộ tranh treo ở nhà mình chuyện Ngưu lang Chức nữ . Đã buồn nói thêm về cuầ ô thước thêm buồn . Ngày bé tôi hỏi mẹ khi nhìn vào bức tranh treo trên tường nhà cũng câu hỏi ấy . Mẹ bảo , bé đừng có hỏi rườm rà nó vận vào thân . Tôi chợt im . Đàn quạ kề cánh vào nhau nối thành cái cầu cong cứ chập chờn trong giấc ngủ . Tôi lại nói nhớ như mẹ nói khi xưa , thôi nói đếch gì chuyện ấy . Mấy thằng trong hầm thở dài . thằng Đấu bảo , mày kể chuyện gì vui hơn đi . Mẹ kiếp mưa nát cả đời lính .
Mưa nát cây nát cỏ nát cả con đường bám địch , nát cả đời lính thì nghe mông mênh quá . Quay sang thằng Đấu Thái Bình nó có học hành cao siêu gì đâu mà nói trừu tượng thế nhỉ ? Thằng Đấu đã từng kể với tôi nó toàn đi câu trộm cá ao nhà khác thậm chí hôm nhập ngũ nó vẫn câu trộm được hơn cân cá rô phi về liên hoan lên đường . Nó bảo ở Thái Bình mưa tháng 7 nhiều cá rô rạch lắm . Trong hầm nó sụt sùi , ruộng 5 % nhà tao trồng rau muống lại chìm hết rồi , rau ngoi trắng ơn ởn nhạt toét bám đầy bèo hoa dâu … nó khóc .


… Trở về miền Bắc mưa tháng 7 âm lịch lại mang tên mưa ngâu . Tháng 7 sá tội vong nhân – người đời bảo thế . Tháng 7 tháng trâu trắng sụt sùi những là nước mắt những là buồn những là sui sẻo . Bao nhiêu năm cặm cụi kinh doanh cứ tháng 7 là bộ phận kế toán buồn thiu mỗi khi đưa báo cáo tài chính cho tôi kí rồi thở dài : Tháng 7 mưa ngâu mà anh . Chả ai động thổ , chả ai triển khai dự án vào tháng 7 . Ngành chơi , dưới đơn vị chơi vì không có khách hàng . Tháng 7 cơ quan tá lả cà phê và ngồi bình luận mẫu mốt cho mùa thu công sở . Hà nội lụt chỗ này úng chỗ kia , tháng bẩy bộc lộ những thấm dột trần nhà tắc cống tắc bể phốt …Cứ như không có tháng 7 mưa ngâu thì người Hà nội thấy cái gì cũng đẹp .


Tôi nghe nỉ non đâu đó nhạc trẻ hát Mưa Ngâu . Mưa Ngâu là cái cớ để họ tỏ tình thương nhớ cho nhau vượt qua buồn lo mà đến với nhau . Tôi ngồi nhìn ra đường thấy đời vẫn bộn bề hối hả đấy chứ . NHớ những thằng lính thủa B3 nay phiêu bạt phương trời nào ? nhớ thằng Đấu về Thái Bình có còn khỏe mà câu cá kiếm con rô phi ngồi nhâm nhi lúc chiều đau lưng hay không ? NHớ những ngôi mộ lính mùa mưa ướt bê bết lá khooc có con thằn lằn nằm trên mộ bạn tôi rình bắt mối rừng . Lạ quá , chiến tranh qua lâu rồi nhiều cánh đồng xanh đàn cò trắng lại bay về , lại những đàn cò lội theo người bừa trên đồng thanh bình như nửa thế kỉ trước . Chỉ có đàn quạ đen , hay những con diều hâu vẫn chưa trở lại . Giống chim mà hồi bé tôi phải canh chừng kẻo nó bắt gà con . Nó đi biệt tăm từ dạo Bom Mỹ tan hoang quê tôi . Không có đàn quạ cầu ô thước bao giờ mới bắc ? Mưa ngâu cứ vẫn là mưa nỗi buồn


Litangu

litangu
11-08-2013, 12:38 AM
Anh hùng




Sáng sớm chưa dậy nổi vì cơn đau đêm qua khiến thao thức khuya lắm mới chợp mắt lại thấy chuông điện thoại réo ầm ầm . Mở máy thấy chú “Thiện Phú Lương “ . Hỏi : Gọi anh có việc gì sớm thế ? đầu kia nói lẫn cả tiếng còi xe ô tô ; Em Thiện đây ! Biết rồi anh nhận ra rồi . Nó nói vội : anh ơi anh đi đưa em lên nhà cụ Tiến với , em lấy Kỉ niệm chương cho CCB 320 trên tỉnh em . Tôi bực , sao đi sớm thế ? Nó bảo Cụ Tiến 8 giờ phải đi họp phải đến trước 7 rưỡi . Thế là dù ốm cũng phải dậy nhìn đồng hồ 6 giờ . Ra đường Khuất Duy Tiến mới 6 rưỡi ngồi lùa bát mì ngóng ra đường đợi nó .

Chợt nhớ lại ngày xưa lúc còn huấn luyện trên Thái nguyên cùng D76 . Nó là lính của huyện Phú Lương toàn dân tộc và học trò cấp 2 nhập ngũ . Vào đơn vị tôi rặt những sinh viên cứng tuổi , chúng nó rất quí nể mấy anh nhất là chuyện tán gái thì bái hai tay . Ở C4 ngày ấy là SV trường y và mấy trường cao đẳng kĩ thuật . Vào Tây Nguyên về e64 cùng tôi . Rong ruổi mấy năm đánh đấm đến ngày hòa bình E64 có hai anh hùng thì đều rơi vào C4 huấn luyện của D76 chúng tôi . Thật là tự hào , một đại đội tân binh đi chiến đấu có 2 thằng anh hùng . Hiếm có hiếm có ! ai cũng bảo thế . Trong hai thằng anh hùng đó có một thằng mà tôi đang ngồi chờ đây . Lại nhớ năm 2007 chúng tôi tổ chức gặp nhau nhân 35 năm ngày nhập ngũ . Nó nhận đăng cai tổ chức ở huyện Phú Lương . Lên đến nơi thấy huyện đội tỉnh đội chu đáo đón tiếp quá bèn hỏi , Có đặt tiền trước không mà họ nhiệt tình thế ? Thiện cười bí hiểm : ở đây họ quí chú Thiện mà bác . Ra thế , cái thằng anh hùng ở địa phương nói cũng nặng cân hơn không anh hùng . Tôi bảo Thiện ơi đời mày khổ , từ giờ đến lúc chết giữ được cái anh hùng mới khó, khổ nhất là suốt đời cứ phải anh hùng . Nó cười buồn , cũng khổ thật đấy anh ạ
Chuyện Trần Xuân Thiện và Nguyễn Vi Hợi ở D76 chúng tôi anh hùng thì thiên hạ còn lạ gì . Không biết thì gõ cái tên ấy lên cụ Gúc là rõ ngay . HỢi thì bây giờ làm ông lang bốc thuốc trên quê Phú Thọ nhà tôi . Sống thanh tao ẩn dật pha chút nuối tiếc . Còn thằng Thiện vẫn khỏe như beo con . Làm cũng khỏe , đi cũng khỏe , uống cũng khỏe . Được cái nó ham công tác đoàn thể nên vẫn trẻ và mỗi lần gặp bọn tôi lại hát rất say sưa bài hát Đại đoàn Đồng Bằng trên đường chiến thắng . Có lúc hứng chí còn hát cả Đôi bờ nhạc Nga . Giỏi thật .
Xong việc ở nhà cụ Khuất Duy Tiến hai anh em kéo nhau ra đường Trần Phú cho nó ăn sáng . Nó nài tôi uống chén rượu . Ừ thì uống . Trước mặt tôi là một anh hùng bắn cháy bốn xe tăng trong ngày 18/3/75 giải nguy cho sở chỉ huy trung đoàn . Một mình nó trói gần hai chục thằng tù binh làm một dây dẫn giải vào khe núi . Bọn tù binh rất ngạc nhiên mỗi lần ông giải phóng quát một tiếng là thấy chớp lóe vàng trong miệng . Đến bây giờ nó vẫn còn cái răng vàng ấy . Công nhận vàng thật thì nó sáng mãi mãi .
Ngồi nhìn nó ăn bát phở mà thấy ngon . NÓ ngước lên nhìn tôi mà rằng , bây giờ nhìn các anh thấy thân thiết thế . Ngày xưa cứ ngài ngại . Ô hay , chúng tao ngại mày thì có . Nó buồn buồn , chả có chữ , từ Căm Pu Chia về huyện đội lên đến Đại úy là phục viên củng cố hậu phương . Giời thương có nhà cửa vợ con đề huề lại có sức khỏe . Thế là phúc bằng cái đình anh ạ . Chẳng dám lấn đất nương rẫy , chả dám đi buôn đánh quả săn bắn động vật quí hiếm . Hai vợ chồng đến bây giờ vẫn vắt mũi bỏ miệng . Con cái nó ngoan là tốt lắm rồi . Một bước đi cũng giữ , khổ lắm . Mình cười phá lên , mày khổ không khác gì mấy con bé Hoa Hậu . Nó méo mó , được như hoa hậu thì đã tốt . Chợt nhớ cái chuyện đang hot trên mạng mấy ngày nay về người Thanh niên Trần Hữu Hiệp cởi áo phao nhường cho một người phụ nữ có thai trên biển ngoài Cần Giờ . Tôi hỏi , Cái cháu Hiệp nó cởi áo nhường cho người khác vào lúc sắp chết đuối giữa mênh mông sóng gió ấy có anh hùng không ? Có đấu tranh tư tưởng không ? có giống cái sự đấu tranh lúc mày xông ra bắn xe tăng không ? Thiện lặng ngắt . Ngoài đường xe máy toe toe , một con bé váy ngắn quá kéo ghế ngồi bên cạnh Thiện gióng lanh lảnh : bát tái gầu nhé . Nước hoa cô này sịn thế . Cánh mũi Thiện phập phồng . Già rồi mũi nó vẫn tốt thật . Rồi nó ngẩng lên nhìn thẳng vào tôi . Nói rất chậm và khẽ . Đấy mới là anh hùng

LTN 11/8/13

litangu
12-08-2013, 10:07 PM
Khi ta trở về làng cũ

( Rút trong tập Thơ viết cho mùa thu – NTL2011)

Khi ta trở về , cánh đồng cũ hẹp lại những bờ vùng bờ thửa lươn lẹo quanh co chẳng còn cá rô chẳng còn con săn sắt nắng hè gay gắt cũng chẳng hại đến cua đồng vì đồng chẳng còn cua nữa

Khi ta trở về , mẹ cha đã đi xa để lại mảnh vườn xưa cây trái cũng hết xanh tươi những đêm trăng trôi qua cửa biền biệt ngóng đứa con bươn bải chốn thị thành .

Khi ta trở về , con mương xưa lở lói những mùa lũ trôi bèo bọt lãng đãng vó chũm cũ mèm những khuôn mặt người làng vừa lạ vừa quen nhìn ta như kẻ tha hương khốn khổ

Ta trở về ngang qua cánh đồng một thời cua cá đơm đo chuyến tàu xuôi chở những ước mơ một thời quần nâu áo đụp nép vào lưng cha trong những đêm mưa sấm chớp chập chờn

Khi ta trở về , con đường đất đỏ nghiêng sườn đồi vùn vụt những xe máy hối hả giật mình ngơ ngác khói cay sè nhòa dốc sỏi mẹ còng lưng rơm rạ trưa hè mồ hôi dát muối trắng trên lưng

Ngày ta trở về , đồng nước nổi đã thành ruộng bãi góc nào ta từng đánh dậm kéo tôm lúp súp người cúi mình nhổ rau mùa cạn chợ làng xanh đỏ thịt lợn vùng xuôi cô hàng sén ngày xưa đi tự bao giờ

Ngày ta trở về , em cũng đã tha phương xóm nhà em ngàn ngạt mái xanh mái đỏ những phiên chợ thiếu nữ áo hai dây quần ngố những gái làng hao giống em cười bả lả suốt đường đê

Ngày ta về chiều lại ra đứng đầu đình , đình đã phá rồi vạt đất cỏ gà vẫn ngái mùi xưa cũ gió nam thổi về ngọn gió ngàn năm rười rượi như ngày ta và em nhặt từng cánh lá bàng mùa hè đỏ au trên má

Ta trở lại quê ta tóc hoa râm cuối hạ em ở đâu xa có một lần về lại làng mình lời hứa thoáng mấy chục năm theo gió bay về chốn cũ nơi mình chơi ô ăn quan đêm đầy giọt sao rơi trên đồng vắng

Ta trở về một mình nắng gió đồng xanh trẻ lại em biền biệt xa và cha mẹ cũng biền biệt xa chốn yên bình cuối cùng cũng dần xa những đứa con mang tuổi thơ gieo về vùng quê khốn khó nơi tuổi thơ bắt đầu

litangu
13-08-2013, 11:28 AM
Tâm sự mở


Đừng mãi nhớ tới quá khứ
Huy hoàng ư ? đâu sống mãi tới giờ !
Yêu cũng thể rồi đi như kiếp người hỉ nộ ái ố
Ta còn ai thời chân giá cứ mập mờ

Rượu uống như uống tâm sự mở
Thẩm định đời giống như thẩm văn chương
Người tôi quí dẫu không đọc được thơ người ấy
Rung động của người thân yêu đâu có giống tôi

Bạn thân mấy chục năm
Vừa quen vừa lạ
Nhớ nhau chẳng nhớ bây giờ
Nhớ yêu chỉ toàn ngày cũ
Thời giá lương tiền mà rất thơ

Thẩm định văn chương là thẩm định đời
Thế mà đời chả ai nói là tôi sống vì văn chương cả
Người sống vì ai ?
Tiền của không bao giờ mua được văn
Tiền của đi bên ngoài cánh cửa tâm hồn người viết
Ngoài tâm hồn của mình, trăm phần trăm của mình không vay mượn ?

Thế mới biết làm mình thật khó
Khi đọc lại mình sau mỗi trang văn

NTL

litangu
15-08-2013, 09:53 PM
Lính bẩn



Mãi về sau và đến tận bây giờ chúng tôi vẫn thân nhau chỉ vì cái chuyện “ Lính gì mà bẩn thế !“


Đầu mùa mưa 1973 . Tôi nằm trên chốt Chưgrônggiàng phía tây Pờ lây cu. Đã là trận địa chốt thì các bạn biết rồi , một trung đội 9 thằng rúc trong ba hầm chiến đấu . Cứ hai ngày một lần anh nuôi đưa lên 6 nắm cơm to bằng quả cam . Liệu mà ăn mà oánh nhau . Mất chốt thì đời ra tóp , vậy thôi .
Mùa mưa Tây nguyên thối trời thối đất . Nước rỏ rừ rễ cây vách hầm cũng đã đủ ốm rồi chứ chưa nói đến nước mưa tràn qua cửa hầm lùa vào . Cứ mũ sắt múc từng mũ nhẫn nại đổ ra ngoài . Ngồi không yên , nằm không yên , đứng không đứng được . Thò mặt ra quan sát trong mưa , trời như thấp ụp xuống đến nơi . Cỏ cây như nằm rạp xuống sùng sũng . Ngày này qua ngày khác , hết pháo kích lại bom , lại thám báo mò lên lẳng vài quả lựu đạn rồi chạy . Bắn nhau vài loạt , truy kích độ trăm mét rồi thụt vào chốt ngay . Cứ thế , lính chốt luôn trong tình trạng sống dở , chết dở . Buồn quá thì viết thư . Thư viết rồi lại đọc cho nhau nghe chứ ở mặt trận Tây nguyên việc chuyển thư từ là kém nhất .
Gửi đi đâu được . Đọc mãi rồi hoá thuộc . Thuộc tên họ người yêu , tên bố mẹ của nhau , thuộc cả những câu chuyện của đồng đội về quê hương khốn khó của họ . Đến nỗi tôi cứ hình dung ra quang cảnh miền quê của đồng đội mình . Tôi nhớ người yêu của anh Trăng có nốt ruồi ở giữa nhân trung ( Khiếp! ), nào người yêu thằng Đấu lùn cao có mét 45 mà cấy sào ruộng một ngày ( thằng này lùn nên người yêu cũng lùn )...Thằng Nhớn thì không có người yêu nên tất cả các cô người yêu của thằng khác nó cho là xấu hết . Tôi sốt có lẽ hai , ba lần gì đó trên chốt . Sốt cách nhật không li bì nên không cho về tuyến sau . Sốt thì mồ hôi vã ra , rên ư ử , hết sốt lại bò ra ngoài kiếm rau , móc củ sắn thừa trên nương , bẻ được cái hoa chuối là mừng rú . Hàng tháng chả ai được tắm , được rửa mặt . bùn đất , mồ hôi bụi khói lúc đánh nhau quện lại thành một thứ ghét mầu chì loang lổ trên người . Nhất là ở mạn mang tai , thắt lưng và mông đít . Cái hầm chứa vài thằng đủ thứ mùi chua , hoi , khắm ,thối . Gọi chung là nặng mùi , rất nặng mùi . Ấy thế mà xa nó là thấy nhớ , y như nhớ cái mụn nhọt trên người khi đã chữa khỏi . Vài ba lần bắn nhau giữ chốt , mấy thằng mang tiếng học trò cũng đã ghi dấu ấn với đơn vị , dũng cảm có hiệu xuất cao . Nhưng sốt rét thì không chừa ai , nhất là mấy chú học trò thần sốt rét thăm hỏi chu đáo . Từ sốt cách nhật tôi tiến đến li bì , tôi trở thành đống thịt vô bổ của trung đội . Nghe pháo bắn thây kệ . Nghe anh em nã vào tụi thám báo lên chốt cũng động cựa thò cổ ra bóp vài điểm sạ rồi lại rúc đầu góc hầm lặng im . Rồi , tôi xuống núi , tôi bò gần nửa ngày lúc tỉnh lúc phê mơí về đến kiềng đại đội . Rồi tôi được đại đội cho đi viện trung đoàn . Đi viện như tôi không có ai khiêng cáng . Tự đi , cầm cái giấy bé như vỏ bao thuốc lá của đơn vị mà đi . không đi được thì bò . Đi về tuyến sau ,dễ quá , ai mà chả muốn có cái giấy ấy mà về tuyến sau , chí ít sống
thêm ngày nào hay ngày ấy . Hai ngày vật vã tôi cũng bò đến được viện trung đoàn tít ngoài rừng soài Đưc Cơ . Mùa mưa đến đấy gặp khối bạn , đa số là lính mới vào chừng một năm .

Viện bao giờ cũng gần suối , mỗi lán nằm đựoc 6 đến tám người , nửa nổi nửa chìm có hầm bốn góc . Thôi thì thương binh , sốt rét nằm chung hết . Kiến bò ra bu lên vết thương thì giúp nhau
giết kiến . Giết kiến trên vết thương cũng là một việc giết thời gian . Rồi hát . Hát đồng ca cả lán . Trong thâm u mùa mưa , dàn đồng ca của thương binh và sốt rét não nề như chuyện “Tây tiến “ .
Tôi vào lán ấy đã thấy Mão lùn đoàn cùng huấn luyện ngoài bắc cùng đi B đoàn 3002 rên xình xịch một góc . Tôi nằm gần nó cho vui , nó vừa rên vừa cười , mày đấy a? khoẻ không ? Khoẻ đéo gì , đi viện còn hỏi khoẻ không . Ừ nhỉ , nó méo mồm cười rồi lại nhắm mắt ư ử rên .

Lán tôi nằm rất gần suối . Cái suối đá khúc khuỷu tạo ra hai cái thác nước con con . Suốt ngày đêm rì rầm cái tiếng ong óc xoè xoè . Nhưng sau một trận mưa nó gầm gừ nó xoe xoé khác hẳn ngày thường . Lính rốt rét ngồi trên bờ đá ném từng cọng lá nhìn dòng nước cuốn vun vút chìm nghỉm mà khiếp , mà cứ nghĩ thân phận con người trong chiến tranh cũng nhỏ nhoi đáng thương như thế . Đến giờ tiêm Quinin . Y tá sách cái soong con và túi thuốc chui vào từng lán nửa chìm nửa nổi . Gọi từng
người . Ngay hôm đầu tiên đến giờ tiêm , Chàng y tá chừng tuổi mình chui vào lán tôi hỏi : ông nào là Nguyễn trọng Luân D8 ? tiêm ! Tôi ngóc cổ lên , vâng tôi đây.
- Tụt quần xuống .
Tôi làm theo ngoái cổ lại nhìn y tá kẹp cái mũi kim kẽ ngón tay . Bỗng tay y tá giật giọng :
-kinh quá , lính tráng gì mà bẩn thế . Cả mấy thằng thương binh lẫn bệnh nhân nhỏm dậy cùng nhìn vào đít tôi . Những tiếng cười và những cái mồm méo sẹo . Chàng y tá nheo mắt chun mũi nhìn vào hai quả mông nhăn nhúm xẹp lép đen như da trâu , long bong từng tảng gét mầu xám chì , quà tặng của một tháng nằm chốt . Tôi kéo quần lên đánh sụt .
Cơn sốt vẫn đang hầm hập nhìn chừng chừng y tá :
- Ông biết tôi bẩn vì sao chứ ? đi thẳng từ chốt Chư grong ràng về đây đấy , sợ bẩn thì thôi , đéo tiêm nữa.
Cả lán 6 thằng gườm gườm nhìn tay y tá :
- Mày chê chúng tao bẩn thì mày cút đi . Khỏi phải nói khuôn mặt chàng y tá trẻ ấy như thế nào . Lặng lẽ , hắn không cãi nhau nữa mà đi ra khỏi lán chúng tôi . Chẳng ai nói với ai lời nào . Rừng vẫn mưa , tiếng suối vẫn chẩy ong óc , thỉnh thoảng đại bác địch hú qua đầu .
Mươi phút sau , một y tá già hơn xuống tiêm . Không nói gì , không bình luận như không hề có câu chuyên lúc trước . Tối hôm đó , Tôi tỉnh táo hơn , trời cũng ngớt mưa , tôi ngồi ngoài bờ suối , buồn tê tái .
Có người đến gần ngồi bên tôi . Ra là y tá lúc sáng . Lặng im lâu .
- Ông là Luân đại học Cơ điện à?
Tôi : ừ , đại học cơ điện đây .
Rồi hắn bảo : Tôi xin lỗi , buổi sáng nay . Tôi bảo : tôi quên rồi , chỉ mong hết sốt rồi về , mong không lên cơn ác tính thôi . chả nghĩ gì nữa.
Hắn bảo : Tôi Đại học Sư phạm Việt Bắc đây . Nghe ông quát tôi lúc sáng tôi đoán ông ở đại học Cơ điện .
- Thế cơ điện tôi láo lắm à ?
Hắn gãi đầu : ừ ừ nó ngang ngang nhưng ngẫm lại ...thấy đúng . Cơ điện các ông không lẫn được mặc dù rừng Tây nguyên thì rậm vẫn nhìn ra các ông .
Chà , tay này khá đây , mình hỏi ông khoa văn à ? nó bảo không , khoa Sử . Những ngày sau , mỗi lần xuống tiêm hắn thường nán lại lán tôi , có hôm còn đưa thêm cho tụi tôi chục viên Polivitamin chua ngọt của quí của chiến trường . Vài ngày sau cắt sốt , tôi và Thanh nói chuyện được nhiều hơn .

Chàng y tá ấy là Lê Thanh người Cao bằng . Thôi thì chàng ta hỏi đủ thứ chuyện trên đời nhưng chăm chú nhất là về Văn thơ, thế sự . Tôi có chút nghe lỏm đâu đó hoặc cả bịa ra cũng kể với Thanh . Nó còn cùng tôi ghi chép những xuy nghĩ của lính sinh viên ở chiến trường nữa chứ , rồi nói về cách làm thơ ( mà hồi đó làm quái gì có ai dậy làm thơ viết văn như trường Nguyễn Du bây giờ ) viết văn .
Thanh vào lính trước bọn tôi , trước khi đi học y tá ở Tây nguyên nó từng là lính D9 . Cái ngày bọn tôi chạm mặt nhau là lúc Thanh mới về Viện Trung đoàn . Rồi tôi và mấy thằng cùng lán cùng ra viện về đơn vị chiến đấu . Hôm rời C24 quân y Thanh gói cho tôi thêm liều thuốc F3 ( liều phòng số 3 sốt rét ) . Tôi viết những bài thơ lõm bõm lúc ở viện tặng nó . Ai ngờ vài chục năm sau nó vẫn giữ


Thanh về ĐH Sư phạm Việt Bắc , tôi về ĐH cơ điện . Thỉnh thoảng lên tán gái sư phạm Thái Nguyên ghé qua Thanh làm bát cơm nguội hay cái bánh mì để giành của nó . Mấy mươi năm vùn vụt trôi , tôi về xuôi nó lên ngược , chen chúc mưu sinh trầy vẩy , Chợt nhớ đến nhau lại qua điện thoại ,
lúc thì ông tôi lúc lại mày mày tao tao tớ tớ .
Thanh về nghỉ rồi , tôi cũng thế . Khi nghỉ nó làm giám đốc sở Văn hoá Cao Bằng , tỉnh uỷ viên hẳn hoi . Nó viết báo làm thơ, viết ca khúc . Nghe mà choáng , nhưng ngẫm lại cũng thấy phải . Cái thằng từ chiến trường nó đã có chí như thế kia mà . Hẹn nhau mùa hạt Dẻ lên Cao bằng thăm nhau để uống rượu đêm Trùng Khánh trong tiết đầu đông mà chưa biết có đi được không , huyết áp cứ phập phù , chợt nhớ anh Vương Trọng đã vui nói ...” Chức tước chẳng thấy cao / chỉ thấy cao huyết áp
...” . Muốn dịp nào lên Cao bằng có vài thằng Cơ điện đi theo cho bõ cái ngày chê nhau bẩn .
Mới hôm nọ Thanh gọi điện bảo tôi , ngày xưa mày bẩn thế mà còn làm đến Giám đốc kêu ca gì nữa ? ơn Đảng cả đấy .

Litangu

litangu
16-08-2013, 09:53 AM
Cháu nội


Chắc những ông già có cháu rồi ai cũng giống nhau thôi . Thương cháu , chăm sóc cháu bao giờ cũng hơn khi xưa thương chăm sóc con mình . Có người bảo đến cháu tức là đã qua một nấc trung gian ( bố mẹ nó ) nên trách nhiệm ít đi . Ừ thì nghe vừa định tính vừa định lượng . NHưng sao thế nhỉ , nhìn cháu vẫn thấy thương hơn .

Đứa cháu nội đầu tiên của tôi lại là cháu gái . Đích tôn đánh nhau bằng dép . Đẻ nó ra lúc tôi đi công tác ( kí hợp đồng mua thép bên Vũ Hán ) . Gọi về bảo vợ , bao giờ nó khóc mở máy điện thoại cho anh nghe . Đây không phải lần đầu tiên nghe trẻ sơ sinh khóc . Ấy vậy mà người cứ run lên , giữa một thành phố lạ lẫm đứng dưới gốc cây phong lá đỏ đầu mùa đông mà nước mắt cứa ràn rụa . Mãi mãi tôi không quên cái ngày hôm ấy , cái lúc nghe tiếng khóc của đứa cháu nội đầu , thế là mình đã sống sau chiến tranh . đã trở về , mà về lại còn có những hậu duệ tiếp theo .


Đời chả nói trước điều gì , bố mẹ chúng nó chỉ sau hơn một năm là trục trặc . Vừa được hai năm rưỡi cưới nhau đã hai đứa con gái cách nhau một năm ra đời . Đứa lớn để lại cho vợ chồng tôi nuôi còn mẹ nó mang đứa bé đi luôn . Cháu tôi lớn lên trên tay bà nội bi bô tập nói trên bụng ông nội . Nó gọi bà nội là mẹ . Mẹ bà ơi ! sao tí bà to hơn tí ông ? Bà nội quát hư nào ? Nó nói giọng líu lo , bố con làm công an là đi bắt kẻ trộm hả mẹ ? nó có to không ? con thích bố bắt về cho con chơi . Chịu ! bà nội cười sún răng , vừa tuốt rau ngót vừa ngó sang ông . Đấy ông đi mà giải thích cho cháu . Tôi cũng chỉ biết cười . Ngày đầu tiên cháu vào lớp mẫu giáo , cả nhà đi theo cháu đến trường . Khi nó vào lớp rồi ông bà đi bộ về nhà rõ là vui mà không cầm được nước mắt , ngó sang, thấy bà nội cũng đang lau mắt . Chiều ấy đi đón cháu , cô giáo tô tô , ới bà ơi cháu bé nhà bà nó chửi cháu . Thôi chết , sao lại thế . Cháu bắt nó đi ngủ trưa . Nó không chịu ngủ , nó bảo sư bố cô nhé cháu không thích ngủ . Tối về , nó bảo mai mẹ bà đi học với con con ứ thích cô giáo

THế mà chỉ vài tháng sau nó ngoan thế . Đi học về , chạy ào vào ôm lấy ông . Nó hỏi con đi học ông nhớ con không ? Nhiều khi nó ngồi chơi xếp hình và búp bê lẩm bẩm đây là ông đây là bà và đây là bố . Sao không có mẹ nhỉ . Ngồi bên cạnh cháu mà thấy cổ họng tắc buốt lên mắt .
Nó có thú thích vẽ . Ngồi đâu cũng vẽ , vẽ cả lên tường nhà cả lên phiếu bé ngoan bé ti ti vẽ cả vào sổ liên lạc . Một hôm nghe cháu bảo , lớn lên ông cho con làm họa sĩ . Sao con thích họa sĩ ? nó bảo cô giáo con nói các con chịu khó học vẽ rồi vẽ đẹp bán được tranh có nhiều tiền . Tôi ngơ ngác như mình vừa mới được dậy một điều mới mẻ trong đời . Thì ra cái bộ não trắng như tờ giấy của cháu tôi đã được cô giáo vạch một đường chì thăm thẳm . Hỏi cháu , con đi thi đồ rê mí không? Nó lắc đầu . Con chỉ thích vẽ và xem hoạt hình thôi . Ông thì lúc nào cũng chỉ xem bộ đội bắn nhau . Nhiều khi đành phải nhường cháu khiến ông bà cũng chỉ xem toàn là Tom và jeri đến phát ốm lên được . Rồi có ngày mẹ nó đến thăm mẹ nó mua cho nó lọ kẹo và áo váy . Mỗi ngày đi mẫu giáo nó chỉ đòi mặc bộ đồi mẹ nó mua . Cả nhà chả ai nỡ cấm hay bắt nó thay ra dù bộ váy đã mặc hai hôm rồi . Đêm , cháu ôm cái lọ kẹo mẹ nó mua vào lòng chùm chăn im thin thít . Nó không ngủ nó hít hà cái lọ không . Bà nội nằm bên cạnh , bà nằm im mà khóc .
THế mà thoắt cái năm nay cháu sắp vào lớp một . Nó hát bài …lớp một ơi lớp một líu lo . Nó đòi mua mũ bảo hiểm màu đỏ , đòi có giá vẽ và hộp màu . Nó hỏi ngày xưa ông đi học cô giáo ông có mắng ông không ? cô gáo ông có đẹp không ? Tôi bảo có có . Giở cái an bum ngày xưa ra chỉ cho cháu đây là ông , đây là cô giáo . Nó bảo cô giáo ông giống bà lao công ở trường Minh Hải con lắm , còn ông thì giống bố con . Chả biết vui hay buồn nữa .
Năm nay tôi đi Tây nguyên . Bà nội bảo ông đi Tây nguyên đấy con bảo ông đừng uống nhiều rượu . Nó bảo ông đi Tây nguyên với bạn ông à ? sao bạn ông toàn là bộ đội ? ở Tây nguyên có nhiều thằng giặc không ? sao bạn ông lại phải thắp hương ? Tôi hỏi ai bảo con thế? Nó trả lời bà nói với con thế . Mùng tám tháng ba năm nay , chiều về thấy cháu hí hoáy rồi nó vào bếp với bà nội . Mẹ ơi con tặng mẹ bà này . Bà nội xem bức tranh có đứa trẻ tặng hoa cho bà những bên cạnh bà còn một đứa bé tí bám gấu váy bà nữa . Bà hỏi đây là ai ? nó bảo em Chĩn con đòi bà bế đấy . Thế là bà lại khóc . Nó lẳng lặng ra ngồi ngoài ban công một mình .
http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/Chaucuaong2_zpsd73915de.jpgBức tranh vẽ tặng bà nội ngày 8-3 năm nay

Tôi đi Sài gòn họp kỉ niệm bốn mươi năm lớp Đại học , bà nội bảo ông lại đi thắp hương cho bạn ở Củ Chi đấy . Hôm tôi về , nó ôm chầm lấy tôi . Con tặng ông bức tranh ông là bộ đội này . Ôi cháu tôi vẽ tôi đội mũ tai bèo , có râu có cả súng và đi trên đá . Tôi hỏi sao không vẽ ông đi trên đường ? Nó bảo , bà nội nói là ông đi bộ đội khổ lắm đi trong rừng , đi trên toàn lá đá thôi .
Nước mắt lại ứa ra . Hạnh phúc và thương cháu trộn lẫn trong nước mắt .

http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/Chaucuaong_zps2dba510d.jpg ông nội là bộ đội , - cháu vẽ tặng ông LTN

motthoang_hn02
16-08-2013, 10:01 PM
Cháu nội


Chắc những ông già có cháu rồi ai cũng giống nhau thôi . Thương cháu , chăm sóc cháu bao giờ cũng hơn khi xưa thương chăm sóc con mình . Có người bảo đến cháu tức là đã qua một nấc trung gian ( bố mẹ nó ) nên trách nhiệm ít đi . Ừ thì nghe vừa định tính vừa định lượng . NHưng sao thế nhỉ , nhìn cháu vẫn thấy thương hơn .

Chú ạ! Cháu đã đọc hết bài viết này, từng câu từng chữ rất mộc mạc, giản dị nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa.
Không biết cháu nghĩ có đúng không, mỗi đứa trẻ khi thiếu đi bàn tay chăm sóc của bố mẹ vì bất kỳ lý do nào đó, nó luôn có suy nghĩ già hơn các bạn cùng trang lứa mà người lớn hay gọi nó là "Bà/ông cụ non" đấy thôi.
Từ câu chuyện của chú về 1 đứa cháu nội từ khi cháu nó sinh ra & lớn lên như nào. Tự nhiên cháu lại nhớ về những năm tháng còn nhỏ (phần lớn nghe mẹ kể lại) còn đâu lớn lên 1 chút là nhận thức được rồi và trộm vía cháu có trí nhớ cũng không tồi. (Bây giờ ai hỏi cháu ngày thành lập các quân binh chủng, quân khu, quân đoàn, nhà trường học viện trong Quân đội là cháu cũng nhớ tương đối đấy nhé! :D)
Ngày mẹ cháu đau đẻ vào viện, bố cháu bị bệnh viêm phổi, trải chiếu nằm ở gần phòng bảo vệ đợi bác sĩ gọi vào làm thủ tục cho mẹ con cháu. Thế rồi mẹ cháu đau đẻ suốt 1 ngày cũng không đẻ được nữa, bố cháu không chịu nổi mùi bệnh viện nên về nhà. Sau đấy, bác sĩ quyết định mổ cứu cháu ra không sợ mẹ vỡ ối con lại ngạt, mẹ cháu tự tay ký vào giấy mổ quyết định 2 tính mạng của mẹ con.
Mẹ cháu 37 tuổi mới sinh con, không có sữa nuôi cháu, nuôi bộ hoàn toàn lại thời bao cấp. 3 năm trời cháu mới biết đi vì cứ bế lên là chân tay co lại, đầu to chân tay teo vì suy dinh dưỡng mà. Thế rồi cháu biết đi, bà ngoại cháu dạy cháu tập đi & đếm từng con kiến trên tường, năm cháu lên 4 tuổi thì bà mất. Tháng 4 âm lịch sang năm, bố cháu qua đời, cuối năm đấy, bác cả (anh trai mẹ cháu) ở Yên Bái vào rừng bị rắn độc cắn rồi cũng không qua khỏi. 2 năm mẹ cháu chịu 3 cái tang liền như thế, con thì ốm đau dặt dẹo, mẹ cháu về hưu non vì ngày đó tính thâm niên công tác, không tính tuổi như bây giờ.
Cơ quan tạo điều kiện mẹ cháu được bán vé xem phim, kiểu công nhân xem phim tập thể những năm đầu 90 ấy. Mẹ đi bán vé xem phim cả ngày, làm thêm cả ca của người ta nữa, con thì nhốt trong nhà, nghịch như quỷ sứ, gì chứ búp bê với đồ chơi cũ được hàng xóm cho là tháo rời các bộ phận luôn. Mẹ cháu sợ quá, cho đi mẫu giáo được mấy tháng sau đó là...tốt nghiệp & vào lớp 1 luôn. Được đúng ngày đầu tiên mẹ đưa đi học, những ngày tiếp theo là đi bộ về.
Cháu đam mê học văn từ bé, mẹ cháu không có tiền mua sách tham khảo mới nên đã mua lại của bà đồng nát. Nhưng thực sự, cháu đã lớn lên từ những trang văn như thế. Ngày cháu nhập học ĐH trên Hà Nội cũng là ngày mẹ cháu vào viện mổ khối U lành, nhìn cảnh bạn bè có 2 - 3 người thân đưa đến, nào là lo thủ tục nhập học, nào là lo thuê ký túc xá...mình cứ lủi thủi 1 mình nghĩ mà ứa nước mắt. Sau lần mổ, mẹ cháu về nhà muối thêm dưa cà để cháu có thêm tiền ăn học. Vì hiểu được hoàn cảnh & thương mẹ nên cháu luôn phấn đấu & đạt học bổng, cháu còn là trưởng nhóm tình nguyện với hơn 100 người (trong đó có cả người già như các chú ở đây). 2 lần nhà trường triệu tập đi học lớp cảm tình Đảng, cháu đều từ chối khéo nhường cơ hội cho các bạn khác để cháu có thời gian làm tình nguyện vì đồng bào dân tộc vùng cao khó khăn, miền Trung lũ lụt....Giờ thì cháu đã là Đảng viên trẻ, cái danh hiệu lẽ ra cháu phải nhận 8 năm về trước nhưng cháu không hối hận những gì đã cống hiến cho cộng đồng & xã hội trong suốt hơn 10 năm qua.
Biết bao sóng gió đã qua đi, giờ mẹ con cháu sống cũng tạm ổn. Cháu chỉ còn nợ mẹ 1 chàng rể nữa thôi chú ạ :D
Người ta bảo:" Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ" cháu chưa có con nhưng cháu rất hiểu lòng mẹ và với cháu, mẹ là người tuyệt với nhất! Cháu đã viết 1 bài riêng về mẹ ở đây, chú đã đọc chưa ạ?
http://khucquanhanh.vn/diendan/showthread.php?t=961&page=7

litangu
17-08-2013, 10:41 AM
Nắng ở cầu Bông


Nắng như mật đồng cũ vẫn sình rạm rụa cỏ hoang
Dặng dừa nước ngả nghiêng lùm còn lùm mất
Con rạch lở loét túa mồ hôi thuyền múc cát
Cầu Bông ơi , xác bạn vớt lên rồi

Bạn về đâu , tôi tìm mãi vẫn mù khơi
Chả nhẽ vô danh đến cả bốn mươi năm trên cây cầu rất thực
Các bạn ngã vắt người lên đầu cầu máu ròng suống nước
Sớm ngày xưa máu đỏ lá lục bình

Chiều 29/4 sư đoàn vẫn rùng rùng
Qua cầu ngả mũ
Đại bác rin rít về phía chốt cuối cùng thành phố
Qua cầu ai nhớ thương nhau

Cánh đồng ngày xưa lúa con gái xôn xao
Đạn với lửa đốt mà đồng cứ xanh mướt mát
Những người lính trung du lính tận vùng cao phía bắc
Nằm trong nức nở lúa miền Nam

Chúng tôi hầm hập súng đạn trên đường
Chiều ấy mưa rồi lại tạnh
Những người bạn ướt bùn và mưa cầu Bông ai khâm liệm ?
Thây bọc bùn và lá lúa nơi cây cầu ngai ngái máu bạn tôi

Nắng Củ Chi như mật đến ngàn đời
Cầu đổi tên , mộ lính đánh cầu thành vô danh nơi cây cầu rất thực
Trong nắng hoang rặm rụa những hồn hoang tiếng nấc
Chúng tôi tìm về ngơ ngác ở cầu Bông

http://2.bp.blogspot.com/-Kr7byiSseck/UgxDkSigGUI/AAAAAAAAHSI/f6l2uRM_rJY/s400/IMG_1108.JPG

NTL- 8/2013

litangu
18-08-2013, 08:28 AM
Tâm sự rồi thôi không nhắc lại nữa

Mấy hôm nay , vào KQH cứ thấy ngài ngại nhồn nhột , chỉ sợ trên trang của mình xuất hiện cái quảng cáo hoặc một nhời khó nghe của thành viên trẻ măng nào đấy Cám ơn bạn nha . Biết là diễn đàn và mọi người khách đang sống ảo nhưng mình là thành viên, là người lính thì đang tâm sự thật . Tâm sự người lính nó thiêng liêng chứ quảng cáo và comment đâu có bao giờ thiêng liêng . THế mà , trong tổng số thống kê thành viên hàng nghìn người thì có quá nửa là thành viên ảo vô thưởng vô phạt , sự ấy nó mang đến cho một ngày hàng chục cái Sinh nhật cùng một thứ tên . Xem mà phát chán .
Không biết phải nói là gì cho đúng tâm trạng khi mở topic thấy …up ủng hộ bác chủ . hoặc : bạn viết hay lắm cám ơn bạn nha! Bạn ư? Tôi và những người lính chiến ngày xưa không có bạn ấy .
Viết cũng dở mà bỏ cũng dở . Sao ở đây lắm cái tên dởm thế . Ở bên DNGN không thế . Không có thích hay không thích . Nếu có thích xin hãy nêu chính kiến bằng bài viết chính danh , không thích hoặc thấy người viết sai xin hãy có bài viết đủ lập luận . Tôi không thích diễn đàn ở chỗ chỉ bấm một phát vào nơi vô thưởng vô phạt có chữ thích . Tôi không thích quá nhiều quảng cáo mà không triệt nọc được nó trên diễn đàn . Lại nghĩ , Sao Quân sử họ không có quảng cáo đểu chen vào nhỉ ?
Litangu -NTL

litangu
21-08-2013, 09:56 PM
Các bạn thân mến của tôi

Hà nội suốt ngày nay mưa . Mưa rỉ rả . Trời cứ như màu mắm tôm . Vào cổng Bạch mai ngước lên tòa nhà Việt Nhật nửa muốn đi nhanh nửa muốn chững lại . Thang máy chạy rì rì mang toàn những khuôn mặt buồn trong cái ô chừng hai mét vuông . Chị tôi lại chuyển lên hồi sức tích cực tầng 4. Lại tầng 4 . Thế là , chị lại nằm cùng phòng với Lê Minh- AK báng gấp . Nhưng thấy chị có hi vọng hơn , mấy anh em nhà tôi thở phào hi vọng . NGó suốt qua cửa kính không thể nhận ra đâu là Lê Minh nữa . Người nhà bệnh nhân bu đầy hành lang kính mà ngó mà vẫy tay mà đỏ hoe mắt . Hầu như tất cả bệnh nhân trong tình trạng hôn mê dây dợ máy móc chằng chịt . Mỗi bệnh nhân có một thày thuốc phục vụ lặng im , nhẫn nại . Tôi đi dọc hàng người chen chúc cố tìm một người giống Lê Minh và tôi hỏi trúng ngay đứa em trai Minh là Lê Quang . Kia anh em kia , Quang chỉ vào một khuôn mặt phù to và xám xịt . Minh đấy ư? Không thể tin . Tôi liều lách cửa kính chui vào nhìn bạn cổ nghèn nghẹn , vừa quay lại thấy 6971 cũng chui vào lúc nào . Nhà viện đuổi quày quày chúng tôi cứ đứng nhìn Minh . Gương mặt chàng trai trinh sát hai mươi tuổi trong hình hài một ông già hôn mê . Rời Minh tôi lại sang với chị , chị tỉnh táo duy nhất trong căn phòng này, nước mắt tràn trên gò má gày gò . Đứng nhìn chị nắm tay chị rồi lại phải ra . Trời vẫn mưa hắt lâm thâm vào hành lang , cứ đứng nhìn nhập nhòa qua cửa kính hết nhìn bạn rồi lại nhìn chị . Mưa nhiều thế .
Tôi và Tài 6971 đứng sau cửa kính thầm thì với bạn :

…Dậy đi Minh !
Ta lại về Quảng Trị
Ta lại về Tích Tường Như lệ
Uống rượu Kim Long rồi ghé lên Cùa
Mang bản đồ về Hòn VƯợn ngày xưa
Ngó đầm Cầu Hai hút thuốc rê Phú Lộc
Tiểu đội luồn sâu đợi Minh về gặp mặt
Bọn mình vẫn chờ ở mười chín xê

Hà nội chiều nay mưa
Bọn mình nhìn Minh trào nước mắt
Ôi cái sê ri sáu chín bẩy một
Lang bạt ở đâu nhớ suốt cuộc đời
Dậy đi Minh ơi


Còn bao nhiêu mùa nắng mình hẹn về Quảng trị
Còn bao nhiêu tọa độ đồng đội mong chờ
Hà nội chiều nay mưa
Nhớ mưa sẻ chéo trời Thạch Hãn
Hà nội vào thu
Chiều thứ bảy Ngọc Hà bọn mình ngồi đợi
Minh ơi !

8 giờ tối 20/8/2013http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?action=dlattach;topic=23291.0;attach=212 23;image

Hai lính trinh sát C20 F325 chiến đấu ở Quảng trị mùa hè năm 1972
Bên trái là Nguyễn Tiến Tài phó giáo sư Tiến sĩ Vật lí ( Viện Khoa học VN ), bên phải là Lê Minh Tiến sĩ vật lí ( Đại học GT Hà nội )

muctau
21-08-2013, 11:27 PM
Anh ra đi, trở về với Mẹ.
Chiến trường xưa, vui lại tuổi hai mươi !

http://i1258.photobucket.com/albums/ii534/dochanhv/anhup/DSC06022.jpg

lixeta
22-08-2013, 11:17 AM
Rằm tháng bẩy với Lê Minh


http://imageshack.us/a/img849/3027/dlgq.jpg

Bạn đi
vào tối
hôm rằm
- Vu lan
lại những ngập tràn
khói hương
Một thời binh lửa chiến trường
Một thời lính trẻ giảng đường áo xanh


Một thời
mũ lính rung rinh
Cánh hoa rừng
với thư tình vu vơ
Một thời ngớt súng làm thơ
Cười rồi lại khóc thằng đi không về


Đến già
vẫn đọc bản đồ
Vẫn mơ mẩn
để tìm về ngày xưa
Nghiêng đầu cười với men bia
Rượu bia nhắm với bạn xưa chiến trường



Bao nhiêu định luật chuỗi trường
Cũng như hoa nở vô thường mà thôi
Chỉ còn
với đất
với trời
Hương hồn lính
tuổi hai mươi …nghẹn ngào


NHớ Minh – TTNL/ 22/8/13

NTL- LTN

* LTN đang bận nên LXT chép giùm

lixeta
24-08-2013, 11:05 AM
Các quê thân mến!
Chúng ta đã được đọc của LTN- NTL khá nhiều. Cả thơ, cả văn và cả... nhạc nữa. Không biết mọi người thấy thế nào? Còn tôi, đã hơn một lần nhận xét: "Đó là một người tài hoa". Có khá nhiều đồng đội cũng nhất trí với tôi. Tuy nhiên, đó mới chỉ là nhận xét rất cảm tính của những người đồng đội với nhau. Còn cánh nhà văn chuyên nghiệp họ nhận xét thế nào thì không biết. Họ có nghề, họ có chuyên môn, họ có lý luận v.v... mà. Chắc phải khác với cánh lính nhà ta8->

Mới đây, LTN- NTL của chúng ta đã tập hợp một số bài viết- mà hầu hết chúng ta đã được đọc trên diễn đàn- thành cuốn "Những người bạn lính" để in ở NXB Hội nhà văn. Nhặt được bài giới thiệu cuốn sách này của nhà văn quân đội Sương Nguyệt Minh, mặc dù chưa được phép của LTN-NTL tôi cũng cứ gửi đại lên đây để anh em ta xem những người có nghề đánh giá đồng đội của chúng ta như thế nào? Có giống với nhận xét của mình không? Mời các quê cùng đọc:

NHỮNG CÂU CHUYỆN KÍ ỨC THỜI TRẬN MẠC

(Nhân đọc Những người bạn lính, tập truyện ký của Nguyễn Trọng Luân - NXB Hội Nhà Văn, năm 2012)



Nhà văn Sương Nguyệt Minh


Nhà văn Nguyễn Trọng Luân thuộc lớp sinh viên tài hoa ra trận năm 1972 đỏ lửa. Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, người còn người mất, lúc ra trận tóc còn xanh, bây giờ tất cả đều đã điểm sương trên đầu, nhưng các ông dường như vẫn chưa thoát khỏi chiến tranh. “Mỗi chuyến đi công tác, đi du lịch qua miền Trung – Tây Nguyên hay miền Nam, bọn trẻ chỉ ào đi kiếm chỗ nhậu chỗ vui, đàn bà thì tìm mua đặc sản; còn mình cứ lang thang mơ mẩn tìm về trận địa cũ, làng cũ, người cũ...” Chợt nhớ những người bạn lính. Thế là... viết!
Chiều muộn, trên đường vào Tây Nguyên, anh lính già Nguyễn Trọng Luân nhìn hoa cúc quỳ vàng xuộm ven đường. Cái màu vàng xao xuyến lay động cả một thời trai trẻ đánh giặc lãng mạn và bi thương. Thế là... viết!
Tâm trạng người lính già Nguyễn Trọng Luân cứ dày vò, cắn dứt không yên về những xưa cũ, kỉ niệm chiến tranh trỗi dậy, tâm trạng “buồn, nhưng cứ phải nói ra, cứ phải viết lại, nếu không cho đến lúc già quá rồi vẫn chẳng hết cắn cứa trong lòng”
Thao thức này là mạch cảm xúc là tâm trạng của cả một thế hệ cầm súng may mắn sống sót trở về. Cái cách giải toả nỗi lòng trĩu nặng kí ức trận mạc là kể chuyện với người khác, là viết, không viết không kể thì không chịu được. Một anh lính tên Đằng chiến đấu dũng cảm, được huân chương, bị sốt rét đi viện, nhưng lại tự thương, chẳng ai hiểu nổi vì sao anh ta huỷ hoại bàn tay phải? Chỉ có Nguyễn Trọng Luân biết: trước ngày nhập ngũ, Đằng bị vợ phản bội, tình địch là tên y sĩ cháu ông giám đốc cứ nhơn nhơn thách đố mà uất ức bất lực trong nghẹn ngào, bởi Đằng lép vế không phải là đảng viên, không có thế lực. Vậy là... tình nguyện nhập ngũ. Đằng chiến đấu, vinh quang và chỉ muốn trở về ngay nhà trong hình hài một anh thương binh ngực lấp lánh huân chương chiến công... để con vợ lăng loàn, để kẻ tình địch biết thế nào là... lễ độ. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân lưu ý hậu thế rằng: có vô vàn cách ra trận và động cơ ra trận. Chiến tranh mang trong lòng nó những cái bình thường và cả những cái bất bình thường. (Ba người bạn lính).
Chiến tranh cũng thật lạ kì, nhưng không mấy khó hiểu, “nó đưa trai tráng, nông dân, công nhân, nhà khoa học, thầy giáo, sinh viên...vào trong một đội hình không phân biệt sang hèn, nhiều chữ hay ít chữ, bằng nhau tuốt tuột và cùng cầm lấy súng” Thầy trò cùng đánh giặc. Chớp lửa. Tiếng nổ inh tai. Thầy đứng tì súng vào vai nghiến răng bắn 12,7 li thẳng vào cửa mở, học trò chạy dưới làn đạn vừa tấn công vừa yểm trợ của thầy để lên đột phá khẩu. Thầy bị thương lủng ruột, máu chảy ướt hai ống quần quân phục. Nguyễn Trọng Luân đã dựng lên một bức hoạ trận mạc bi hùng, một cái đẹp hiếm hoi đặc sắc mang tên chiến tranh Việt Nam. (Thầy Đấu).
Con người thật lạ kì! Đôi khi, người ta có thể quên bẵng một dáng hình, một gương mặt đã từng quen, từng thân, từng nhớ nhung, nhưng thần thức tình yêu, hình ảnh tình yêu thì vẫn khắc khoải nhớ không bao giờ dứt. Mô týp nghệ thuật này không phải là phát hiện của Nguyễn Trọng Luân, mà chỉ là một quan sát tinh tế, rồi suy ngẫm đến đau đớn buốt giá. Tác giả kể về một người trung đội trưởng hoả lực DKZ nằm viện thầm yêu cô bác sĩ, âm thầm nhặt hoa pơlang đỏ thắm kết tên mình và tên cô gái. Hai năm sau, vẫn cái bệnh viện ấy, anh đã là đại đội trưởng, thêm lần nữa bị thương sọ não làm anh không nhận ra cô bác sĩ mình thầm yêu. Nhưng, những bông hoa pơlang rực đỏ, anh ngồi hí hoáy xếp thành tên cô và tên anh thì chẳng bao giờ anh quên. Tình yêu người lính kì vĩ lãng mạn và hư thực ấy còn được tác giả đẩy xa hơn đến tận cùng, khi người thương binh trở về với cuộc sống thường nhật bên sông Hồng vẫn nhặt hoa gạo đỏ cháy, anh kết thành tên người con gái thầm yêu thuở chiến trường đến tận khi...nhắm mắt xuôi tay. (Chuyện về bông hoa Pơlang).
Thế giới nhân vật của nhà văn Nguyễn Trọng Luân rất gần gũi, chân thật. Họ là anh trung đội trưởng DKZ, là lính sinh viên Cơ điện có đến gần chục người làm tiểu đội trưởng trinh sát, là người mẹ 80 tuổi ôm hài cốt đứa con, là B trưởng Dương sau chiến tranh kiên quyết từ chối chức vụ cán bộ đại đội để về học tiếp đại học...vv.
Sự thực thì Nguyễn Trọng Luân cũng là một nhân vật - nhân vật tôi đi suốt thời trận mạc. Bỗng một ngày cùng bạn sinh viên, bạn lính - y tá Đinh Ngọc Sỹ sau mấy chục năm đã thành phó giáo sư, tiến sĩ, viện trưởng. Họ trở lại chiến trường xưa mắc võng ngủ đêm sống thời hoa lửa nằm rừng “nghe sông Sài Gòn thì thầm với lục bình trôi” và trò chuyện với linh hồn đồng đội. (Chúng tôi cùng tiểu đội).
Hòn Vọng phu dưới chân núi Nhồi mang hình ảnh nghệ thuật dân gian chờ đợi muôn thuở. Còn nhân vật “Hòn vọng phu” của Nguyễn Trọng Luân lại là những liên tưởng đau đớn với mất mát đợi chờ trong số hàng chục cô gái làng đang đứng cười vui, khóc mếu chia tay những người lính ra trận. Bởi rất có thể trong vài ba đêm tạm trú ở làng - làng cũng “bom đạn Mỹ nhiều hơn cơm gạo”, những người lính vừa quen vừa lạ đã vội vã ra trận có kịp để lại những đứa con? Rồi sẽ lại có thêm những “người đàn bà cõng con trên lưng nở căng từng đường nét..., cái dáng đứa trẻ con gục đầu trên lưng mẹ ai oán làm sao” bằng da thịt, ánh mắt mòn mỏi chứ không phải là... đá Vọng phu. (Dưới chân Hòn vọng phu).
Cặp cây me cũng trở thành hai Ông Me buồn bã, đau đớn cùng Nguyễn Trọng Luân chứng kiến “Dưới gốc cây là ba xác lính và một người dân”, cạnh đó là người sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà “chết gục trên vô lăng” và người vợ “chết ngửa người ở ghế bên...vắt cong lên tấm dựa lưng phơi mảng bụng xám ngắt”. Nguyễn Trọng Luân còn phải tiếp tục hành tiến theo bước chân thần tốc chiến trận, chỉ còn lại hai Ông Me vẫn xanh lá cho những linh hồn xấu số chết trận trú ngụ. (Hai ông me vẫn sống).
Cái ăng gô lồi đáy cũng có linh hồn nhân vật, nó cũng đau đớn bởi người lính đói ăn cố lèn cá khô đến mức lõm đáy lồi chôn. Thương cái ăng gô và thương cả người lính sống rất thật rất đời. (Chiếc Ăng gô lồi đáy)...vv.
Nhà văn Nguyễn Trọng Luân quan sát rất tinh tế, ông có vốn từ vựng khá phong phú, đặc sắc và diễn tả những điều lạ chỉ ông nhìn thấy: “Rừng thâm như màu mắm tôm”, hoặc: “Chiều. Mưa day dả”, “Trong ba cô thì hai cô cởi trần vú vênh lên như cặp ngà voi, nhưng màu nâu sẫm”... Các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật ấn tượng và ngôn ngữ lính chẳng lẫn đi đâu được. Không uốn éo, điệu đà, làm duyên làm dáng câu chữ, văn Nguyễn Trọng Luân bật ra từ cảm xúc dào dạt chân thật nồng nàn như hương đất phù sa, hương bùn non ngái ngái, hương cỏ cây rừng hoang dại ngan ngát toả rộng lan xa; và cả, mùi máu tươi, mùi mồ hôi chua nồng, mùi khét thuốc đạn... dậy lên trong từng trang viết.


Tháng 7/2013- SNM
He...He...! Nói tóm lại họ có nghề hơn:)>-

litangu
25-08-2013, 09:32 AM
Chén rượu chiều Ngọc Hà

Uông chén rượu này mùa thu Hà nội
Uống vào lòng màu đất màu cây
Uống tuổi trẻ của ngày ra trận
Uống tiếng cười mãi chỉ tuổi hai mươi

Uống chén rượu này mùa thu Hà nội
Uống sáu mươi năm lăn lộn với đời
Uống nhọc nhằn thời giá lương tiền bươn trải
Uống đèn đêm thao thức canh dài

Rồi ta uống nắng mùa hè Thành Cổ
Uống như chan nước mắt gọi nhau về
Trưa hè đỏ cháy lòng bờ Thạch hãn
Uống cả màu lửa đạn lúc biệt li

Ta rót rượu mà bạn sao không thể
Nghiêng vào ta như thu vẫn bên mình
Hà nội nắng thơm chợt mưa rồi tạnh
Chiều Ngọc Hà không về hả Lê Minh

Gọi bạn về chén bạn vẫn nguội tênh
Bạn rất gần mùa thu thì vẫn đẹp
Chúng tôi uống rượu Kim Long sóng sánh

Uống màu trời Tích tường Như lệ , Minh ơi

litangu
03-09-2013, 12:25 PM
Quán hai Bền

kỉ niệm về Củ Chi

Quán nhà Hai Bền nằm dưới những tán bằng lăng Lâu rồi , lúc mới mở , đầu những năm 90 con đường cũng nhỏ và dẫy Bằng lăng cũng nhỏ nên có cảm giác dẫy quán lợp lá thật là gầy và dài chạy treo trên mương y chang quán chợ . Mưoi năm sau , bờ mương thành đường lớn , cây bằng lăng cũng lớn , quán lá xây tường bổ trụ và lợp ngói thế là quán Hai bền thành xum xuê như nhà hàng , nhà hàng ở quê .

Mười mấy năm trước , Hai Bền mới ngoài ba mươi kém tụi tôi chục tuổi . Chuyến ghé quán đầu tiên là chúng tôi về Nhuận Đức tìm má Bẩy rồi lên An Nhơn Tây tìm danh sách anh em E 64 qui tập về đây . Má Bẩy theo con về trên Tây Ninh , chỉ gặp được con Nhỡ cháu gọi má bằng Dì , hồi chúng tôi về điều nghiên Đồng Dù con Nhỡ chừng mười tuổi . Con NHỡ dắt chúng tôi ra cái quán bán tùng tằng những chuối những ổi và mấy chai xăng dấu sau gốc cây me . Nó bảo Dì con đi rồi , đi mà khóc quá chừng kêu mồ mả ông cha Mỹ nó cày lên sới xuống bây giờ ai trông . Dì con đi lên trển héo hon chú ơi . Thằng Thành chặn ngang :
- Con con cái gì , tao đẻ sao được mày . Em thôi . Con NHỡ cười hí hí .

Trưa ấy nắng quá . Con đường 15 chạy tuốt lên cầu bến Súc vàng hoe những loa kèn của hoa Đai Vàng . Lục Bình ở Củ chi xanh se sắt đầm đìa những châu chấu cào cào . Trưa nắng thế mà có cái xe ngựa bánh gỗ cao lòng khòng đi qua . Mắt ngựa lim dim , trên xe mắt của thằng trông như một thiếu niên gầy đen như điếu thuốc More cũng lim dim . Thằng Thành bạn tôi gọi giật :
- Đực ! stop
Con ngựa giật mình sững lại mõm hất ngược lên trời . Thằng tên Đực choàng mắt :
-Ủa , anh Thành . Đi đâu vậy anh
Đi thăm Củ Chi chứ đi đâu ? Ngon không , đi với tụi anh về hai Bền chơi . Thằng Đực cười lóe hàm răng trắng : Đi liền , đi liền .

Cuộc nhậu quán Hai Bền hôm đó có hai thằng tôi lính đánh Đồng Dù , vợ chồng con NHỡ và thằng Đực . Hai Bền ngồi ghé vừa đưa chuyện vừa hóng chuyện . Hai Bền nhớ tụi tôi bởi hôm áp sát Bến Đình hai Bền là thiếu niên dẫn đường cho bộ đội . Bền cười rạng rỡ , chà vậy mà mau anh Thành hỉ , hai chục năm rồi . Rồi lúc lắc cái đầu :
-Khác lắm khác lắm mấy anh ơi !
THằng Thành hỏi :
- Khác chi mày ? Hai Bền lại lúc lắc cái đầu
- Bạn em, những thằng cùng trong du kích 75 ấy nó bảo em là tư bản . Em vẫn ở đây chả đi ra khỏi Củ Chi bán hàng kiếm ăn chứ làm gì ra tư bản . Buồn quá , buồn quá . Lâu lâu mấy thằng bạn giờ cán bộ xã ghé nhậu rồi dậy dỗ đừng có mà ăn bả bọn bóc lột nghe Bền …nghe thúi ruột luôn , những kiếm cơm cho con nên gật gật vui vui ờ hỡ cho qua . Lâu lâu nó lại qua lại dậy bài tư bản .
Có mấy đứa cháu hai Bền nhòm vô ,
- Cậu hai , con mới bắt được cặp rắn nè
- ừa ừa kêu mợ con cân cho , có chuột không ? khách hồi này thích chuột nướng đó mấy đứa
Mây đứa cháu đen đúa lui ra . Tôi ngó thấy vợ hai Bền móc tiên cho mấy đứa nhỏ rồi chí tay vào đầu một đứa bé gái chừng mươi tuổi tóc hoe như đuôi bò cười hinh hích
Cái bàn ăn đan bằng trúc thật khéo . Mấy cái ghế cũng bằng trúc . Đúng là trúc Củ chi mát rượi hệt như cái ngày xa hai mươi năm trước lính 320 tụi tôi được nằm những phên trúc này dười hầm bên trên hầm là Bằng lăng hoa bung biêng tím . Ong rập rờn nhẫn nại và hoa bằng lăng cũng thật lạnh lùng . Trưa không có gió mồ hôi rịn lưng áo lính của tôi .
Con Nhỡ bảo với Thành :
- Dì em lên Trảng bàng bỏ lại cái nhà dọc lộ đó . Xã lấy ngôi nhà dì làm trụ sở tuần tra . Em kêu dì ơi cho con mở quán nước kiếm ăn đi dì , tội chi cho họ làm nơi tụ tập nước trà Dì mắng :
- Bậy nào , đó là nơi công an du kích làm việc , mày làm quán xá để tùm lum ngồi lê đôi mách . Không được , không được . Mấy anh mày hi sinh đâu có ưng cái vụ tụ tập nói xấu chính quyền . Vợ chồng em đành mướn chỗ ngồi bán qua ngày đó anh .
Thằng chồng con Nhỡ ngồi im lặng ngó lơ lơ ngoài nắng . Con NHỡ cũng uống được bia mắt nó long lanh kể về thời đánh Đồng Dù chúi trong hầm nghe đạn nổ mấy ngày đêm liền , rồi nó cười rõ thật là tươi : hồi đó nhỏ quá chớ không chắc lấy chồng bộ đội quá . Cả mâm cười , hai Bền cũng cười . Thằng chồng con Nhỡ không cười lơ lơ gõ tay lên cái nút chai bia . Hai Bền ngó tôi và Thành :
- Ước gì quán hai Bền toàn bộ đội về nhậu hỉ ? thằng Thành cười hi hi , bộ đội móc đâu ra tiền nộp cho thằng tư bản . Bền bá vai Thành :
- Bộ đội có thằng em tư bản , ha ha
Nãy giờ thằng Đực ngồi tơ hơ uống bia và xé chuột nướng . Cái ngón tay khòng khòng của nó đen queo quắt nhựa lá khoai lang . Ai chuyện nó cũng cười hì cái rồi ngó lơ . Con NHỡ quay chọc thằng Đực :
Mày đánh xe có mấy con trên bến Dược quá giang sao không cho đi ? Cứ chịu khó cho gái quá giang mà kiếm vợ chứ Đực ơi .
Đực ngừng nhai : Chị ơi nghèo dớt như chòi canh đồng lấy chi vợ . Đực này chỉ mong chiều có bát ăn rồi ngựa có cỏ ngủ tại bờ sông cho khỏe . Nó cười , cái cười cũng yếm thế , ri rí nơi miệng . Nhà Đực chả còn ai. Ba má nó đều chết càn hồi 70 . Nó và người chị lối dưới mười tuổi . Hai anh trai đi bộ đội cũng hi sinh hết . Chị nó đi lấy chồng , Chòm vườn sót lại nó bán mua xe ngựa mà vẫn nghèo kiết cái đời phu xe . Nó đần đần như thể bao nhiêu cái khổ cái đau cha mẹ anh em dồn lên nó cả . Thành biết Đực là hồi 77 sư đoàn cử C25 ra làm nhà cho Đực trong diện gia đình Liệt sĩ neo đơn . Nó bán hết rồi nó lang thang trên đường ..Thành rỉ tai tôi như vậy . Thằng Đực bỗng dừng nhai thịt chuột nó nói với tụi tôi :
- Em đi xe chở đá bia cho mấy ổng làm bia liệt sĩ . Tùm lum à anh ơi . Cái giấy ghi tên tuổi để dưới chân các ông đục đá bên cạnh . Bụi nước tèm lem đánh vần không ra tên nữa . Mấy ông thợ đá dưới chợ em lạ gì cũng đánh vần mới ra chữ như em đó thôi . Hai Bền xuỵt :
- Bậy nào mày , quán hai Bền không có được nói xấu chính quyền nha! Ngoài cổng lại tiếng còi xe máy toe toe . Hai Bền nhớm dậy em xin phép . Khách quen , khách quen rồi biến mất .

Mươi năm sau , lại một mùa hè tôi và Thành lên thắp hương cho anh em ở An Nhơn Tây . Trên đường trở về lại ghé Quán hai Bền . Từ xa dẫy nhà hàng mang tên Hai Bền bề thế cả hai phía con đường . Mấy chân dài đứng dưới nắng mồ hôi ngân ngấn nách áo dài . Xe ô tô xếp hàng nhộn nhạo . Quạt gió hơi nước khiến như thấy mình đang ở một quán bia hơi trên đường Hà nội . CHúng tôi lại muốn ăn chuột nướng . Bạn tôi vội ngăn lại . Chuột cống đấy ! chúng tôi đành gọi món hệt như ở Sài gòn . Tôi ra ghé lên cái võng dù treo ngoài gốc bằng lăng cuối vườn đợi Thành đi đón con NHỡ và thằng Đực . Lát sau thằng Thành đèo xe máy về có một người đàn bà phốp pháp môi đỏ chót . Nó bảo , thằng Đực chết rồi , nó say rượu chết trong cái xe ngựa bên bờ sông Sài gòn vào một đêm trăng rất đẹp .
Con Nhỡ béo và đẹp hơn ngày xưa quá . 50 tuổi mà cứ như gần 50 thôi . NÓ bảo em bỏ cái thằng chồng ăn hại đó rồi , em mở quán trên du lịch bến Đình . Hai đứa con học đại học dưới sài gòn . Mình em điều hành bao nhiêu nhân công chân ngắn chân dài khỏe re . Bọn anh ghé em rồi mình sang Bến Súc nhậu anh há .

Trưa ấy Củ Chi lại nắng , nắng ở Củ Chi đẹp hơn bất kì nơi nào khác tôi từng gặp . Hoa Bằng lăng bông bênh hắt tím lên giời . Mùi bùn đất Củ chi cứ hanh hanh vào mũi vào da thịt người . Hai Bền bụng bự cười tươi với dẫy khách này lại mang nguyên nụ cười ấy sang mâm khách khác . Hai Bền không hề nhận ra chúng tôi . Cũng là phải , ai mà nhớ được thực khách rắn chuột của cuộc đời đã ba chục năm làm nghề chuột rắn . Cái má bóng nhẫy của con Nhỡ và tấm áo Nhỡ mặc mới long lanh làm sao . Nhìn nó cứ nhấp nhóa những cười và nói . Bỗng NHỡ chừng nụ cười bóng nhoang phấn son lại mà bảo rằng Dì Bẩy em mất lâu rồi , căn nhà của dì xã vẫn trưng làm trụ sở .

Đột nhiên tôi lại nhớ quán hai Bền hồi những năm 90 . Nhớ con Nhỡ vô tư và thằng Đực đen đúa . Nhớ dẫy bằng lăng còn non đã có những chùm hoa tím mỡ . Nhớ những tấm bia liệt sĩ đục dở trên An Nhơn Tây bụi nước tèm lem

những ngày nghỉ 2/9 ở quê - NTL

motthoang_hn02
04-09-2013, 10:13 PM
Chú ơi được lĩnh nhuận bút chưa ạ? Hôm nào cháu mới được ăn khao nhỉ? :D
Lâu rồi cháu mới đọc tạp chí này đấy chú ạ, cháu mượn của anh CTV ở 1 đơn vị nhưng chưa có thời gian đọc.

https://lh6.googleusercontent.com/-Vx-H4Sye2yg/UidN02Lv9KI/AAAAAAAAJv4/qDKT2jSdUmc/khucquanhanh.vn-IMG_040913_210212.jpg

https://lh5.googleusercontent.com/-12xAtSBgjjA/UidOCvynsBI/AAAAAAAAJwA/_0zID2d6tzc/khucquanhanh.vn-IMG_040913_210458.jpg

litangu
05-09-2013, 08:36 AM
Cám ơn Thoáng , cháu đọc VNQĐ nên sẽ thấy hầu hết những truyện và thơ trên diễn đàn của chú sẽ in ở đó hoặc các tạp chí VHNT khác . Có điều các tạp chí đều in sau diễn đàn . Họ có thể đọc KQH hay VMH rồi lôi về in , in sau đó rồi mới thông báo cho chú . Mấy số tháng 4, tháng 7, tháng 8/13 chú chưa nhận nhuận bút Thoáng à , mà có gặp được cháu đâu mà khao ! Cám ơn cháu quan tâm chú

motthoang_hn02
05-09-2013, 09:15 AM
Chú ơi, cháu thích đọc nhưng không có thời gian thôi ạ!
Tối qua cháu đã chia sẻ cảm xúc trên trang cá nhân & có đưa hình chú lên đấy, cháu có nói với mọi người là cứ đưa lên rồi xin phép chú sau, nếu chú không đồng ý thì cháu sẽ gỡ xuống mà :D
Còn cái chuyện nhuận bút thì cháu sẽ thu gom lại, hôm nào gặp chú khao 1 thể nhỉ? hì hì
Cháu biết là họ đăng lại trên diễn đàn rồi mà, chú luôn mạnh khỏe & viết đều tay nhé! :-bd

litangu
05-09-2013, 11:15 AM
Cựu chiến binh


Ông Hộ đuổi con trâu vào vườn chè rồi gọi giật giọng :
- Chễm đâu , buộc trâu !
Con Chễm giật mình bỏ cuốn sách ôn thi đại học chạy nhào ra dắt trâu vào gốc mít buộc lại rồi tung cho nó ôm cỏ chè vè . Nó lấm lét nhìn bố đang dựa lưng vào cột nhà nhả khói thuốc lào . Nó đặt lên cái ghế con cho ông Hộ ca nước chè còn nóng rồi cầm cuốn sách đi ra vườn . Nắng gần đứng bóng , đàn gà núp dưới vườn chè con nào con nấy phập phồng cổ họng . Chễm bâng khuâng nhặt cái lá mít đỏ sẫm rơi dưới chân . Nó thương bố nó lắm .

Ông Hộ ức lắm , nhớ lại chuyện sáng nay ở ngoài đồng Ngòi . Ông vừa đánh trâu dưới ruộng lên vục nước rửa chân thì có tiếng chào rõ ngọt :
- Bác cày về sớm thế
Thì ra thằng Lành con nhà Khoa mổ lợn , nó ngồi trên con Rem phình phịch nổ máy :
- Bác ơi uống với cháu vại bia cho mát . Hơ hơ , uống thì uống . Nó vẫn thi thoảng gặp con Chễm nhà mình anh anh em em bài vở ríu rít ấy mà .
Ngoắc cái chạc trâu vào gốc cây vông , ông Hộ làm ngụm bia , khà ra cả bọt . Quê hương bây giờ thật là lớn mạnh . Chả cần đi Hà Nội Việt Trì cũng có bia uống . Nhớn mạnh thật , nhớn mạnh thật . Cà kê chuyện đông chuyện tây , thằng Lành hỏi ông về chuyện em Bình ( tên con Chễm ) thi đại học . Nó bảo :
- ôi dào đại gì thì đại chả bằng đại tiền . Mở cái quán , có vốn làm dàn Karaoke cả làng hát , vừa vui vừa thu hoạch chả cần học cho mệt sức bác ạ .
Ông Hộ tròn mắt , ô hay nó nói với mình hay nói với con Chễm ? Đời ông chỉ mong con mình mở mày mở mặt với làng nghe thằng này nói vậy khác gì lấy gai mây móc họng .
- Này anh Lành , anh cũng cố học đi chứ ai lại bông lông mãi sao ? Nó nhìn ông Hộ cái nhìn nửa cười và lại rất hiền
- Bác ơi , bác như bố cháu thôi , cựu chiến binh chiến biếc mà làm gì , đêm vẫn đi gác xóm gác làng như thằng mõ để lũ cán bộ xã nó đánh phỏm thế mà vẫn không sáng mắt mà vẫn bị nhiễu loạn với quá khứ của thời xa tám hoánh nào hả bác . NÓ cười , trông giống nụ cười của cái thằng Đôn xê ông đảo ngũ hồi Quảng Trị quá
Ông Hộ giận mình . Dại quá , uống cốc bia của nó để nó nhiếc mấy ông cựu chiến binh như mõ . Ông cầm cái roi cày phắt đứng lên giật con trâu đi về . Thằng Lành ơ ơ , rồi lại ngồi xuống uống tiếp

***

Con Chễm ngồi ngoài gốc mít ôn bài . Cứ trưa đến bố đi làm đồng về thì nó lại ra vườn mà ôn thi . Bố nó bảo ngày xưa làng mình có mấy bác như bác Khánh bác Lợi ôn thi đại học trên gò cọ mà đỗ Bách Khoa đỗ Tổng Hợp . Nó nghe thấy nể nhưng vẫn buồn buồn vì không có tiền về Hà nội học trong lò như bè bạn . Nó thương bố thương người mẹ đã mất của nó , thương anh Ngự nên cặm cụi mà học . Có bao nhiêu bài tập nâng cao thầy cho nó làm bằng tiệt . CHỉ ngại cái tiếng Anh , học mãi méo cả mồm chỉ được đến bẩy điểm . Anh Ngự thi hai năm chả đỗ , lên Lào Cai làm thợ xây gửi tiền cho nó học , những lần anh về anh nói nhát gừng :
… Cái Chễm .. mày thi .. trả thù cho anh .

Bố Hộ đặt tên anh nó là NGỰ , tên nó là BÌNH . Bố bảo đó là tên sư đoàn bố . Ngự Bình tên hay nhỉ . Bố đánh Quảng Trị Thừa Thiên bị thương rồi về . Lăn lóc gây dựng miếng ăn để gần ba mươi mới xây dựng với mẹ . Hai anh em ngoài mười tuổi mẹ bị bệnh mà đi . Bố cặm cụi nuôi nó như người đàn bà . THấy nó chơi với anh Lành con bạn lính bố cũng vui vui . NHưng bố ngại cái anh Lành ăn chơi lông bông hết đi tiếp thị dưới Hà nội lại về mở quán bán đĩa nhạc và sim thẻ điện thoại giữa làng . Bố không mặn mà lắm với anh Lành . Ấy vậy mà sau lần đi về Hải Hưng họp đại đội cũ , bố về thấy vui hẳn lên . Bố bảo nó :
- Ừ , làm gì thì làm chả cứ phải đại học , miễn là làm việc có ích , buôn bán có phúc có đức là được con ạ . Đừng cố quá khổ thân . Ở đời cựa lắm thì chầy vẩy .
Hôm ấy Chễm nghe bố nói động viên mình mà thấy thương bố quá , bố nói thế nó lại càng cố hơn , nó học như thấy chóng thuộc hơn mọi hôm , những bài lơ mơ hôm nay đọc lại thấy hiểu hơn . Tối , xếp cái mâm cơm cho bố có bát canh rau ngót nấu cá rô và chén con rượu nghe bố nói chuyện ngoài hè . Bố bảo đừng bật điện con ạ . Trăng lên rồi kia kìa .

Bố kể : - Ở đại đội bố có mấy bác bây giờ học cao làm ở Hà nội , làm ở nước ngoài mà họp Đại đội về đầy đủ . Các bác ấy không quên tên một ai , vẫn mày tao như ngày xưa ở Quảng Trị Thừa Thiên . Bây giờ các bác ấy viết lại những chuyện ngày xưa ở đơn vị được in thành sách bố mang về đấy . Thi xong thì con đọc cho biết bố ngày xưa thế nào .
Bố nhấp chén im lặng . Bên hàng xóm có nhà mở Karaoke , lũ trẻ nheo nhéo hát Chim sáo ngày xưa . Con Chễm rục bố : bố ăn cơm đi .
- Ừ , hay đáo để , các bác ấy lấy tên mình là những cái tên mà ngày xưa đơn vị từng chiến đấu ở đó . Có bác là Tra lien tây có bác Tích Tường Như lệ . Hề hề bố mà viết được bố lấy tên Long Hưng cho oách , cho nhớ . Toàn những cái tên bao nhiêu người đã chết đấy con ạ
Con Chễm cười , nhìn thấy gương mặt bố nó như trẻ lại :
- Bố phải lấy tên Hộ Long Hưng chứ , a mà tên hay quá bố nhỉ . Ông Hộ cũng cười nhìn sâu ra vườn , vườn sạc sào gió và trong đêm hương vườn thơm mùi lá khô lẫn mùi hoa cau .

Từ ngày mẹ mất con Chễm vừa được chiều chuộng hơn nhưng nó cũng đảm đang hơn . Bố Hộ bảo nó con là bốn đảm đang . Bốn đảm đang là gì nó không hiểu , bố giải thích nó cũng không hiểu nhưng nghe bố khen nó thích lắm . Những hôm họp CCB ở nhà , nó nấu nồi lá vối , thông lông gà cái điếu cày cho bố rồi nép sau cửa buồng nghe lỏm . Thấy bố nhắc chú này chú nọ , thấy các bác cười hơ hơ rồi lại thở dài . Nó chợt nhớ mẹ nó trước ngày mất còn đưa cái khăn mùi soa thêu con chim đỏ ngày xưa mẹ tặng bố . Kỉ vật mà bố mang đi rồi lại mang về từ chiến trường . Nó giữ , nó u ấp như mẹ nó còn đâu đây . Uống nước họp hành rồi các bác và bố nó lại đi , nghe nói đến nhà ông chủ tịch xã đề nghị về việc quản lí thanh niên làng đua đòi hút sách .

* * *


Đại hội Cựu Chiến Binh xã nhà vừa vui vừa buồn , ông Hộ đi về nói với con Chễm thế . Con Chễm không dám hỏi lại bố . Hôm sau đi cấy nghe người làng kể . Ông chủ tịch CCB cũ là trung tá về hưu nay nhất định xin nghỉ , lãnh đạo xã gợi ý bầu ông Khoa bố thằng Lành . Ông Khoa một thời làm tài vụ trên quân khu 2 hoạt ngôn hoạt tính , rất tích cực giúp đỡ các phong trào của thôn của xã . Xã họp , xã tiếp khách huyện tỉnh về đều có tay ông Khoa lo liệu . Ông vui hơ hớ , đi đến bắt tay với lãnh đạo cấp trên cứ như thân tình lâu lắm rồi . Ông Hộ và mấy ông bạn lính B5 cũng chỉ ừ hữ . Nhà Khoa ấy tao lạ gì , hành quân đến Thường Tín nó lăn ra ốm . Ốm qué gì đâu . Bọn ông đi B vài năm sau về làng thấy ông Khoa vẫn còn tại ngũ , làm tài vụ quân nhu gì đấy mang hàm thiếu úy . Lúc sắp đánh tàu thấy Khoa về phục viên , xây nhà mở quán bán thịt lợn giữa làng . Ông Khoa chả để mất lòng ai , nhất là cùng lứa nhập ngũ năm 70 ai ông cũng giúp đỡ cũng ngọt nhạt như ai .
Ở Hội nghị , bầu ông Khoa làm chủ tịch CCB thấp phiếu nhất . Người trúng cao phiếu lại là ông Hộ . Ông Hộ nhìn mặt các lãnh đạo xã thấy như mình có lỗi . Cả đại hội chúc mừng ông Hộ , ông chỉ thấy nhôn nhao trong người và thấy cái nắng nhập nhòe ngoài gốc đa . Giữa lúc ấy con tàu ngược chạy qua làng còi toe toe y hệt mấy chục năm trước các ông lên tàu đi bộ đội .
TỪ hôm ấy con Chễm thấy bố ít nói hơn hay hội họp hơn hay đi cùng các chú công an xã nhao chỗ này đáo chỗ nọ . Nó cặm cụi nháo nhào lo cho ngày về Hà nội thi đại học . Thương bố mà cũng giận bố , nó vẫn biết đêm nào ông Hộ đi về cũng ngó vào buồng thấy con gái nằm ôm sách nước mắt ông lại ngân ngẫn , ông lặng lẽ ngồi nhìn ảnh vợ hiền từ trên bàn thờ .

Ngày đi thi , anh Ngự trên Lào cai về đưa con Chễm ra tàu . Ông Hộ đi sau cầm cái quạt lá cọ tí lại phẩy cho con gái . Từ nhà ra ga có cây số thôi mà ông như thấy như dài bằng một trạm hành quân trên Trường sơn . Dưới cánh đồng ơi ới những bà những chị ngó lên , chúc con Chễm thi đậu đại học . Ông Hộ gọi với xuống chỉ được mỗi câu Dạ … vâng . Nước mắt bố con ông ràn dụa

***

Ông Hộ nhận được thư của bạn từ Hà nội gửi lên đúng lúc con Chễm nhận giấy báo vào đại học Nông nghiệp HN .
Thư viết …’ Hộ ơi , mày không phải lo đâu hôm cháu Bình về thi anh em đại đội mình đều ra động viên cháu . Nó làm bài tốt lắm , nhìn cháu bọn tao tin là cháu sẽ đỗ . Thằng Lãm thằng Tốt nhà bên Gia Lâm hứa là nếu cháu học ở Châu Quì sẽ gần gụi giúp đỡ cháu . Mày ạ , hôm đón cháu có cả thằng Tích giáo viên đại học , trước ở A10 ấy . Nó tâm sự với cháu Bình đến là lâu . Thế mà hôm nay thằng Tích chết rồi , nó bị bệnh phổi mày ạ …”
Ông Hộ khóc , ông khóc nức nở . Con Chễm không biết vì sao ông khóc .

***

Sáng nay , ông Hộ đưa con ra ga đi học đại học . Con đường ra ga lẽ phải vòng ra đê , nhưng bố con ông vẫn đi dọc đường sắt . Con đường mà ngày xưa ông vẫn lủng lẳng túi dết đi học . Cũng trên mặt đường tàu này ông ra ga lên tàu xuôi ngày nhập ngũ . Mỗi bước đi trên từng thanh tà vẹt ngất ngưởng lôm côm đá . Mùi tanh ngai ngái mặt đường tàu và màu hoa tím như cái cúc áo của dàn dạt những lùm Xấu hổ quen thuộc với ông mà sao hôm nay lại lạ thế . Tối qua khuya lắm , ông ngồi nhìn con Chễm sắp đồ đạc để ra đi mà thấy mình như lên cơn huyết áp . Đời ông đã hàng trăm lần sắp sếp ba lô để hành quân như thế . Cuộc hành quân nào cũng là rơi vãi . Cuộc hành quân của con ông thì không thế , nó chan chứa hi vọng , nó phơi phới mặc dù ông biết cái thân CCB ông sẽ còn vất vả biết bao nhiêu . Bỗng con gái đến bên ông . Nó giở cái gói vải dù cũ ra , trước mắt ông tấm khăn mùi soa vợ ông thêu con chim tặng ông ngày ông đi bộ đội . Một con chim bay đi và một con chim đứng trên cành chờ đợi . Nó bảo :
-Bố cho con mang cái khăn này đi bố nhé . Ông Hộ lặng im , ông nhìn con gái rồi ngước lên nhìn ảnh vợ lờ mờ như sương

Đã từ rất lâu , ông Hộ lại đội cái mũ cối mang về từ Quảng Trị . Bước khập khiễng trên những thanh tà vẹt khiến cái mũ cứ ngật ngưỡng . Ông Hộ bỏ mũ ôm vào bụng .



Litangu- NTL

litangu
07-09-2013, 09:17 AM
Có thể bạn KQH thường đọc tôi về những bài viết mang tâm thế của người lính . Thực ra viết về đời thường mới là dài . THơ tôi cũng vậy , là tâm sự của người dân mà thôi . Nó là tâm tình với đời với quê hương với người tôi yêu tôi quí và với đất nước - thế sự ở đời .


http://i1362.photobucket.com/albums/r689/luanden/camau4_zps93166af1.jpg
Cà mau

Sao ta chưa về rừng đước năm căn
Để thấm nỗi cứa cắt với người mở đất
Ai ? đất mũi mấy người được về thủ đô Hà nội ?
Và mấy người Hà nội đến được Cà mau

Thế mà em mơ đêm với châu thổ sông Hồng
Mùa cạn nơi anh mộng du em vào mùa gió chướng
Cà mau thăm thẳm
Cà mau bùn non chân trắng gái dậy thì

Đừng mộng mị câu chữ mà chi
Bùn đất chẳng cần mĩ miều vẫn thơm mùi đồng đất
Thơ trở ngược đến miền chim lạc
Cuối trời hương gió tóc mẹ xanh
Lục bình trôi chân theo người mở cõi
Táp lên trời thành hương của mây phương nam

Cà mâu có em
Ngực căng gió về đất mũi
Cà mâu có em
Bùn loang hơi ấm từng đêm
Cà mâu có em
Có bùn và lá đước
Cà mâu có hồn người đất bắc
Cải lương ca là máu nối hai miền

Thế mà chưa một lần về với miệt đất rất hiền
Câu thơ người phương Nam nghe sao nhớ con đê cò lả
Khăn mỏ quạ mẹ anh
Cặm cụi mẹ ai gom rạ khô đốt đồng nắng chéo
Lui cui nhóm từng tấc đất
Rừng đước xanh về hướng mặt trời
Cà mâu là máu của người Việt chảy xuôi

7/13- LTN

litangu
16-09-2013, 10:11 PM
Người hái rau tập tàng


Ông anh họ tôi học cùng với tôi một lớp từ nhỏ . Hết lớp mười anh được đi ngoại quốc . Đi học ở Tiệp khắc giữa lúc kháng chiến đánh mỹ vào hồi gay go quyết liệt . Ngày ấy người làng tôi bảo nhà ấy có phúc .

Chơi thân với anh em tôi mà lại cùng xóm có thằng Vân . Hàm trên của nó chìa ra hai răng cửa vênh vênh y hệt răng con rúi . Chúng tôi gọi nó là Vân rúi từ thời còn đi chăn trâu . Về đường học nó kém hơn anh em nhà tôi . Nhưng khi vào rừng hay xuống ruộng anh em tôi luôn kém nó . Lên học cấp ba đi xa nhà , cả lũ trọ cùng một xóm . Anh em nhà nó ở gần anh em nhà tôi . Chúng tôi học chiều thì cứ bảnh mắt nó đã réo ngoài cổng , đi xúc tép với tao không ? Anh tôi không đi , tôi thì thích đi với nó . Xúc thì ít mà vầy bùn thì nhiều . Gần trưa mang mớ tôm tép về anh tôi lườm lườm ra chiều không thèm để ý . Mùa mưa phùn sau tết , cánh rừng vầu Yên bái đâm măng thật quyến rũ . Chúng tôi giành cả chủ nhật đi đào măng vầu ngọt . Thằng Vân không bao giờ chịu đào ngọn măng đã nhú lên trên mặt đất . Măng chui lên khổi đất tai măng chỉ sau hai hôm đã xanh . Nó chỉ tìm những kẽ nứt của đất hay những chỗ đất lồi lên bất thường bới xuống sẽ có ngọn măng chưa kịp nhô lên . Măng ấy tai còn đỏ hồng , mầm mẫm . Hai anh em tôi không thể kiếm nổi một ngọn tai hồng mà chỉ thấy ngọn tai xanh nhô cao lên khỏi đất . CÓ lúc chân vấp vào ngọn măng ngã lăn ra mới nhìn thấy măng . Thằng Vân cười , chúng mày chỉ nhặt lại những ngọn tai xanh của người khác vứt đi cũng đủ gánh măng mà về . Nghe nó chê ức lắm . Chiều về cả lũ mỗi thằng một gánh . Thằng nào giỏi tìm măng biết ngay , măng của nó hồng tươi còn anh em nhà tôi măng xanh lè .
Đi bắt cua nó luôn moi những hang có cua . Nó bỏ hang nào là y như hang đó không có cua . Nó cười khanh khách . Đầy rỏ rồi lên mặt đường ngồi tè he rải mấy đồng xu gạ nhau đánh đáo ăn tiền . Đừng dại mà đánh với nó . Nó khoét hêt túi cho mà khóc .
Vân là con bà vợ lẽ , anh Long nó học lớp trên là con bà cả . Bố nó cái gì cũng cho anh Long còn Vân chỉ ăn theo . Năm 67 đang học cấp ba anh Long đi bộ đội , Vân kém hẳn cái đoạn bố cho tiền . Nhà nó đông anh em , có tuần đi học mang mấy củ sắn chỉ để nấu cháo với rau cần . Nó cứ cười hơ hớ bắt ốc nấu canh sắn gọi bọn tôi sang ăn . Một lần vào sáng thứ 2 Vân đến lớp muộn người ướt rườn rượt . Ra là cu cậu hái rau tập tàng mải mê nên đến muộn . Trưa ấy nó bảo tôi , tao phát hiện ra một mỏ rau tập tàng . Chiều, nó dẫn tôi đi chỉ cho tôi đâu là rau Dớn , đâu là rau Sam , rau Tầm phóp , rau Rệu , rau Muối rau Sếu có một loại tô