PDA

Xem bản đầy đủ : Dầu, Năng lượng, Quyền lực



dongdoi_f2
16-02-2012, 09:59 AM
Cuộc chiến không tiếng súng (P1)

(Petrotimes) - Cái gọi là (theo tiếng Hoa) "tổn hại Trung - Nhật quan hệ đại cục" một lần nữa lại xuất hiện ngay những ngày đầu năm 2012, khi Nhật lên án Trung Quốc đơn phương khai thác khí đốt tại mỏ Kashi (theo tiếng Nhật) hoặc Thiên Ngoại Thiên (theo tiếng Hoa) - nằm ngay điểm nhạy cảm tranh chấp ranh giới vùng đặc quyền kinh tế biển của hai nước.

Vài ngày trước đó, Bắc Kinh đã chỉ trích Tokyo việc đặt tên cho một nhóm hòn đảo cũng nằm trong vùng tranh chấp sở hữu (trong đó có quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Đối với vấn đề tranh chấp vùng biển giữa Nhật – Trung, cục diện ngày càng phức tạp…
Kỳ 1: Mèo nào cắn mỉu nào?





Ai giành lấn EEZ của ai?

Trở lại với vụ khai thác khí đốt tại mỏ Kashi, Thiên Ngoại Thiên (Nhật phát hiện Trung Quốc có dấu hiệu khai thác vào ngày 31/1/2012). Năm 2008, hai nước từng nhất trí với nhau rằng, hai bên sẽ tạm ngưng khai thác mỏ Kashi, Thiên Ngoại Thiên cho đến khi đàm phán ngã ngũ. Tuy nhiên, tiến trình “nói chuyện tử tế” bắt đầu gián đoạn sau khi xảy ra cuộc chiến ngoại giao mà căn nguyên là sự kiện Nhật bắt giam thuyền trưởng Chiêm Kỳ Hùng của tàu Mân Tấn Ngư (Trung Quốc) vào năm 2010, sau cuộc đụng độ và rượt đuổi giữa Mân Tấn Ngư với lực lượng Tuần dương Nhật quanh khu vực Senkaku, Điếu Ngư.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/2-1Trung-quoc_-Nhat-Ban.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/2-1Trung-quoc_-Nhat-Ban.jpg?a23879)

Khu vực EEZ với ranh giới chồng lấn chưa được phân định ngã ngũ giữa Nhật và Trung Quốc


Trong thực tế, xung đột ngoại giao Nhật – Trung quanh vấn đề tranh chấp EEZ (vùng đặc quyền kinh tế biển) tại khu vực biển Hoa Đông là chuyện xảy ra gần như cơm bữa. Tháng 8/2003, Nhật bắt đầu bày tỏ lo ngại khi Trung Quốc mời nhiều tập đoàn dầu khí trong đó có Royal Dutch, Shell và Unocal (Mỹ) tham gia thầu khai thác loạt dự án dầu khí trị giá hàng tỉ đôla. Nhật cho rằng, khu vực mỏ mà Trung Quốc gọi thầu là thuộc EEZ của họ hay ít ra cũng thuộc vùng đang tranh chấp. Tokyo yêu cầu phải cung cấp chính xác dữ liệu liên quan vị trí các mỏ trên nhưng Bắc Kinh từ chối.Giữa năm 2004, cuộc khẩu chiến liên quan vùng biển có chủ quyền chồng lấn giữa Nhật và Trung Quốc bắt đầu căng thẳng; Ngoại trưởng Trung Quốc Lý Triệu Tinh – vào ngày 22/6/2004, trong cuộc gặp đồng nhiệm Yoriko Kawaguchi – đã đề xuất hai bên cùng hợp tác. Dù vậy, Nhật tiếp tục yêu cầu cung cấp thông tin vị trí chính xác các dự án mỏ. Một lần nữa, Trung Quốc tảng lờ. Ngày 7/7/2004, Nhật bắt đầu thăm dò mỏ khí tại EEZ của họ. Hôm sau, tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho triệu hồi Đại sứ Nhật để phản đối “hành động vi phạm lợi ích và chủ quyền Trung Quốc (của Nhật)”…Vấn đề khiến hai bên “không hiểu nhau” chính là quan điểm mâu thuẫn về lằn ranh phân chia EEZ giữa hai nước. Trong khi Nhật định nghĩa lằn ranh, trong trường hợp phức tạp này, là khoảng cách bằng nhau tính từ bờ biển hai nước, Bắc Kinh lại cho rằng EEZ của họ phải mở rộng đến rìa thềm lục địa Trung Quốc. Có thể tình hình sẽ không đến nỗi nào nếu tại vùng biển tranh chấp không có mỏ khí thiên nhiên Xuân Hiểu (Nhật gọi là Shirakaba) mà vài năm nay Trung Quốc đã khai thác. Theo Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), EEZ của một nước nằm trong phạm vi 200 dặm (tức 370 km) tính từ bờ thuộc quốc gia đó. Tuy nhiên, cả Bắc Kinh lẫn Tokyo (đều ký UNCLOS năm 1996) lại không đồng ý về phân định lằn ranh chung.Bắc Kinh cho rằng mỏ Xuân Hiểu nằm hẳn bên trong EEZ của mình và rằng, Xuân Hiểu vẫn còn cách đường biên giới biển (theo cách tính của Nhật) đến 4 km. Phần mình, Tokyo cho rằng, dù Xuân Hiểu – trên bề mặt – nằm trong phạm vi EEZ Trung Quốc nhưng những mỏ khí của Xuân Hiểu trong lòng biển có thể kéo dài đến EEZ thuộc phía bên Nhật. Tổng quát, có khoảng 40.000 km2 EEZ đang tranh chấp giữa hai nước. Chuyện giành nhau từng “tấc” biển giữa Nhật – Trung không dừng lại ở đó, đặc biệt tại vùng biển Hoa Đông với diện tích mênh mông 1.249.000km2 (phía đông giáp đảo Kyushu và Ryukyu của Nhật; nam giáp Đài Loan và tây giáp Hoa lục).

“Okinotorishima, chúng tôi gọi đó là đảo!”
Liên quan tranh chấp sở hữu vùng biển Nhật – Trung, không chỉ có Shirakaba, Xuân Hiểu hay Senkaku, Điếu Ngư. Đầu năm 2010, câu chuyện “truyền kỳ mạn lục” về tranh chấp lãnh hải Nhật – Trung lại được thổi bùng, quanh quần đảo cực nhỏ ở cực Nam nước Nhật có tên Okinotorishima. Nhật gọi nó là đảo nhưng Trung Quốc nói nó chỉ là vài tảng đá. Trong nhiều thập niên, Okinotorishima bị bỏ hoang cho nắng, gió biển khơi nhưng đột nhiên Okinotorishima được “cấp” mã vùng điện thoại rồi được chuẩn bị xây một cầu cảng, dù nó cách Tokyo đến 1.700km. Mục đích của Nhật là “chủ quyền hóa” một vùng EEZ tính từ “bờ” Okinotorishima (nằm giữa Đài Loan và Guam).


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/3-1Trung-quoc_-Nhat-Ban.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/3-1Trung-quoc_-Nhat-Ban.jpg?a23879)

Thống đốc Tokyo Shintaro Ishihara trong lần thân chinh ra thăm viếng đảo Okinotorishima vào tháng 5/2005

Lâu nay Trung Quốc không đếm xỉa và chưa bao giờ giành chủ quyền Okinotorishima nhưng với động thái của Nhật, Bắc Kinh đã phản đối dữ dội, nói rằng việc “chủ quyền hóa” vùng biển 400.000km2 quanh Okinotorishima (rộng hơn cả diện tích toàn bộ đất liền nước Nhật) là điều không thể chấp nhận. Bắc Kinh cho rằng, theo luật, dăm ba hòn đá san hô nổi chơ vơ trên biển không thể đáp ứng nhu cầu sống con người (điều kiện bắt buộc để có thể thành lập một EEZ, theo quy định UNCLOS); do đó không thể gọi nó là đảo và như vậy không thể hợp pháp khi lập ra EEZ…Phần mình, Tokyo khẳng định, Okinotorishima rõ ràng là một “hòn đảo to”. “Khi thủy triều xuống, Okinotorishima đo được 4,5km x 1,8km; diện tích 8km2; bờ biển dài 10km. Thế mà không to à?” – phát biểu của Yasuhiro Okanishi, cố vấn nội các, thuộc Trung tâm Chính sách đại dương Nhật Bản. Tokyo còn cho rằng, bản thân Trung Quốc cũng tự tuyên bố nhiều EEZ quanh các hòn đảo trơ trọi, kể cả bãi san hô ngầm, tại biển Đông, nơi họ đang giành lấn với các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. “Thật buồn cười khi nhiều “hòn đảo” thuộc Trung Quốc theo định nghĩa của Bắc Kinh lại quanh năm nằm dưới mực nước biển.Thậm chí khi thủy triều xuống thấp cũng chẳng thấy mặt mũi chúng đâu” – nhận xét của Shin Tani (Trung tâm Chính sách đại dương Nhật Bản). Với trường hợp Okinotorishima, có thể thấy rằng việc “nâng cấp” cụm san hô Okinotorishima lên thành đảo để từ đó tuyên bố thành lập EEZ là một “cách chơi” (thâm ra trò!) của Nhật. Thuộc Biển Philippines (trên bản đồ quốc tế), nằm giữa Đài Loan – Hoa lục và gần căn cứ Guam của Mỹ, Okinotorishima với EEZ của nó sẽ bao phủ và lấn chồng tuyến hải lộ chính của Trung Quốc dẫn ra Thái Bình Dương.Năm 2007, luật sư Cao Chí Quốc (Trung Quốc) thuộc Tòa quốc tế LHQ về Luật Biển đã “thành thật” nói rằng: “Chúng tôi luôn hy vọng rằng, sau khi lấy lại Đài Loan, Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia biển thật sự nhìn thẳng ra Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu Nhật tuyên bố EEZ quanh Okinotorishima, niềm hy vọng tốt lành của chúng tôi sẽ gặp trở ngại”. Họ Cao nhấn mạnh, “tầm quan trọng chiến lược và quân sự của Okinotorishima là rất rõ ràng”, bởi nó “có thể dùng như một trạm do thám trong thời bình để rình rập các hoạt động quân sự của chúng tôi; và dùng như một trạm tiền phương trong thời chiến”.Vấn đề không chỉ Okinotorishima đang tạo ra một thất thế liên quan chiến lược quân sự đối với Trung Quốc mà nó còn sẽ khiến Bắc Kinh chịu thiệt về mặt đối ngoại tranh chấp chủ quyền. Matsushiro Horiguchi thuộc Trường nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương (Đại học Waseda) đã chỉ rõ như sau: lâu nay Trung Quốc xem các khu EEZ của họ, hợp pháp hay không hợp pháp theo luật quốc tế, là vùng biển thuộc lãnh hải họ, “bất khả tranh nghị”. Từ đó, họ yêu cầu tàu chiến nước ngoài phải xin phép trước khi đi vào EEZ mình. Thậm chí họ còn ra lệnh cấm đánh bắt cá đối với ngư dân khu vực, một cách ngạo mạn đến phi lý. Bây giờ, Bắc Kinh lo rằng, Tokyo có thể dùng chính đòn này để xử lại Trung Quốc. Rõ ràng, nếu cần, Nhật hoàn toàn có thể làm khó bằng cách yêu cầu Trung Quốc trình “giấy phép” khi đi ngang đặc khu EEZ thuộc Okinotorishima!Trong thực tế, Nhật đã nhìn ra cái tầm “đại cục” của Okinotorishima (gồm ba tiểu đảo Higashikojima, Kitakojima và Minamikojima) từ nhiều thập niên trước. Năm 1987, Nhật bắt đầu thực hiện dự án “bao bờ” kiên cố bằng bê tông cho Higashikojima và Kitakojima (với kinh phí 280 triệu USD; và phủ một “tấm lưới” bằng titan trị giá 50 triệu USD cho Minamikojima để tránh bị xói mòn bởi sóng biển). Tổng cộng, Nhật bỏ ra khoảng 600-740 triệu USD trong nhiều năm để bảo vệ Okinotorishima khỏi ảnh hưởng thiên nhiên. Năm 2005, Nhật lắp một hệ thống radar (330 triệu yen); sửa chữa cảng trực thăng và chính thức đặt bảng tên cho cụm đảo (ghi là: “1 Đảo Okinotori, làng Ogasawara, Tokyo”).Tháng 11/2004 và tháng 3/2005, Tổ chức Nippon (trước kia gọi là Tổ chức Sasagawa) thực hiện các cuộc thăm dò sinh thái quanh Okinotorishima. Báo cáo của họ kết luận: cần phải xây một cột hải đăng; nuôi san hô; cấy glauconite và foraminifera (các loại hữu cơ vỏ cứng cực nhỏ biến thành cát sau khi chúng chết) để tạo ra bờ thềm nhân tạo; xây một nhà máy điện lấy từ nguồn nhiệt đại dương; khảo sát nguồn khoáng sản trong lòng biển; xây cơ sở hạ tầng xã hội chẳng hạn cảng hoặc nhà cho người để sinh sống và làm việc dài hạn; khuyến khích du lịch… Ngày 20/5/2005, thống đốc Tokyo Shintaro Ishihara đã thân chinh viếng thăm đảo.Năm 2009, khi Đảng Dân chủ lên nắm quyền, Thủ tướng Yukio Hatoyama lập tức tuyên bố chi 7 triệu USD vào năm 2010 để lập một cơ sở sinh hoạt tại Okinotorishima. Năm 2011, với loạt sự kiện căng thẳng trên biển Đông (trong đó có vụ Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh của chúng ta), Nhật quyết định tăng tốc việc xây hạ tầng cho Okinotorishima – biến nơi này không chỉ là địa điểm thỏa mãn yêu cầu sinh hoạt nghiên cứu lâu ngày mà còn đóng vai trò làm căn cứ tiền trạm đóng quân dài hạn của Tuần dương lẫn hải quân Nhật!
Nắn gân…


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/4Trung-quoc_-Nhat-Ban.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/4Trung-quoc_-Nhat-Ban.jpg?a23879)
Tàu khu trục trang bị tên lửa Giang Hồ (Jianghu) của Trung Quốc trong một lần chạy ngang hải phận Okinawa

Trên Nhân Dân nhật báo (1/2/2012), tác giả Khương Phong viết rằng, việc Nhật chuẩn bị đặt tên cho 39 hòn đảo trong đó có vài hòn thuộc quần đảo Senkaku, Điếu Ngư cuối cùng sẽ bị “phát sanh hồi hỏa”, tức bị dính đòn hồi mã thương, tức tự mình làm bỏng tay mình… Cục diện tranh chấp không chỉ thể hiện ở những “khẩu khí” như vậy. Đầu tháng 2/2012, Trung Quốc tung ra 4 tàu khu trục nhỏ diễu qua diễu lại tại khu vực gần Okinawa. Phía Nhật còn cho biết, trong 9 tháng sau của năm 2011, trung bình mỗi tháng, chiến đấu cơ Nhật đã phải miễn cưỡng tiếp 37 trường hợp vi phạm không phận nước mình, đặc biệt khu vực Hoa Đông, bởi máy bay nước ngoài, với 43% là máy bay Trung Quốc.Phần Nhật, đầu tháng 2/2012, hai nghị sĩ Koichi Mukoyama (Đảng Dân chủ) và Yoshitaka Shindo (Đảng Dân chủ Tự do) cũng đã làm “phức tạp thêm tình hình” khi đến quan sát khu vực quần đảo Senkaku, Điếu Ngư từ một tàu đánh cá. Đây là hai nghị sĩ Nhật đầu tiên đến đảo Uotsuri (thuộc Senkaku, Điếu Ngư) kể từ sự kiện dân biểu Shingo Nishimura đặt chân đến Uotsuri năm 1997. Những động thái khiêu khích và thăm dò đối phương kiểu này của hai bên, cho đến nay, vẫn chỉ hạn chế trong chừng mực của tiểu xảo “nắn gân chính trị” là chính. Tuy nhiên, việc chơi trò “nắn gân” đòi hỏi phải có bản lĩnh và “nghệ thuật”. Chỉ cần một liều lượng nhỏ thiếu kiềm chế được thêm vào, ai biết được, rồi chuyện gì sẽ xảy ra…
(Xem tiếp kỳ sau)
Mạnh Kim

dongdoi_f2
16-02-2012, 10:01 AM
Cuộc chiến không tiếng súng (P2)

(Petrotimes) - Trong suốt thời gian khá dài, Trung Quốc đã đấu quyết liệt với Nhật trong việc lập dự án tuyến ống dẫn từ Siberia. Cuối cùng, ai đã thắng khi thuyết phục thành công Nga?


Kỳ 2: Nóng tại miền đất lạnh Siberia





Đòn tập hậu của Tokyo
Cuộc chiến bắt đầu nóng hổi vào năm 2004. Nhật – một đất nước luôn phải nhập khẩu dầu (tiêu thụ thứ ba thế giới) – đã vận động hậu trường Moscow giúp thực hiện dự án xây tuyến ống dẫn hơn 4.000km từ Siberia đến khu vực bờ biển nước mình. Trong khi đó, Trung Quốc, nước tiêu thụ dầu thứ hai thế giới sau Mỹ, cũng xem nguồn dầu Nga là một phần của chính sách an ninh năng lượng quốc gia và cũng thuyết phục Moscow đồng ý để họ hỗ trợ lập tuyến ống dẫn 2.253km từ Siberia đến Đại Khánh (Hắc Long Giang). Được hậu thuẫn của Tập đoàn dầu khí khổng lồ Yukos (Nga), Trung Quốc nói rằng tuyến ống dẫn của họ ngắn hơn và như vậy ít tốn kém hơn. Thoạt đầu, Nga đã đồng ý góp 2 tỉ USD vào dự án của Trung Quốc. Việc xây tuyến ống dẫn dự kiến bắt đầu vào năm 2003 và hy vọng đến năm 2005 có thể “tải” được 20-80 triệu tấn dầu thô mỗi năm.


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/339.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/339.jpg?a23879)

Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev (tại cuộc họp thượng đỉnh APEC ở Honolulu tháng 11/2011)

Giữa lúc tưởng chừng “xuôi chèo mát mái” như thế, Nhật âm thầm tung ra một đòn hiểm. Tháng 5/2003, đích thân Thủ tướng Junichiro Koizumi gặp riêng Tổng thống Nga Vladimir Putin, thuyết phục Moscow ngưng kế hoạch xây tuyến ống dẫn với Trung Quốc. Tokyo nói rằng, một tuyến ống dẫn nối thẳng nguồn dầu Nga ra Thái Bình Dương, dù dài hơn với chi phí đầu tư tốn kém hơn sẽ giúp dầu Nga không chỉ bán được cho Trung Quốc mà còn tiếp cận được thị trường Đông Nam Á và thậm chí có thể dễ dàng xuất sang Bắc Mỹ. Ngoài ra, Koizumi còn hứa cho Nga vay 14 tỉ USD trong dự án tuyến ống dẫn (kinh phí dự tính khoảng 16 tỉ USD), chưa kể 8 tỉ USD cho các dự án khai thác dầu tại khu vực Viễn Đông thuộc Nga, chưa kể khoản “khuyến mãi” 2 tỉ USD cho các dự án “an sinh xã hội” Nga…Trong thực tế, việc Bắc Kinh ve vãn Moscow đã bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ trước. Năm 1994, Trung Quốc và Nga cùng nghiên cứu một tuyến ống dẫn từ Angarsk (thuộc Irkutsk Oblast, Siberia) đến Đại Khánh, với hai đối tác chính là Yukos và Công ty dầu quốc gia Trung Quốc (CNPC – “Trung Quốc thạch du thiên nhiên khí tập đoàn công ty”). Năm 1999, Thủ tướng Nga Yevgenii Primakov và đồng nhiệm Chu Dung Cơ thậm chí đã ký thỏa thuận khung việc khảo sát thị trường xuất khẩu dầu khu vực Viễn Đông. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Moscow với Tập đoàn Yukos của ông trùm Mikhail Khodorkovsky (hiện thụ án tội biển thủ) trở nên xấu dần.Ngày 28/5/2003, Tổng thống Vladimir Putin từ chối dự lễ ký hợp đồng xây dựng tuyến ống dẫn Angarsk – Đại Khánh giữa Yukos và CNPC. Trước đó, năm 2002, Nhật đã âm thầm vận động hậu trường Moscow. Thế rồi, “đùng một cái”, ngày 30/12/2004, Nga khiến Trung Quốc bất ngờ khi chính thức ký biên bản hợp tác với Nhật, cho dự án xây tuyến ống dẫn 4.130km nối Taishet (Đông Siberia) đến thành phố cảng Nakhodka (thuộc Nga) nằm trên vùng biển Nhật Bản (Yukos được thay bằng Transneft; CNPC được thay bằng Tập đoàn dầu quốc gia Nhật). Kết quả, việc xây tuyến ống dẫn được tiến hành vào tháng 4/2006 (dự kiến hoàn thành năm 2013), trở thành dự án tuyến ống dẫn tốn kém nhất lịch sử công nghiệp dầu hỏa thế giới…Để tránh mất lòng Bắc Kinh sau vụ “lật kèo” trên, Nga đã tế nhị hứa tăng gấp đôi xuất khẩu dầu cho Trung Quốc, từ 6,46 triệu tấn năm 2004 lên 15 triệu tấn năm 2006, được vận chuyển bằng tàu lửa. Bất luận thế nào, việc Moscow quyết định chọn Nhật cũng là một cú đấm làm Bắc Kinh xây xẩm.Những tác động chính trị kéo theoPhải nói đây là một trong những thành công ngoạn mục của Junichiro Koizumi thời giữ ghế thủ tướng Nhật (2001-2006). Với tuyến ống dẫn từ Siberia, Nhật đã có thể thở phào khi trút được gánh nặng áp lực phải nhập 85% dầu từ Trung Đông. Nhờ tuyến ống dẫn Angarsk – Nakhodka, Nhật có thể giảm 10-15% sự lệ thuộc nguồn dầu Trung Đông. Sự giảm sức ép phụ thuộc Trung Đông của Nhật với tư cách nền kinh tế thứ hai thế giới (xét thực lực chứ không phải tỉ trọng GDP) còn mang đến một diện mạo mới cho bức tranh an ninh năng lượng toàn cầu, bởi điều đó cho thấy Trung Đông không còn là chỗ dựa duy nhất cho năng lượng châu Á. Ngoài ra, sự hợp tác Nga – Nhật còn tạo nhiều ảnh hưởng “liên lụy” nhất định đối với viễn kiến của tham vọng địa chính trị Trung Quốc tại khu vực.


Công ty Nhật Sodeko đang tham gia dự án khai thác dầu "Sakhalin-1"


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/433.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/02/433.jpg?a23879)

Với Nga, nơi vài năm gần đây bắt đầu dùng dầu như một thứ vũ khí cân bằng quyền lực để mặc cả vai trò và sức ảnh hưởng, cũng xem sự hiện diện năng lượng của họ tại Đông Nam Á, thông qua đường ống Angarsk – Nakhodka, là một tái khẳng định quyền lực mềm, có được từ sức mạnh của vũ khí vàng đen. Việc đưa mình trở thành tay chơi chủ lực trên vũ đài địa chính trị Thái Bình Dương, nơi đang là bàn cờ chính trị nóng nhất thế giới, cũng là một tính toán tỉnh táo và hợp thời của Nga, khi quyết định hợp tác với Nhật.Rõ ràng nếu xem năng lượng là một phần liên kết nội tại với sự phóng chiếu tổng quát của sức mạnh và vị trí trên “mặt bằng” địa chính trị châu Á -Thái Bình Dương thì Nga phải chấp nhận chọn “con đường” dài hơn và tốn kém hơn – hiểu theo nghĩa đen (Angarsk – Nakhodka) lẫn bóng. Một tuyến ống dẫn Siberia-Đại Khánh chỉ thỏa mãn nhu cầu kiếm tiền. Trong khi đó, tuyến Siberia – Thái Bình Dương không chỉ kiếm được tiền mà còn được “quyền”. Đó là một lợi ích chính trị không thể so sánh, khi lượng định những sức nặng vô hình trên bàn cân địa chính trị.Còn một điều cần phải nói nữa. Đó là nỗi lo ngại về sự bành trướng “không gian kinh tế Trung Quốc” tại khu vực Viễn Đông, nếu Nga thuận theo kế hoạch Siberia – Đại Khánh. Moscow biết quá rõ rằng, nếu dự án tuyến ống dẫn Siberia – Đại Khánh được thực hiện, với loạt công trình hạ tầng phát sinh và loạt điều chỉnh môi trường (giải tỏa, phá rừng…) làm thay đổi diện mạo Viễn Đông, sẽ có những làn sóng “gia nhập hộ khẩu” đột biến từ Trung Quốc kéo sang. “Hán hóa” Siberia bỗng nhiên (lại có thể) được hợp thức hóa! Điều đó, với Moscow, là một viễn cảnh chẳng mấy hay ho. Và đây là một tỉnh táo nữa của Moscow khi kịp nhận ra bản chất sự việc…

Nga – Nhật tiếp tục hợp tác
Cho đến trước năm 2014, ít nhất 6 mũi khoan thăm dò dầu khí tại Đông Siberia sẽ được Tập đoàn Dầu khí – Khoáng sản Quốc gia Nhật (JOGMEC) hợp tác với đối tác Nga Irkutsk Oil thực hiện, với kinh phí ít nhất 200 triệu USD. Ngoài Siberia, các công ty dầu Nhật cũng có mặt ở nhiều dự án khai thác dầu tại Sakhalin, đặc biệt dự án “Sakhalin-1” với sự hiện diện của công ty Sodeko.Trong khi đó, Mitsui và Mitsubishi tham gia “Sakhalin-2”. Mức độ phủ sóng của Nhật còn thể hiện ở sự hỗ trợ kỹ thuật cho các công trình cầu đường tại Vladivostok, nơi Nga đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC 2012 (vào tháng 9). Moscow và Tokyo cũng đang tỏ ra cùng có thiện chí giải pháp dứt điểm cuộc tranh chấp chủ quyền quanh quần đảo Kuril…











Mạnh Kim

danngoc
16-02-2012, 01:51 PM
Em tới Hokkaido, các bảng chỉ đường ngoài ghi chữ Nhật thì còn có tiếng Nga, thay vì tiếng Anh như ở miền Kyushu

dongdoi_f2
21-02-2012, 12:25 PM
Trung Quốc tìm cách độc quyền tiếp cận dầu mỏ Đông Siberia (Tamnhin.net) - Do Mỹ có khả năng ngăn cản nguồn cung cấp dầu mỏ cho Trung Quốc từ các vùng trên thế giới trừ Nga, do đó Bắc Kinh ngày càng quan tâm tới nguồn dầu mỏ Đông Siberia.




http://www.tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%c4%83m%202012/0212/1802/ImageHandler.ashx.jpg


Xây dựng đường ống dẫn dầu Đông Siberia-Thái Bình Dương


Giám đốc Quỹ An ninh năng lượng quốc gia Nga Konstantin Simonov đã bình luận như vậy về đề xuất của Trung Quốc mua toàn bộ lượng dầu được vận chuyển qua đường ống dẫn dầu Đông Siberia - Thái Bình Dương (ESPO).

Ông Konstantin Simonov nói Trung Quốc đang tích cực mua dầu mỏ ở châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ có thể dễ dàng ngăn chặn hành trình vận chuyển dầu mỏ từ vùng Vịnh Ba Tư tới Trung Quốc qua eo biển Malacca và Hormuz. Nếu cần thiết, Mỹ có thể chặn các tàu chở dầu đi từ Châu Phi hoặc ở Biển Đỏ hoặc trong vùng biển Somalia. Chuyên viên Nga cho rằng, mặc dù Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama thông qua các doanh nhân gốc Trung Quốc, nhưng Mỹ có thể dễ dàng ngăn chặn hành trình này không cho Trung Quốc tiếp cận dầu mỏ Venezuela. Ông nói: “Tất cả các hành trình vận chuyển dầu mỏ sang Trung Quốc đều nằm trong khu vực có nguy cơ quân sự nghiêm trọng và Bắc Kinh hiểu rõ điều đó. Trung Quốc có thể ký kết rất nhiều hợp đồng, nhưng điều đó vẫn không bảo vệ nước này khỏi các tình huống rủi ro. Nga là nước sản xuất dầu lớn duy nhất mà Trung Quốc không có vấn đề như vậy. Hải quân Mỹ không có khả năng ngăn chặn việc cung cấp dầu mỏ Nga cho Trung Quốc vì quá trình vận chuyển thực hiện qua đường ống dẫn”.

Đối với Trung Quốc, dầu mỏ Đông Siberia trở thành một “cây đũa thần” trong trường hợp bất trắc về quan hệ với Mỹ. Hiện nay, Bắc Kinh tiêu thụ 15 triệu tấn dầu/năm được cung cấp qua chi nhánh của ESPO “Skovorodino-Đại Khánh” và đang tiến hành cuộc đàm phán để tăng gấp đôi khối lượng đó. Tức là, Trung Quốc muốn mua toàn bộ khối lượng dầu bơm qua ESPO. Hiện nay, 15 triệu tấn còn lại được vận chuyển qua đường biển từ cảng Kozmino ở Thái Bình Dương. Đây là điểm cuối cùng của đường ống ESPO. Các nước nhập khẩu lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các tàu chở dầu của Trung Quốc cũng ghé vào cảng Kozmino để lấy dầu. Trung Quốc phải chịu sự cạnh tranh gay gắt vì Mỹ trả giá cao hơn 4-5 USD/thùng so với giá trung bình. Trong khi đó vấn đề chính ở đây không phải là giá dầu. Nếu giành được toàn bộ lượng dầu khai thác ở Đông Siberia, thì Trung Quốc sẽ ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiếp cận nguồn nhiên liệu này ít nhất trong vài năm tới chừng nào Nga chưa bắt đầu khai thác các mỏ dầu mới. Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế châu Á ngay hiện nay có nhu cầu về dầu mỏ Siberia.

Nếu Nga bị ràng buộc chặt chẽ vào nhà nhập khẩu chỉ có một Trung Quốc thì điều đó không phục vụ lợi ích kinh tế và chính trị của Mátxcơva. Liên bang Nga quyết định xây dựng chi nhánh đường ống tới bờ biển Thái Bình Dương đã được thông qua để có khả năng xuất khẩu dầu mỏ không chỉ cho Trung Quốc mà còn cho các thị trường khác. Vì thế xét theo mọi việc, Nga sẽ không có quyết định đưa toàn bộ khối lượng dầu mỏ từ Đông Sibiri sang Trung Quốc.

Mặt khác, dầu mỏ Siberia cũng là mặt hàng được bán theo quy luật cạnh tranh trên thị trường quốc tế.


Minh Châu (theo Voice of Russia-VOR)

dongdoi_f2
03-03-2012, 06:55 PM
Nhà máy điện hạt nhân nổi (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/03/nha-may-dien-hat-nhan-noi)



(Petrotimes) - Nga đang xây dựng một nhà máy điện hạt nhân nổi, một sáng tạo trong sản xuất năng lượng có thể cung cấp điện đến những nơi xa xôi hẻo lánh của thế giới.
Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử của Nga, Rostom đang thực hiện những đột phá lớn trong kế hoạch xây dựng một nhà máy điện hạt nhân thương mại trong tàu thủy. Tàu thủy nguyên mẫu mang tên “Akademik Lomnosov”, dùng để chứa hai lò phản ứng hạt nhân và những thiết bị phát điện đã được hạ thủy ngày 30/6/2010 gần nhà máy đóng tàu Baltisky ở St Petersburg. Hai lò phản ứng nước nén KLT-40S dựa theo những lò phản ứng của những tàu phá băng hạt nhân được cải tiến và được Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) đồng ý cho sử dụng, mỗi lò phản ứng có công suất khoảng 35 megawat. Tại đây đang lắp ráp những bộ phận bên trong tàu để nhà máy có thể đi vào hoạt động trong năm 2013. Nếu thành công, Nga có kế hoạch xây dựng tổng cộng 7 nhà máy điện hạt nhân nổi cho đến năm 2015.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/Akademik-Lomnosov.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/Akademik-Lomnosov.jpg?a23879)
"Hạ thủy" nhà máy điện hạt nhân nổ Akademik Lomnosov ngày 30/6/2010



Chính phủ Nga coi nhà máy điện hạt nhân nổi như là sự đột phá về công nghệ sẽ cung cấp nguồn năng lượng kinh tế và bền vững đối với những vùng xa xôi của Nga cũng như để xuất khẩu ra nước ngoài. Thêm vào đó, nhà máy loại này cũng có thể cung cấp năng lượng cho Nga tiến hành khai thác dầu mỏ và khí đốt trong những điều kiện môi trường cực kỳ khó khăn ở Bắc Cực. Nhà máy cũng có năng lực cung cấp năng lượng cho khử mặn dường như cũng hấp dẫn đối với các quốc gia ở cận Đông và Bắc Phi thiếu nước ngọt.Rostom cho rằng, điện phát ra từ nhà máy điện hạt nhân nổi cung cấp đủ cho nhu cầu điện của một thành phố 200.000 dân.Nga sẽ sử dụng nhiên liệu uranium được làm giàu thấp (dưới 20%) để cung cấp cho hai lò phản ứng được đặt trên tàu thủy. Những nhiên liệu hạt nhân đã được nhà máy này sử dụng được đưa đi 10 năm một lần với thời gian nạp nhiên liệu hạt nhân một năm rưỡi hay hai năm/lần. Nhà máy sẽ được đưa đến trạm dịch vụ để nạp nhiên liệu hạt nhân.Dự kiến nhà máy này sẽ hoạt động được khoảng 38 năm và khi hết hạn sử dụng sẽ đưa đến nơi lắp ráp của nhà máy để thanh lý. Đã có kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân thứ hai ở Pevek trên bán đảo Chokoka và những nhà máy tiếp theo sẽ do Nga cung cấp vốn trên cơ sở thương mại. Moscow hy vọng sử dụng công nghệ này để cung cấp những phương tiện phát điện kinh tế và thân thiện với môi trường hơn ở những vùng xa xôi của Nga thay vì xây dựng những nhà máy điện chạy bằng nhiên liệu hóa thạch tốn kém. Hiện Nga là nước đứng thứ tư về sản xuất điện bằng năng lượng hạt nhân với 10 địa điểm và 32 đơn vị hạt nhân đang hoạt động.Việc Nga thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân nổi thương mại đầu tiên trên thế giới tiêu tốn 528 triệu USD và 70 triệu USD để xây dựng những cơ sở hạ tầng hỗ trợ trên đất liền. Mức chi phí này thấp hơn nhiều so với xây dựng một nhà máy điện hạt nhân truyền thống, ước tính từ 3 tỉ USD đến 18 tỉ USD tùy theo công suất và loại nhà máy điện hạt nhân. Dự án nhà máy điện hạt nhân nổi của Nga càng thu hút được nhiều sự chú ý trong những tháng gần đây sau khi xảy ra thảm họa ở Nhà máy Điện hạt nhân Fukushima và mối lo ngại của những nhà hoạt động về môi trường do hạt nhân ngày càng tăng, về sự đảm bảo an toàn và an ninh của hoạt động của nhà máy điện hạt nhân nổi ở ngoài biển do tác động của những rủi ro tiềm tàng trong đó có những hoạt động khủng bố, cướp biển và những thiên tai như động đất và sóng thần, nhưng những lò phản ứng hạt nhân của nhà máy điện hạt nhân nổi được đặt trong cái vỏ bọc bên ngoài vững chắc, một cấu trúc có thể bảo vệ lò phản ứng khỏi bị sự tấn công từ bên ngoài mà còn chịu đựng được trong những điều kiện máy bay lao thẳng xuống con tàu hoặc động đất 8 độ richter.Minh Quốc

Trong ngành điện thì vấn đề này cũng được biết từ thế kỷ trước quãng những năm cuối 199x, khi đó Nga cũng đã chào cho VN mô hình này, nhưng VN lúc đó không có tiền để làm.

dksaigon
03-03-2012, 10:47 PM
Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng?...
Một số quốc gia từng để xảy ra thảm họa hạt nhân nằm trong số có các công ty đang "ra sức" bán công nghệ năng lượng này cho Việt Nam, trong đó có Nga và Nhật Bản.
...
Ông Nhẫn tin rằng các công ty cung cấp công nghệ điện hạt nhân đang cố bán hàng cho Việt Nam vì họ đã "chót đầu tư" và nay lại bị chính trong nước của họ không cho lắp đặt, vận hành, nên tìm cách bán thứ công nghệ mà ông cho là "đã lỗi thời" và không có tương lai sang các quốc gia kém phát triển "chỉ vì lợi nhuận:"
"Họ làm là để họ bán. Nhật không thể nào xây cất ở trong nước của được. Nga thì ẩu, nước của họ lớn, rộng, nếu họ làm, thì họ sẽ bị một Chernobyl khác... Mỹ ba chục năm nay họ không xây cất nữa, họ chỉ làm để bán. Vì đó là vấn đề thị trường quốc tế, họ đã đầu tư rồi thì họ muốn bán.
...
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/03/120302_vn_nuclear_critics.shtml

dksaigon
05-03-2012, 11:09 AM
Năng lượng gió của Việt Nam: Tiềm năng và triển vọng

1. Tình hình cung – cầu điện năng ở Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm – tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Chiến lược công nghiệp hóa và duy trì tốc độ tăng trưởng cao để thực hiện „dân giàu, nước mạnh“ và tránh nguy cơ tụt hậu sẽ còn tiếp tục đặt lên vai ngành điện nhiều trọng trách và thách thức to lớn trong những thập niên tới. Để hoàn thành được những trọng trách này, ngành điện phải có khả năng dự báo nhu cầu về điện năng của nền kinh tế, trên cơ sở đó hoạch định và phát triển năng lực cung ứng của mình.
Việc ước lượng nhu cầu về điện không hề đơn giản, bởi vì nhu cầu về điện là nhu cầu dẫn xuất. Chẳng hạn như nhu cầu về điện sinh hoạt tăng cao trong mùa hè là do các hộ gia đình có nhu cầu điều hòa không khí, đá và nước mát. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất cần điện là do điện có thể được kết hợp với các yếu tố đầu vào khác (như lao động, nguyên vật liệu v.v.) để sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng. Nói cách khác, chúng ta không thể ước lượng nhu cầu về điện một cách trực tiếp mà phải thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc ước lượng nhu cầu của các sản phẩm cuối cùng.(1 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#1)) Nhu cầu này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào nhiều biến số kinh tế và xã hội khác. Bảng dưới đây cung cấp dữ liệu lịch sử của một số biến số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam trong những năm qua. http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/mot-so-bien-so-anh-huong-toi-nhu-cau-dien-o-vietnam.jpg?w=500 (http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/mot-so-bien-so-anh-huong-toi-nhu-cau-dien-o-vietnam.jpg)
Một cách khác để nhìn vào khía cạnh cầu về điện năng là phân tách tổng cầu về điện theo các ngành kinh tế (Hình 1). Ta thấy số liệu ở Bảng 1 và Hình 1 tương thích với nhau. Nhu cầu về điện năng trong công nghiệp và sinh hoạt/ hành chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nhu cầu.
Năm 2005, điện phục vụ tiêu dùng và công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn, lần lượt là 43,81% và 45,91%, trong khi 11% còn lại dành cho nông nghiệp và các nhu cầu khác. Nhu cầu điện của khu vực công nghiệp tăng cao là hệ quả trực tiếp của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, mà một biểu hiện của nó là tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN trung bình trong hơn 10 năm qua đạt mức khá cao là 10,5%. Còn ở khu vực tiêu dùng, cùng với mức tăng dân số, tốc độ đô thị hóa khá cao, và gia tăng thu nhập của người dân, nhu cầu về điện tiêu dùng cũng tăng với tốc độ rất cao. Kết quả là nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình gần 13%/năm, và tốc độ tăng của mấy năm trở lại đây thậm chí còn cao hơn mức trung bình. Theo dự báo, tốc độ tăng chóng mặt này sẽ còn tiếp tục được duy trì trong nhiều năm tới. Đây thực sự là một thách thức to lớn, buộc ngành điện phải phát triển vượt bậc để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/nhu-cau-dien-vietnam-1981-2005.jpg?w=500&h=342
Bây giờ hãy thử kết hợp những dự báo về nhu cầu điện năng của nền kinh tế với năng lực cung ứng của ngành điện. Nếu tốc độ phát triển nhu cầu về điện tiếp tục duy trì ở mức rất cao 14-15%/năm như mấy năm trở lại đây thì đến năm 2010 cầu về điện sẽ đạt mức 90.000 GWh, gấp đôi mức cầu của năm 2005. Theo dự báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp tục được duy trì ở mức 7,1%/năm thì nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là khoảng 200.000 GWh, vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay cả khi huy động tối đa các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của chúng ta cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh (năm 2030). Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một cách nghiêm trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm. Nếu dự báo này của Tổng Công ty Điện lực trở thành hiện thực thì hoặc là chúng ta phải nhập khẩu điện với giá đắt gấp 2-3 lần so với giá sản xuất trong nước, hoặc là hoạt động sản xuất của nền kinh tế sẽ rơi vào đình trệ, còn đời sống của người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Không phải đợi đến năm 2010 hay 2020, ngay trong thời điểm hiện tại chúng ta cũng đã được “nếm mùi” thiếu điện. Năm 2005, lần đầu tiên sau nhiều năm trở lại đây, người dân ở hai trung tâm chính trị và kinh tế của đất nước chịu cảnh cắt điện luôn phiên gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế (2 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#2))
(1) Về mặt kỹ thuật, để ước lượng chính xác nhu cầu về điện, chúng ta còn phải xem xét khả năng thay thế giữa điện năng và các yếu tố đầu vào khác trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng; và điều này phụ thuộc vào công nghệ tương lai mà trên thực tế rất khó có thể dự báo một cách chính xác.
(2)”Thiếu điện: Hà Nội ngột ngạt”, VietnamNet – http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/2005/05/437949/

2. Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam
Đứng trước thách thức thiếu hụt điện (không nằm ngoài xu thế chung của toàn cầu), chúng ta cần cân nhắc những biện pháp ứng xử thích hợp. Trong ngắn hạn, việc tiết kiệm điện trong các hoạt động sản suất và sinh hoạt đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét phương án tăng giá điện như đề xuất hiện nay của Bộ Công nghiệp. Việc tăng giá điện một mặt có tác dụng điều chỉnh mức cầu về điện năng, mặt khác giúp tăng tích lũy để mở rộng đầu tư cho ngành điện. Tuy nhiên, vì việc tăng giá điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quảng đại nhân dân và của hoạt động sản xuất kinh doanh nên giải pháp tăng giá điện cần được cân nhắc một cách thận trọng. Phương án tăng giá điện phải tính đến tính công bằng giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau, trong đó cần hạn chế đến mức độ tối đa tác động tiêu cực đối với các nhóm dân cư có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, cũng phải lưu ý rằng điện là một yếu tố đầu vào thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, việc tăng giá điện sẽ có thể ảnh hưởng tới mức lạm phát vốn đã xấp xỉ ngưỡng 2 con số. Không những thế, nếu nhìn sang các nước xung quanh thì thấy ngay với mức giá hiện tại, giá điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái-lan, In-đô-nê-xia, và Ma-lay-xia. Như vậy, việc tăng thêm giá điện 10-15% trong năm nay và những năm kế tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vốn đã bị giảm liên tục trong mấy năm trở lại đây.
Trong trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần có chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách một mặt mở rộng khai thác những nguồn năng lượng truyền thống; mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn, phát triển các nguồn năng lượng mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo. Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của công nghệ trong tương lai cũng như vào mức giá tương đối của các nguồn năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm này, chúng ta mới chú trọng đến phương án thứ nhất, tức là tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chủ yếu là thủy điện. Về kế hoạch phát triển nguồn năng lượng mới, ngày 3/1/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ”Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình tới năm 2020”. Theo dự báo của Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia thì vào năm 2020, nếu theo đúng tiến độ thì công suất điện hạt nhân sẽ đạt mức 2000 MW, bằng 7% tổng công suất. Cũng theo dự báo này, khi ấy nhiệt điện khí sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất (38%), sau đó là đến thủy điện (29%), nhiệt điện than (17%) và nhập khẩu (9%).
Trong phần cuối của bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích tiềm năng của một dạng năng lượng tái tạo và sạch ở Việt Nam, đó là năng lượng gió. Phần này không có tham vọng trình bày một cách tổng quan hay đầy đủ mọi khía cạnh của việc phát triển năng lượng gió, mà chỉ nhằm góp thêm một lời bàn về khả năng phát triển năng lượng gió nhằm đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển năng lượng bền vững cho Việt Nam. Một điều đáng lưu ý là trong hàng loạt giải pháp phát triển nguồn điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế (như nhập khẩu điện, phát triển thủy điện, hay điện hạt nhân), dường như Việt Nam còn bỏ quên điện gió, một nguồn điện mà trong mấy năm trở lại đây có tốc độ phát triển cao nhất trên thị trường điện thế giới, hơn nữa giá thành ngày càng rẻ và rất thân thiện với môi trường.

3. Giá thành của điện gió, liệu có đắt như định kiến?
Cho đến tận những năm 1990, nhiều người vẫn cho rằng giá thành (bao gồm giá lắp đặt và vận hành) của các trạm điện gió khá cao. Nhưng ngày nay, định kiến này đang được nhìn nhận và đánh giá lại, đặc biệt khi quan niệm giá thành không chỉ bao gồm chi phí kinh tế mà còn gồm cả những chi phí ngoài (external cost – như chi phí về xã hội do phải tái định cư, hay về môi trường do ô nhiễm). Trong khi nguồn năng lượng từ
nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt đang bị coi là kém ổn định và có xu thế tăng giá, thì cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, giá thành của các trạm điện gió càng ngày càng rẻ hơn.
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/cost-for-wind-power-1998.jpg?w=500Hình 2: Giá thành xây lắp trạm điện gió (trục tung) tính theo công suất mỗi trạm phát (trục hoành). Năm 1998, giá thành chưa đến 1000USD/kW. Năm 2020, giá sẽ giảm xuống chỉ còn 650USD/kW. (*)

Thử lấy một ví dụ cụ thể để so sánh giá thành của điện gió và thủy điện. Nhà máy thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế là 2400 MW, được dự kiến xây dựng trong 7 năm với tổng mức đầu tư là 2,4 tỷ USD. Giá thành khi phát điện (chưa tính đến chi phí môi trường) là 70 USD/MWh. Như vậy để có được 1 KW công suất cần đầu tư 1.000USD trong 7 năm. Trong khi đó theo thời giá năm 2003 đầu tư cho 1 KW điện gió ở nhiều nước Châu Âu cũng vào khoảng 1.000 USD. Đáng lưu ý là giá thành này giảm đều hàng năm do cải tiến công nghệ. Nếu thời gian sử dụng trung bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì chi phí khấu hao cho một KWh điện gió là sẽ 14 USD. Cộng thêm chi phí thường xuyên thì tổng chi phí quản lý và vận hành sẽ nằm trong khoảng 48 – 60 USD/MWh – tương đương với thủy điện, vốn được coi là nguồn năng lượng rẻ và hiệu quả. Theo dự đoán, đến năm 2020 giá thành điện gió sẽ giảm đáng kể, chỉ khoảng 600 USD/KW, khi ấy chi phí quản lý và vận hành sẽ giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 30 USD/MWh (3 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#3), 4 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#4))
Ở Việt Nam cũng đã có một dự án điện gió với công suất 50 MW, đó là nhà máy điện gió Phương Mai ở Bình Định phục vụ cho Khu Kinh tế Nhơn Hội. Tổng đầu tư giai đoạn 1 cho 50MW điện là 65 triệu USD, và giá bán điện dự kiến là 45 USD/MWh(5 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#5)). Tiếc rằng tiến độ xây dựng nhà máy quá chậm chạp (mặc dù thời gian dự kiến xây lắp chỉ trong khoảng một năm), và vì vậy không thể đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án một cách chính xác để so sánh với giá thành của các nguồn năng lượng khác hiện có ở Việt Nam.
(*)Trong bài viết của TS. Vũ Thành Tự Anh trên trang của Chương trình Fulbright (http://www.fetp.edu.vn/downloads/casedl.cfm?fid=172), có một chút nhầm lẫn về đơn vị kW->MW. DEVI đã đính chính lại thông tin này.
(3) “Wind Power Economic – Wind Energy Costs – Investment Factors.” EWEA 2005 – www.eawa.org (http://www.eawa.org/) (các giá thành được quy đổi theo tỷ giá 1 Euro = 1,2 USD)
(4)Danish Wind Industry Association, http://www.windpower.org/en/tour/econ/index.htm
(5)“Điện năng từ gió, tiềm năng chưa được đánh thức”, http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoahoc/2005/05/3B9DE056/

4. Những lợi ích về môi trường và xã hội của điện gió
Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. Để xây dựng một nhà máy thủy điện lớn cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra với đập nước. Ngoài ra, việc di dân cũng như việc mất các vùng đất canh tác truyền thống sẽ đặt gánh nặng lên vai những người dân xung quanh khu vực đặt nhà máy, và đây cũng là bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách. Hơn nữa, các khu vực để có thể quy hoạch các đập nước tại Việt Nam cũng không còn nhiều. Song hành với các nhà máy điện hạt nhân là nguy cơ gây ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy. Các bài học về rò rỉ hạt nhân cộng thêm chi phí đầu tư cho công nghệ, kĩ thuật quá lớn khiến càng ngày càng có nhiều sự ngần ngại khi sử dụng loại năng lượng này. Các nhà máy điện chạy nhiên liệu hóa thạch thì luôn là những thủ phạm gây ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe người dân. Hơn thế nguồn nhiên liệu này kém ổn định và giá có xu thế ngày một tăng cao.
Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên cạnh những chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm.
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/social-cost-electricity-in-danmark.jpg?w=500Hình 3: Chi phí xã hội của điện gió, nhiệt điện than và khí ở Đan Mạch

Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát lớn hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với kỹ năng cao.
Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai để xây dựng các trạm tourbin mà thuê ngay đất của nông dân. Giá thuê đất (khoảng 20% giá thành vận hành thường xuyên) giúp mang lại một nguồn thu nhập ổn định cho nông dân, trong khi diện tích canh tác bị ảnh hưởng không nhiều.
Cuối cùng, năng lượng gió giúp đa dạng hóa các nguồn năng lượng, là một điều kiện quan trọng để tránh phụ thuộc vào một hay một số ít nguồn năng lượng chủ yếu; và chính điều này giúp phân tán rủi ro và tăng cường an ninh năng lượng.

5. Tiềm năng điện gió của Việt Nam
Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng Biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa(6 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#6))
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/wind-speed-vietnam-65m.jpg?w=500&h=577 (http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/wind-speed-vietnam-65m.jpg)Hình 4: Bản đồ tiềm năng điện gió Việt Nam. Tốc độ trung bình năm tại độ cao 65m. Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast Asia 2001

Trong chương trình đánh giá về Năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Bảng 2). Như vậy Ngân hàng Thế giới đã làm hộ Việt Nam một việc quan trọng, trong khi Việt Nam còn chưa có nghiên cứu nào đáng kể. Theo tính toán của nghiên cứu này, trong bốn nước được khảo sát thì Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất và hơn hẳn các quốc gia lân cận là Thái Lan, Lào và Campuchia. Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ „tốt“ đến „rất tốt“ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%.(7 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#7)).
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/tiem-nang-dien-gio-vietnam.jpg?w=500&h=263
Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tất nhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềm năng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài; nhưng điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.
Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát triển năng lượng gió. Đây quả thật là một ưu đãi dành cho Việt Nam mà chúng ta còn thờ ơ chưa nghĩ đến cách tận dụng.
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/wind-speed-vietnam-65m-dec-feb.jpg?w=500&h=593 (http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/wind-speed-vietnam-65m-dec-feb.jpg)Hình 5: Gió mạnh vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau là sự bổ sung hữu ích cho các tháng thiếu nước của các thủy điện. Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast Asia 2001

(6)“Biển Đông”, tập 2, Khí tượng Thủy văn Động lực Biển – Phạm Văn Ninh chủ biên., 2003. NXB Đại học Quốc gia
(7)“Wind Energy Resource Atlas of Southeast Asia”, 2001. Có thể download toàn bộ cuốn Atlas này tại địa chỉ: http://www.worldbank.org/astae/werasa/complete.pdf

6. Đề xuất một khu vực xây dựng điện gió cho Việt Nam
Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau. Nếu ở phía bắc đèo Hải Vân thì mùa gió mạnh chủ yếu trùng với mùa gió đông bắc, trong đó các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng Ninh, Quảng Bình, và Quảng Trị. Ở phần phía nam đèo Hải Vân, mùa gió mạnh trùng với mùa gió tây nam, và các vùng tiềm năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc biệt là khu vực ven biển của hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. Theo nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60-100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng này không những có vận tốc trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi khác, đó là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định. Đây là những điều kiện rất
thuận lợi để phát triển năng lượng gió.
http://jupiter276.files.wordpress.com/2011/04/wind-speed-south-vietnam1.jpg?w=500&h=479Hình 6: Khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận, Tây Nguyên được đánh giá là có tiềm năng gió lớn hơn cả

Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7 m/s(8 (http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/#8)) tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3 – 3,5 MW. Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy phát điện gió cỡ nhỏ nhằm mục đích thắp sáng. Ở cả hai khu vực này dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc đặc biệt khó khăn của Việt Nam.
Mặc dù có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng chúng ta cần phải lưu ý một số điểm đặc thù của năng lượng gió để có thể phát triển nó một cách có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức chi tiết về chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối (có ảnh hưởng không tốt đến máy phát). Cũng vì những lý do có tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường như trên, năng lượng gió tuy ngày càng phổ biến và quan trọng nhưng không thể là nguồn năng lượng chủ lực. Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội cho Việt Nam, một mặt đa dạng hóa được nguồn năng lượng trong đó kết hợp những nguồn năng truyền thống với những nguồn lượng tái tạo sạch với chi phí hợp lý; mặt khác khai thác được thế mạnh, đồng thời hạn chế của mỗi nguồn năng lượng, và tận dụng các nguồn năng lượng này trong mối quan hệ bổ sung lẫn nhau. Một điểm cần lưu ý nữa là khả năng các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn rong khi vận hành, cũng như có thể phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến nếu các yếu tố về kỹ thuật không được quan tâm đúng mức. Do vậy, khi xây dựng các khu điện gió cần tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu cực.

7. Thay cho lời kết
Nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, trong trung hạn Việt Nam cần tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống. Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các nguồn năng lượng mới. Trong chiến lược này, chi phí kinh tế (bao gồm cả chi chí trong và chi chí ngoài về môi trường, xã hội) cần phải được phân tích một cách kỹ lưỡng, có tính đến những phát triển mới về mặt công nghệ, cũng như trữ lượng và biến động giá của các nguồn năng lượng thay thế. Trong các nguồn năng lượng mới này, năng lượng gió nổi lên như một lựa chọn xứng đáng, và vì vậy cần được đánh giá một cách đầy đủ.
Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Việc không đầu tư nghiên cứu và phát triển điện gió sẽ là một sự lãng phí rất lớn trong khi nguy cơ thiếu điện luôn thường trực, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong khi đó, hiện nay chiến lược quốc gia về điện dường như mới chỉ quan tâm tới thủy điện lớn và điện hạt nhân -những nguồn năng lượng có mức đầu tư ban đầu rất lớn và ẩn chứa nhiều rủi ro về cả mặt môi trường và xã hội.
Nếu nhìn ra thế giới thì việc phát triển điện gió đang là một xu thế lớn, thể hiện ở mức tăng trưởng cao nhất so với các nguồn năng lượng khác. Khác với điện hạt nhân vốn cần một quy trình kỹ thuật và giám sát hết sức nghiêm ngặt, việc xây lắp điện gió không đòi hỏi quy trình khắt khe đó. Với kinh nghiệm phát triển điện gió thành công của Ấn Độ, Trung Quốc, và Phi-lip-pin, và với những lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển năng lượng điện gió để đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Liệu Việt Nam có thể „đi tắt, đón đầu“ trong phát triển nguồn năng lượng hay không phụ thuộc rất nhiều vào các quyết sách ngày hôm nay.

http://devi-renewable.com/2011/04/09/nang-luong-gio-vietnam-tiem-nang-trien-vong/

dongdoi_f2
11-03-2012, 10:34 AM
Lỗ hổng thiết kế của Nhật

(Tamnhin.net) - Một năm đã trôi qua kể từ ngày 11/3 năm ngoái, khi sóng thần đã cướp đi sinh mạng hàng chục ngàn người Nhật Bản và gây ra “thảm họa Tchernobyl tại Châu Á”, báo Pháp Le Figaro viết lẽ ra nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã không bị nhấn chìm như thế.




http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%c4%83m%202012/0312/1103/pict56.jpg


Fukushima: Sai lầm từ khâu thiết kế







Ngày 11/03/2011, những cơn sóng thần cao đến 12m đã cuốn đi biết bao sinh mạng và nhà cửa, đã nhấn chìm nhà máy điện hạt nhân Fukushima, làm ngập các máy phát điện dự phòng trong việc làm lạnh các lò phản ứng và sau đó thảm họa hạt nhân đã xảy ra.

Thảm họa này là hoàn toàn do thiên nhiên hay có phần lỗi của con người? Trong báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp hồi mùa hè vừa qua, nhà địa chấn học Armado Armijo - hiện đang làm việc tại Viện Vật lý Địa cầu Paris - đã trình ra hình ảnh và những bằng chứng cho thấy nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã có nguy cơ bị nhấn chìm ngay từ khâu thiết kế.

Cụ thể là trước kia ở khu vực xây dựng nhà máy có một dốc đứng thiên nhiên cao đến 40m so với mực nước biển. Các kỹ sư khi ấy thiết kế thế nào mà đã cho đào đi dốc đứng này để xây dựng nhà máy, trong khi nhà máy xây dựng chỉ có độ cao 7m so với mực nước biển, tức thấp hơn 5m so với chiều cao của sóng thần năm ngoái.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao lại cho phá đi một dốc đứng thiên nhiên vốn là lá chắn bảo vệ an toàn hơn bất kỳ con đập nhân tạo nào, trong một vùng vốn thường bị động đất và sóng thần ? Câu trả lời: Xây nhà máy càng cao, chi phí bơm nước biển lên làm lạnh lò càng lớn và lợi nhuận sẽ càng nhỏ. Thế là vì muốn đạt lợi nhuận tối đa, người ta đã cho xây dựng một nhà máy ở độ cao thấp như vậy.

Một sai lầm nữa là các nhà địa chấn thế giới đã dự báo sai khi cho rằng nếu có động đất ở khu vực này thì cũng không vượt qua 7,5 độ Richter và sóng thần cũng sẽ không cao hơn 5,7m. Theo ông Armijo, đó là sai lầm khoa học nghiêm trọng nhất và đã gây ra những hậu quả tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Sai lầm này đến từ việc các nhà khoa học đã không chịu thay đổi cách tiếp cận cổ điển, quá tin vào kinh nghiệm địa phương và tưởng rằng loài người đã hiểu hết về hiện tượng đứt gãy địa chấn bộ phận. Một sai lầm nữa là giới chuyên gia địa chấn chưa quan tâm đúng mức các dữ liệu lịch sử và địa chất.

Chuyên gia địa chấn Xavier Le Pichon, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Pháp tóm lược : "Trận động đất 11/3 đã không được dự báo, trong khi nó hoàn toàn có thể được đoán trước".

Nguy cơ hạt nhân đối với Nhật Bản vẫn còn chưa hết, bởi theo Le Figaro còn rất nhiều nhà máy hạt nhân ở nước này được xây dựng bên bờ biển với độ cao rất thấp so với mực nước biển.


Minh Châu (theo RFI)

Soi lại thiết kế ở Trung tâm điện lực Phú mỹ, theo thiết kế ban đầu thì TTĐL Phú mỹ này có 5 nhà máy (PM2.1, PM 2.1 Ext, PM 2.2, PM 4 và PM1), theo tiến độ ban đầu ngay từ 1993-1994, với diện tích 100 ha, toàn mặt bằng cần san gạt được bóc thảm hữu cơ, đào khoét sâu 4m, san phẳng, làm nền chung cho toàn TTĐL ... nằm gần sông Thị Vải, cũng với lý do để dễ đào kênh dẫn nước sông vào bơm nước làm mát chung cho TTĐL.

dksaigon
11-03-2012, 11:53 AM
Điện hạt nhân thì...ớn quá!
Ở ta, "trên" đã "quyết" rồi! thì phận con dân như miềng chỉ còn biết...cầu trời thôi![-O<

Có mấy cái vụ bỗng dưng...xe cháy ở ta mà đã có ai biết được bởi mà, tại vì,... gì đâu?!
Thế mà hạt nhân gì đó, của anh nào đó, cũng nếm mùi rồi đó...!:-ss
Quả là đất nước ta, nhân dân ta...gan thật! ^#(^

baogt
11-03-2012, 12:22 PM
Còn về Trung tâm điện lực Duyên Hải, có 3 nhà máy, giá trị xây dựng gần 5 tỷ USD. Nhưng thiết kế đê bao bảo vệ vẫn theo tiêu chuẩn hiện hành năm 2002, không có tính đến động đất, sóng thần. :D. Chiều cao đê bao bảo vệ tính toán 6.5m để tiết kiệm xét đến chắc sóng của cảng thì h = 5.3m. Nói chung đủ thứ quy hoạch chồng chéo lằng nhằng, chỉ biết mấy nữa có gì dân ráng mà chịu. :((

dongdoi_f2
13-03-2012, 02:37 PM
Chiêm ngưỡng công trình “phong điện” trên đảo Phú Quý (http://www.petrotimes.vn/nang-luong-xanh/2012/03/%E2%80%9Cphong-dien%E2%80%9D-cho-dao-phu-quy)


(Petrotimes) - Đảo Phú Quý (còn được gọi là cù lao Thu hay cù lao khoai Xứ) là một đảo nhỏ, với diện tích 16 km2. Có gần 18 ngàn cư dân sinh sống, Huyện đảo Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết 120 km về hướng Đông Nam.

Nhà máy điện gió trên đảo Phú Quý với tổng vốn đầu tư là 335 tỉ đồng do Công ty TNHH Một thành viên - Tổng Công ty điện lực Dầu khí Việt Nam đầu tư xây dựng.
Nhà máy có công suất 6MW, bao gồm 3 trụ tua bin 2MW, được xây dựng tại hai xã Long Hải và Ngũ Phụng, với lượng điện sản xuất bình quân hàng năm khoảng 25,4 triệu Kwh. Hiện nay, nguồn điện cung cấp cho đảo Phú Quý từ Nhà máy điện Diesel có tổng công suất 3.000kW, chỉ đáp ứng phát điện 16 giờ/ngày (sáng từ 7h30 đến tối 23h30).
Khi dự án điện gió được triển khai và đi vào hoạt động, sẽ góp phần giải quyết tình hình thiếu điện trên đảo, sẽ phục vụ điện 24/24 để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, thúc đẩy kinh tế – xã hội trên một hòn đảo đầy tiềm năng và phát triển.
Theo như kế hoạch thì trong cuối tháng 3 này, công trình sẽ được khánh thành và đưa vào hoạt động để phục vụ bà con trên đảo
Những hình ảnh của công trình “Phong điện” trên đảo


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/043-477x270.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/043.jpg?a23879)
Từ ngoài biển khơi nhìn vào bạn sẽ thấy được những cây quạt khổng lồ trên hòn đảo Phú Quý

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/028-477x715.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/028.jpg?a23879)
Những công nhân đang hăng say công việc để đưa “điện gió” vào phục vụ nhân dân

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/016-477x695.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/016.jpg?a23879)
Sau này, những con đường trên đảo sẽ được thắp sáng bằng điện gió

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/035-477x314.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/035.jpg?a23879)
Hướng ra biển lớn sẵn sàng nghinh phong

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/052-477x697.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/052.jpg?a23879)
Vật tư được giao đến tận công trình để kịp tiến độ thi công

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0141-477x269.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0141.jpg?a23879)
Thi công phần chân của cột tua bin

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0121-477x305.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0121.jpg?a23879)
Những cuộn lưới sắt này sẽ được bao quanh chân trụ tua bin

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/072-477x318.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/072.jpg?a23879)
Trạm điều khiển 3 cột tua bin đang được xây dựng

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/082-477x303.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/082.jpg?a23879)
Nhìn những cánh quạt như một chú chim hải âu vươn đôi cánh ra biển lớn

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0113-477x318.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0113.jpg?a23879)
Mỗi cánh quạt dài 37 mét, thân cột cao 60 mét, nặng 24 tấn

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/010-477x308.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/010.jpg?a23879)
Hai cây quạt gió đứng hiên ngang giữa biển đảo

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0131-477x364.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/0131.jpg?a23879)
Bà con trên đảo sẽ được dùng điện 24/24 để phục vụ cho việc đánh bắt thủy sản của mình



Nguyễn Đức

dongdoi_f2
14-03-2012, 01:58 PM
Lượng phóng xạ ở Thái Bình Dương cao gấp 6 lần









Theo kết quả từ cuộc khảo sát của Cơ quan khảo sát biển Nhật Bản công bố ngày 12/3, sự cố xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima-1 hồi tháng 3/2011 đã khiến hàm lượng chất phóng xạ cesium trong nước biển Thái Bình Dương cao gấp 6 lần so với những thử nghiệm trước đây.
Trước đó, Đại diện Cơ quan an toàn hạt nhân và công nghiệp Nhật Bản, ông Hidehiko Nishiyama cho biết lượng nước nhiễm phóng xạ cao rò rỉ từ nhà máy hạt nhân Fukushima số 1 của nước này đã chảy trực tiếp ra biển Thái Bình Dương.
http://www.khoahoc.com.vn/photos/image/032012/14/fukushima1.jpg
Lượng phóng xạ này chảy ra từ hố bảo trì phía bên
ngoài của nhà máy hạt nhân tiếp giáp với biển.

Các nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành kiểm tra mẫu nước biển ở 500 điểm ven bờ của tỉnh Fukushima, và kết luận rằng rằng lượng chất thải cesium -137 từ nhà máy điện hạt nhân trên là từ 4.200 đến 5.600 TBq (Bq là đơn vị đo cường độ phóng xạ của vật, với mức 1 Bq bằng cường độ phóng xạ khi một vật có 1 lần phân rã trong 1 giây). Lượng này cao gấp 6 lần so với kết quả thử nghiệm trước đây. Chất phóng xạ cesium-137 là chất cực kỳ nguy hiểm vì nó có thể tích tụ trong cơ thể, hủy hoại cơ bắp và khởi phát bệnh ung thư. Thời gian bán phân hủy của cesium-137 là khoảng 30 năm. Khảo sát trên cũng cho thấy tổng lượng phát thải chất phóng xạ từ nhà máy "Fukushima-1" xuống Thái Bình Dương là khoảng 13-15 nghìn TBq. Tuy nhiên một số chất phóng xạ có thời gian bán phân hủy ngắn và cho đến thời điểm hiện nay thì chưa gây nguy hiểm.

dongdoi_f2
14-03-2012, 01:59 PM
Hiểm họa tiềm tàng từ các nhà máy hạt nhân cũ








Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cảnh báo 80% nhà máy điện hạt nhân trên thế giới đã hoạt động hơn 20 năm, khoảng thời gian khiến giới chuyên gia về an toàn cảm thấy lo ngại.
“Tuổi đời quá cao của các nhà máy điện hạt nhân có thể tác động tới khả năng đảm bảo an toàn và khả năng đáp ứng những yêu cầu về năng lượng của các quốc gia thành viên một cách tiết kiệm và hiệu quả. Những nước muốn duy trì hoạt động lâu dài của các nhà máy điện hạt nhân nên phân tích các khía cạnh an toàn của những bộ phận không thể thay thế trong nhà máy điện hạt nhân”, AFP dẫn một đoạn trong bản dự thảo báo cáo Đánh giá An toàn Hạt nhân của IAEA.
http://www.khoahoc.com.vn/photos/image/032012/14/nuclearpowerplant.jpg
Một nhà máy điện hạt nhân






Nhiều chuyên gia của IAEA cho rằng tiêu chuẩn an toàn của các nhà máy điện hạt nhân cũ nên được nâng cấp để theo kịp các nhà máy điện hạt nhân mới ra đời hoặc sẽ được xây dựng trong tương lai. Dự thảo báo cáo của IAEA cho biết, 5% trong tổng số 435 nhà máy điện hạt nhân trên thế giới đã hoạt động hơn 40 năm và 32% đã vận hành hơn 30 năm. 254 lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu - chỉ sản xuất các đồng vị hạt nhân để phục vụ điều trị y khoa và một số mục đích dân sự khác - đang được sử dụng trên thế giới và 70% số đó được khởi động từ hơn 30 năm trước. Thậm chí nhiều lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu đã hoạt động lâu hơn thời gian dự kiến. “Những con số đó khiến những người vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, các nhà quản lý và công chúng cảm thấy lo ngại”, dự thảo kết luận.







Bàn ngoài lề:
Hai tấm hình của 2 bài trên cho thấy 2 khác biệt nhau của kỹ thuật Nhật và Châu Âu. Ở đây chưa nói về làm mát cho các lò phản ứng hạt nhân, mà chỉ bàn về hệ thống làm mát sau phát điện.
Để làm mát, nhà máy của Nhật dùng hệ thống làm mát bằng nước biển, với kênh dẫn nước vào và kênh xả. Dẫn đến là thường các nhà máy điện phải bố trí gần biển và có độ cao nền nhà máy tương đối thấp so với nước biển, đồng thời chiếm diện tích lớn. (xem hình 1 trên)
Trong khi đó ở Châu Âu, có truyền thống làm mát là xây các tháp làm mát bằng không khí, nước làm mát sau phát điện được thu gom, bơm vào hệ thống ống dẫn chạy quanh tháp làm mát, để tỏa nhiệt, bốc hơi vào không khí (xem hình 2, bài dưới, chỉ thấy các tháp làm mát - 8 tháp, còn phần nhà máy điện hạt nhân nằm khuất đâu đó), nên nhà máy điện ít chiếm diện tích hơn, ít phụ thuộc vào phải gần biển.
Nhà máy điện hạt nhân do không đốt nhiên liệu hóa thạch, nên hầu như không thải COx, NOx và SOx gây ô nhiễm như các nhà máy chạy khí, dầu hay than nên nhà máy điện hạt nhân không cần thiết có ống khói thoát khí thải. Ở hình nhà máy điện hạt nhân của Nhật có thấy các ống khói, chúng chỉ dùng khi cần có nguồn nhiên liệu hóa thạch đốt bổ sung để phát điện (dầu DO, khí hóa lỏng LPG/LNG...) khi các lò phản ứng ngừng chạy do bảo dưỡng, sửa chữa...

dongdoi_f2
28-03-2012, 12:27 PM
Elgin: “Địa ngục giàn khoan” ở Biển Bắc


(Tamnhin.net) – Một thảm họa môi trường đang xuất hiện ở Biển Bắc do việc một khối lượng lớn dầu khí thoát ra từ giàn khoan Elgin và khiến cho giá cổ phiếu của Tập đoàn khai thác dầu khí chủ quản Total bị sụt giảm nghiêm trọng.




http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%c4%83m%202012/0312/2903/01_Elgin-Plattform%20in%20der%20Nordsee.jpg


Giàn khoan Elgin ở Biển Bắc


Tại giàn khoan Elgin của tập đoàn Total nằm cách bờ biển Scottland 240 km về phía bắc, một khối lượng khổng lồ khí đốt đang bị thoát ra không thể kiểm soát nổi. Trên bầu trời xuất hiện một đám mây khí đốt khổng lồ và trên mặt biển, một lớp váng dầu đang ngày càng lan rộng. Tập đoàn Total đã sơ tán toàn bộ nhân viên hoạt động trên giàn khoan Elgin, trong khi nhân viên trên hai giàn khoan gần đó của hãng Shell cũng đã rút đi. Tàu thuyền đã bị cấm đi lại qua một khu vực có bán kính 3 km xung quanh giàn khoan Elgin, trong khi máy bay lên thẳng cũng bị cấm lai vãng trên một khu vực có bán kính 5 km xung quanh giàn khoan này. Riêng máy bay chở khách bay ở tầm cao hơn nhiều thì không bị cấm bay.



http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%C4%83m%202012/0312/2903/02_Shearwater-Plattform.jpg

Hãng Shell cũng đã phải sơ tán 2 giàn khoan gần đó.

Ban quản lý Total và giới chức Anh giải thích rằng lượng khí thất thoát không gây nguy hại cho cư dân đảo quốc “sương mù” vì số khí đốt nói trên bay lên khí quyển. Tuy nhiên, do trong hỗn hợp khí bị thất thoát có chất lưu huỳnh độc hại và dễ phát nổ, các nhân viên làm việc trên giàn khoan Elgin và trên các giàn khoan gần đó buộc phải sơ tán triệt để. Năm 1988, giàn khoan Piper Alpha ở Biển Bắc đã bị phát nổ và làm thiệt mạng 167 người, sau khi khí đốt cũng bị thoát ra ngoài.



http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%C4%83m%202012/0312/2903/04_Brand%20auf%20der%20Plattform%20Piper%20Alpha%2 0in%20der%20Nordsee.jpg


Vụ cháy nổ khí đốt trên giàn khoan Piper Alpha ngày 8/6/1988 khiến 167 người bị thiệt mạng

Các chuyến bay do thám cho thấy lượng dầu rò rỉ từ giàn khoan Elgin đã bao phủ mặt biển với kích thước 1,4 km x 11 km (hơn 15 km2).

Các nhà bảo vệ môi trường đã lên tiếng cảnh báo về những thảm họa môi trưởng nghiêm trọng do tình trạng rò rỉ dầu khí từ giàn khoan Elgin, đặc biệt do khí đốt có chứa chất lưu huỳnh độc hại. Chuyên gia bảo vệ biển Stephan Lutter cho biết: “Tình trạng thất thoát khí đốt kéo dài và không thể kiểm soát có thể tạo ra một khu vực chết ở xung quanh giàn khoan Elgin và tác hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái ở Biển Bắc”.

Nhóm bảo vệ môi trường Bellona của Na Uy cho rằng áp suất và nhiệt độ cao của các mỏ khí đốt ở Biển Bắc có thể dẫn đến một “địa ngục giếng khoan”, sau khi các nhân viên của giàn khoan Elgin đã tìm cách xử lý bất thành vụ rò rỉ suốt 14 tiếng đồng hồ bất chấp nguy hiểm tính mạng.

Tổ chức Greenpeace đã cực lực chỉ trích việc chính phủ Anh khuyến khích việc khai thác dầu khí ở Biển Bắc vì việc khai thác dầu khí ở đáy biển sâu luôn tiềm ẩn hiểm họa đối với con người và môi trường xung quanh.

Tập đoàn Total đang tìm cách khắc phục sự cố, trong đó có việc khoan một giếng khoan “giải tỏa khí đốt”. Thực hiện phương án này sẽ phải mất 6 tháng và đến khi đó lượng dầu khí vẫn liên tục thất thoát ra môi trường.

Tại giàn khoan Elgin, tập đoàn Total đã khai thác mỗi ngày 9 triệu m3 khí đốt, chiếm 3% tổng số lượng khí đốt khai thác của Vương quốc Anh. Bên cạnh đó, giàn khoan Elgin còn khai thác mỗi này 60.000 thùng dầu ngọt nhẹ, chiếm 5,5% tổng số dầu khai thác được của Vương quốc Anh.

Sau khi Total phải sơ tán nhân viên khỏi giàn khoan Elgin, giá khí đốt trên các thị trường thế giới lại leo cao và giá cổ phiếu của tập đoàn Pháp này bị sụt giảm tới 6%.


Minh Châu (theo Spiegel Online)

dongdoi_f2
30-03-2012, 08:39 PM
Đưa tuabin gió… lên trời (http://www.petrotimes.vn/nang-luong-xanh/y-tuong-xanh/2012/03/dua-tuabin-gio-len-troi)



(Petrotimes) - Mới đây, Công ty Altaeros (Mỹ) đã lần đầu tiên thử nghiệm nguyên mẫu của tuabin gió trên không AWT (Airborne Wind Turbine) với sự kết hợp thiết kế sáng tạo giữa cối xay gió và khinh khí cầu. Cuộc thử nghiệm được thực hiện tại trung tâm Loring Commerce Center ở Limestone, tiểu bang Maine, Hoa Kỳ.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/1255.jpg?a23879

Tuabin gió AWT được đưa lên không trung bằng khinh khí cầu, cách mặt đất hơn 100m và đã thực hiện chức năng sản xuất điện thành công. Trong quá trình thử nghiệm ở độ cao này, AWT có thể tạo ra lượng điện gấp đôi so với các tuabin gió thông thường. Qua đó, dự đoán chi phí sản xuất năng lượng tái tạo sẽ được giảm đến 65% nhờ vào việc khai thác các luồng gió mạnh ở độ cao 305m. Ben Glass, Giám đốc điều hành của Altaeros cho biết: “Trong nhiều thập kỷ qua, các tuabin gió thường sử dụng những cần cẩu hay những cây cột khổng lồ với chiều cao vài trăm feet so với mặt đất để cánh quạt có thể khai thác những luồng gió vốn khá chậm và thất thường. Chúng tôi rất vui khi chứng minh rằng khinh khí cầu có thể nhấc bổng tuabin gió lên vị trí cao hơn, nơi gió mạnh hơn, đều đặn hơn và hầu như có ở khắp mọi nơi. Thêm vào đó, hệ thống thiết bị có giá thành rất cạnh tranh và dễ dàng triển khai từ những container vận chuyển.”

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/2138.jpg?a23879

Công nghệ này được lấy từ cảm hứng của Aerostats, nơi đã tạo nên những khinh khí cầu nổi tiếng, theo nghiên cứu thì Aerostats đã “sống sót” qua những cơn bão nhờ sử dụng các tính năng kỹ thuật điều khiển hiện đại và có thể đảm bảo hạ thấp an toàn khi được đưa xuống đất.






Ôi giời, ở VN, nhà máy điện gió đảo Phú Quý đang lo đón cơn bão lớn đây! Cột điện gió ở PQ cao trên 60m, đường kính cánh gần 40m nữa, chiếm diện tích lớn lắm

dongdoi_f2
30-03-2012, 08:53 PM
Nên lựa chọn công nghệ nào cho điện hạt nhân Việt Nam? (http://www.petrotimes.vn/nang-luong-xanh/2012/03/nen-lua-chon-cong-nghe-nao-cho-dien-hat-nhan-viet-nam)

(Petrotimes) - Mối quan tâm phổ biến của đông đảo các tầng lớp trong xã hội sau khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận là các vấn đề liên quan đến an toàn công nghệ, an toàn vận hành, khai thác, sử dụng ĐHN trong điều kiện thực tế của Việt Nam.
Để bạn đọc có cái nhìn bao quát hơn, Báo Năng lượng Mới xin giới thiệu bài phân tích của Tiến sĩ ĐHN Lê Văn Hồng về vấn đề này đăng trên Tạp chí Năng lượng.

Quá trình phát triển các thế hệ công nghệ ĐHN
Công nghệ ĐHN đã được nghiên cứu, phát triển và khai thác, sử dụng trong suốt hơn một nửa thế kỷ qua kể từ ngày 27/6/1954, khi Liên Xô đưa vào vận hành thương mại thành công lò phản ứng hạt nhân năng lượng đầu tiên trên thế giới tại thành phố Obninsk. Xét về mặt chủng loại, hiện nay, công nghệ lò phản ứng năng lượng phát triển rất phong phú và đa dạng. Hiện có trên 10 loại lò đang được sử dụng và nghiên cứu phát triển. Việc mỗi quốc gia sử dụng và phát triển loại lò nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là ý đồ chiến lược của mỗi quốc gia, sau đó là trình độ khoa học – công nghệ và khả năng tham gia của công nghiệp nội địa.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/Nuclear_Power_Plant_Cattenom_Pollution-s2048x1536-55895.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/Nuclear_Power_Plant_Cattenom_Pollution-s2048x1536-55895.jpg?a23879)

Nhà máy Điện nguyên tử ở Cattenom, Pháp. Các ống khói đang nhả ra hơi nước không phóng xạ từ tháp làm nguội. Lò phản ứng hạt nhân được đặt trong các ngôi nhà hình ống tròn.

Mặc dù số loại lò nhiều như vậy nhưng đa số hoặc đã bị loại bỏ khỏi xu hướng phát triển, hoặc đang ở giai đoạn thử nghiệm. Cho đến nay, thực chất chỉ mới có ba loại được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là lò phản ứng nước áp lực (Presurized Water Reactor – PWR+VVER), lò phản ứng nước sôi (Boiling Water Reactor – BWR) và lò nước nặng kiều CANDU (Pressurized Heavy Water Reactor – PHWR).
Tỉ phần của các loại công nghệ này như sau: dẫn đầu là lò phản ứng nước áp lực: 61%, tiếp đó là lò phản ứng nước sôi: 21% và cuối cùng là lò nước nặng kiểu CANDU: 7%, phần còn lại là các loại lò khác.
Xét về mặt thế hệ, cho đến nay, đã có 3 thế hệ công nghệ được xây dựng và khai thác sử dụng. Các nhà máy điện hạt nhân hiện đang hoạt động trên thế giới, tuyệt đại đa số thuộc thế hệ thứ II. Đối với các dự án ĐHN đang hoặc có kế hoạch xây dựng, hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước nhập công nghệ đều chọn giải pháp xây dựng các nhà máy ĐHN với lò thế hệ III hoặc thế hệ III+. Gần đây nhất, tại châu Âu, Phần Lan đã chọnvà đang xây dựng lò EPR của Pháp, Ukraina và Bungari mới hoàn thành đấu thầu nhà máy ĐHN năm 2008 và đã chọn lò VVER-1000 thế hệ III của Nga. Các lò phản ứng thế hệ III và III+ đã kế thừa các đặc tính thiết kế ưu việt của thế hệ thứ II, vận dụng các kinh nghiệm vận hành và xây dựng các nhà máy ĐHN hiện hành cùng với các tiến bộ khoa học công nghệ trong các ngành mũi nhọn như công nghệ thông tin, điều khiển tự động, khoa học vật liệu… Khác biệt lớn nhất so với các thiết kế hiện thời (thế hệ II) là các nhà máy ĐHN thế hệ mới (thế hệ III và III+) tích hợp được đặc điểm an toàn thụ động nội tại, không đòi hỏi sự kiểm soát chủ động của con người hay sự can thiệp của nhân viên vận hành để tránh tai nạn khi có trục trặc. Các loại lò thế hệ mới – thế hệ IV có tính cách mạng với mục tiêu: an toàn hơn, kinh tế hơn, giảm nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và góp phần giải quyết vấn đề chất thải phóng xạ còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm. Chúng có thể được thương mại hóa vào những năm sau 2030.

Vai trò của những yếu tố phi công nghệ trong lựa chọn công nghệ ĐHN
Lựa chọn công nghệ nhà máy ĐHN là một vấn đề rất phức tạp bởi vì ngoài các yếu tố khoa học và công nghệ thuần túy, lựa chọn loại lò còn bị ràng buộc bởi yếu tố kinh tế, tài chính và quan hệ chính trị. Khi xem xét lại toàn bộ quá trình phát triển ĐHN ở các nước, ta có thể chia thành 3 nhóm nước như sau:
Nhóm thứ nhất: Bao gồm các nước có sẵn tiềm lực hạt nhân, tự phát triển công nghệ ĐHN nhằm làm chủ công nghệ này. Nhóm nước này bao gồm: Mỹ, Nga, Anh và Canada. Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này xuất phát từ tiềm lực quốc phòng và năng lực công nghiệp sẵn có.
Nhóm thứ hai: Bao gồm các nước muốn phát triển công nghệ ĐHN nhờ nội lực và ngoại lực để xây dựng tiềm lực của đất nước. Nhóm nước này bao gồm: Ấn Độ, Pakistan… Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này nhằm vào loại công nghệ có khả năng phục vụ mục tiêu quốc phòng nhanh nhất.
Nhóm thứ ba: Bao gồm các nước phát triển công nghệ ĐHN trước hết nhằm giải thoát sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn năng lượng nhập ngoại. Nhóm nước này bao gồm: Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… Sự lựa chọn công nghệ của nhóm nước này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ chính trị, thương mại và khả năng thu xếp tài chính.
Đối với trường hợp của Việt Nam, một tháng sau khi Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án ĐHN Ninh Thuận, trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Chính phủ, Nga đã được chọn làm đối tác cung cấp công nghệ cho nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 và tháng 10/2010, Nhật Bản được chọn làm đối tác để xây dựng nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2. Như vậy, cách thức lựa chọn đối tác của Việt Nam gần giống với cách tiếp cận của nhóm nước thứ ba.

Nhìn nhận trên khía cạnh công nghệ thuần túy
Ngoài những yếu tố phi công nghệ như đã nêu trên, Việt Nam vẫn phải đặc biệt chú trọng yêu cầu về công nghệ, theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội là chọn công nghệ lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò hiện đại nhất đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư. Muốn làm được điều này, chúng ta phải thiết lập cho được các tiêu chí cốt lõi cho việc lựa chọn công nghệ ĐHN. Tuy nhiên, trước khi xem xét công nghệ nào cho các dự án ĐHN của Việt Nam, ta hãy luận bàn một vấn đề mang tính vĩ mô và dài hạn, đó là Việt Nam nên dùng đơn công nghệ hay đa công nghệ trong chương trình phát triển ĐHN của mình? Như chúng ta biết, trên thế giới, do những hoàn cảnh lịch sử và tình thế khác nhau, nhiều nước ban đầu đã từng sử dụng 2 hoặc 3 loại công nghệ. Do năng lực quốc gia ở giai đoạn ban đầu còn đang yếu kém lại phải phân chia nguồn nhân lực để đảm đương các công nghệ khác nhau nên đã phải trả giá. Cuối cùng, các nước này cũng phải định hướng và tập trung vào 1 loại công nghệ. Từ hoàn cảnh Việt Nam hiện nay còn quá non yếu về năng lực quốc gia cần thiết cho chương trình ĐHN và rút kinh nghiệm của các nước đi trước, có thể khẳng định Việt Nam chỉ nên sử dụng một loại công nghệ. Việc lựa chọn sử dụng đơn công nghệ trong Chương trình phát triển ĐHN của mình sẽ giúp Việt Nam không phải chia sẻ tiềm lực quốc gia còn đang rất yếu kém; thuận lợi trong đào tạo cán bộ nói chung, đặc biệt là cán bộ xây dựng, vận hành, bảo dưỡng; thuận lợi trong công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; thuận lợi trong tiếp thu công nghệ, tiến tới thực hiện chương trình nội địa hóa… Như đã nói ở trên, cho đến nay, thực chất chỉ mới có 3 loại công nghệ được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, đó là lò phản ứng nước áp lực, lò phản ứng nước sôi và lò nước nặng kiểu CANDU, trong đó có trên 61% các lò đang vận hành thuộc loại lò nước áp lực – PWR và tuyệt đại đa số các lò đang xây dựng và có kế hoạch xây dựng thuộc loại lò nước áp lực cải tiến – APWR. Với xu thế áp đảo của loại công nghệ này và là loại công nghệ phổ biến nhất, có nhiều nước sử dụng, nhiều hãng cung cấp thiết bị công nghệ và nhiên liệu, có bề dày kinh nghiệm xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, có nhiều kết quả nghiên cứu, thử nghiệm, có đông đảo đội ngũ chuyên gia tầm quốc tế… và do đó, việc Việt Nam lựa chọn công nghệ lò nước áp lực cải tiến sẽ làm cho cơ hội hợp tác và phát triển của Việt Nam thuận lợi hơn rất nhiều. Như vậy, công nghệ lò APWR loại VVER1000/1200 mà dự kiến sẽ được Nga cung cấp là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu lựa chọn của Việt Nam. Quay trở lại yêu cầu của Nghị quyết 41 là lựa chọn thế hệ lò hiện đại nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn. Có thể nói, đây là một yêu cầu rất cao nhưng đúng đắn và xác đáng xét trên quan điểm lợi ích quốc gia. Để đáp ứng yêu cầu này, đặc biệt là qua bài học từ sự cố Fukushima về xử lý sự cố nặng thì hiện nay chỉ có thể lựa chọn công nghệ lò thế hệ III, thậm chí là III+, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa các hệ thống an toàn chủ động (mang tính truyền thống) và an toàn thụ động (mang tính cách mạng), có khả năng chống chọi với tình huống xấu nhất có thể xảy ra, đó là sự cố mất chất tải nhiệt (LOCA) cùng với sự kiện mất điện hoàn toàn trong khu vực nhà máy (Station Black Out – SBO).


Một số tiêu chí cốt lõi cho lựa chọn công nghệ điện hạt nhân ở Việt Nam

Với những yêu cầu nêu trong Nghị quyết của Quốc hội, căn cứ vào các tài liệu hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế IAEA và các tài liệu liên quan khác, tác giả đề xuất một số tiêu chí cốt lõi cho việc lựa chọn công nghệ cho các nhà máy ĐHN của Việt Nam như sau:
a. Về đảm bảo an toàn hạt nhân
1. Thực hiện thiết kế theo tiếp cận tất định: tuân thủ nguyên lý “bảo vệ theo chiều sâu”, dự phòng và đa dạng hóa hệ thống an toàn, có kết hợp an toàn chủ động và thụ động… các hệ thống làm mát khẩn cấp, cấp điện khẩn cấp phải có ít nhất 4 hệ độc lập 100% công suất.
2. Đảm bảo xác suất sự cố làm nóng chảy, phá hủy nghiêm trọng vùng hoạt: nhỏ hơn 10-6 lò/năm; xác suất sự cố nặng (thảm họa hạt nhân), kèm theo sự thoát xạ lớn, yêu cầu tới các biện pháp khẩn cấp ngoài phạm vi nhà máy: nhỏ hơn 10-7 lò/năm.
3. Thiết kế hệ thống ứng phó với tai nạn nóng chảy vùng hoạt, nếu giam giữ chất nóng chảy trong thùng lò (IVR): phải chứng minh được khả năng làm mát bằng cách làm ngập bên ngoài, nếu giam giữ chất nóng chảy bên ngoài thùng lò (EVR): phải lắp đặt bẫy thu giữ chất nóng chảy (corium-catcher).
4. Thiết kế hệ thống độc lập đảm bảo dừng lò an toàn mà không cần đến nguồn năng lượng và hành động của nhân viên trong 24/72 giờ đầu tiên sau tai nạn nghiêm trọng.
5. Thiết kế boongke nhà lò 2 lớp, lớp bên trong phải đảm bảo độ kín để giam giữ chất phóng xạ; lớp bên ngoài phải vững chắc để chống các ngoại lực công kích, chống máy bay hạng nặng đâm vào…
6. Các thiết bị an toàn loại I, II và boongke nhà lò phải thiết kế chống được động đất cấp 9, gia tốc 0,3g, chống lũ lụt, sóng thần.

b. Về đảm bảo an toàn bức xạ
1. Phải thiết kế theo nguyên lý ALARA. Khi vận hành bình thường, liều chiếu cá nhân và liều chiếu tập thể phải là tối thiểu và nhỏ hơn mức cho phép. Không tác động hoặc tác động rất thấp lên môi trường (phát thải thường xuyên).
2. Khi có tai nạn nghiêm trọng, chỉ cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp tối thiểu trong vòng bán kính 1km từ tâm lò, không yêu cầu sơ tán quá 1 năm đối với dân cư trong vòng bán kính 3km từ tâm lò, không yêu cầu bất cứ hành động gì ngoài bán kính 3km từ tâm lò.

c. Về đặc tính nhà máy
1. Thời gian vận hành theo thiết kế (đời sống nhà máy): 60 năm.
2. Hệ thống đo lường, điều khiển và kiểm soát I&C: phải số hóa hoàn toàn.
3. Hệ số sẵn sàng vận hành: phải trên 90%.
4. Hiệu suất nhiệt của nhà máy: phải trên 33%.
5. Thời gian dừng lò trong kế hoạch (tái nạp nhiên liệu và bảo trì) phải dưới 20 ngày.
6. Thời gian dừng lò ngoài kế hoạch: phải dưới 1 lần/năm.
7. Chu trình sử dụng nhiên liệu: chu trình 12-18 tháng, độ sâu cháy nhiên liệu: 60GW ngày đêm/tấn.
8. Tổng lượng thải rắn cuối cùng: phải nhỏ hơn 50m3 trên 1.000MWe trong 1 năm vận hành.






(Theo Năng lượng Việt Nam)

dksaigon
01-04-2012, 01:03 PM
Đá phiến dầu: Con bài năng lượng của Trung Quốc (http://vef.vn/2012-03-30-da-phien-dau-con-bai-nang-luong-cua-trung-quoc)(VEF.VN) - Tháng 3/2012, Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc - Sinopec thông báo một kế hoạch mới nhằm khai thác khí đốt từ đá phiến dầu.
Nguồn năng lượng mơ ước
Từ thời tiền sử, đá phiến dầu đã được sử dụng để làm nhiên liệu vì nó được đốt trực tiếp mà không qua bất kỳ khâu xử lý nào. Theo đánh giá của cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ, tài nguyên đá phiến dầu trên toàn thế giới đạt khoảng 411 tỷ tấn - đủ để sản xuất 2,8 đến 3,3 ngàn tỷ thùng (520 km³) dầu, hơn hẳn trữ lượng dầu truyền thống trên toàn thế giới, ước tính khoảng 1,317 ngàn tỷ thùng (209,4 km³).
Đây có thể là nhân tố làm thay đổi cuộc chơi và con bài năng lượng do ảnh hưởng tiềm năng của nó đối với vấn đề an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Theo Sinopec, đá phiến dầu của Trung Quốc tập trung chủ yếu ở khu vực Yuanba, tỉnh Tứ Xuyên. Đây được xem là một bước tiến gần hơn của Trung Quốc tới mục tiêu khai thác được 3.4 tỷ m3 khí đốt mỗi năm trong vòng 3 năm tới tại khu vực Yuanba. Khi Trung Quốc sở hữu một vũ khí năng lượng và kinh tế mới cũng đồng nghĩa với việc nước này sẽ giảm bớt được sự lệ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu trong bối cảnh giá năng lượng luôn ở mức cao trong thời gian gần đây.
Trong số các quốc gia có tiềm năng khí đá phiến được phát hiện, Trung Quốc được đánh giá là nước có các mỏ khí đá phiến có thể khai thác lớn nhất thế giới với tổng trữ lượng khoảng 25 nghìn tỷ m3.



http://vef.vn/assets/images/dau858_1333102866.jpg


Một báo cáo của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho biết Trung Quốc sở hữu 7 mỏ đá phiến dầu, trong đó mỏ Yuanba tại tỉnh Tứ Xuyên và mỏ Tarim ở khu tự trị Tân Cương có tiềm năng sản xuất khí đốt với quy mô lớn. Hai mỏ này sẽ là chìa khóa cho tham vọng của Bắc Kinh là tạo ra được 6.5 tỷ m3 khí đốt mỗi năm cho tới năm 2015 và con số này sẽ tăng lên là 80 tỷ vào năm 2020.
Tới nay, Mỹ vẫn là nước đi đầu trong việc sản xuất khí đá phiến với 136 tỷ m3 mỗi năm. Một nghiên cứu của Đại học Rice do Bộ năng lượng Mỹ bảo trợ cho biết nhờ việc Mỹ gia tăng sản xuất khí đốt từ đá phiến dầu thị phần khí đốt của Nga tại Tây Âu đến năm 2040 sẽ giảm xuống còn khoảng 13% so với mức gần 30% hiện nay. Còn với Mỹ, việc khai thác kịp thời nguồn khí đá phiến sẽ hạn chế được nhu cầu nhập khẩu khí hóa lỏng ít nhất 20 - 30 năm. Nhờ đó, Mỹ sẽ giảm được sức ép về năng lượng, giảm thâm hụt mậu dịch với cả nền kinh tế Mỹ.
Amy Myers Jaffe, một trong những tác giả của đề án nghiên cứu trên, phát biểu: "Kết quả địa chính trị của việc Mỹ mở rộng hoạt động sản xuất khí đá phiến sẽ là vô cùng to lớn. Bằng cách tăng nguồn cung thay thế cho châu Âu dưới dạng khí hóa lỏng từ phía Mỹ thì sức mạnh xăng dầu của Nga, Venezuela và Iran đối với châu lục này đang giảm đi".
Vũ khí mới trên bàn cờ năng lượng
Hiện tại, Trung Quốc sản xuất được khoảng 94 tỷ m3 khí tự nhiên mỗi năm. Tuy nhiên, con số này chưa thấm tháp vào đâu so với nhu cầu năng lượng của nền kinh tế thứ hai thế giới. Thống kê cho biết lượng khí ga tự nhiên chỉ chiếm có 4% tổng lượng nhiên liệu tiêu thụ của Trung Quốc và than đá vẫn là nguồn cung năng lượng chính của quốc gia này, đảm bảo 70% nhu cầu.
Để khắc phục sự mất cân đối đó, Bắc Kinh đang tìm cách nâng tỷ lệ tiêu thụ khí tự nhiên lên 6% trong vòng 10 năm tới và khí đá phiến tại Tứ Xuyên có thể sẽ là một lựa chọn để Bắc Kinh giảm áp lực từ nguồn cung bên ngoài. Với tiềm lực của mình, Trung Quốc có thể sản xuất thành công khí đá phiến trong tương lai, nhưng hiện tại có một vài nhân tố bất lợi mà nước này cần phải vượt qua.


http://vef.vn/assets/images/dautho_1333102857.jpg





Việc đầu tiên là Trung Quốc cần làm là phát triển được kỹ thuật chiết tách khí đốt từ đá phiến dầu. Với tầm nhìn của mình, Trung Quốc có vẻ như đã tính đến điều này từ lâu. Hiện nay, các công ty dầu khí của Trung Quốc đã bắt đầu đầu tư vào nhiều doanh nghiệp phương Tây có kinh nghiệm trong việc chiết tách khí đá phiến. Chẳng hạn, Petro China, tập đoàn năng lượng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc, đã mua lại 50%cổ phần trong một dự án khí đốt ở Canada với giá 5,4 tỷ USD, trong khi tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia CNOOC đã kịp có cổ phần trong các dự án năng lượng khai thác đá phiến dầu Eagle Ford của Công ty năng lượng Chesapeake tại bang Texas, Mỹ.
Ngoài ra, một số hãng dầu khí như Shell (Hà Lan), Chevron (Mỹ) cũng đang đầu tư vào các công ty Trung Quốc và tham gia vào các dự án khai thác khí đá phiến. Các phương tiện truyền thông đưa tin Chevron đang khai thác mỏ đá phiến dầu tại Hàng Châu, nơi cũng được đánh giá là có trữ lượng rất tiềm năng. Các công ty liên doanh này sẽ là cánh cửa để Trung Quốc tiếp cận với công nghệ khai thác khí đá phiến.
Chuyên gia, công nghệ hay vốn không phải là trở ngại lớn với Trung Quốc vì họ đã đầu tư nhiều tiền của vào các cơ sở sản xuất khí đá phiến của phương Tây. Nhưng một trở ngại với Trung Quốc là các mỏ đá phiến dầu của Trung Quốc thường nằm sâu trong lòng đất và tình hình địa chất tại các mỏ khai thác của Trung Quốc phức tạp hơn so với các cơ sở khai thác tại Mỹ.
Việc triển khai đường ống dẫn khí với Trung Quốc cũng không dễ dàng một phần bởi yếu tố địa lý không thuận lợi và khí ga tự nhiên dầu sao vẫn mới chiếm tỷ trọng nhỏ trên thị trường. Tuy nhiên, Trung Quốc đã và đang đầu tư hàng tỷ USD xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí, điển hình là hệ thống đường ống Đông - Tây 2 mới đi vào hoạt động từ 30/6/2011 đi qua 15 vùng lãnh thổ Trung Quốc. Nước này còn đầu tư khoảng 2,2 tỷ USD xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí Tây - Đông thứ ba. Kế hoạch xây dựng đường ống dẫn khí Tây - Đông thứ 4 và thứ 5 với công suất tổng cộng 30 tỉ m3 khí/năm dự kiến sẽ bắt đầu sau năm 2015.
Nước là nhân tố sống còn khi khai thác là cần hàng triệu tấn nước sạch. Đây là một vấn đề hóc búa với bồn địa Tarim rất khô cằn của Tân Cương để khai thác đá phiến dầu. Nhưng với Tứ Xuyên, nguồn nước ở vùng cận nhiệt đới này lại rất dồi dào nhờ có lượng mưa hàng năm lớn và nguồn cung ổn định từ sông Dương Tử. Bên cạnh đó, Tứ Xuyên còn sở hữu cơ sở hạ tầng đường ống phát triển nhất Trung Quốc do công cuộc khai thác khí đốt ở đây đã khá phát triển. Do đó, Tứ Xuyên có thể sẽ là nơi đầu tiên Trung Quốc triển khai việc sản xuất khí đá phiến quy mô lớn.
Tóm lại, Trung Quốc sẽ cần vài năm nữa để đạt được trình độ và có kỹ nghệ cần thiết để chiết tách khí đốt từ đá phiến. Kế hoạch vừa công bố của Sinopec sẽ là bước cụ thể hóa tham vọng và mục tiêu chủ động về năng lượng trong tương lai của quốc gia này.
...
Nguồn năng lượng này xem ra vẫn còn ở thì tương lai với TQ, khi nghía trộm thấy Mỹ đã đi trước một bước.
Mỹ vẫn là nước có khả năng làm được những việc mà người khác không làm được và trong một vị trí vai trò cầm chịch về sự tồn tại của nhân loại, Mỹ muốn nắm được, điều phối hợp lý, các nguồn năng lượng của thế giới với sự tự nhận trách nhiệm là điều dễ hiểu. Còn nước nào muốn chứng tỏ được khả năng thì xin mời! nhưng nếu anh nào không hiểu hoặc không muốn hiểu, muốn quậy phá, bắt chẹt Mỹ và thiên hạ thì...đợi đấy?! ~o)

dksaigon
01-04-2012, 04:45 PM
sản lượng 6,5 tỷ m3 thì vẫn nhỏ, ví dụ trung tâm điện lực Phú mỹ, tiêu thụ gần 3 tym3 khí/năm, mỏ khí Nam Côn sơn trữ lượng 50 tỷ m3.

Vẫn nhỏ ư?! ;;)
Đây:
"Một báo cáo của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho biết Trung Quốc sở hữu 7 mỏ đá phiến dầu, trong đó mỏ Yuanba tại tỉnh Tứ Xuyên và mỏ Tarim ở khu tự trị Tân Cương có tiềm năng sản xuất khí đốt với quy mô lớn. Hai mỏ này sẽ là chìa khóa cho tham vọng của Bắc Kinh là tạo ra được 6.5 tỷ m3 khí đốt mỗi năm cho tới năm 2015 và con số này sẽ tăng lên là 80 tỷ vào năm 2020."
Và trữ lượng:
"Trong số các quốc gia có tiềm năng khí đá phiến được phát hiện, Trung Quốc được đánh giá là nước có các mỏ khí đá phiến có thể khai thác lớn nhất thế giới với tổng trữ lượng khoảng 25 nghìn tỷ m3."

Trong bài "Dư chấn Nhật bản và khí đốt" của chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa có nói đến cái kỹ thuật gọi nôm na "gạn cát ra dầu thô và khí đốt" này mà TQ đang muốn học lỏm bằng cách:
"Hiện nay, các công ty dầu khí của Trung Quốc đã bắt đầu đầu tư vào nhiều doanh nghiệp phương Tây có kinh nghiệm trong việc chiết tách khí đá phiến. Chẳng hạn, Petro China, tập đoàn năng lượng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc, đã mua lại 50%cổ phần trong một dự án khí đốt ở Canada với giá 5,4 tỷ USD, trong khi tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia CNOOC đã kịp có cổ phần trong các dự án năng lượng khai thác đá phiến dầu Eagle Ford của Công ty năng lượng Chesapeake tại bang Texas, Mỹ."

Kỹ thuật để khắc phục vấn đề môi trường, ô nhiễm môi sinh thì TQ không dễ gì mà nắm được từ Mỹ trong tương lai gần, nhưng TQ sẽ có thể bất chấp ? như hiện nay bất chấp sông Hoàng Hà đã ô nhiễm trầm trọng và cạn dòng, để sản xuất khí đốt từ nguồn đá phiến này.

Tuy nhiên số liệu về tiềm năng nguồn năng lượng của TQ là lớn vậy nhưng chưa chắc đáng tin cậy. Trong đánh giá trữ lượng dầu ở biển đông số liệu của TQ phóng lên đến 213 tỷ thùng trong khi theo đánh giá của Mỹ chỉ là 7 tỷ thùng! mục đích của TQ phóng lên vậy không nhằm ngoài ý đồ kích thích dân TQ lao vào ủng hộ mưu đồ độc chiếm biển đông mà ý nghĩa chiến lược thực sự là kiểm soát con đường hàng hải để xưng bá và bóp nghẹt, khuất phục, thôn tính các nước nhỏ trong vùng. Dẫu sao qua thông tin TQ công bố về trữ lượng đá phiến cho thấy TQ không đến nỗi quá khát năng lượng mà thèm muốn nguồn dầu ở biển đông.

Còn nam côn sơn trữ lượng 50 tỷ khối ư: muỗi ! (dầu cũng sắp cạn rồi!) :!!

dongdoi_f2
03-04-2012, 03:25 PM
Vòng cung Bắc Cực: Nguồn “sữa và mật ong” của Liên bang Nga (Tamnhin.net) - Với giá cả và mức độ tiêu thụ hiện nay, trữ lượng khí đốt tự nhiên trong khu vực Bắc Cực thuộc Nga sẽ đủ nhiên liệu để cung cấp cho Châu Âu khoảng 75 năm, với tổng giá trị gần 17 nghìn tỷ USD.




http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%c4%83m%202012/0412/0204/03.jpg






Điểm dừng chân cuối cùng trên tuyến đường sắt phía bắc đi từ Moscow là Labytnangi, một thị trấn nhỏ nằm trong Vòng cung Bắc cực. Băng tuyết kéo dài đến tận chân trời, hoang sơ như thời tiền sử. Nhưng dưới lớp băng vĩnh cửu, lạnh buốt “sữa và mật ong” của nước Nga, là nguồn tài sản dầu khí khổng lồ.

Trong chiến dịch vận động tranh cử, Tổng thống đắc cử Vladimir Putin đã hứa hẹn chi tiêu xã hội hơn 170 tỷ USD. Ông Putin hứa sẽ tăng gấp đôi tiền lương cho bác sĩ, cảnh sát và giáo sư đại học cũng như tăng gấp 3 lần học bổng cho nhiều sinh viên và thúc đẩy chương trình trợ cấp cho các bà mẹ sinh con. Ông Putin cũng hứa "tái trang bị toàn diện” cho quân đội Nga, với chi phí dự kiến 777 tỷ USD trong thập kỷ tiếp theo và xây dựng nhà ở mới cho các cựu chiến binh. Những cam kết này đã giúp ông Putin trở lại điện Kremlin, nhưng vấn đề là lấy tiền ở đâu để chi, nhất là khi chính phủ của Thủ tướng Putin đã đẩy ngân sách liên bang thâm hụt lần đầu tiên trong một thập kỷ qua.

Ngày 22/3, Thủ tướng Putin đã triệu tập một cuộc họp nội các để tìm cách kiếm tiền chi cho những cam kết nghìn tỷ này. Không một vị bộ trưởng nào có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng, trong khi Thủ tướng Putin gợi ý rằng số tiền này có thể gom góp được thông qua việc chi tiêu có hiệu quả của chính phủ.

Nhưng thật khó kiếm được 170 tỷ USD thông qua việc tiết kiệm chi tiêu trong ngân sách liên bang. Do đó, câu trả lời thực sự cho vấn đề này được Thủ tướng Putin đưa ra ngày 23/3, khi ông triệu tập một cuộc họp của ngành dầu khí Nga. Tại cuộc họp này, Thủ tướng Putin nhức nhở: "Ngày nay, trữ lượng khí đốt đã được chứng minh ở Nga là lớn nhất thế giới. Không nước nào có nhiều dầu khí hơn nước Nga."

Hơn 1/4 khí đốt mà Châu Âu tiêu thụ đến từ các mỏ khí đốt Nga và sau khi thảm họa hạt nhân Fukushima hồi năm ngoái, các khách hàng mua khí đốt Nga lớn nhất - đặc biệt là Đức – đã chuyển từ sản xuất điện hạt nhân sang sử dụng khí đốt tự nhiên. Điều đó có nghĩa là nhu cầu khí đốt Nga sẽ leo cao. Vì vậy, Thủ tướng Putin kêu gọi tăng cường khai thác khí đốt, đặc biệt ở các khu vực như Bán đảo Yamal, miền cực bắc của nước Nga. Chính phủ Nga muốn biến "Yamal thành một tỉnh dầu khí mới”. Khu vực Yamal giàu tài nguyên có mức lương tháng trung bình khoảng 70.000 rúp (2.300 USD), nhiều gấp bốn lần mức lương trung bình ở các khu vực nghèo hơn của nước Nga và không hề thua kém thủ đô Moscow.

Nhưng canh bạc dầu khí ở những nơi như Bán đảo Yamal của Tổng thống đắc cử Putin vẫn là một trong những canh bạc đầy rủi ro. Giá dầu khí đốt toàn cầu không nằm trong tầm kiểm soát của Nga và có khả năng lại bị mất giá như những năm 1990. Ngay sau cuộc bầu cử tổng thống Nga, Fitch Ratings đã cảnh báo khả năng hạ điểm tín dụng của Nga, nếu ông Putin không từ bỏ một số hứa hẹn tranh cử hoặc không kiếm được tiền để thực hiện những cam kết của mình. Để có tiền thực hiện những cam kết tranh cử của ông Putin, giá dầu thế giới phải leo lên tới 140-150 USD/thùng thì mới có thể giúp chính phủ Nga cân bằng ngân sách trong vòng sáu năm tới.

Nhà kinh tế Natalia Novikova của Citibank tại Moscow nói: "Nếu ông Putin muốn chi thêm 1,5 nghìn tỷ rúp mỗi năm, giá dầu cần phải tăng thêm 30 USD một thùng”. Trừ khi xảy ra một cuộc chiến tranh nữa ở vùng Vịnh, cơ hội giá dầu leo lên mức đó là rất mong manh. Nhiều khả năng, Tổng thống đắc cử Putin sẽ buộc phải từ bỏ một số cam kết xã hội.

Tuy nhiên, việc không thực hiện những cam kết tranh cử sẽ làm tăng rủi ro chính trị đối với Tổng thống Putin, đặc biệt trong số các cử tri mà ông đã hứa tăng lương và phúc lợi. Trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua,lần đầu tiên ông Putin đã không giành được 50% tổng số phiếu bầu ở thủ đô Moscow, nơi có hàng chục nghìn người xuống đường phản đối sự cai trị của ông.


Minh Châu (theo TIME.com)

dongdoi_f2
03-04-2012, 04:12 PM
Khởi công xây nhà máy phong điện Phương Mai 1


http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=137052&at=0&ts=300&lm=634690594645770000
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)



Sáng 3/4, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh và Công ty cổ phần phong điện Phương Mai đã tổ chức khởi công xây dựng Nhà máy phong điện Phương Mai 1.

Nhà máy nằm trong khu vực B6 của bản quy hoạch chung Khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định đến năm 2020.

Nhà máy phong điện Phương Mai 1 có tổng diện tích đất quy hoạch 143ha.

Theo thiết kế, nhà máy có tổng công suất 30 MW (gồm 12 tổ máy, mỗi tổ có công suất 2,5 MW), với hệ thống trạm biến áp, máy biến thế và xây dựng cơ sở hạ tầng... tổng nguồn vốn đầu tư 60,25 triệu USD (tương đương trên 1.200 tỷ đồng).

Dự kiến sau một năm xây dựng (4/2012-4/2013), nhà máy sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động với sản lượng điện hàng năm đạt 82 triệu kWh, phục vụ nhu cầu điện cho Khu kinh tế Nhơn Hội tỉnh Bình Định và hòa vào điện lưới quốc gia.

Đến nay, Khu kinh tế Nhơn Hội đã cấp phép cho 35 dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký trên 33.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng nguồn vốn đã thực hiện cho đến nay chỉ chiếm khoảng 7% tổng nguồn vốn của các dự án đã đăng ký đầu tư vào khu kinh tế này./.


Viết Ý (TTXVN)

Dự án NMĐ gió Phương Mai này hình thành từ nhưng năm 199x, với công suất ban đầu lên đến 200MW, hiện nay thu gọn lại là 30MW. Nhưng sử dụng máy 2,5MW là loại gam máy cũ, kiểu mới bây giờ là loại 3MW và thậm chí Châu Âu xài gam 5MW.
Đặc điểm của Nhà máy điện gió là chiếm diện tích đất (mặt nước) lớn, lấy ví dụ Trung tâm điện lực Phú Mỹ (Bà rịa Vũng tàu) có 5 nhà máy (đều là turbine khí chu trình hỗn hợp) với tổng công suất nhà máy là 3600MW chiếm có 100ha. trong khi đó Nhà máy điện gió Phương mai 1 có 12 trụ turbine gió tổng công suất 30MW, chiếm 143ha mặt nước, mặt đầm bán đảo Phương mai.

BinhBet
03-04-2012, 04:18 PM
Khởi công xây nhà máy phong điện Phương Mai 1



http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=137052&at=0&ts=300&lm=634690594645770000
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

... trong khi đó Nhà máy điện gió Phương mai 1 có 12 trụ turbin gió tổng công suất 30MW, chiếm 143ha mặt nước, mặt đầm bán đảo Phương mai.

Với khu "kinh thế" Nhơn Hội thì có làm hàng chục cái Phong điện cũng chẳng có ma nào thèm đến đầu tư. Chỉ có béo cho các bên đối tác

dksaigon
03-04-2012, 04:35 PM
"Dầu-Tiền..." đây! ~o)

Myanmar: Con hổ kinh tế tiếp theo của châu Á? (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/66699/myanmar--con-ho-kinh-te-tiep-theo-cua-chau-a-.html) "Nguồn tài nguyên dầu và khí tự nhiên của Myanmar là tiềm năng lớn cho sự phát triển tương lai. Chính phủ nước này gần đây ước tính trữ lượng khí tự nhiên vào khoảng 22.500 tỷ mét khối, nhấn mạnh đến tiềm năng phát triển có thật trong tương lai."

dksaigon
03-04-2012, 06:31 PM
Thế nào ấy nhỉ? Trồng rau trồng lúa dưới chân "nhà máy" thì có chết chóc gì đâu?



Đây bác!;;)

"Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên cạnh những chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm.

Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát lớn hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với kỹ năng cao.
Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai để xây dựng các trạm tourbin mà thuê ngay đất của nông dân. Giá thuê đất (khoảng 20% giá thành vận hành thường xuyên) giúp mang lại một nguồn thu nhập ổn định cho nông dân, trong khi diện tích canh tác bị ảnh hưởng không nhiều."
http://khucquanhanh.vn/diendan/showthread.php?369-D%E1%BA%A7u-Ti%E1%BB%81n-Quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%B1c

dongdoi_f2
04-04-2012, 11:21 AM
Bắc cực “nóng” lên và lợi ích khổng lồ về năng lượng (http://www.petrotimes.vn/nang-luong-xanh/2012/03/bac-cuc-nong-len-va-loi-ich-khong-lo-ve-nang-luong)

(Petrotimes) - Bắc cực đang “nóng” lên, dù hiểu theo nghĩa bóng hay nghĩa đen.

Đó là phát biểu của đại sứ Thụy Điển Gustaf Lind, người sẽ chủ trì cuộc họp của Hội đồng Bắc cực (Arctic Council) tại Stockholm vào ngày 28-29/3 tới. Thành viên của hội đồng này là các nước Mỹ, Canada, Hà Lan, Ai-xơ-len, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, và Nga cùng với đại diện của một số tộc người bản địa tại khu vực Bắc cực như Sami và Inuit, đại diện các nhóm này không có quyền bỏ phiếu.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/L_nh-_o-c%C3%9Fc-n%C2%B2_c-H_i-_ng-B_c-c_c-h_p-t_i-Nuuk-Greenland-th%C3%9Fng-3.2011.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/nang-luong-xanh/2012/03/bac-cuc-nong-len-va-loi-ich-khong-lo-ve-nang-luong/attachment/l_nh-_o-csc-n%c2%b2_c-h_i-_ng-b_c-c_c-h_p-t_i-nuuk-greenland-thsng-3-2011)
Lãnh đạo các nước Hội đồng Bắc cực trong cuộc họp tại Nuuk, Greenland



Bắc cực đang ấm lên nhanh gấp 2 lần so với các khu vực khác của trái đất: nước ở khu vực eo Fram, eo nằm giữa Greenland và quần đảo Svalbard của Na Uy nóng hơn xấp xỉ 3,5°C so với cách đây 1 thế kỷ.
Khi nước biển có màu sẫm thay thế cho băng sáng màu và có tính phản chiếu sẽ trở nên hấp thụ nhiệt tốt hơn. Điều này đẩy nhanh quá trình ấm lên toàn cầu. Nhìn rộng hơn thì lượng băng của Bắc cực ngày càng giảm dần. Hầu hết các nhà khoa học dự báo rằng Bắc cực sẽ có nhiều băng trôi hơn vào các mùa hè trong khoảng thời gian từ năm 2020-2050.
Khi băng dần biến mất, các trữ lượng khổng lồ dầu, khí ga và các loại khoáng chất khác trở nên dễ dàng tiếp cận hơn. Việc giá cả các nguyên liệu đang tăng cao càng khiến các trữ lượng này trở nên giá trị hơn. Viện Khảo sát Địa chất Mỹ ước lượng Bắc cực có trữ lượng dầu và khí đốt bằng khoảng ¼ trữ lượng đã phát hiện và chưa phát hiện của toàn thế giới.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/03/bpng-_-B_c-c_c-ngay-cang-tan-nhanh.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/nang-luong-xanh/2012/03/bac-cuc-nong-len-va-loi-ich-khong-lo-ve-nang-luong/attachment/bpng-_-b_c-c_c-ngay-cang-tan-nhanh)
Băng ở Bắc cực ngày càng tan nhanh



Các tuyến đường vận chuyển thương mại xuyên Bắc cực sẽ rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa châu Âu và châu Á. Năm 2011, một tàu chở dầu cỡ lớn của Nga, cùng sự trợ giúp bởi hai tàu phá băng hạt nhân, đã trở thành con vận chuyển hàng hóa đầu tiên vượt Bắc cực theo hành trình bám chặt theo bờ biển Siberi, Nga gọi đây là “hành trình phương Bắc”.
Các nước sử dụng phương thức vận chuyển bằng đường biển đã tìm thấy tiềm năng hàng hải to lớn từ Bắc cực. Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore, Italy cùng với EU đã đề nghị tham gia Hội đồng Bắc cực với vai trò quan sát viên. Điều này càng làm tăng sức nóng của Bắc cực.
Một tờ báo của Na Uy xuất bản tháng 1 vừa qua đã cho biết: Na Uy đã từng đe dọa chặn quyền tham gia vai trò quan sát viên của Trung Quốc, một phần nguyên nhân của căng thẳng là do ủy ban giải thưởng Nobel có trụ sở ở Oslo, Na Uy đã trao giải Nobel Hòa bình cho một công dân Trung Quốc: Ông Lưu Hiểu Ba, người bị Trung Quốc bắt giam và kết án tội xúi giục chống phá nhà nước. Tuy nhiên, cả hai phía đều phản đối thông tin này.
Nhưng các quan chức tại Oslo không phải là nước duy nhất có thái độ do dự về quyền thành viên của Trung Quốc. Nga, nước sở hữu 1 nửa chiều dài bờ biển Bắc cực và sở hữu phần lớn các nguồn tài nguyên của khu vực này, cũng thế hiện thái độ không sẵn lòng. Canada, nước thể hiện sự quan tâm đặc biệt với tình trạng của vấn đề Bắc cực, cũng không hài lòng với sự tham dự của EU, do nước này quá mệt mỏi với tình trạng săn bắt hải cẩu hàng năm của EU.
Thụy Điển bày tỏ mong muốn giải quyết xong vấn đề quan sát viên vào tháng 3/2013. Lý do dễ thấy về sự trì hoãn kết nạp các quan sát viên chính là vai trò của các thành viên này. Điều này có vẻ như vai trò chỉ giới hạn ở mức nghe và nhìn đối với 6 quan sát viên, trong khi các nước như Anh và Ba Lan có truyền thống khá lâu với các hoạt động ở Bắc cực. Không quốc gia Bắc cực nào cần thiết phải vội vàng mở rộng phạm vị của tổ chức này.
Mặc dù rộ lên nhiều dự báo về sự tranh giành nguy hiểm các nguồn tài nguyên Bắc cực nhưng chủ quyền với khu vực đã được xác định rõ ràng. Bắc cực được xác định là cực đối lập với Nam cực, hiểu theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Đây không phải là vùng đất rộng lớn bị tranh chấp vây quanh bởi đại dương. Đây là một đại dương cộng thêm một vài vùng đất gần như hoàn toàn đã được phân định. Bắc cực không cần một hiệp định quốc tế giống như Hệ thống Hiệp ước vùng Nam Cực.
Một vài tranh cãi liên quan tới Bắc cực đang trở nên nóng bỏng: Về một vài đảo đá nổi tại khu vực giữa Greenland và Canada; tranh chấp giữa Canada và Mỹ về chủ quyền với tuyến hàng hải Tây-Bắc. Một tranh cãi lớn hơn tới nay chưa diễn ra là vấn đề sở hữu thềm lục địa, điều này sẽ được các nước giải quyết từng bước dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật biển. Tuy nhiên, tất cả các tranh cãi này chỉ xảy ra giữa các nước Bắc cực, không có sự tham dự của các nước bên ngoài.
Các thành viên cho rằng, Hội đồng Bắc cực đang hoạt động tốt vai trò của nó. Được thành lập từ năm 1996, một phần để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu chung, tập trung vào các hoạt động như nghiên cứu về ô nhiễm, bảo tồn hải sản và lập bản đồ. Năm ngoái, các thành viên đã lần đầu tiên ký một thỏa thuận mang tính ràng buộc về hoạt động nghiên cứu và cứu hộ. Thỏa thuận tiếp theo sẽ là giải quyết vấn đề dầu tràn.
Nga, quốc gia gây ra sự quan ngại sâu sắc vào năm 2007 khi một tàu thám hiểm Nga đã cắm cờ xuống đáy biển Bắc cực nhằm khẳng định chủ quyền Nga với Bắc cực, hiện đang phát đi tín hiệu về sự thân thiện. Năm 2011, Nga đã kết thúc những tranh cãi kéo dài với Na Uy khi đạt được một thỏa thuận về biên giới hàng hải chung.
Tái khẳng định sẽ giảm bớt các tranh cãi, các quốc gia Bắc cực đang nhận thấy những lợi ích khổng lồ về nghiên cứu, kiểm soát và thăm dò năng lượng là những lợi ích chung lớn hơn. Do vậy, các nước sẽ ngày càng phối hợp chặt chẽ hơn trong các hoạt động thăm dò chung để tìm kiếm nguồn năng lượng và tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau. Các tuyến đường hàng hải ở Bắc cực được hình thành dễ dàng hơn với mối quan hệ ngày càng cải thiện giữa các nước trong khu vực.



Nguyễn Nga (Theo Economist)

dongdoi_f2
07-04-2012, 09:44 AM
Chủ tịch Tập đoàn Gazprom làm việc với Petrovietnam (http://www.petrotimes.vn/petro-vietnam/2012/04/chu-tich-tap-doan-gazprom-lam-viec-voi-petrovietnam)


(Petrotimes) - Sáng 5/4, Chủ tịch Tập đoàn Gazprom Miller A.B đến thăm và làm việc với lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN). Chủ tịch HĐTV PVN Phùng Đình Thực và Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đã tiếp lãnh đạo Gazprom.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/DSC_6939.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/DSC_6939.jpg?a23879)

Chủ tịch HĐTV PVN Phùng Đình Thực tặng quà cho Chủ tịch Gazprom Miller A.B

Trao đổi tại cuộc gặp, Chủ tịch HĐTV PVN Phùng Đình Thực thông báo với đoàn công tác của Gazprom những thành tích của PVN trong các năm qua, đặc biệt là năm thắng lợi về sản xuất kinh doanh 2011 với doanh thu đạt hơn 30 tỉ USD. Đồng thời, hai bên đã nhìn nhận lại quá trình hợp tác trong nhiều năm qua và đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh những dự án mà hai bên đã ký kết. PVN và Gazprom là hai tập đoàn dầu mỏ và khí đốt lớn nhất của Việt Nam và Liên bang Nga. Doanh thu năm 2010 của Tập đoàn Gazprom đạt khoảng 117 tỉ USD. PVN và Gazprom đã thành lập Xí nghiệp Liên doanh Gazpromviet và đang hoạt động rất hiệu quả. Vì vậy, hai bên thống nhất sẽ triển khai nhiều hoạt động trao đổi thông tin, liên kết trong nhiều dự án lớn. Chủ tịch Phùng Đình Thực chia sẻ: Việc Xí nghiệp Liên doanh Gazpromviet ra đời đã gắn kết mối quan hệ kinh tế giữa PVN và Gazprom ngày thêm bền chặt. Liên doanh Gazpromviet không chỉ là kết quả tốt đẹp của quan hệ kinh tế Việt – Nga mà còn mở ra nhiều liên doanh khác, không chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà còn ở các lĩnh vực hai nước Việt – Nga có thế mạnh. Chủ tịch Tập đoàn Gazprom Miller A.B cho rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành năng lương ở Việt Nam, Gazprom sẽ đầu tư nhiều dự án vào Việt Nam và PVN sẽ là cầu nối để Gazprom thuận lợi trong kinh doanh tại Việt Nam.
Đức Chính

dongdoi_f2
07-04-2012, 09:49 AM
Gazprom tham gia dự án khí đốt ở Biển Đông



(Tamnhin.net) - Thông cáo của Gazprom ra ngày 5/4 cho hay tập đoàn Nga này đã đạt thỏa thuận với Tập đoàn dầu khí nhà nước PetroVietnam để cùng khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam.




http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%c4%83m%202012/0412/0504/6a00d8341d9cb353ef01053583d576970b-800wi.jpg






Hai lô này là nơi có các mỏ khí Hải Thạch và Mộc Tinh nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn, giữa quần đảo Trường Sa và bờ biển Việt Nam.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, Tổng giám đốc Tập đoàn Gazprom Alexey Miller cùng đoàn công tác "đang thăm và làm việc tại Việt Nam". Ông Miller đã có cuộc tiếp xúc với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hôm Thứ Năm ngày 5/4.

Thông cáo của Gazprom vừa công bố nói sẽ chia sẻ 49% lợi nhuận với PetroVietnam, theo thỏa thuận đạt được giữa hai bên.

Trữ lượng của hai mỏ này ước tính vào khoảng 55,6 tỷ mét khối khí đốt tự nhiên. Khi đưa vào khai thác, mỗi ngày hai mỏ Hải Thạch và Mộc Tinh có thể sản xuất từ 15.000-20.000 thùng khí đốt ngưng tụ. Gazprom và đối tác Việt Nam dự tính sẽ khoan 16 giếng ở độ sâu 2.000-4.600 mét để khai thác khí đốt tự nhiên.

Hải Thạch và Mộc Tinh là hai mỏ khí thiên nhiên, nằm ở rìa thềm lục địa và cách Vũng Tàu gần 200 hải lý. Trước đây, BP giữ 75,9% cổ phần ở mỏ Hải Thạch.

Trung Quốc đã nhiều lần gây áp lực đối với các công ty nước ngoài hợp tác với Việt Nam thăm dò khai thác ở khu vực mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, nhưng Bắc Kinh lại cho là "nằm bên trong hải giới truyền thống" của Trung Quốc. Chính tại đây, vào năm 2007, Trung Quốc đã gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD. BP chính thức rút khỏi dự án này năm 2009.

Trong khi các hãng dầu như BP của Anh chấp nhận ngừng dự án, thì các công ty Mỹ có thái độ kiên quyết hơn. Hồi tháng 7/2008, Trung Quốc đã gây sức ép buộc công ty ExxonMobil của Mỹ ngừng dự án với Việt Nam tại các lô 135 và 136, ở khu vực Tư Chính-Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn. Exxon lúc đó không tuyên bố rút lui nhưng sau đó cũng không có thêm thông tin gì về tiến độ dự án cho tới tháng 10 năm ngoái khi công ty này thông báo đã tìm thấy dầu sau mũi khoan thứ hai hồi tháng 8/2011.

Việt Nam khẳng định các mỏ khí nói trên hoàn toàn nằm trong thềm lục địa của mình và nhiều lần tỏ rõ quyết tâm theo đuổi dự án mà sau đó được PetroVietnam đặt tên là Dự án Biển Đông 1, do Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (BĐPOC) - một công ty con của PetroVietnam quản lý.

dongdoi_f2
07-04-2012, 07:30 PM
Chính phủ hối thúc triển khai tổ hợp Hóa dầu Miền Nam

(Tamnhin.net) - Trong công văn gửi Bộ Giao thông Vận tải, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa có yêu cầu UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập và phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng để bàn giao đất cho chủ đầu tư thực hiện dự án (đặt tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) theo đúng quy định pháp luật về đất đai.




http://tamnhin.net/Uploaded/maitroly/Images/3.2012/5/bando_kcn_long%20son.jpg







Cùng với đó, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sớm làm việc với Petro Vietnam và chủ đầu tư thống nhất việc phân bổ chi phí đầu tư khu tái định cư cho phù hợp với nhu cầu, số hộ dân, điều kiện tái định cư thực tế của dự án, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả đầu tư và thống nhất việc đầu tư hai đoạn đường vào khu công nghiệp Long Sơn, là đường dùng chung phục vụ cho cả dân sinh và dự án.


Trường hợp khó khăn về ngân sách, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thỏa thuận với chủ đầu tư ứng trước tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng và hoàn trả tiền ứng trước của chủ đầu tư theo quy định.


Đồng thời, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác định giá thuê đất cho dự án theo đúng quy định tại Nghị định số 121/2010 của Chính phủ và đơn giá thuê đất được tính tại thời điểm năm 2012.


Dự án Tổ hợp Hóa dầu Miền Nam được Petro Vietnam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Công ty Hóa chất Vina SCG và Công ty TNHH Nhựa và Hóa chất Thái Lan ký hợp đồng liên doanh từ tháng 3/2008 và được tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 7/2008.


Với tổng mức đầu tư gần 4 tỷ USD, quy mô công suất hơn 3 triệu tấn sản phẩm/năm, đây là dự án hoá dầu độc lập có tổng mức đầu tư và qui mô lớn. Tổ hợp được xây dựng trên diện tích 400 ha tại khu công nghiệp Long Sơn, xã Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), nằm sát cạnh dự án nhà máy lọc dầu Long Sơn.


Cùng với các nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nghi Sơn, Long Sơn, đây là dự án có tính chất quan trọng trong chiến lược phát triển của ngành dầu khí Việt Nam trong tương lai.


Sau khi đi vào hoạt động, hàng năm tổ hợp dự kiến sẽ cung cấp 1,45 triệu tấn hạt nhựa polyetylen (PE) và polypropylen (PP), 730.000 tấn hoá chất nguyên liệu cho sản xuất nhựa polyvinyl clorua (PVC), và 840.000 tấn hoá chất cơ bản khác phục vụ ngành công nghiệp hoá dầu và hoá chất, đáp ứng được 65% nhu cầu hạt nhựa PE và PP của cả nước, góp phần bình ổn nguồn nguyên liệu đầu vào của ngành công nghiệp hoá dầu.



PV (tổng hợp)


Trong khu hóa dầu Long sơn sẽ có nhà máy điện công suất 200MW-230MW, nhằm đảm bảo nguồn điện tại chỗ, đồng thời cung cấp nước nóng và hơi nóng cho các khâu công nghệ xử lý khác của khu hóa dầu. Chủ đầu tư chưa quyết định chọn công nghệ nhà máy nhiệt điện đốt than truyền thống (nhập từ Austraylia/Indonesia) hay chọn nhà máy điện turbine khí chu trình hỗn hợp đốt bằng khí Nam Côn sơn hay khí hóa lỏng LNG nhập từ UAE/Quata.
Để đảm bảo môi trường sạch thì chỉ có dùng khí đốt hay khí LNG thôi. Sẽ phải đầu tư khoảng 300 MUSD cho nhà máy điện này.

dongdoi_f2
13-04-2012, 10:30 AM
Hơn 200 tập đoàn năng lượng phương Tây có mặt tại Biển Đông (http://www.petrotimes.vn/dau-tien-quyen-luc/2012/04/hon-200-tap-doan-nang-luong-phuong-tay-co-mat-tai-bien-dong)(Petrotimes) - Vùng biển kéo dài từ đảo Đài Loan tới quốc đảo Singapore đang có mặt đông đảo các Tập đoàn năng lượng phương Tây, với trên 1.000 giếng dầu trên mặt biển đang chứng kiến xu thế cạnh tranh mãnh liệt.

Theo báo Manila Standard Today, Tập đoàn Năng lượng Philex Mining Corp của Philippines mới đây tuyên bố từ năm tới sẽ khoan ít nhất hai giếng dầu và bắt đầu thăm dò ở khu vực Reed Bank (tức bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hiện đang do Philippines chiếm đóng), nơi mà trước đó tàu Trung Quốc từng vài lần gây hấn với tàu Philippines. Philex có kế hoạch đầu tư 86 triệu USD trong hai năm 2012 và 2013.
Mùa xuân năm 2007, dưới sức ép của Trung Quốc, BP đã ngừng các hoạt động khai thác tại các mỏ khí đốt Mộc Tinh và Hải Thạch thuộc thềm lục địa của Việt Nam. Năm 2008, báo chí đưa tin Tập đoàn Năng lượng Mỹ Exxon Mobil cũng bị Trung Quốc đe dọa. Từ năm 2007-2010, Trung Quốc thường xuyên phản đối các hoạt động khai thác của các công ty năng lượng nước ngoài, trong đó có BP ở khu 117; PGS (của Na Uy) ở khu 122; Chevron (của Mỹ) ở khu 122; Pogo (của Mỹ) ở khu 124; ONGC (của Ấn Độ) ở khu 127; Indemisu (của Nhật Bản) ở khu 04-3; CoconoPhilips (Mỹ) ở khu 133; Pearl Energy (Mỹ) ở khu 06-1; Knoc (Hàn Quốc) ở khu 11-4; và Gazprom (Nga) ở các khu 111 và 113.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/bao-gia.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/bao-gia.jpg?a23879)

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định trong trường hợp của Exxon Mobile, “các khu này hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam và phù hợp với Công ước của LHQ về luật biển” và “Việt Nam sẽ đảm bảo mọi lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động tại Việt Nam”. Việt Nam “hoan nghênh và sẽ tạo điều kiện hợp tác với các đối tác nước ngoài, trong đó có cả các nhà đầu tư Trung Quốc đang hoạt động tại Việt Nam, trên cơ sở tôn trọng đầy đủ chủ quyền của chúng tôi”.
Năm 2009, Trung Quốc cũng phản đối việc Philippines khoan dầu ở khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cách Palawan 60 hải lý về phía tây, nơi có thể chứa 96 triệu m3 khí và 450 triệu thùng dầu. Malaysia và Brunei cũng tranh chấp về khai thác một mỏ khí đốt tại một khu vực mà các đòi hỏi của hai bên chồng lấn nhau. Nhiều công ty khác nhau được giao cho những khu như nhau: Malaysia trao quyền khai thác cho Murphy Oil, trong khi Brunei trao quyền tương tự cho Royal Dutch Shell và Total.
Hãng Reuters đưa tin, các tàu của Trung Quốc đã từng xua đuổi tàu khảo sát Veritas Voyager – do Công ty Cổ phần Forum Energy có trụ sở ở Anh thuê ở bãi Cỏ Rong. Một năm sau vụ việc trên, Công ty Forum Energy đang lên kế hoạch quay trở lại. Các quan chức cấp cao của Forum Energy nói với Reuters rằng, công ty dự định tới bãi Cỏ Rong trong vòng vài tháng tới để tiến hành khoan giếng dầu và khí đốt tự nhiên đầu tiên ở khu vực này trong nhiều thập kỷ qua. Việc khai thác dầu mỏ của Trung Quốc tại Biển Đông đang bị hạn chế, với việc cho tới nay nước này mới chỉ có chưa tới 15 giếng dầu. Công ty Dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đang cùng với các đối tác nước ngoài là Công ty Husky Energy của Canada và Tập đoàn Chevron của Mỹ lên kế hoạch khai thác khu vực này, tuy nhiên chỉ tập trung chủ yếu vào vùng biển phía bắc, cách xa khu vực nhạy cảm ở phía nam.
Cho đến cuối tháng 2, đã có 25 công ty thăm dò dầu mỏ nội địa và quốc tế đã gửi đơn đấu thầu khai thác ở 15 khối dầu khí từ khi Philippines công bố kế hoạch kêu gọi đầu tư vào giữa năm ngoái. Các vị trí nằm tại Cagayan, trung Luzon, tây nam Palawan, Mindoro-Cuyo, đông Palawan, Cotabato và biển Sulu. Thứ trưởng Năng lượng Jose M. Layug Jr. xác nhận một số gương mặt lớn đã nộp hồ sơ như Tập đoàn Đa quốc gia Total của Pháp, một trong những tập đoàn dầu khí hàng đầu thế giới; tập đoàn Eni S.p.A của Italia; Công ty CalEnergy của Mỹ, và GDF Suez của Pháp – đơn vị sản xuất điện độc lập số một thế giới và cũng là nhà nhập khẩu hàng đầu khí tự nhiên lỏng… Nhiều tập đoàn lớn trong nước cũng tham gia. Hạn chót để các công ty nộp hồ sơ dự thầu là hôm nay 29/2.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/mailfoto1.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/mailfoto1.jpg?a23879)
Vận chuyển dầu trên Biển Đông



Ngày 17/9/2011, tờ Washington Post đăng bài “Tại Biển Đông, một cuộc tranh chấp năng lượng” của nhà báo Andrew Higgins, viết từ Philippines. Andrew Higgins là phóng viên kỳ cựu của tờ Nhật báo Phố Wall, báo Độc Lập và Hãng Thông tấn Reuters, từng được giải báo chí danh tiếng Pulitzer. Ông cho rằng, Trung Quốc hiện nhập khẩu hơn một nửa lượng dầu tiêu thụ và sẽ tăng gần gấp đôi nhu cầu của mình trong một phần tư thế kỷ tới. Nhu cầu của Trung Quốc đối với khí đốt – thứ tài nguyên được cho là dồi dào bên dưới một quần đảo bao gồm nhiều hòn đảo và san hô có tên là Trường Sa, ở phía Tây của Philippines – được dự tính sẽ tăng gấp bốn lần. Với lượng tiêu thụ gia tăng nhanh chóng và giá nhiên liệu nhập khẩu đang tăng lên, Trung Quốc tìm kiếm quyết liệt các nguồn cung mới để tăng lượng dự trữ năng lượng của mình, trong đó dầu hiện chỉ chiếm 1,1% tổng dự trữ của thế giới – tỉ lệ quá nhỏ đối với một quốc gia mà năm vừa rồi đã tiêu thụ 10,4% tổng lượng sản xuất dầu của thế giới và 20,1% tất cả năng lượng được tiêu thụ trên toàn cầu, theo Thống kê Năng lượng Thế giới của hãng BP.
Kết quả là, Bắc Kinh coi các vùng biển tranh chấp không chỉ đơn thuần là nơi phất lên ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa, mà còn là phần không thể thiếu đối với tương lai thịnh vượng kinh tế của mình. Theo William Fallon, cựu đô đốc bốn sao của Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ từ năm 2005 đến 2007, “Tiềm năng dưới đáy biển rõ ràng là một động cơ lớn” trong các thay đổi gần đây của Trung Quốc theo hướng hiếu chiến hơn trên Biển Đông. Trung Quốc thận trọng không đẩy các tuyên bố chủ quyền của mình đến độ xảy ra xung đột vũ trang nghiêm trọng, có thể phá vỡ sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng, Fallon nói, màn sương bí mật bao quanh tư duy của người Trung Quốc dày đến mức “chúng ta hầu như không hiểu được điều gì thực sự khiến họ hành động như vậy”.
Người chiến thắng trong cuộc thi “Hoa hậu Palawan” năm nay là cô gái 18 tuổi Sarah Sopio Osorio, một sinh viên ngành kế toán đã trở thành đại diện của Kalayaan, (tên gọi của Philippines với quần đảo Trường Sa). Cô đã chiến thắng sau một bài phát biểu phấn khích ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Philippines. Osorio không sống ở Kalayaan, hiện làm việc cho chính quyền của đảo Pagasa. Chuyến đi mất ba ngày bằng tàu từ Puerto Princesa. “Tôi nôn suốt dọc đường”, hoa hậu nói. Tuy nhiên, cô nói rằng Philippines phải kiên trì bảo vệ chủ quyền trước các đòi hỏi “tham lam” của Trung Quốc. Cô không nghi ngờ gì động cơ của Trung Quốc: “Dầu lửa là lý do duy nhất. Chỉ có nó thôi”.
Mới đây, một tờ báo của Trung Quốc cũng đã cử phóng viên thường trú của mình tại Thái Lan và Việt Nam tiến hành điều tra, đánh giá về tình hình hoạt động khai thác dầu khí của các nước xung quanh Biển Đông. Báo này lấy lại nhận xét của Cục Quản lý thông tin năng lượng Mỹ cho rằng, Biển Đông là một khu vực tập trung phong phú nguồn tài nguyên dầu khí, hay còn gọi là “vịnh Pécxích thứ hai của thế giới”.
Việc Malaysia khai thác dầu khí tại Biển Đông đã khiến cho giá xăng A95 tại Trung Quốc luôn duy trì ở mức 4 nhân dân tệ/lít; ngành công nghiệp dầu mỏ của Phillippines gần đây cũng tăng cường gọi thầu khai thác dầu khí tại Biển Đông. Điều tra cho thấy, hầu hết các tập đoàn dầu khí phương Tây đều chen chân vào khu vực này, trong đó đã xây dựng hơn 1.000 giếng dầu. Các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei đều có hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí quy mô tương đối tại Biển Đông, sản lượng khai thác hàng năm đạt hơn 50 triệu tấn, rất nhiều nước đang tăng cường gọi thầu nhằm tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí tại khu vực này. Malaysia vài năm gần đây cũng đã vạch ra nhiều lô dầu khí để tiến hành gọi thầu, hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí của 13 lô tại “vùng ráp gianh” tranh chấp; tại Brunei, những giếng dầu được xây dựng trên biển giữa quốc gia này với Tập đoàn Dầu khí Shell đã vượt quá 240 giếng.
Malaysia đang khai thác gần 100 giếng dầu trên vùng Biển Đông, sản lượng dầu mỏ hàng năm đạt 30 triệu tấn. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu dầu khí của Malaysia đạt 23 tỉ USD. Theo thông tin nội bộ của Tập đoàn Dầu khí Malaysia, lợi nhuận của tập đoàn này tăng trưởng mạnh là do một phần rất lớn bắt nguồn từ việc khai thác dầu khí tại Biển Đông. Tính đến cuối năm 2010, Tập đoàn Dầu khí Malaysia đã ký hơn 70 hợp đồng cùng khai thác với nhiều tập đoàn dầu khí quốc tế. Mỗi hợp đồng đều đàm phán hết sức cụ thể, thông thường tỉ lệ phân chia là 6:4 hoặc 7:3. Trước khi kỹ thuật thăm dò, khai thác dầu khí của Malaysia được hoàn thiện, đại bộ phận hợp đồng đều giao cho các tập đoàn nước ngoài khai thác, hiện nay Tập đoàn Dầu khí Malaysia đã bắt đầu nhận thầu các dự án trong nước và triển khai hoạt động nghiệp vụ tại nước ngoài.
Hơn 200 tập đoàn năng lượng phương Tây đã khoan hơn 1.000 giếng dầu tại khu vực Biển Đông, trong đó bao gồm hầu hết các tập đoàn lớn của Mỹ, EU, Nhật Bản. Những năm gần đây, đầu tư của Mỹ vào khai thác dầu khí tại Biển Đông đang không ngừng tăng lên.
Chủ tịch Hiệp hội khảo sát dầu mỏ Đông Nam Á của Singapore, Stephen Doyle trả lời báo này rằng, khai thác dầu khí Biển Đông tiến ra biển sâu đã trở thành xu thế, trong khi kỹ thuật khai thác dầu khí biển sâu đã không còn là vấn đề lớn, ngày càng nhiều tập đoàn dầu khí phương Tây chuẩn bị tiến hành khai thác dầu khí biển sâu tại Biển Đông. Ngoài phương diện này, một số quốc gia xung quanh để thu hút đầu tư từ nước ngoài, đều có nhượng bộ rất lớn trong vấn đề phân chia lợi nhuận, điều này có sức hấp dẫn to lớn đối với các tập đoàn xuyên quốc gia. Nhưng Stephen Doyle lo ngại, bên cạnh việc khai thác dầu khí Biển Đông tiến ra biển sâu, tất yếu sẽ tiến vào những khu vực đang tồn tại tranh chấp chủ quyền, có thể khiến tình hình tranh chấp Biển Đông sẽ quyết liệt và nổi cộm hơn.

Trần Thế Vinh (tổng hợp)

dongdoi_f2
21-04-2012, 09:12 PM
Phong điện còn hơn điện hạt nhân


(Tamnhin.net) - Phong điện hiện chiếm 3% nguồn cung cấp điện toàn cầu và chẳng bao lâu nữa sẽ cung cấp điện nhiều hơn điện hạt nhân, với giá thành phải chăng và tạo ra nhiều công ăn việc làm.




http://tamnhin.net/Uploaded/minhbichluyen/Images/N%c4%83m%202012/0412/2004/6242576403_1e6d9d4665_z.jpg






Phát triển vũ bão

Phong điện đang phát triển mạnh trên toàn thế giới và ngày càng trở nên quan trọng. Tại Tây Ban Nha và Đan Mạch, phong điện đã cung cấp 20% tổng lượng lượng điện tiêu thụ và ở Đức tỷ lệ này là 10%. Theo dự báo, đến năm 2020, phong điện sẽ thỏa mãn 20-25% nhu cầu tiêu thụ điện ở Đức.

Theo Hiệp hội Năng lượng gió thế giới (WWEA), các thiết bị sản xuất điện từ năng lượng gió có tổng công suất khoảng 40 gigawatts (GW) đã được lắp đặt trong năm 2011, nâng tổng công suất phong điện trên toàn cầu lên 237 GW và tương ứng với công suất phát điện của 280 lò phản ứng hạt nhân. Trên thế giới, hiện có khoảng 380 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động.

Việc khai thác phong điện trên toàn cầu đang tiến triển nhanh chóng, với tốc độ tăng trưởng 20% hàng năm. Theo dự báo của Hiệp hội Năng lượng gió thế giới, tổng công suất phong điện trên toàn cầu sẽ tăng gấp hơn 4 lần so với hiện nay và lên tới 1.000 GW vào năm 2020.

Trung Quốc hiện đang phát triển phong điện với tiềm lực kinh tế khổng lồ, hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Gần một nửa số thiết bị phong điện được lắp đặt trên toàn thế giới thuộc về Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang vượt Mỹ và Đức, những quốc gia vốn đi đầu trong lĩnh vực phong điện. Tuy nhiên, xét về dân số và thị phần tiêu thụ điện, các nước Đan Mạch, Tây Ban Nha và Đức tiếp tục dẫn đầu. Tại Trung Quốc, phong điện chỉ cung cấp có 3% tổng lượng điện tiêu thụ của nước này.

Giá cả phải chăng

Mặc dù thân thiện với môi trường và góp phần chống biến đổi khí hậu, nhưng nguyên do chính khiến phong điện phát triển bùng nổ lại là vấn đề giá thành sản xuất điện. Theo ông Stefan Gsänger - giám đốc điều hành của Hiệp hội Năng lượng gió thế giới, giá của một KWh của các nhà máy phong điện trên đất liền vào khoảng 0,05-0,09 euro. Trong khi đó, chi phí sản xuất điện từ các nhà máy điện đốt than tiên tiến nhất Châu Âu vào khoảng 0,07 euro/KWh. Theo tính toán của Liên minh Châu Âu và Bộ Môi trường Đức, chi phí thực sự của các nhà máy điện đốt than thực ra cao gấp hai lần so với mức giá nói trên. Bụi than từ các nhà máy điện đốt than chịu trách nhiệm chủ yếu về nhiều bệnh đường hô hấp và dẫn đến chi phí cao về chăm sóc sức khỏe. Trong khi đó, nếu tính đủ, giá thành sản xuất điện của các nhà máy nhiệt điện và của các nhà máy điện hạt nhân mới cũng cao hơn giá thành phong điện.

Vấn đề đầu tiên

Mặc dù là một trong những nguồn năng lượng giá rẻ, phong điện cần tiếp tục nhận được sự hỗ trợ chính giới.

Đối với việc phát triển phong điện, các công cụ tài trợ là rất quan trọng. Trái với các nhà máy điện khác, chi phí cho phong điện chủ yếu nằm ở khâu đầu tư, lắp đặt thiết bị. Ở những khu vực kém phát triển, được tài trợ là một vấn đề lớn.

Để sản xuất phong điện, các nhà máy nhỏ và tín dụng vi mô chính là một giải pháp quan trọng. Điều này có nghĩa là các công ty cung cấp thiết bị đồng thời là bên cung cấp tín dụng cho khách hàng. Sau đó mỗi tháng, khách hàng sẽ trả dần khoản đầu tư ban bầu nói trên: cả vốn lẫn lãi.

Trong những năm gần đây công nghệ phong điện đã phát triển mạnh mẽ, với những thiết bị có cánh quạt lớn gấp bội tại những khu vực có gió yếu và các tháp phong điện ngày càng cao hơn. Chỉ có điều chi phí lắp đặt và bảo dưỡng sẽ tốn kém gấp bội dẫn đến giá thành sản xuất điện vào khoảng 0,18-0,20 euro/KWh.

Một xu hướng khác là lắp đặt các tuabin gió cỡ nhỏ cho các hộ gia đình, làng mạc hoặc công xưởng nhỏ. Hơn nửa triệu thiết bị phong điện nhỏ như vậy đã được lắp đặt trên toàn thế giới, chủ yếu ở Trung Quốc và Mỹ. Chi phí sản xuất điện của các thiết bị nhỏ này vào khoảng 0,15-0,20 euro/KWh.

Đối với nhiều người ở các nước đang phát triển và các khu vực kém phát triển, cái giá này là có thể chấp nhận vì nếu không, họ sẽ không có cơ hội sử dụng điện. Đối với người tiêu dùng ở các nước công nghiệp phát triển, các tuabin gió cỡ nhỏ cũng phát huy tác dụng vì về lâu về dài, chi phí sản xuất phong điện sẽ thấp hơn so với mức giá mà các nhà cung cấp điện đưa ra. Có thể nói các thiết bị phong điện nhỏ lắp cho các hộ gia đình có tương lai xán lạn. Khoảng một nửa các tuabin phong điện ở Đức thuộc quyền sở hữu của công dân và cộng đồng địa phương.


Minh Châu (theo Deutsche Welle)

dongdoi_f2
27-04-2012, 10:21 AM
Ukraine phủ bêtông lên 4 lò phản ứng ở Chernobyl



Sau 26 năm kể từ khi xảy ra sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, cuối cùng, Ukraine cũng bắt đầu tiến hành phủ bêtông lên trên khu vực bốn lò phản ứng với mục tiêu đảm bảo an toàn cho vùng Chernobyl.

Nhà chức trách cam kết sẽ hoàn tất quá trình phủ kín khu vực lò phản ứng hạt nhân Chernobyl vào năm 2015 và mang lại một cuộc sống mới ở khu vực xung quanh nhà máy điện hạt nhân.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng việc xây dựng lớp bảo vệ mới nhằm ngăn chặn sự phát tán của chất phóng xạ bên trong các lò phản ứng bị phá hủy của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl sẽ không giải quyết được vấn đề về an toàn bức xạ do các nhiên liệu hạt nhân và chất phóng xạ vẫn nằm lại bên dưới./.


http://www.vietnamplus.vn/Uploaded_VNP/admin/20120427/AFP_Chernobyl.gif


(Vietnam+)

dongdoi_f2
28-04-2012, 05:46 PM
Philippin với chương trình khai thác dầu khí ngoài khơi(Tamnhin.net) - Ngày 25/4/2012, Mỹ và Philippin đã tiến hành cuộc tập trận mang tên “Tình đồng đội” trên bãi Reefbank ở tây nam đảo Palawan 148 Km. Nhưng đằng sau cuộc tập trận này là chuẩn bị cho chương trình khai thác dầu khí ở Khu vực này sau khi Phillippin phát hiện mỏ khí đốt trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới.




http://tamnhin.net/Uploaded/thanhlongtn/Images/2012/thang%204-2012/4/gian.jpg






Báo chí Philippin cho biết ngày 25/4/2012 cuộc tập trận chung giữa quân đội hai nước Mỹ và Philippin đã kết thúc thành công, đạt mục tiêu đề ra là “cứu hai con tin đang bị bắt giữ trên đảo”. Phó tư lệnh Hải quân miền tây Philippin, tướng Amando cho biết 84 binh sĩ hai nước cùng với hai xuồng máy cao su cao tốc đã “đổ bộ thành công lên đảo, an toàn giải thoát hai con tin”. Ông cho biết mục tiêu chủ yếu của cuộc tập trận chung hai nước nhằm tăng cường khả năng chống khủng bố của quân đội Philippin.

Tuy nhiên, dư luận chung đều cho rằng cuộc tập trận chung này chỉ “mang tính tượng trưng” vì ngay trước đó Công ty dầu khí quốc gia Philippin cho biết họ phát hiện mỏ khí ga thiên nhiên với trữ lượng cấp thế giới chừng 20.000 tỉ khối, gấp 5 lần trữ lượng đã phát hiện của mỏ khí đốt quy mô lớn Tulipa được phát hiện năm 2006 ở gần khu vực này.
Bộ trưởng năng lượng Philippin Jose Rene Almendras cho biết ngày 27/4/2012 Philippin sẽ tiến hành Lễ gọi thầu quốc tế để khai thác mỏ khí đốt Reefbank nhằm thực hiện “Quy hoạch năng lượng quốc gia 2009-2030”. Theo quy hoạch này, tới năm 2030 sản lượng dầu khí của Philippin đạt 759 triệu thùng và 269,4 tỉ khối gas. Tới năm 2030 công ty xí nghiệp khai thác dầu khí ở Philippin sẽ từ 34 hiện nay tăng lên tới 117 công ty. Hiện nay vùng biển xung quanh đảo Luzon, nhất là vùng biển xung quanh đảo Palawan có tới 16 mỏ dầu và khí gas thiên nhiên.

Triển vọng khai thác dầu khí ngoài khơi ở Khu vực này là rất lớn cho phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, báo chí Philippin cho biết việc khai thác ở khu vực này gặp nhiều rủi ro, nên đảm bảo an ninh là rất cần thiết nhất là sự hợp tác quân sự với Mỹ để đảm bảo an toàn cho khu mỏ. Tháng 9/2011 Philippin đã trích 117 triệu USD từ khoản tiền thu được từ cấp giấy phép khai thác để chi cho quân đội, nhất là tăng cường lực lượng Hải quân bảo vệ và ngăn chặn “mối đe dọa từ nước lớn”.

Cố vấn Cơ quan đánh giá an ninh Khu vực chiến lược Châu Á –Thái Bình Dương của Anh, Rechard Gibson nói bản thân Philippin không đủ thực lực để khiêu khích và chống lại thực lực quân sự của nước lớn láng giềng, nên phải dựa vào lực lượng quân đội Mỹ. Theo “Hiệp định căn cứ quân sự” được ký kết giữa hai nước Philippin-Mỹ, Mỹ thuê 23 căn cứ quân sự ở Philippin, sau đó rút bớt hai căn cứ Clark và Subic. Nhưng do nhu cầu phát triển khai thác dầu khí ngoài khơi hiện nay, nên Philippin đã sẵn sàng mở lại các căn cứ quân sự cho quân đội Mỹ, đồng thời tăng cường các cuộc tập trận chung giữa hai nước. Năm 2012, hai bên đã tiến hành nhiều cuộc tập trận chung các loại ở xung quanh Khu vực trên, riêng phía Mỹ đã đưa hơn 4.500 quân tham gia tập trận chung, lực lượng gấp hai lần quân đội Philippin.

Khi tuyên bố cuộc tập trận chung của quân đội hai nước Philippin – Mỹ, phía Trung Quốc đã cực lực phản đối, cho rằng cuộc tập trận này nhằm vào Trung Quốc, nên đã tăng cường lực lượng quân đội tới Khu vực này. Quan hệ căng thẳng đối đầu hai nước kéo dài hơn 10 ngày tại khu vực trên. Ngày 25/4/2012, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vĩ Dân nói Trung Quốc hy vọng hai bên nỗ lực làm cho tình hình căng thẳng khu vực này dịu xuống, tránh làm cho tình hình trở nên phức tạp, lan rộng. Philippin không nên đưa quân đội nước khác dính líu vào hoặc luôn có mặt trong khu vực này.

Dư luận cho rằng Chương trình khai thác dầu khí ngoài khơi của Philippin có triển vọng to lớn, nhưng rủi ro cũng rất lớn, hơn nữa cũng có thể làm cho quan hệ Trung Quốc – Philippin trở nên căng thẳng thời gian tới.

K.Tỉnh

dongdoi_f2
01-05-2012, 11:17 AM
Hoạt động thăm dò dầu khí ở miền Nam trước năm 1975 (http://www.petrotimes.vn/petro-vietnam/2012/05/hoat-dong-tham-do-dau-khi-o-mien-nam-truoc-nam-1975)



(Petrotimes) -
Theo các tài liệu lưu trữ, trong thời kỳ 1954 đến 1961 đã không có bất kỳ hoạt động khảo sát địa chất dầu khí nào được tiến hành ở miền Nam Việt Nam.
Năm 1967, với hy vọng có dầu khí ở thềm lục địa do khảo sát địa vật lý mang lại, Nha Tài nguyên thiên nhiên thuộc Bộ Kinh tế, chính quyền Việt Nam Cộng hòa được giao nhiệm vụ soạn thảo Luật Dầu hỏa, chủ yếu dựa theo kinh nghiệm của Iran.
Ngày 1/12/1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Đạo luật Dầu hỏa số 011/70 ấn định việc tìm kiếm, khai thác dầu mỏ cùng điều kiện thuế khóa và hối đoán liên quan.
Báo Năng lượng Mới xin giới thiệu tóm lược về hoạt động thăm dò dầu khí ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Nghiên cứu địa chất – địa vật lý

Năm 1966, theo đề nghị của Ủy ban Kinh tế châu Á của Liên Hiệp Quốc (ECAFE), các nước trong khu vực thành lập Ủy ban Điều phối chương trình điều tra khoáng sản ngoài khơi châu Á (CCOP) (tháng 10-2001 đổi tên là Ủy ban Điều phối các chương trình khoa học địa chất ở Đông và Đông Nam châu Á) nhằm hỗ trợ các nước trong khu vực triển khai thăm dò và tìm kiếm tài nguyên khoáng sản ở ngoài khơi.
Năm 1967, Cơ quan Hải dương học Mỹ tiến hành khảo sát toàn bộ thềm lục địa Nam Việt Nam bằng từ hàng không (tỉ lệ 1/250.000, tiết diện 10 gamma).
Tiếp theo, năm 1967-1968 Công ty Alping Geophysical Corporation cũng triển khai nghiên cứu ở vùng này.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/PathfinderRemusaa.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/PathfinderRemusaa.jpg?a23879)
Hoạt động thăm dò, khảo sát của Naval Oceanographic Office ngày nay. Trước đó, từ năm 1964, đơn vị này đã tiến hành khảo sát địa chấn ở Biển Đông và vịnh Thái Lan (ảnh Victor Cornin)


Năm 1968, Không quân Hoa Kỳ đã tiến hành đo từ hàng không phần phía nam của Việt Nam Cộng hòa, chủ yếu là vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phần biển nông ven bờ. Cũng trong năm này, nhiều công ty của Anh tiến hành thăm dò địa chấn sơ bộ ở Biển Đông và vịnh Thái Lan. Kết quả phát hiện một tầng trầm tích dày khoảng 3-4km có cấu trúc cấu – kiến tạo khá thuận lợi cho việc chứa dầu.

Năm 1969, Naval Oceanographic Office tiến hành khảo sát địa chấn ở Biển Đông và vịnh Thái Lan với mạng lưới tuyến có chiều dài hơn 16.000km. Công ty Ray Geophysical “Mandrel” đã tiến hành đo địa vật lý ở vùng thềm lục địa miền Nam và vùng phía nam Biển Đông với tổng số vào khoảng 3.482km tuyến.
Kết quả các khảo sát này được đăng trên tạp chí của CCOP, đã hấp dẫn các công ty dầu quốc tế quan tâm đến tiềm năng dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam.
Một số nước trong vùng Đông Nam Á như Brunei, Malaysia, Indonesia tiếp cận vùng Biển Đông đối diện với Việt Nam, đã phát hiện và khai thác dầu từ lâu. Do vậy, một nhóm công ty dầu quốc tế đã hợp tác thuê Công ty Ray Geophysical “Mandrel” thực hiện chương trình khảo sát địa chấn, từ và trọng lực tương đối chi tiết hơn trên thềm lục địa Việt Nam.
Khoảng 8.400km tuyến địa vật lý đã được khảo sát trong 2 năm 1969 và 1970 theo mạng lưới 30km x 40km.
Đầu năm 1970, Công ty Mandrel đã tiến hành đo đợt hai ở phía nam Biển Đông và dọc theo bờ biển miền Nam với khối lượng 8.639km tuyến địa vật lý, bảo đảm mạng lưới tuyến 30km x 50km kết hợp giữa các phương pháp địa chấn, trọng lực và từ. Tổng khối lượng nghiên cứu địa vật lý thực là 9.935km tuyến.
Các tuyến địa vật lý khu vực của Công ty Mandrel cũng như các công ty khác đã cho phép lập các sơ đồ đẳng thời tỉ lệ 1/500.000, cho thấy các tầng phản xạ, chiều dày tối thiểu của lớp trầm tích nơi này có thể hơn 2km. Qua đó có thể xác định được một số đơn vị cấu trúc như đới nâng Khorat, đới nâng Côn Sơn, 3 bồn trầm tích: Sài Gòn – Brunei (sau là bể Nam Côn Sơn), Mekong (sau là bể Cửu Long) và vịnh Thái Lan (sau là bể Malay – Thổ Chu) đều có triển vọng chứa dầu rất cao.

Chuẩn bị gọi thầu

Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, dầu khí thế giới đã có những chuyển biến quan trọng. Năm 1960, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) được thành lập. Một số nước trong OPEC đã bắt đầu áp dụng một vài kiểu hợp đồng khác với đặc nhượng: hợp đồng phân chia sản phẩm – PSC (Iran, Indonesia), hợp đồng dịch vụ (Iran, Venezuela) và hợp đồng đồng điều hành – JOC (Algerie, 1969). Tại các hợp đồng phân chia sản phẩm và dịch vụ như ở Iran, Indonesia và Venezuela, công ty dầu trở thành nhà thầu chịu trách nhiệm sản xuất và được chia tỉ lệ dầu sản xuất 40/60, 25/75 v.v… với nước chủ quyền hoặc được nước chủ quyền trả phí dịch vụ bằng dầu. Ở Venezuela, hợp đồng dịch vụ được Công ty Dầu khí Venezuela (CVP) áp dụng kể từ năm 1968.
Ở Iran, năm 1966, Công ty Dầu của Pháp là ERAP nhận làm dịch vụ tìm và sản xuất dầu cho Công ty Dầu quốc gia của Iran (NIOC) để nhận tiền công bằng số dầu do hai bên thỏa thuận. Thực ra, sau một thời gian dài áp dụng hợp đồng đặc nhượng, các nước này đã tích lũy được kinh nghiệm và đủ mạnh về kỹ thuật và tài chính, nên đã thành lập Công ty Dầu khí quốc gia Pertamina ở Indonesia, NIOC ở Iran, CVP ở Venezuela v.v…
Đặc biệt, Mexico là nước phản ứng mạnh nhất và tiến bộ nhất bằng việc quốc hữu hóa công nghiệp dầu mỏ với sự thành lập Công ty Dầu quốc gia PEMEX. Nói chung, qua các hợp đồng này, chủ quyền mỏ dầu thuộc về nước có dầu chứ không còn thuộc về công ty dầu như trong hợp đồng đặc nhượng.
Cuối năm 1970, Công ty Conoco (Mỹ) tiếp xúc với Bộ Kinh tế Việt Nam Cộng hòa để tìm hiểu về hợp đồng đặc nhượng. Hai kỹ sư Võ Anh Tuấn (Nha Tài nguyên thiên nhiên) và Trần Văn Khởi (lúc bấy giờ là Trưởng phòng Đầu tư, Bộ Kinh tế) được giao nhiệm vụ làm việc với Conoco để tìm hiểu về công nghiệp dầu khí.
Conoco đề xuất nên cấp những lô đặc nhượng lớn để việc khai thác được tối ưu, không nên quan hệ với các công ty khổng lồ như Shell và Esso vì các công ty này có thể chỉ giữ chỗ vì đang bận rộn với những mỏ dầu ở những nơi khác. Conoco chỉ mong muốn được thương lượng với chính quyền Việt Nam Cộng hòa để xin cấp một lô lớn ít nhất là 10.000km2, mà không cần phải qua đấu thầu. Sau này, Conoco đã không dự thầu.
Ngay sau khi thành lập Tổng cuộc Dầu hỏa và Khoáng sản, Văn phòng Tổng cuộc đã mời các chuyên gia luật và kỹ thuật của Iran giúp soạn thảo bản hợp đồng đặc nhượng mẫu và các văn kiện và gọi thầu, sau đó mời một luật gia người Anh chuyên ngành dầu mỏ để tham khảo thêm ý kiến.
Đạo luật Dầu hỏa không quy định phải có đấu thầu. Nhưng các chuyên gia tư vấn góp ý là nên tổ chức những cuộc gọi thầu rộng rãi, không nên thương lượng song phương. Các văn kiện gọi thầu gồm thông báo ý định tiến hành tìm kiếm và khai thác dầu ở thềm lục địa, thư mời, bản “vấn đề lục” và hợp đồng mẫu. Trong “đề cung” (offer) dự thầu, các công ty phải nêu ra năng lực, kế hoạch, kinh nghiệm, khả năng kỹ thuật, khả năng tài chính cho việc tìm dầu và ý định khác của họ như việc đào tạo công nhân viên Việt Nam trong ngành công nghiệp này.
Sau này, khi kết quả đấu thầu được công bố vào tháng 7/1973, Văn phòng tiến hành in hợp đồng đặc nhượng chính thức để chuẩn bị việc ký kết với các công ty dầu vào tháng 8/1973. Việc in ấn hợp đồng được giao cho nhà in SAIGON, song Văn phòng lại phải hằng ngày có mặt tại nhà in trên đường Trần Quốc Toản hiện nay, để theo dõi, đôn đốc, sửa lỗi morate, kiểm tra số trang trước khi đóng tập.
Trong đợt 1 cấp quyền đặc nhượng, 32 bản hợp đồng chính (16 bản tiếng Anh và 16 bản tiếng Việt) cho 8 lô trúng thầu được đóng bìa da với 4 màu khác nhau cho bốn công ty trúng thầu: xanh nhạt (Mobil), xanh biển (Sunningdale), đỏ (Esso) và nâu (Pecten). Các bản chính này được dùng để ký kết và mỗi bên giữ 2 bản. Một số bản phụ với bìa giấy trắng dày có chữ theo 4 màu nói trên được in thêm để sử dụng khi cần và để lưu trữ.

Ranh giới thềm lục địa – những tranh chấp

Sau khi cùng với luật sư Vương Văn Bắc (Ủy viên Ủy ban Quốc gia Dầu hỏa) và Giám đốc Trần Văn Khởi dự Hội thảo về pháp luật dầu hỏa do ECAFE tổ chức ở Bangkok năm 1971, Nguyễn Văn Vĩnh được Văn phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu tập tài liệu ECAFE này để vẽ bản đồ ranh giới tạm thời thềm lục địa miền Nam chủ yếu ở phía đông trong khu vực từ Phan Thiết ra đến khu vực biển có độ sâu 200m và từ kinh tuyến 1100 xuống phía nam và vòng qua vịnh Thái Lan. Miền Trung có thềm lục địa hẹp dự kiến sẽ được khảo sát và phân lô sau này. Đường cơ sở dùng để xây dựng ranh giới thềm lục địa vào thời điểm đó là đường chính giữa tính từ đất liền hoặc hải đảo của mỗi nước trong vùng Biển Đông. Các đảo chính được sử dụng làm đường cơ sở là Phú Quý, Côn Sơn, Hòn Khoai, Thổ Chu, Pirates và Phú Quốc.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/Trang-5.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/Trang-5.jpg?a23879)
Tổng thống Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng trưa ngày 30-4-1975 (ảnh tư liệu)

Chính sự bất đồng quan điểm về hải đảo được chấp nhận hay không giữa các nước đã tạo ra 2 vùng tranh chấp giữa Việt Nam với Indonesia, Malaysia. Tại thời điểm này, Indonesia và Malaysia đã ấn định đường ranh giới thềm lục địa ở Biển Đông rồi, còn ở phía tây, Thái Lan và Campuchia chưa chính thức công bố ranh giới.
Ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia, đã có những phần lấn vào nhau tạo ra một vùng tranh chấp rộng nhất, khoảng 25.000km2. Đường chính giữa của Việt Nam là đường cách đều giữa đảo Côn Sơn (chỉ cách bờ biển khoảng 70km) và bờ biển Kalimantan. Indonesia chọn đường chính giữa của đảo Natuna (cách bờ biển của họ 150km) và bờ biển Việt Nam. Không bên nào chấp nhận đảo của đối phương làm đường cơ sở.
Giữa Việt Nam và Malaysia, vùng tranh chấp rộng khoảng 15.000km2 nhưng không quá căng thẳng về đường cơ sở vì những hòn đảo phía tây Malaysia như Trengganu tương đối khá gần bờ biển của họ.
Năm 1972, Việt Nam và Campuchia đã có một cuộc họp sơ bộ về thềm lục địa giữa hai cơ quan dầu mỏ tại Phnôm Pênh. Campuchia không đồng ý đường ranh giới của Việt Nam lấy đảo Phú Quốc và một số đảo nhỏ làm đường cơ sở. Nguyễn Văn Vĩnh đã thuyết trình về đường ranh giới này với phía Campuchia. Cuối cùng hai bên đồng ý không đưa ra giải pháp nào mà chỉ nhằm mục đích tìm hiểu quan điểm của nhau trước khi tiến đến một phiên họp cấp cao hơn.
Đột nhiên vào tháng 8/1974, dù chưa chính thức công bố đường ranh giới, chính quyền Campuchia vẫn cho phép tổ hợp Elf – Esso mang tàu khoan dầu Glomar IV vào khoan bên trong ranh giới thềm lục địa Việt Nam về phía tây nam đảo Phú Quốc, Việt Nam Cộng hòa đã phản kháng và yêu cầu chính quyền Campuchia cho ngừng ngay hoạt động khoan ở bên trong ranh giới thềm lục địa Việt Nam đã công bố. Vào giữa tháng 9/1974, tàu Glomar IV đã nhổ neo rời khỏi vị trí khoan.



Ông Nguyễn Văn Vĩnh nguyên là Giám đốc Cuộc Dầu hỏa của Tổng cuộc Dầu hỏa và Khoáng sản kể lại: “Cả sáu người của Văn phòng cùng nhau chia sẻ mọi công việc cần phải làm, dịch bản hợp đồng đặc nhượng gốc tiếng Anh sang tiếng Việt. Để kịp trình Ủy ban Quốc gia Dầu hỏa cứu xét cho việc chuẩn bị đấu thầu, cả nhóm cùng nhau thức đêm hôm, nhất là trong giai đoạn thực hiện in roneo 2 bản hợp đồng đặc nhượng mẫu tiếng Việt và tiếng Anh. Ngoài cái máy roneo và giấy được Bộ Kinh tế cấp, những vật tư văn phòng khác như cái đục lỗ, kẹp Acco và những thứ lặt vặt khác, Văn phòng phải đi lùng mua ở chợ trời nơi bán hàng phế thải Mỹ.
Bà Trước đánh máy, chúng tôi chữa lỗi từng trang stencil đến mờ mắt trong ánh sáng yếu ớt của văn phòng vào ban đêm, quay roneo trên giấy trắng cỡ 21cm x 33cm, in bìa, đục lỗ rồi kẹp đóng thành tập dày khoảng 1cm. Các hợp đồng đặc nhượng mẫu này cùng với các văn kiện khác sẽ được trao cho các công ty tham khảo trước khi dự thầu. Toàn bộ các văn bản này đã được Văn phòng hoàn tất trong vòng 6 tháng và đã được Ủy ban Quốc gia Dầu hỏa chấp nhận”.





(Theo Lịch sử Dầu khí)

dongdoi_f2
03-05-2012, 01:41 PM
Trung Quốc: Ác mộng đập Tam Hiệp đã trở nên nghiêm trọng (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/05/trung-quoc-ac-mong-dap-tam-hiep-da-tro-nen-nghiem-trong)



(Petrotimes) - Có không ít người dân đã thốt lên rằng: “Ác mộng đập Tam Hiệp đã trở nên nghiêm trọng” khi có tới 1,4 triệu người đang khốn khổ vì con đập này.
Không chỉ có dư luận và giới chuyên môn Trung Quốc mà nhiều nước trên thế giới cũng đang thực sự quan tâm tới thông tin của Tân Hoa xã hôm 18/4 cho biết, khoảng 100.000 người dân sẽ được di dời vì bị đe dọa từ những trận lở đất liên tiếp ở khu vực đập Tam Hiệp. Cách đây gần 1 năm, lần đầu tiên Chính phủ Trung Quốc thừa nhận: đập Tam Hiệp đang gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cần khắc phục. Vấn đề này được đưa ra tại cuộc họp ngày 18/5/2011 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Chính phủ Trung Quốc đã quyết định thực thi những biện pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề môi trường quanh khu vực đập thủy điện lớn nhất thế giới từ nay đến năm 2020.

Những con số biết nói

Theo thông tin từ Tân Hoa xã hôm 18/4/2012, cơ quan chức năng đang chuẩn bị di dời khoảng 1/5 số dân ở huyện Ba Đông, tỉnh Hồ Bắc vào cuối năm 2012 và công tác di dời được thực hiện đến năm 2017.

Theo đó, 20.000 dân sống gần con đập Tam Hiệp sẽ phải di dời vào cuối năm 2012 và đến năm 2017 sẽ di dời tiếp số dân gấp 5 lần vì những lo sợ nguy cơ lở đất gây ra từ dự án thủy điện lớn nhất thế giới. Bởi có khoảng 355 địa điểm ở khu vực đập Tam Hiệp đang thường xuyên bị lở đất, 5.386 địa điểm khác, trong đó 182 điểm nguy cơ cao cũng được đưa vào danh sách giám sát thiên tai. Kinh phí cho việc di dời được lấy từ Quỹ 550 triệu NDT.


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/dap-tam-hiep.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/dap-tam-hiep.jpg?a23879)
Đập Tam Hiệp

Trước đó, người dân huyện Ba Động từng vô cùng lo lắng trước những điềm gở “khó nói bằng lời”. Bởi lở đất sẽ làm suy yếu địa chất trong khu vực và dần tạo ra những cơn địa chấn. Bởi khi nước dâng sẽ thấm vào các vết nứt, làm rộng thêm những kẽ hở, làm nhão đất hai bên bờ sông và cuối cùng cuốn đi đất đá, tạo ra lở đất. Ba Động là một trong rất nhiều nơi có “đất và nước tương tác” với nhau theo dự đoán của nhiều nhà khoa học trước khi công trình đập Tam Hiệp được xây dựng – họ lo lắng về sự gia tăng hoạt động của những cơn địa chấn khác thường.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Trung Quốc có hàng chục nghìn con đập và hồ chứa nước đang trong ở tình trạng xấu và hiện có tới 40.000 con đập giữ nước hoạt động trong tình trạng quá tuổi thọ quy định – không được bảo trì tốt do thiếu kinh phí. Và sẽ có khoảng 25% thành phố và vùng nông thôn bị ảnh hưởng trực tiếp nếu có những hậu quả xấu từ những con đập này. Đây thực sự là một nguy cơ không chỉ đối với cuộc sống của hàng triệu người dân sống xung quanh những con đập này, mà còn có những tác động lớn tới môi trường.Tạp chí Thời báo Hoàn Cầu cho biết, sau hội nghị bàn về vấn đề thủy lợi ngày 8/7/2010, quan chức thủy lợi cho biết, 87.000 hồ chứa nước đã được lên kế hoạch sửa chữa bởi chúng được xây từ năm 1950 đến 1970 đang xuống cấp nghiêm trọng và không thể đối phó với mưa lũ.

Giới truyền thông đưa tin, từ năm 2009 đến nay Trung Quốc đã 3 lần thử nghiệm tích nước hồ đập Thủy điện Tam Hiệp ở ngưỡng 175m. Theo quy luật thông thường, trong 3-5 năm đầu các đập thủy điện lớn sẽ phải xây dựng thêm rất nhiều đập tràn, đê lớn đề phòng hiểm họa.

Giới chuyên môn cho biết, ở mức tối đa, đập Tam Hiệp có thể hoàn thiện chức năng kiểm soát lũ và đạt công suất sản xuất điện tối đa, nhưng điều này làm tăng rủi ro địa chất trong 3-5 năm nữa. Được biết, đập Thủy điện Tam Hiệp đã 9 lần liên tục bị sạt lở nhỏ và từ khi thử tích trữ mức nước 175m, số vụ tai nạn địa chất ở công trình này tăng hơn 70% so với trước và đang có xu hướng ngày càng tăng tạo ra nguy cơ nghiêm trọng đối với vùng hạ lưu sông Trường Giang. Bộ Đất đai và Tài nguyên đang phối hợp với tỉnh Hồ Bắc và thành phố Trùng Khánh thực hiện chiến dịch ngăn ngừa thảm họa.

Theo số liệu được công bố, chi phí xây đập Tam Hiệp ngày càng gia tăng – đạt mức 254 tỉ NDT, gấp 4 lần con số ước tính ban đầu. Ủy ban Xây dựng Dự án đập Tam Hiệp cho biết, 123,8 tỉ NDT đã phải chi để thực hiện công việc hậu dự án. Theo thống kê, từ năm 1954, có 3.515 con đập được xây dựng tại Trung Quốc, nhưng do quá trình bảo trì không được tuân thủ cộng với thiên tai có thể gây ra những nguy cơ tiềm ẩn. 62 con đập ở tỉnh Hồ Nam bị vỡ sau khi cơn bão Nina đi qua năm 1975 là ví dụ điển hình cho nhận định này.

Được biết, để công trình thế kỷ dự kiến phát điện với sản lượng 84,7 tỉ kWh/năm, chính phủ đã đầu tư hơn 482 triệu USD để ngăn chặn và kiểm soát thảm họa địa chất đập Tam Hiệp. Cách đây gần 6 năm (tháng 8/2006), Trung Quốc đã quyết định thành lập một hệ thống giám sát động đất với 21 trạm kỹ thuật số tại đập Tam Hiệp. Hệ thống giám sát động đất này trị giá 3,7 triệu USD sẽ theo dõi các cơn chấn động 24/24 giờ trong ngày.

Những người ủng hộ xây dựng đập Tam Hiệp coi đây là một giải pháp hữu hiệu đối với tình trạng lụt lội từng tàn phá dọc theo sông Dương Tử, cải thiện giao thông thủy và cũng là một nguồn năng lượng sạch cho nền kinh tế. Những người chống lại đập Thủy điện Tam Hiệp cho rằng, dự án này đã không được xây dựng trên những nghiên cứu đầy đủ về kỹ thuật, xã hội và môi trường. Sông Dương Tử từng ghi nhận tới 300 loài cá, nhưng hiện nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Theo thống kê, từ năm 1972, Hoàng Hà bắt đầu đứt dòng chảy và kể từ năm 1990, trung bình mỗi năm Hoàng Hà có tới hơn 100 ngày không có nước. Hàng trăm nghìn nông dân phải bỏ ruộng đất màu mỡ ở quê hương để dời đến những vùng đất cằn cỗi ở vùng sâu, vùng xa, một số người thậm chí mất sạch cơ nghiệp.

Tờ Nhân dân nhật báo số ra ngày 16/2/2006 chỉ rõ, trong năm 2005 nhân dân quanh hồ chứa nước Tam Môn Hiệp đã phải dời nhà hai lần do nước dâng lên vào mùa mưa, thu nhập bình quân chỉ gần bằng một nửa so với mức trung bình của cả nước, số hộå nghèo tăng cao… Di dân cũng là một chủ đề được tranh luận rất nhiều.

Cách đây gần 6 năm (tháng 10/2006), Chủ nhiệm Văn phòng kiến thiết đập Tam Hiệp cho biết, đã có 1,2 triệu người di cư (trong số 1,4 triệu người phải di cư). Đây là đợt di dân lớn nhất thế giới trong mọi thời đại. Di dân chủ yếu là người nông dân, những người bị mất đất nông nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi họ không biết làm gì trong tương lai.

Tranh cãi không nguôi

Xây đập ngăn nước trên sông Dương Tử là một trong những giấc mơ củaTôn Dật Tiên và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã ra lệnh tiến hành những “chấm phá” đầu tiên và khi xây dựng đập Tam Hiệp, người ta nói rằng, nó sẽ kiểm soát lũ lụt, đảm bảo tưới tiêu và sản sinh ra hàng triệu kW điện với giá rẻ, nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Bởi trong quá trình xây dựng đập Tam Hiệp, 1.350 ngôi làng bị nước nhấn chìm cùng 13 thành phố, 140 thị trấn và 1,4 triệu người buộc phải di dời nhà cửa. Hơn nữa, theo nhiều nhà kinh tế, đập Tam Hiệp không những là dự án thủy điện lớn nhất mà còn đắt nhất từng được thực hiện trên thế giới.

Trước khi bắt đầu triển khai Dự án đập Tam Hiệp, nhiều chuyên gia đã phản đối bởi họ cho rằng, nó sẽ hủy hoại một số loài quý hiếm ở sông Dương Tử và các thành phố cổ của thung lũng Dương Tử cùng di tích của hàng nghìn năm lịch sử và những vùng đất nông nghiệp phì nhiêu cũng sẽ biến mất, chưa kể tới ảnh hưởng của các vùng lân cận. Họ cho rằng, đập Tam Hiệp quá lớn, quá rộng và không có thứ gì có thể đứng vững trên đường đi của nó và những chỉ trích càng trở nên gay gắt hơn sau khi khoảng 1.000 doanh nghiệp buộc phải ngừng hoạt động vì mưa lũ và 5,7 triệu người bị ảnh hưởng, hơn 7.000 căn nhà hư hại hoàn toàn, ước tính tổn thất kinh tế lên tới 6 tỉ NDT (khoảng 930 triệu USD) bởi lũ lụt ở miền Đông Trung Quốc năm 2011.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/thuy_dien_tam_hiep_xa_nuoc.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/04/thuy_dien_tam_hiep_xa_nuoc.jpg?a23879)

Hồi tháng 6 và 7/2010, các trận lũ lớn ở nhiều tỉnh miền Nam làm hơn 700 người thiệt mạng, trên 300 người mất tích, 700.000 nhà cửa bị phá hủy hoàn toàn, 8 triệu ha hoa màu bị hư hại, hơn 8 triệu người phải sơ tán, trên 29 triệu người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt và thiệt hại ước tính 21 tỉ USD. Điều đáng nói là trong đợt lũ lụt năm 2010, đập Tam Hiệp đã 3 lần xả nước và mỗi lần đều gây ra những thiệt hại to lớn cho vùng hạ du.

Nhưng một số khu vực như tỉnh An Huy, Hồ Bắc và Giang Tô thuộc trung và hạ lưu sông Dương Tử lại phải hứng chịu hạn hán nặng nề nhất 50 năm qua bởi tác động của đập Tam Hiệp. Dự kiến, gần 35 triệu người bị ảnh hưởng do đợt hạn hán tồi tệ nhất kể từ 50 năm qua ở các tỉnh miền Trung và miền Đông nước này. Các vùng bị nặng nhất nằm dọc sông Dương Tử và hạn hán kéo dài ở vùng trung và hạ lưu sông Dương Tử đã làm 4,23 triệu dân trong vùng lâm vào cảnh thiếu nước uống trầm trọng.

Thiếu nước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống thủy lợi và cung cấp nước, thiệt hại kinh tế đã lên đến 14,94 tỉ NDT (tương đương 2,29 tỉ USD). Các tỉnh An Huy, Giang Tô, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Triết Giang và thành phố Thượng Hải cũng lâm vào cảnh hạn hán nghiêm trọng nhất kể từ năm 1954, khiến nhiều diện tích đất trồng không thể canh tác.

Điều đáng nói là hạn hán kéo dài ở miền Trung đã gây ra hiện tượng thủy triều xâm thực tại Thượng Hải ở hạ lưu sông Dương Tử. Tính từ cuối năm 2011, Thượng Hải đã 7 lần bị thủy triều xâm thực. Thủy triều xâm thực là hiện tượng bình thường vào mùa đông và mùa xuân ở Trung Quốc do nước sông Dương Tử xuống mức tương đối thấp, nhưng rất hiếm khi xảy ra vào mùa hè như vừa qua.

Để khắc phục tình hình trên, Trung Quốc đã quyết định tiếp tục cho xả thêm nước từ đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử. Đợt hạn hán tồi tệ nhất Trung Quốc trong nửa thế kỷ qua đã khiến các cuộc tranh cãi xung quanh đập Tam Hiệp có điều kiện nhắc lại. Theo đó, đập Tam Hiệp không những gây thiếu nước mà còn là thủ phạm của những vụ động đất trong vài năm qua và nạn ô nhiễm môi trường bởi chất lượng nước biến đổi rõ rệt.

Các chuyên gia thủy văn và môi trường của Trung Quốc cáo buộc hồ chứa nước dài 600km và chứa đến 40 tỉ m3 của đập Tam Hiệp đã làm trầm trọng thêm đợt hạn hán lịch sử trong năm 2011 tại 8 tỉnh thành ở miền Trung và miền Đông. Có không ít người dân đã thốt lên rằng: “Ác mộng đập Tam Hiệp đã trở nên nghiêm trọng” khi có tới 1,4 triệu người đang khốn khổ vì con đập này.

Giới chuyên môn cho biết, kể từ năm 2006 khi đập Tam Hiệp cơ bản hoàn thành, ô nhiễm tảo đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng trên các nhánh sông Dương Tử. Bởi sông Dương Tử đang mất dần khả năng phân tán chất gây ô nhiễm trong nước và các nhánh của sông Dương Tử tại tỉnh Hồ Bắc đã trở nên xanh lè, bốc mùi hôi thối, đẩy hàng ngàn người dân vào cảnh không có nước sạch.

Ước tính mỗi năm Tập đoàn đập Tam Hiệp phải chi khoảng 1,48 triệu USD để dọn rác trôi về phía đập cho dù các chuyên gia môi trường từng cảnh báo, hồ chứa nước của đập có thể trở thành “hầm chứa nước thải không qua xử lý và hóa chất công nghiệp”. Có người còn ví von, rác trên sông Dương Tử dày đến mức người dân có thể đi bộ trên đó và có nguy cơ gây tắc nghẽn cửa xả lũ đập Tam Hiệp.

Từ tháng 8/2010, Chính phủ Trung Quốc đã cảnh báo, cần hàng tỉ USD để khắc phục hậu quả về môi trường từ đập Tam Hiệp. Bộ trưởng Lâm nghiệp Giả Trị Bang từng thừa nhận, môi trường sinh thái sông Dương Tử hiện bị ô nhiễm nghiêm trọng do tác động của đập Tam Hiệp.

Giới khoa học luôn nhắc tới trường hợp của chuyên gia thủy lợi Hoàng Vạn Lý, Giáo sư Trường đại học Thanh Hoa, người dám phản bác kế hoạch xây dựng hồ nước Tam Môn Hiệp để chứng minh cho những giả thiết của mình. Cách đây 60 năm (năm 1952-2012), Trung Quốc mời Liên Xô giúp lập Dự án trị thủy Hoàng Hà, con sông hung dữ nhất nước này. Nhưng sau khi bản “Quy hoạch lợi dụng tổng hợp Hoàng Hà” được hoàn tất (tháng 10/1954), Giáo sư Hoàng Vạn Lý đã nhấn mạnh, Liên Xô có nhiều kinh nghiệm xây dựng thủy điện, nhưng họ không hiểu Hoàng Hà – Hoàng Hà có rất nhiều phù sa và điều này sẽ là nguồn gốc gây ra tai họa sau này. Hoàng Vạn Lý còn cho rằng, nếu đắp đập trên đoạn sông có trầm tích thì nạn lụt ở hạ lưu Hoàng Hà sẽ chuyển đến đoạn trung lưu và phù sa trong nước sông sẽ chia cắt thượng lưu, tạo lục địa vùng hạ lưu. Xây đập ngăn sông, làm trong nước là trái quy luật tự nhiên, sẽ gây ngập lụt và thiệt hại cho các thành phố ven Hoàng Hà… Và thực tế đã chứng minh những quan ngại của Hoàng Vạn Lý.

Ngày 3/4/1992 với 1.767 phiếu thuận, 177 phiếu chống và 664 phiếu trắng, Quốc hội đã thông qua Dự án Thủy điện Tam Hiệp. Đây là lần đầu tiên việc thông qua một dự án có nhiều ý kiến phản bác như vậy – họ quan ngại về những tác động xã hội và môi trường của công trình này. Ngày 14/12/1994, dự án chính thức được khởi công xây dựng.

Ngày 20/5/2006, đập Tam Hiệp (Three Gorges dam) khối bê tông cuối cùng đã được đổ lên bức tường khổng lồ cao 185m, dài 2.309m và đây là sự kiện quan trọng nhất của dự án thủy diện lớn nhất thế giới. Kể từ năm 2003, nước đã bắt đầu chảy vào lòng hồ và mỗi ngày mực nước tăng lên 1-2 m trong tổng diện tích 1.084m2.

Đập Tam Hiệp tọa lạc ở Tam Đẩu Bình, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc với vốn đầu tư dự tính ban đầu là 203,9 tỉ NDT (khoảng 24,65 tỉ USD). Kể từ khi được Quốc hội chính thức thông qua (3/4/1992), đập Thủy điện Tam Hiệp luôn là đề tài gây tranh cãi của các nhà khoa học và giới chuyên môn.

Tháng 8/2010, Trung Quốc dự kiến chi hàng tỉ USD để khắc phục hậu quả về môi trường do đập Tam Hiệp gây ra. Theo đó việc trồng lại rừng dọc theo hồ chứa dài 600km trên sông Dương Tử sẽ tốn khoảng 10 tỉ NDT (1,47 tỉ USD) bởi diện tích rừng hiện chỉ khoảng 22% trong khi mục tiêu là 65%. Riêng trong năm 2010, thành phố Trùng Khánh đã phải đầu tư 50 tỉ NDT (hơn 7 tỉ USD) để xử lý thảm họa rác bởi lượng rác ngập và ứ đọng nhiều đến mức người dân có thể đi qua sông mà không cần cầu. Mặc dù thừa nhận đập Tam Hiệp đã mang lại những lợi ích to lớn (giảm bớt lũ lụt, dự trữ nguồn nước, tăng sản xuất điện) nhưng những vấn đề đang gặp phải khiến người ta không thế bỏ qua bởi liên quan tới cuộc sống dân sinh, tới môi trường sinh thái và tai biến địa chất thời gian tới.



Tổ chức Probe International từng cảnh báo, đập Tam Hiệp không có tác dụng ngăn lũ do bị mất đi những cánh rừng trong lưu vực sông Dương Tử cũng như của 13.000km² hồ (có tác dụng làm giảm bớt đi sự ngập lụt) do bùn lầy hóa, cải tạo và các phát triển không kiểm soát được. Việc xây hồ thủy điện ở đập Tam Hiệp đã khiến sông Dương Tử tăng trầm tích bùn lên khoảng 530 triệu tấn/năm, khiến hệ thống hồ và đập thủy điện này không có khả năng ngăn lũ.

Theo tạp chí Scientific American, hồ chứa nước Tam Hiệp nằm trên hai đứt gãy chính, gồm Cửu Hoàn Tây và Tử Quỷ – Bát Động. Còn theo nhà địa chất học Phan Tiêu, thuộc Ủy ban Khai thác và Thăm dò Địa chất nguồn khoáng sản tỉnh Tứ Xuyên, việc thay đổi mực nước trong hồ Tam Hiệp sẽ khiến các đứt gãy bị căng ra.




Tổ chức Diễn đàn Kinh doanh thế kỷ XXI từng cảnh báo, khi mực nước dâng lên ngày càng cao, các cơn chấn động ghi nhận được sẽ ngày càng lớn và thường xuyên hơn. Hai nhà khoa học Lý Bằng và Lý Vương Quân, Giáo sư xây dựng tại Trường đại học Vũ Hán từng cho rằng, rung động tạo ra từ hồ chứa Tam Hiệp là vấn đề rất đáng quan ngại bởi chỉ cần một trận động đất trung bình cũng đủ để gây ra một loạt rung động cho khu vực hồ chứa, dẫn đến lở đất, sói lở bờ sông gần vùng chấn tâm và hậu quả sẽ khôn lường. Nhiều kỹ sư Trung Quốc nhận định, các đập nước của nước này đã phải chịu trách nhiệm về ít nhất 19 trận động đất trong 50 năm qua.



Hồng Thất Công – Tuấn Quỳnh (tổng hợp)
(Báo Năng lượng Mới số 115-116 ra ngày 27/4/2012)

dongdoi_f2
08-05-2012, 04:22 PM
Rosneft đạt được thỏa thuận thăm dò Bắc Cực 2,5 tỷ USD với Statoil(Tamnhin.net) - Tập đoàn dầu mỏ quốc doanh Rosneft của Nga đã ký kết thỏa thuận thăm dò Bắc Cực trị giá 2,5 tỷ USD với tập đoàn Statoil của Na Uy, thỏa thuận hợp tác lớn thứ ba của Rosneft trong vòng một tháng, thể hiện tham vọng phát triển toàn cầu của tập đoàn này.




http://tamnhin.net/Uploaded/thanhlongtn/Images/2012/thang%205-2012/1/Rosneft.jpg







Tổng thống mới đắc cử Vladimir Putin, người đã chứng kiến việc ký kết thỏa thuận với tư cách cá nhân trước khi ông quay trở lại điện Kremlin lần thứ ba, nói rằng: "Chúng tôi coi trọng các mối quan hệ với các nước láng giềng và tin tưởng rằng dự án này sẽ phát triển tốt". Việc sản lượng dầu mỏ giảm sút của Nga sẽ là một trong những vấn đề quan ngại lớn nhất của ông Putin.

Theo thỏa thuận, Statoil nắm 1/3 quyền sở hữu trong liên doanh mới và sẽ thăm dò một trong nhiều mỏ của Rosneft ở Biển Barents và cả 3 lô của Rosneft tại vùng biển Okhotsk ở Viễn Đông. Đổi lại, Rosneft sẽ có thể nắm giữ cổ phần trong các dự án quốc tế chưa tiết lộ của Statoil và cũng thăm dò phần vùng biển Barents thuộc Na Uy.

Giám đốc điều hành Statoil Helge Lund cho rằng thỏa thuận trên là phần cốt lõi trong chiến lược của họ, hỗ trợ tham vọng tăng trưởng dài hạn của tập đoàn này. Cơ cấu của thỏa thuận gần như giống với những gì Rosneft đã thiết kế trong thỏa thuận hồi tháng trước với ExxonMobil của Mỹ và ENI của Italia. Ba thỏa thuận này đã tạo cơ hội cho 3 công ty nước ngoài tiếp cận Bắc Cực đổi lại việc họ đầu tư cho phát triển và chia sẻ công nghệ tiên tiến với Rosneft. Statoil cho biết họ cũng hy vọng sử dụng kinh nghiệm của mình để giúp Rosneft khai thác mỏ chưa phát triển rộng lớn ở Tây Siberia và xử lý mỏ dầu đá phiến chưa khai thác ở khu vực Stavropol.

Theo Chủ tịch Rosneft Eduard Khudainatov, Statoil dự kiến đầu tư 1 tỷ USD vào lô ở Bắc Cực trong khi dành phần còn lại vào vùng biển Okhotsk. Ông này nhấn mạnh rằng đầu tư chung của hai tập đoàn trong trường hợp tìm được nguồn năng lượng có thể lên tới 100 tỷ USD trong những thập niên tới.

Tháng trước, ông Putin cam kết sẽ giành 500 tỷ USD đầu tư cho việc phát triển mỏ ngoài khơi trong vòng 30 năm thông qua các ưu đãi thuế mới.

Hải Yến (Theo AFP)

dongdoi_f2
08-05-2012, 04:27 PM
Tham vọng mọi tài nguyên trên Biển Đông của Trung Quốc (http://www.petrotimes.vn/dau-tien-quyen-luc/2012/05/tham-vong-moi-tai-nguyen-tren-bien-dong-cua-trung-quoc)



(Petrotimes) - Việc Trung Quốc thông báo sẽ triển khai giàn khoan dầu mỏ Hải dương 981 trên Biển Đông vào ngày 9/5 tới giữa lúc tình hình Biển Đông đang hết sức phức tạp đã cho thấy rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của nước này, đồng thời thể hiện thái độ coi thường sự phản đối của các nước trong khu vực. Thực tế, Hải dương 981 mới chỉ là một trong số những “vũ khí” mà Bắc Kinh triển khai để xây dựng cái gọi là “Hạm đội tác nghiệp biển sâu”, có nhiệm vụ khai thác dầu khí trên Biển Đông.


“Quái vật” hút dầu trên Biển Đông

Thông cáo từ Cơ quan Năng lượng Quốc gia Trung Quốc (NEA) ngày 3/5 cho hay, giàn khoan Hải Dương 981 sẽ được triển khai đến giếng dầu Lệ Loan 6/1/1 vào ngày 9/5 này. Khu vực này nằm trong lòng chảo Châu Giang, tức khu vực bồn địa cửa sông Châu cách Hongkong khoảng 300km, gần sát đảo Hải Nam và tương đối gần Philippines.
Trước đó, Hải dương 981 được lai dắt tới phía đông Biển Đông vào ngày 21/2, khoan thử nghiệm ở Lưu Hoa 29/2/1 và giàn khoan đã thử nghiệm thành công với độ sâu 753,3m ở thiết kế độ sâu 3.230m. Ngày 28/4, giàn khoan cũng đã khoan thành công ở độ sâu 1.500m với thiết kế độ sâu 2.371m trong thời gian 56 ngày rưỡi.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/05/bien-dong-nhon-nhip-gian-khoan-375d.jpg?a23879 (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/05/bien-dong-nhon-nhip-gian-khoan-375d.jpg?a23879)
Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc


Giàn khoan này do Tổng Công ty Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) làm chủ đầu tư với tổng vốn 6 tỉ nhân dân tệ (19.020 tỉ đồng VN), có nhiệm vụ chính là khoan giếng thăm dò, khoan giếng sản xuất, hoàn thành giếng khoan và sửa chữa giếng khoan trên Biển Đông.
Đây là giàn khoan kiểu nửa chìm hoạt động ở độ sâu tối đa 3.000m, độ sâu giếng khoan tối đa 12.000m, thuộc thế hệ thứ sáu trên thế giới và là giàn khoan cấp siêu sâu đầu tiên do Trung Quốc sản xuất. Trên thế giới chỉ có khoảng 20 giàn khoan hoạt động ở độ sâu 3.000 m. Giàn khoan dài hơn 650m, gồm năm tầng cao 136m (tương đương tòa nhà 45 tầng). Trọng tải tịnh hơn 30.000 tấn. Diện tích boong tương đương sân vận động đúng tiêu chuẩn. Giàn khoan có đầy đủ hệ thống phục vụ cho 160 công nhân làm việc và nghỉ ngơi. Chín máy phát điện đủ đáp ứng nhu cầu điện cho một thành phố 200.000 dân. Lượng tiêu hao dầu diesel từ 100 đến 150 tấn/ngày hoặc 200 tấn trong điều kiện mưa bão. Do đó, giàn khoan có trang bị khoang dầu với dung tích 4.500 tấn đủ cho máy phát điện chạy liên tục 30 ngày.
Được mệnh danh là “tàu sân bay dầu khí”, Hải dương 981 được trang bị các thiết bị hiện đại nhất thế giới. Hệ thống điều khiển tự động hóa tiên tiến của giàn khoan có thể ứng phó các sự cố như van đóng giếng dầu khẩn cấp, thiết bị dừng người máy dưới nước, van đóng điều khiển từ xa thiết bị định vị vật dưới nước bằng siêu âm. Hệ thống cảm ứng sẽ đóng miệng giếng khoan khi xảy ra mất điện toàn diện, hạ áp suất, lưu lượng vượt mức.
Hải dương 981 được thiết kế đủ sức chống bão mạnh cấp 18. Tại khu vực biển sâu dưới 1.500m, giàn khoan sẽ định vị bằng neo thông qua xích neo của các tàu kéo. Ở độ sâu 1.500-3.000m, giàn khoan sẽ định vị bằng hệ thống định vị động lực thế hệ 3 (DP3-đẳng cấp cao nhất của Tổ chức Hàng hải quốc tế) hoạt động dựa trên định vị vệ tinh. Ước tính mỗi ngày giàn khoan ngốn chi phí từ 981.100 đến 1,5 triệu USD.

Chiến lược vơ vét tài nguyên Biển Đông

Theo đánh giá sơ bộ của ngành hải dương Trung Quốc, trữ lượng dầu khí dưới Biển Đông là hơn 50 tỉ tấn, chủ yếu nằm ở độ sâu từ 500m đến 2.000m. Gần đây, người ta tiếp tục phát hiện ở biển Đông còn có một trữ lượng băng cháy (một loại năng lượng sạch cho tương lai) khổng lồ. Do đó, bên cạnh việc tăng cường sức mạnh cho Hạm đội Nam Hải, Trung Quốc đang thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng “Hạm đội tác nghiệp biển sâu”.
Hiện nay, việc khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên 500m thuộc đặc quyền của CNOOC. Trước đây, nếu muốn khai thác dầu khí ở vùng biển sâu hơn 300m, CNOOC phải hợp tác với các hãng nước ngoài, đương nhiên lợi nhuận thu được sẽ giảm xuống. Vì lẽ đó, mấy năm nay, CNOOC tập trung toàn lực cho việc thúc đẩy chiến lược biển sâu với nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là xây dựng “Hạm đội tác nghiệp biển sâu”.
Sau những nỗ lực không mệt mỏi, việc thăm dò biển sâu của Trung Quốc vừa có bước đột phá với sự góp mặt của tàu triển khai lắp đặt đường ống thăm dò biển sâu Dầu mỏ Hải dương 201 và tàu khoan thăm dò biển sâu Dầu mỏ Hải dương 981. Dầu mỏ Hải dương 201 được đầu tư 3 tỉ nhân dân tệ, cao tương đương một tòa nhà 10 tầng, rộng hơn một sân bóng đá, cũng được trang bị hệ thống DP3 với tính năng nổi bật là có thể triển khai lắp đặt đường ống dẫn dầu khí ở độ sâu 3.000m và nâng được vật thể có trọng lượng tới 4.000 tấn.Sự xuất hiện của Dầu mỏ Hải dương 201 và Dầu mỏ Hải dương 981 đánh dấu sự hình thành “Hạm đội tác nghiệp biển sâu” đầu tiên của Trung Quốc. Điều đáng quan tâm: mục tiêu của hạm đội này là Biển Đông.
Sự ra đời của Dầu mỏ Hải dương 201 và Dầu mỏ Hải dương 981 đánh dấu ngành công nghiệp chế tạo tàu đặc chủng phục vụ thăm dò, khai thác dầu mỏ của Trung Quốc đã có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực mũi nhọn và trang thiết bị tác nghiệp biển sâu của ngành dầu khí Trung Quốc đã đạt được trình độ tiên tiến của quốc tế.
Ngoài ra, Trung Quốc còn đang đẩy mạnh việc chế tạo tàu bảo vệ môi trường các giếng dầu trên biển đa năng mang tên Dầu mỏ Hải dương 253 sau khi hạ thủy thành công một chiếc có chức năng tương tự vào hạ tuần tháng 6/2010. Cùng với Dầu mỏ Hải dương 201 và Dầu mỏ Hải dương 981, sự góp mặt của Dầu mỏ Hải dương 253 sẽ hoàn chỉnh “Hạm đội tác nghiệp biển sâu” đầu tiên của Trung Quốc, nâng cao khả năng thăm dò, khai thác độc lập của Trung Quốc tại các vùng biển sâu như Biển Đông.
Song song với việc xây dựng “Hạm đội tác nghiệp biển sâu”, Trung Quốc cũng đang ra sức tăng cường sức mạnh quân sự để bảo vệ việc thăm dò, khai thác dầu khí của mình, tập trung vào Hạm đội Nam Hải, đơn vị đảm trách tác chiến trên hướng Biển Đông. Hiện nay, Hạm đội Nam Hải có nhiều tàu khu trục, tải trọng hơn 8.000 tấn, trang bị tên lửa lớp Trung Hoa Thần Thuẫn và hơn 10 tàu hộ vệ tên lửa lớn 054 có tải trọng 4.000 tấn. Ngoài ra, Hạm đội Nam Hải còn được trang bị nhiều tàu ngầm thông thường, tàu ngầm hạt nhân.
Những căn cứ thuộc Hạm đội Nam Hải cũng được đầu tư phát triển mạnh mẽ. Sau khi mở rộng, căn cứ Du Lâm ở cực Nam đảo Hải Nam đã trở thành căn cứ trọng yếu để các tàu mặt nước và tàu ngầm Trung Quốc tiến xuống phía nam. Việc xây dựng sân bay trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc chiếm đóng và nắm được kỹ thuật tiếp dầu trên không khiến cho những chiếc Su-30 và J-10 của Trung Quốc có thể vươn tầm bay tới Trường Sa tiến hành “tuần tra”…
Nếu tính thêm lực lượng thủy quân lục chiến và máy bay trực thăng, Hạm đội Nam Hải có đủ khả năng tác chiến đánh chiếm đảo ở biển xa. Điều đó có nghĩa việc bảo vệ cho những hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Trung Quốc ở vùng biển sâu thuộc biển Đông cũng sẽ được bảo đảm.
Giang Khuê

dongdoi_f2
18-05-2012, 06:56 PM
Nhật Bản dự đoán 7 vị trí quyền lực nhất tại ĐH khóa 18 ĐCS Trung Quốc
Tờ Yomiuri Shimbun xuất bản tại Nhật Bản ngày 16/5 dẫn nguồn tin riêng từ Bắc Kinh tiết lộ, giới chức cao cấp Bắc Kinh đã chọn ra danh sách 10 ứng cử viên cho vị trí Ủy viên thường trực Bộ Chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc, những nhân vật có quyền lực nhất trên đất nước 1,3 tỉ dân này.


Nguồn tin giấu tên của tờ Yomiuri Shimbun cho phóng viên Takanori Kato biết, Thường vụ Bộ chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18 sẽ rút từ 9 người xuống còn 7 người.

Theo quy định, 7 thành viên Thường vụ bộ Chính trị hiện hành của Trung Quốc, bao gồm cả ông Hồ Cẩm Đào và ông Ôn Gia Bảo sẽ nghỉ hưu trong khóa tới do quá tuổi quy định (68 tuổi).




http://giaoduc.net.vn/Uploaded/doanphuc/2012_05_17/danh_sach_10_ung_vien_thuong_vu_bo_chinh_tri.jpg


Danh sách ứng viên hãng Reurters dự báo thiếu ông Lý Khắc Cường, Ủy viên thường vụ BCT kiêm Phó thủ tướng đương nhiệm. Danh sách từ trái qua phải, trên xuống dưới: Trương Đức Giang, Uông Dương, Tập Cận Bình, Du Chính Thanh, Vương Kỳ Sơn, Lưu Vân Sơn, Trương Cao Lệ, Lý Nguyên Triều và Lưu Diên Đông




Hiện chỉ có hai Ủy viên thường vụ bộ Chính trị Trung Quốc khóa này sẽ có tên trong danh sách khóa tới là ông Tập Cận Bình, 56 tuổi, Phó chủ tịch nước được cho rằng sẽ thay thế ông Hồ Cẩm Đào và ông Lý Khắc Cường, Phó thủ tướng được dư luận dự đoán sẽ thay thế đương kim Thủ tướng Ôn Gia Bảo.


8 ứng viên mới cho danh sách 10 ứng viên bầu 7 Ủy viên thường vụ BCT - những nhân vật quyền lực nhất Trung Quốc, ngoài 2 vị khóa cũ nêu trên còn có: Phó thủ tướng Vương Kỳ Sơn 63 tuổi, Trưởng ban Tổ chức TƯ Lý Nguyên Triều 61 tuổi, Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Lưu Vân Sơn 64 tuổi.


Ủy viên Quốc vụ viện (hàm dưới Phó thủ tướng, trên Bộ trưởng) Lưu Diên Đông 64 tuổi, Bí thư Quảng Đông ông Uông Dương 57 tuổi, Bí thư Thiên Tân Trương Cao Lệ 65 tuổi, Phó thủ tướng kiêm Bí thư Trùng Khánh ông Trương Đức Giang 66 tuổi và Bí thư Thượng Hải ông Du Chính Thanh 67 tuổi được báo chí Nhật Bản đưa vào danh sách.



http://giaoduc.net.vn/Uploaded/doanphuc/2012_05_17/uy_vien_bo_chinh_tri_17.jpg



9 nhân vật quyền lực nhất Trung Quốc hiện nay - Thường vụ Bộ chính trị khóa 17, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới: Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Giả Khánh Lâm, Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Lý Trường Xuân, Hạ Quốc Cường và Chu Vĩnh Khang





7 nhân vật quyền lực nhất Trung Quốc khóa 17 sẽ nghỉ vào cuối năm nay gồm các ông Hồ Cẩm Đào, Ôn gia Bảo, Ngô Bang Quốc, Giả Khánh Lâm, Lý Trường Xuân, Hạ Quốc Cường và Chu Vĩnh Khang.


Trong số danh sách ứng viên cho 7 vị trí quyền lực nhất Trung Quốc, tờ Yomiuri Shimbun đánh giá có 3 nhân vật chắc chắn nhất là các ông Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường và Lý Nguyên Triều; 3 nhân vật có "thế lực" là các ông Vương Kỳ Sơn, Trương Đức Giang và Uông Dương.


4 nhân vật còn lại trong danh sách 10 ứng viên được cho là có "khả năng" sẽ lọt danh sách đề cử, ngoài ra còn 3 nhân vật nữa cũng có thể sẽ được cân nhắc từ nay đến khi diễn ra đại hội 18 đảng Cộng sản Trung Quốc là Chủ nhiệm văn phòng TƯ Lệnh Kế Hoạch, Bí thư khu Nội Mông ông Hồ Xuân hoa và Ủy viên Quốc vụ viện ông Mạnh Kiến Trụ.

GiangNH
18-05-2012, 08:00 PM
Hôm nào bác Ba cho xem cái tài liệu tại sao bác CCCP lại mò ra cái mỏ dầu ở khu vực Vũng tàu?

Người nhà em cũng làm ở đó, nói là rất nhiều chuyên gia dầu khí là người "Chéc chen" cũng bị Nga cho về...Gronyz chăn cừu khi chiến tranh Nga-Tresni xảy ra?

dongdoi_f2
23-05-2012, 02:00 PM
Cuộc thập tự chinh của Trung Quốc sang Châu Phi chững lại

(Tamnhin.net) - Châu Phi có nguồn tài nguyên phong phú, nên trước đây là miền đất hứa của các nước tư bản Phương Tây và Mỹ, nhưng kể từ cuối Thế kỷ 20 đầu Thế kỷ 21 trở thành điểm đến của các doanh nghiệp Trung Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc ồ ạt kéo sang Châu Phi giống như “Cuộc thập tự chinh” đương đại để khai thác tài nguyên, nhưng kể từ năm 2010 và nhất là khi “Mùa Xuân châu Phi” nổi lên, thì cuộc thập tự chinh này bị chặn lại.




http://tamnhin.net/Uploaded/thanhlongtn/Images/2012/thang%205-2012/3/tqchauphi1_1317721219.jpg





Tờ “Kinh tế Trung Quốc” ngày 18/5/2012 đăng bài thanh minh về “Quan hệ không lành mạnh” của Trung Quốc đối với Châu Phi mà báo chí một số nước Châu Phi và Phương Tây phê phán. Theo bài báo, sự phê phán của báo chí các nước tập trung vào 6 điểm cơ bản:

- Một là, Trung Quốc định ra cái gọi là “Nhận thức Bắc Kinh” về châu Phi để đối lập và bài xích “Nhận thức Washington” của Phương Tây đối với Châu Phi. Mục đích chủ yếu nhằm nhân lúc Mỹ và Phương Tây gặp khó khăn, Trung Quốc nhảy vào giành giật Châu Phi về mình.

- Hai là, các doanh nghiệp Trung Quốc sang Châu Phi ra sức “đào bới, rút ruột” nguồn tài nguyên mang về nước bổ sung cho nguồn tài nguyên đang cạn kiệt của họ, trong khi đó đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp giá rẻ tiêu thụ và lũng đoạn thị trường Châu Phi.

- Ba là, Trung Quốc thực hiện mối quan hệ bất bình đẳng đối với Châu Phi, làm cho các nước Châu Phi bị thiệt thòi trong hợp tác và trao đổi kinh tế.

- Bốn là, Trung Quốc ngày càng can thiệp sâu vào nội bộ các nước Châu Phi, dung túng cho những hành vi vi phạm nhân quyền, phá hoại môi trường sinh thái. Các công ty Trung Quốc ra sức bóc lột, vắt kiệt sức lao động của dân chúng Châu Phi.

- Năm là, Trung Quốc ra sức tìm cách loại bỏ những đối tác truyền thống của Châu Phi nhất là EU và Mỹ để độc chiếm châu lục này.

- Sáu là, sự trợ giúp kinh tế, tài chính của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào bọn cầm quyền tham nhũng ở các nước, nuôi dưỡng ổ tham nhũng trong chính quyền từ đó gây bất ổn chính trị cho các nước.

Báo chí một số nước Phương Tây và Châu Phi cho biết đầu Thế kỷ 21, Trung Quốc vẫn còn giữ thái độ thận trọng khi đầu tư vào Châu Phi, tính tới năm 2005, đầu tư chỉ khoảng 6 tỉ USD, trong đó đầu tư trực tiếp khoảng 1,5 tỉ USD. Nhưng sau khi Trung Quốc ban hành “Văn kiện chính sách Châu Phi” đầu năm 2006 (Nhận thức Bức Kinh) và thành lập “Diễn đàn hợp tác Trung Quốc - Châu Phi” ở Bắc Kinh đầu tháng 11/2006, tiếp đó là đỉnh cao chuyến thăm 8 nước Châu Phi của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào đầu năm 2007 thì tình hình thay đổi hẳn. Trong chuyến thăm này, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tuyên bố Trung Quốc giúp xây dựng “5 Đặc khu kinh tế” (SEZ) theo “kiểu Trung Quốc” ở Châu Phi, trước tiên ở hai nước Zambia và Dimbabue.

Ngay sau chuyến thăm, Trung Quốc liền lập “Quỹ phát triển Châu Phi” với kim ngạch tới 5 tỉ USD để cấp vốn cho những nước khó khăn, đồng thời xóa bỏ thuế xuất khẩu từ 190 mặt hàng lên 440 mặt hàng xuất sang Châu Phi. Các doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu mở “Cuộc thập tự chinh” ồ ạt đầu tư vào 49 nước Châu Phi và đẩy nhanh tốc độ buôn bán với các nước này.

Năm 2004, Trung Quốc mới chỉ có 77 công ty ở các nước Châu Phi, nhưng năm 2006 đã tăng vọt lên tới 715 công ty các loại, năm 2010 có hơn 1.600 công ty, năm 2011 tới trên 2.000 công ty ở 49 nước, tổng kim ngạch trên 50 tỉ USD vào hơn 900 hạng mục công trình. Đó là chưa kể Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc lên kế hoạch đầu tư trên 50 tỉ USD vào khai thác dầu khí ở hơn 20 nước, trong đó chủ yếu ở Châu Phi.

Tờ “Kinh tế Trung Quốc” cho biết Kim ngạch buôn bán Trung Quốc- Châu Phi những năm qua đã tăng bình quân hàng năm 30%, từ 10 tỉ USD năm 2000 lên 127 tỉ USD năm 2010, vượt chỉ tiêu dự kiến 100 tỉ USD hai bên đưa ra, năm 2011 đạt 160 tỉ USD, trong đó khối lượng lớn nguyên vật liệu, khoáng sản và dầu lửa từ Châu Phi ùn ùn chở về Trung Quốc.

Hãng AFP ngay từ năm 2007 dự doán địa vị của Trung Quốc ở Châu Phi đã tăng lên mạnh mẽ. Trong bài bình luận “Thời đại Trung Quốc” ở Châu Phi” ngày 18/12/2007, AFP cho rằng Trung Quốc đã thay thế EU và Mỹ ở Châu Phi. Trung Quốc đã “đỏ lên”, nhưng EU và Mỹ đã “đen tối” hơn ở Châu Phi.

“Cuộc thập tự chinh” của doanh nghiệp Trung Quốc sang Châu Phi chủ yếu nhắm vào nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của nước này trong khi của Trung Quốc đang ngày càng cạn kiệt. Tờ “Kinh tế Trung Quốc” dẫn số liệu cho biết trữ lượng quặng nhôm đã xác định rõ của toàn thế giới, thì riêng Ghinê chiếm tới 10%, gấp hơn 10 lần trữ lượng nhôm của Trung Quốc. Trữ lượng bạch kim và palladium chiếm tới 90% trữ lượng thế giới, trữ lượng crôm chiếm 85% thế giới, trữ lượng mănggan chiếm 80%, trữ lượng vàng chiếm 50%, đó là chưa kể các loại khoáng sản quý khác như, dầu mỏ, đồng, vàng, nhôm, đất hiếm, kim cương, phôt pho, nicken, hạt xoàn, kim cương. Lybi, nước thành viên OPEC có trữ lượng dầu lửa với sản lượng 1,6 triệu thùng/ngày, xuất khẩu lớn thứ 3 Châu Phi, đứng thứ 8 trong tổ chức OPEC, thứ 15 trên thế giới.

Nguồn tài nguyên này thực sự hấp dẫn, nên Trung Quốc đã ra sức lôi kéo các nước Châu Phi, nhưng tình hình bất ổn ở các nước khi “Mùa Xuân châu Phi” xảy ra và ngày 19/3/2011 khi máy bay chiến đấu của Pháp đại diện cho NATO tiến hành oanh kích Lybi, đồng thời lập lại trật tự ở bắc Châu Phi và Trung Đông thì Trung Quốc bị thiệt hai nghiêm trọng.

Báo điện tử “Kinh tế Trung Quốc” ngày 25/5/2011 cho biết trên chỉ riêng ở Lybi, Trung Quốc đã thiệt hại chừng 18,8 tỉ USD trong 50 hạng mục công. Đó là chưa kể tổn thất ở các nước khác. Do dân chúng tẩy chay, nên Trung Quốc đã phải đưa tàu Hộ tống mang tên lửa đạn của Hải quân và 4 máy bay quân sự của Lực lượng Không quân rút hơn 35.860 nhân viên, công nhân ở Lybi về nước.

Tờ “Financial Times” của Anh cho rằng “sao đã đổi ngôi” ở Châu Phi, tình hình đã “đỏ lên” với EU, Mỹ nhưng lại “đen tối” với Trung Quốc. “Cuộc thập tự chinh" đương đại của Trung Quốc đã bị chững lại chưa biết bao giờ mới khôi phục.

Kiều Tỉnh

dongdoi_f2
23-05-2012, 02:27 PM
Trữ lượng dầu mỏ của Việt Nam (http://www.petrotimes.vn/petro-vietnam/2011/04/tru-luong-dau-mo-cua-viet-nam)


Trữ lượng dầu của Việt Nam tính đến 31/12/2004 cho 24 mỏ có khả năng thương mại vào khoảng 402 triệu tấn.
Trữ lượng dầu được tăng hàng năm rất nhanh kể từ năm 1988 sau khi phát hiện dầu trong móng nứt nẻ trước Đệ Tam ở mỏ Bạch Hổ. Năm 1988, trữ lượng ước tính vào khoảng 113 triệu tấn (860 BSTB) dầu có khả năng thu hồi. Sau thời gian trên 10 năm đã được bổ sung vào nguồn trữ lượng khoảng 289 triệu tấn nâng tổng số trữ lượng dầu đến 31/12/2004 đạt 402 triệu tấn.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/04/20110427105637_Dau1-2.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/04/20110427105637_Dau1-2.jpg?fd2eae)
Giàn khoan trên biển Đông

Cũng trong thời kỳ đã khai thác 169,94 triệu tấn chiếm 42% còn lại 232,06 triệu tấn. Trong số trữ lượng còn lại, trữ lượng đã và đang phát triển là 200,4 triệu tấn (~ 80%) ở 9 mỏ đang khai thác (kể cả mỏ dầu – khí), số còn lại chuẩn bị phát triển trong thời gian tới. Trữ lượng dầu tập trung chủ yếu ở bể Cửu Lòng chiếm tới 86% (khoảng 340,8 triệu tấn) trữ lượng dầu Việt Nam, trong đó trữ lượng dầu từ móng nứt nẻ trước Đệ Tam là 262 triệu tấn, chiếm 63% tổng trữ lượng dầu.

Theo quy mô mỏ, có 7 mỏ có trữ lượng trên 13 triệu tấn (>100MMSTB) chiếm 80% trữ lượng dầu thuộc mỏ dầu quy mô lớn – khổng lồ, trong đó mỏ dầu Bạch Hổ có trữ lượng trên 190 triệu tấn (~ 56%) ở bể Cửu Long là mỏ lớn nhất ở thềm lục địa Việt Nam. Theo phân loại của Hội nghị năng lượng thế giới (WEC), chất lượng dầu của các mỏ đang khai thác ở thềm lục địa Việt Nam chủ yếu thuộc loại nhẹ có tỉ trọng từ 380 đến 40,20 API, là loại dầu ngọt có hàm lượng lưu huỳnh rất thấp (0,03 ÷ 0,09% TL), sạch (hàm lượng các chất nhiễm như V, Ni, N thấp), có nhiều parafin (hàm lượng parafin rắn 15 ÷ 28%), có điểm chảy rất cao (22 ÷ 360).

Xu thế nguồn trữ lượng bổ sung
Mặc dù sản lượng khai thác tăng nhanh trong thời gian qua từ 5,5 triệu tấn (năm 1992) lên 20,34 triệu tấn (năm 2004), nhưng trữ lượng vẫn duy trì tăng cao hơn sản lượng khai thác, điều đó cho thấy sự thành công thăm dò gia tăng trữ lượng bù đắp được khối lượng dầu đã khai thác. Sự thành công trong việc gia tăng trữ lượng là do Nhà nước đã có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng hoạt động thăm dò ra các vùng mới có tiềm năng và sự thành công trong thăm dò, thẩm lượng gia tăng trữ lượng trong thời gian qua từ các mỏ đã phát hiện chiếm khoảng 45% trữ lượng được bổ sung. Đồng thời giải pháp tăng hệ số thu hồi dầu (bơm ép nước duy trì áp suất vỉa cũng đã được nghiên cứu áp dụng lần đầu ở mỏ Bạch Hổ và sau đó được triển khai ở các mỏ khác như: Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông, và Sư Tử Đen đã góp phần đáng kể tăng nguồn trữ lượng bổ sung.

Đặc trưng của công tác thăm dò dầu khí là với mức độ rủi ro cao, ngay cả ở những mỏ đã phát triển vẫn còn có rủi ro, bởi vậy sự thành công thăm dò gia tăng trữ lượng chẳng những phụ thuộc vào sự hiểu biết các đối tượng từ các thông tin thu được từ khoan thẩm lượng và phát triển, mà còn phụ thuộc vào áp dụng các giải pháp công nghệ mới trong thăm dò đặc biệt là công nghệ thu nổ, xử lý, minh giải tài liệu địa chấn 3D để làm rõ cấu trúc địa chất của các đối tượng thăm dò. Đó chính là chìa khóa cho sự thành công trong thăm dò gia tăng trữ lượng trong tương lai.

Phát triển và khai thác dầu
Tất cả trữ lượng dầu của các mỏ được phát hiện cho đến thời điểm hiện tại đều ở thềm lục địa dưới 200 m nước. Vì vậy việc phát triển và khai thác các mỏ ngoài khơi đòi hỏi kiến thức chuyên môn trong thăm dò, thẩm lượng, phát triển và khai thác mỏ. Trữ lượng và khả năng khái thác của giếng cần thiết cho việc xác định giá trị tới hạn (ngưỡng) để xác định chi phí đầu tư, vận hành và thời gian kéo dài của đề án ở môi trường ngoài khơi. Công nghệ khai thác dầu ngoài khơi Việt Nam đã được bắt đầu, mở rộng và tăng trưởng nhanh từ 0,04 triệu tân/năm (1986) lên 20,34 triệu tấn/năm vào năm 2004.

Từ năm 1988 sau khi phát hiện và đưa vào khai thác dầu trong móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam của mỏ Bạch Hổ, sản lượng khai thác dầu thô hàng năm của XNLD Vietsovpetro nói riêng và của ngành dầu khí nói chung tăng lên không ngừng. Từ năm 1988 đến 2004, ngoài mỏ Bạch Hổ đã được đưa vào khai thác nhiều mỏ dầu mới. Sau 18 tháng ký hợp đồng PSC nhà điều hành BHP đã đưa mỏ Đại Hùng vào khai thác sớm (10/1994), XNLD Vietsovpetro đưa mỏ dầu thứ 2 (mỏ Rồng) vào khai thác tháng 12/1994. Mỏ Bunga Kekwa – Cái Nước đưa vào khai thác tháng 7/1997 là kết quả của sự hợp tác giữa Petrovietnam và Petronas với nhà điều hành IPC ở vùng thỏa thuận thương mại (CAA) giữa hai nước Việt Nam và Malaysia. Tiếp theo nhà thầu JVPC (lô 15-2) đã đưa mỏ Rạng Đông vào khai thác.

Trong những năm đầu bước sang thiên niên kỷ mới, Công ty điều hành chung Cửu Long đã phát triển mỏ Sư Tử Đen và đưa vào khai thác từ tháng 10 – 2003. Tổng sản lượng khai thác dầu đến hết năm 2004 là 169,94 triệu tấn (~1.300 triệu thùng) với sản lượng khai thác hiện tại khoảng 60 nghìn tấn/ngày (460 nghìn thùng/ngày), trong đó tổng sản lượng dầu khai thác từ móng nứt nẻ trước Đệ Tam là 139,63 triệu tấn chiếm 82% tổng lượng dầu đã khai thác. Với trữ lượng dầu còn lại vẫn có thể duy trì mức sản lượng khai thác như năm 2004 trong một thời gian từ 5 đến 7 năm, sau đó sản lượng sẽ dần dần giảm xuống, tuy nhiên thời gian khai thác còn có thể duy trì kéo dài được khoảng 15 năm nữa.

Các mỏ dầu đang khai thác ở thềm lục địa Việt Nam đều được phát triển và khai thác trong đá chứa cát kết thuộc địa tầng Miocen, Oligocen; đá móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam là đối tượng khai thác chính ở các mỏ: Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc và Sư Tử Đen – Sư Tử Vàng thuộc bể Cửu Long.

Hầu hết các mỏ dầu đã và đang được thiết kế khai thác ban đầu theo chế độ năng lượng tự nhiên đàn hồi của dầu và khí hòa tan. Để nâng cao hệ số thu hồi dầu, lần đầu tiên mỏ Bạch Hổ đã áp dụng giải pháp bơm ép nước duy trì áp suất vỉa ở cả hai đối tượng cát kết Miocen, Oligocen và đặc biệt móng nứt nẻ trước Đệ Tam. Công nghệ khai thác thứ cấp (bơm ép nước) đã cho phép gia tăng đáng kể thu hồi dầu so với khai thác sơ cấp đơn thuần chỉ sử dụng năng lượng tự nhiên của vỉa, hệ số thu hồi dầu cuối cùng có thể đạt tới 0,35 – 0,4 theo các phương án phát triển mỏ Bạch Hổ đã được phê duyệt và triển khai. Chính vì vậy giải pháp bơm ép nước duy trì áp suất vỉa đã lần lượt được áp dụng mở rộng ở các mỏ: Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông và ở mỏ Sư Tử Đen – Sư Tử Vàng.

Nhằm phát triển nhanh, linh hoạt, hệ thống thiết bị khai thác được lựa chọn áp dụng phụ thuộc vào độ sâu nước biển, quy mô nhỏ…hệ thống khai thác giàn cố định (giàn đầu giếng, xử lý), hoàn thiện đầu giếng bề mặt và tàu chứa/xử lý dầu đã được áp dụng để khai thác các mỏ có độ sâu nước biển từ 40 đến 70 m. Thực tế cho thấy hệ thống này tỏ ra khá thích hợp, hiệu quả đối với các mỏ vùng nước nông ở bể Cửu Long (mỏ Bạch Hổ, Rồng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen) và bể Malay – Thổ Chu (Bunga Kekwa – Cái Nước, Bunga Raya, Bunga Seroja). Duy nhất mỏ Đại Hùng ở vùng nước sâu trên 100 m đã sử dụng hệ thống khai thác nổi di động, kết nối với các giếng khai thác được hoàn thiện bằng đầu giếng ngầm ở đáy biển, đường ống dẫn mềm và tàu chứa xuất dầu nổi để phát triển khai thác sớm phần phía Bắc của mỏ.

Tuy hệ thống này có tính linh hoạt và đưa mỏ vào khai thác nhanh, song công việc sửa chữa, bảo dưỡng trong giếng gặp nhiều khó khăn hơn, chưa kể cả các rủi ro tiềm ẩn về an toàn. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy các giàn cố định bảo đảm khai thác mỏ an toàn hơn mà vẫn kinh tế ngay cả ở độ sâu nước biển đến trên 200 m. Bởi vậy trong tương lai cần cân nhắc giữa giải pháp giàn cố định và giàn nổi (bán chìm) để phát triển khai thác các mỏ có độ sâu nước tương tự mỏ Đại Hùng ở bể Nam Côn Sơn.

Để có thể giữ ổn định trong thời gian dài mức khai thác khoảng 50 đến 60 nghìn tấn/ngày (400 đến 450 nghìn thùng/ngày) đang đẩy mạnh phát triển các mỏ đang khai thác và sớm đưa các mỏ đang khai thác và sớm đưa các mỏ mới vào khai thác.

Trong tương lai khai thác dầu ngoài khơi ở Việt Nam số lượng mỏ nhỏ, hay còn gọi là mỏ biên trên góc độ kinh tế ngày càng tăng. Để khai thác hiệu quả các mỏ này, cần nghiên cứu áp dụng hệ thống khai thác theo quan điểm “thiết bị/giàn tối thiểu” với các kiểu giàn nhẹ đầu giếng và một tàu nổi có công suất thích hợp cho chứa/xử lý/xuất dầu. Đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp tăng cường thu hồi dầu sau khi đã áp dụng khai thác thứ cấp, đặc biệt đối với các đối tượng móng nứt nẻ trước Đệ Tam của các mỏ dầu ở bể Cửu Long đang là vấn đề cực kỳ cấp thiết khi sản lượng các mỏ này bắt đầu suy giảm nhanh.
Theo Nguyễn Văn Đắc ( Địa chất và tài nguyên dầu khí)

dongdoi_f2
23-05-2012, 02:28 PM
Đây bài này có lẽ giúp thày giáo GiangNH một chút thông tin

Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam qua ảnh (Phần I) (http://www.petrotimes.vn/petro-vietnam/trang-su-petro-vietnam/2011/05/lich-su-nganh-dau-khi-viet-nam-qua-anh-phan-i)


(Petrotimes) - Với mong muốn đem đến cho độc giả một góc nhìn khái quát về những trang sử của ngành Dầu khí, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc hình ảnh tư liệu về những năm tháng gian khó mà vinh quang này.

Sau gần 50 năm xây dựng và phát triển, ngành Dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, vươn lên trở thành Tập đoàn kinh tế đầu tàu của đất nước. Năm 2010, doanh thu toàn Ngành đạt 478,4 ngàn tỷ đồng, tương đương trên 23 tỷ USD, chiếm 23% GDP của cả nước; trích nộp ngân sách Nhà nước 128 ngàn tỷ đồng, chiếm 32% tổng thu ngân sách Nhà nước. Để có được những thành công ấy, lớp lớp thế hệ những người “đi tìm lửa” đã vượt qua muôn vàn khó khăn, nếm mật, nằm gai dò tìm, tìm kiếm nguồn “vàng đen” ròng rã suốt mấy chục năm trời.

Phần 1:
Từ mong ước của Bác Hồ đến dòng dầu thương mại đầu tiên

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/19-225x300.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/19.jpg?fd2eae)

Ngày 23/7/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm vùng dầu mỏ phía bắc thành phố Bacu, nước Cộng hòa Azecbaizan thuộc Liên Xô cũ. Khi trao đổi với các nhà lãnh đạo Azecbaizan, Người nói: “Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, Liên Xô nói chung, Azecbaizan nói riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng được những khu công nghiệp dầu khí mạnh như Bacu”


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/171-300x229.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/171.jpg?fd2eae)


Cán bộ ngành Dầu khí cùng làm việc với các chuyên gia Liên Xô tại Tổng cục Địa chất, số 6, Phạm Ngũ Lão, Hà Nội


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/151-300x225.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/151.jpg?fd2eae)

Những mũi khoan đầu tiên của Đoàn thăm dò Dầu lửa 36, tại miền võng Hà Nội


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/131-300x225.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/131.jpg?fd2eae)

Việc tìm kiếm, Thăm dò luôn được sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/121-300x221.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/121.jpg?fd2eae)

Một lần thử vỉa tại giếng khoan 61, Tiền Hải, Thái Bình


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/18-225x300.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/18.jpg?fd2eae)



Ngày 4/8/1975, mũi khoan đã xuống đến độ sâu 2.400m và chính thức phát hiện mỏ khí có trữ lượng 1,3 tỉ m3. Mỏ này đã đi vào lịch sử của ngành Dầu khí Việt Nam khi khai trương dòng khí công nghiệp đầu tiên của đất nước.


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/114-300x212.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/114.jpg?fd2eae)

Sau sự kiện dòng khí đầu tiên được phát hiện, tập thể cán bộ công nhân viên ngành Dầu khí đã vinh dự được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/101-300x225.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/101.jpg?fd2eae)

Chuyên gia Liên Xô cùng các cán bộ kỹ thuật ngành Dầu khí Việt Nam trên công trường xây lắp Trạm xử lý – Phân phối khí Tiền Hải, Thái Bình, năm 1980


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/91-300x220.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/91.jpg?fd2eae)

Toàn cảnh Trạm xử lý phân phối khí Tiền Hải, Thái Bình


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/81-300x228.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/81.jpg?fd2eae)



Cán bộ ngành Dầu khí Việt Nam và chuyên gia Liên Xô vui mừng trước kết quả thử vỉa tại giếng khoan 63, Tiền Hải, Thái Bình, năm 1976


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/73-300x221.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/73.jpg?fd2eae)

Tàu Bình Minh – tàu địa chấn đầu tiên của Việt Nam đã tiến hành khảo sát nhiều km tuyến địa chấn ở Vùng vịnh Bắc Bộ, những năm 80 của thế kỷ XX.


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/63-196x300.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/63.jpg?fd2eae)



Việc tìm kiếm thăm do được tiến hành tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/34-215x300.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/34.jpg?fd2eae)



Công nhân khoan, những người trực tiếp phát hiện vỉa dầu quan trọng ở tầng móng kết tinh nứt nẻ tại Mỏ Bạch Hổ


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/115-300x220.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2011/05/115.jpg?fd2eae)



Giàn cố định số 1 (MSP-1) khai thác dòng dầu đầu tiên, mỏ Bạch Hổ, ngày 26/6/1986


Mỏ Bạch Hổ:
Khai thác dầu từ 1986, giai đoạn này khai thác chỉ lấy dầu, còn khí đồng hành thì đốt bỏ ngoài biển gần 10 năm trời, mãi đến 1996 mới dẫn khí đốt mỏ Bạch Hổ từ ngoài khới vào đất liền để chạy máy phát điện tại nhà máy điện Bà rịa, loại máy tua bin khí (gas turbine) F6 có công suất 37,5MW, NMĐ Bà rịa có 6 tổ máy loại F6 này (2 của hãng John Brown Anh, 4 của hãng Gec Alsthome Pháp) và 2 máy F5 mang từ Thái bình vào - tại Thái bình, có 4 máy loại F5, công suất 25MW/máy, của hãng John Brown Anh, đây là một trong những máy phát điện tua bin khí/gas turbine đầu tiên của Việt nam, các máy F5 Thái bình chạy từ 1980 và năm 1990 mỏ hết khí!.
Toàn bộ công suất NMĐ Bà rịa là 300MW, nếu so sánh với thủy điện Trị an 400MW, thì lúc đó mới thấy rất lãng phí nếu không dùng khí đồng hành để phát điện tại Bà rịa.

dongdoi_f2
26-05-2012, 07:17 PM
Gazprom hoàn thành chạy thử đầy tải Dòng chảy phương Bắc (http://www.petrotimes.vn/dau-tien-quyen-luc/2012/05/gazprom-hoan-thanh-chay-thu-day-tai-dong-chay-phuong-bac)



(Petrotimes) – Tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga vừa thông báo đã hoàn thành thử nghiệm đầy tải đường ống dẫn khí North Stream (Dòng chảy phương Bắc) thành công.


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/05/1255-477x270.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/dau-tien-quyen-luc/2012/05/gazprom-hoan-thanh-chay-thu-day-tai-dong-chay-phuong-bac/attachment/1-1347)
Đoạn đầu tiên của đường ống North Stream với công suất 27,5 tỷ m3/năm đã được đưa hoạt động hồi tháng 11/2011.



Trong 3 ngày qua, chuỗi đầu tiên của đường ống đã được nạp đầy đủ 75 triệu m3/ngày, tương đương với công suất thiết kế là 27,5 tỷ m3/năm. Các thử nghiệm đầy tải được thực hiện theo các tiêu chuẩn với toàn ngành công nghiệp về độ an toàn và tin cận của đường ống dẫn khí.

Các thử nghiệm này sẽ tiếp tục được làm thêm 3 tuần nữa. Trong thời gian này, North Stream vẫn tiếp tục cung cấp khí đốt cho các đối tác châu Âu theo hợp đồng đã ký kết.Với thành công này, ông Alexei Miller, Tổng giám đốc Gazprom cho biết: “Như vậy, đường ống chạy ngầm dưới biển và cơ sở hạ tầng trên bờ của Hệ thống cung cấp khí đốt Thống nhất của Nga đã sẵn sàng cung cấp cho các khách hàng châu Âu với lượng khí tối đa thông qua hệ thống đường ống North Stream trong giai đoạn thu – đông tới đây”.

Theo thiết kế, Dòng chảy phương Bắc dài 1.220 km và có công suất 55 tỷ m3/năm, bắt nguồn từ cảng Vyborg của Nga tới khu vực Greifswald của Đức, sẽ cung cấp khí đốt cho Đức, Anh, Hà Lan, Pháp và Đan Mạch. Đoạn đầu tiên của đường ống với công suất 27,5 tỷ m3/năm đã được đưa hoạt động hồi tháng 11/2011.

Phương Anh (Theo Gazprom)

dongdoi_f2
27-05-2012, 05:41 PM
Nhật Bản với giải pháp cho bài toán an ninh dầu lửa



(Tamnhin.net) - Ngày 5/5/2012 Nhật Bản đã đóng cửa Nhà máy điện hạt nhân cuối cùng, như vậy toàn bộ 50 Nhà máy điện hạt nhân đã bị đóng cửa, chấm dứt “Thời đại điện hạt nhân” ở nước này sau 46 năm kể từ năm 1966 khi Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vận hành. Dầu lửa trở thành “nguồn tiếp máu” cho công nghiệp Nhật Bản và giải pháp cho bài toán an ninh dầu lửa ra sao?




http://tamnhin.net/Uploaded/thanhlongtn/Images/2012/thang%205-2012/3/pvep.jpg





Năm 1966, Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Tokai thuộc Công ty năng lượng hạt nhân Nhật Bản đưa vào vận hành thương mại mở đầu cho “Thời đại điện hạt nhân” của nước này cho dù khi đó giá dầu lửa thế giới rẻ tới mức chỉ có 1,8 USD/thùng.

Bước vào Thập kỷ 70 Thế kỷ 20 khi cuộc khủng hoảng dầu lửa nổ ra, đẩy giá dầu lên cao, chấm dứt “Thời đại giá dầu rẻ” trên thế giới, hầu hết các nước đều phải tính tới bài toán an ninh dầu lửa.

Từ Thập kỷ 80 Thế kỷ 20 giá dầu vượt ngưỡng 30 USD/thùng, tới Thập kỷ 90 giá dầu vượt ngưỡng 40 USD/thùng. Bước vào Thế kỷ 21, giá dầu tăng lên mạnh mẽ và vượt ngưỡng 90 USD/thùng vào tháng 10/2007, rồi lại tiếp tục vượt ngưỡng 100 USD/thùng vào tháng 1/2008. Bước vào năm 2012, giá dầu tăng vọt ngay từ đầu năm. Tháng 1/2012 giá dầu tới 100 USD/thùng, tiếp đó tháng 2/2012 giá dầu trên Thị trường giao dịch New York giao hàng tháng 4/2012 tới 109,77 USD/thùng, trong khi đó tại Thị trường dầu lửa Biển Bắc Luân Đôn giá dầu lửa giao hàng tháng 4/2012 tới 125,47 USD/thùng.

Gần 10 năm qua, giá dầu ở Thị trường London và New York lần lượt tăng 552,5% và 439,1%. Kể từ tháng 11/2011 tới tháng 2/2012 giá dầu đã tăng tới 20%. Trước tình hình này, bài toán an ninh dầu lửa trở nên cực kỳ quan trọng đối với Nhật Bản, một nước phải nhập tới 100% dầu lửa từ nước ngoài. Để giải bài toán an ninh dầu lửa, nhiều nước đều ra sức tìm kiếm giải pháp thay thế trong đó “Điện hạt nhân” là sự lựa chọn ưu việt. Nhưng Nhật Bản ngược lại cho đóng cửa toàn bộ 50 nhà máy điện hạt nhân đã hoạt động trong 46 năm qua, nguyên nhân do Nhà máy điện hạt nhân Fukushima và một số nhà máy khác bị hư hại trong vụ động đất và sóng thần ngày 11/3/2011, gây rò rỉ phóng sạ đe dọa tới sức khỏe và cuộc sống của dân chúng.

Thực ra “Điện hạt nhân” một thời rất thịnh hành ở Nhật Bản, nhất là sau cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu Thập kỷ 70 Thế kỷ 20 làm gía dầu tăng cao. Sau Nhà máy điện hạt nhân Tokai, các Công ty điện lực của Nhật như Kansai, Công ty Tokyo, Công ty Hokkaido và các công ty khác đều đua nhau xây dựng Nhà máy điện hạt nhân. Tới Thập kỷ 90, toàn bộ 9 Công ty điện lực (trừ Công ty điện lực Okinawa) đều đã xây dựng Nhà máy điện hạt nhân. Năm 2010, điện hạt nhân chiếm 26,4% tổng lượng cung cấp điện ở Nhật Bản.

Cho dù điện hạt nhân thịnh hành, nhưng các Thế hệ lãnh đạo Nhật Bản ngay từ đầu đã nhận thức được tầm quan trọng của dầu lửa đối với phát triển kinh tế nước này. Bởi vậy, tất cả thế hệ lãnh đạo đều coi trọng bài toán an ninh dầu lửa. Là một nước khan hiếm nguồn tài nguyên, nhất là dầu lửa phải nhập khẩu hầu như tời 100% từ nước ngoài, trong đó 70% đến từ Trung Đông, một quãng đường xa xôi về Nhật Bản. Đó là chưa kể các biến động chính trị, xã hội tác động tới giá dầu. Bởi vậy, giải pháp cho bài toán an ninh dầu lửa rất được coi trọng từ trước tới nay, mà chủ yếu là công tác dự trữ dầu lửa đảm bảo cho kinh tế vận hành trong thời gian an toàn.

Để tạo hành lang pháp lý cho thực thi giải pháp này, năm 1975 Quốc hội Nhật Bản thông qua “Luật dự trữ dầu lửa”, theo luật này Nhật Bản phải nhanh chóng xây dựng được một hệ thống dự trữ dầu lửa hoàn chỉnh và hoàn thiện. Phương châm chung là thống nhất quản lý, lấy nhà nước làm chính, lấy dân gian làm bổ trợ, dự trữ trên lục địa làm chính, dự trữ trên biển làm bổ trợ. Trong hơn 20 năm, tới năm 1996 Nhật Bản đã xây dựng được 10 cơ sở dự trữ quốc gia và 21 cơ sở thiết bị dự trữ dân gian. Kho dự trữ này chủ yếu nằm ở phái nam Kyushu, chiếm 42% tổng lượng dự trữ toàn quốc. Ngoài dự trữ trên lục địa, Nhật Bản là nước duy nhất xây dựng hai cơ sở dự trữ dầu lửa bằng đảo nổi nhân tạo trên biển ở Nagasaki. Đây là phương thức dự trữ độc đáo nhất trên thế giới với tổng lượng khoảng 10 triệu khối. Nhật Bản cho biết giá thành xây dựng cơ sở dự trữ trên biển rẻ hơn ở lục địa tới 20%.

Sau khi giá dầu lửa thế giới tăng cao vào tháng 2/2012, ngày 29/2/2012, Bộ kinh tế Nhật Bản đã tiến hành đánh giá lại công tác dự trữ dầu lửa, đồng thời quyết định trên cơ sở dự trữ đảm bảo cung cấp 90 ngày hiện nay, cần tăng thêm 40% nữa để có thể đạt tới dự trữ đảm bảo từ 120 tới 130 ngày với tổng lượng 70 triệu tấn. Ngoài ra dự trữ của nhà nước, các doanh nghiệp phải có lượng dự trữ đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động từ 60 tới 65 ngày. Như vậy tính ra, lượng dự trữ nhà nước và doanh nghiệp cộng lại có thể đảm bảo an ninh dầu lửa trong 195 ngày.

Khi tuyên bố đóng cửa 50 nhà máy điện hạt nhân, thì lượng dầu lửa đảm bảo cung cấp cho nhà máy nhiệt điện sẽ tăng lên mạnh mẽ, từ đó dự trữ dầu lửa càng trở nên quan trọng. Để đảm bảo an ninh dầu lửa, Nhật Bản đã cùng một số nước thành viên trong Khối ASEAN như Indonexia, Xinhgapo liên kết xây dựng các cơ sở dự trữ dầu lửa, giúp các nước này thiết kế các cơ sở dự trữ đảm bảo cho nền kinh tế bản quốc, đồng thời cùng Nhật hình thành mạng lưới an ninh dầu lửa chung trong khu vực.

Có thể nói giải pháp cho bài toán an ninh dầu lửa của Nhật Bản khá hoàn chỉnh và hoàn thiện. Chính vì vậy, khi Mỹ tiến hành cấm vận nhập khẩu dầu lửa của Iran thì Nhật Bản mỗi năm phải cắt giảm nhập khẩu 11% dầu lửa từ Iran, nhưng kinh tế Nhật vẫn vận hành bình thường. Khi Nhật Bản nói “Không” với điện hạt nhân, lượng cung cấp điện có giảm xuống, nhưng cơ bản vẫn đảm bảo lượng dầu lửa cần thiết cho các nhà máy nhiệt điện vận hành để ổn định sản xuất của các doanh nghiệp và sinh hoạt của dân chúng.

K.Tỉnh

Cơ cấu nguồn điện của Nhật gồm nhiều thành phần, trong đó điện hạt nhân, thủy điện, nhiệt điện, địa nhiệt, một số nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối...). Các nhà máy nhiệt điện ngoài đốt than (nhập từ Austraylia, Indonesia, ... ), còn có nhiều nhà máy điện tua bin khí (gas turbine) chu trình hỗn hợp. Điểm đặc biệt của các nhà máy gas turbine này là không dùng khí đốt thông thường, mà thay vào đó dùng khí hóa lỏng LPG nhập từ Trung đông (UAE...), một số nhập từ Indonesia, bằng các tàu chở khí LPG/LNG cỡ siêu lớn. Nhật đang rất muốn mua khí đốt trực tiếp từ Nga, qua đường ống ở Vladivostock, bằng tàu hoặc nối ống qua biển vào đất Nhật.
Một số dự án Nhật dự kiến triển khai tại VN đang đều phải giãn tiến độ 1-2 năm, như dự án nhà máy điện Ô Môn 3, Ô Môn 4. Vì các nhà máy sản xuất máy turbine phát điện ở Nhật tập trung chế tạo turbine cho các dự án nhà máy điện mởi tại đất Nhật, thay thế cho số nhà máy điện hạt nhân phải đóng cửa.

dongdoi_f2
01-06-2012, 08:51 PM
Từ 1-7 vận hành thị trường phát điện cạnh tranh

(Tamnhin.net) - Sau nhiều lần trì hoãn để hoàn thiện khung pháp lý và điều kiện vận hành, thị trường phát điện cạnh tranh chính thức sẽ vận hành từ ngày 1-7 tới.




http://tamnhin.net/Uploaded/thanhlongtn/Images/2012/thang%205-2012/4/dien_2a510.jpg


Thị trường phát điện cạnh tranh chính thức vận hành từ ngày 1/7/2012



Tin từ Bộ Công Thương cho biết, thị trường phát điện cạnh tranh chính thức bắt đầu vận hành từ đầu tháng 7 sau hơn một năm chuẩn bị và vận hành thí điểm. Kể từ ngày vận hành chính thức, 48 trong 73 nhà máy điện có công suất lớn từ 30 MW trở lên sẽ trực tiếp chào giá trên thị trường dưới hai hình thức: 95% sản lượng điện được chào giá thanh toán theo hợp đồng giữa bên bán với đơn vị mua buôn duy nhất (Công ty Mua bán điện trực thuộc Tập đoàn Điện lực); 5% còn lại sẽ áp dụng hình thức thanh toán theo giá thị trường ở thời điểm giao ngay. Nói khác đi, đây là mô hình thị trường điều độ tập trung chào giá theo chi phí.

Khi vận hành thị trường này, toàn bộ điện năng phát của các nhà máy điện tham gia thị trường (trừ các nhà máy điện gió và nhà máy điện địa nhiệt, các nhà máy điện thuộc khu công nghiệp chỉ bán một phần sản lượng lên hệ thống điện quốc gia và không xác định được kế hoạch bán điện dài hạn).

Hình thức thanh toán trên thị trường phát điện cạnh tranh (95% thanh toán theo hợp đồng ký sẵn, 5% thanh toán theo giá chào) sẽ chỉ được áp dụng trong năm đầu tiên. Từ những năm sau, để tăng tính cạnh tranh trong hoạt động phát điện, tỷ lệ này sẽ giảm dần, nhưng không thấp hơn 60% giá hợp đồng đã ký.

dongdoi_f2
05-06-2012, 02:18 PM
Tham vọng của Gazprom và tương lai an ninh năng lượng châu Âu (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/06/tham-vong-cua-gazprom-va-tuong-lai-an-ninh-nang-luong-chau-au)


(Petrotimes) - Việc xây dựng đường ống dẫn khí đốt vượt biển Baltic thứ 2 sẽ là một chiến thắng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin ở nhiệm kỳ thứ 3 này của ông trên con đường đưa nước Nga trở lại vị thế cường quốc năng lượng vốn có từ thời Liên Xô (cũ).
Khi Dự án xây dựng đường ống dẫn khí đốt Nabucco của Liên minh châu Âu (EU) đang đứng trước nguy cơ không thực thi được, Tập đoàn khí đốt Gazprom đã tính đến khả năng xây dựng một đường ống dẫn khí vượt biển Baltic thứ hai bên cạnh đường ống dẫn khí North Stream (dòng chảy phương Bắc). Tuy nhiên, với sự tràn ngập khí tự nhiên phi truyền thống của Mỹ trên thị trường, chiến lược tham vọng này của Gazprom không phải không có rủi ro.

Tham vọng nhiều – Cơ hội ít

Người châu Âu vẫn nói vui rằng, Dự án đường ống dẫn khí Nord Stream là Dự án “Putin – Schroder” bởi dự án này đã được ông Putin (khi đó là Tổng thống Nga) và ông Gehard Schroder (khi đó là Thủ tướng Đức) khai sinh. Và 6 tháng trước, công trình mang ý nghĩa năng lượng quan trọng này đã đi vào hoạt động, mang khí tự nhiên từ Siberia (Nga) chạy qua 1.200km đường ống tới TP Greifswald nước Đức.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/Nord-Stream-2-477x290.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/Nord-Stream-2.jpg?fd2eae)
Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký lưu niệm vào thành ống nhân Lễ Khánh thành Hệ thống đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Bắc tháng 11/2011.

Bên cạnh đó, Đức cũng tham gia vào một dự án năng lượng quan trọng khác là Nabucco. Đường ống Nabucco nhằm mục đích vận chuyển khí đốt từ khu vực biển Caspian dọc theo một tuyến ống phía nam châu Âu dài 3.900km có điểm kết thúc tại Áo và không đi qua Nga. Dự án “con cưng” này được kỳ vọng sẽ làm giảm sự phụ thuộc khí đốt của châu Âu vào Nga. Tuy nhiên, cho đến giờ vẫn chưa có một mét đường ống nào được lắp đặt và thậm chí, dự án này còn có nguy cơ bị “khai tử” khi còn nằm trên giấy.
Cuối tháng 4 vừa qua, Tập đoàn MOL – đại diện của Hungary tham gia vào Dự án Nabucco đã tuyên bố rút khỏi dự án do nghi ngờ về khả năng tài chính của NIC – công ty được lập ra để chuẩn bị cho dự án. Chính Thủ tướng Hungary Viktor Orban cũng thừa nhận dự án này đang đứng trước những khó khăn “không thể không tính đến” và tương lai không rõ ràng. Và bây giờ, một đối tác khác của dự án – RWE (Đức) cũng đã nghĩ đến việc rút lui. Quyết định cuối cùng chưa được nêu ra nhưng cơ hội để RWE tiếp tục cam kết thúc đẩy Nabucco là không có nhiều.
Có 2 lý do: một là, tổng chi phí ước tính của dự án đã lên tới hơn 15 tỉ euro (19 tỉ USD), cao gấp 2 lần so với dự toán ban đầu. Một lý do khác là Azerbaijan và Turkmenistan – những nhà cung cấp tiềm năng đã nhiều lần trì hoãn và không dứt khoát cam kết sẽ cung cấp khí đốt tự nhiên cho Nabucco.

“Cam kết đúc bằng thép”

Thật vậy, tình hình hiện tại đã không đơn giản là sự cạnh tranh giữa hai hệ thống đường ống khi Nord Stream đã hoàn thành và chứng minh tầm quan trọng chiến lược của nó. Bây giờ, chủ đầu tư và các đối tác của Dự án Nord Stream, bao gồm Gazprom, EON của Đức, Wintershall, GDF Suez của Pháp và Gasunie của Hà Lan lại đang tính đến việc đầu tư xây dựng một đường ống thứ 2 qua biển Baltic, mà khả năng sẽ nằm gần đường ống hiện tại. Kết quả cuối cùng là sẽ hình thành một đường ống dẫn kép, có thể bắt đầu vận chuyển hàng tỉ m3 khí đốt trực tiếp từ Siberia đến Nam Âu trong 7-8 năm nữa.
Kịch bản có vẻ đã hé lộ – người ta muốn mở rộng các đường cung cấp phía bắc và giảm bớt quy mô của các tuyến vận chuyển phía nam – điều sẽ gây bất ổn cho toàn bộ thị trường khí đốt châu Âu. Trong khi đó, EU muốn xây dựng Nabucco là để mở rộng nguồn cung cấp. Tuy nhiên, sự thất bại nhìn thấy được của Nabucco và sự mở rộng của tuyến đường ống dẫn khí vượt biển Baltic lại đang là mối đe dọa với châu Âu sẽ khiến EU phụ thuộc nhiều hơn bao giờ hết vào nguồn khí đốt từ Nga. Thật vậy, châu Âu đã mua khoảng 25% khí đốt tự nhiên từ Nga, trong đó, Đức – nền kinh tế lớn nhất châu lục, phụ thuộc vào quốc gia này tới 35% nhu cầu khí đốt. Đây là điểm làm nước Đức dễ bị tổn thương.
Cho đến nay, Moskva đã liên tục chứng tỏ mình là một nhà cung cấp đáng tin cậy. Gazprom nói rằng, đường ống “là một lời hứa giao hàng đúc bằng thép” và nhấn mạnh rằng, không có công ty nào đầu tư hàng tỉ đôla vào đường ống để rồi sau đó không sử dụng nó.Nhưng người ta càng ngày càng lo ngại rằng, Nga sẽ sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có của họ như một phương tiện gây áp lực và rằng khí đốt sẽ trở thành một vũ khí chính trị. “Không có an ninh quốc gia nào mà không có an ninh năng lượng”, Ủy viên Năng lượng châu Âu và người ủng hộ Dự án Nabucco Günther Oettinger nói.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/Nord-Stream-1-477x317.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/Nord-Stream-1.jpg?fd2eae)
Tham vọng xây dựng đường ống dẫn khí thứ 2 xuyên biển Baltic của Gazprom không phải không có rủi ro.

Cắt ngắn Nabucco

Dự án đường ống Nabucco được khởi xướng từ đầu năm 2000, với các cổ đông từ Đức, Áo, Hungary, Romania, Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ, được sự hậu thuẫn của chính phủ các quốc gia trên và EU. Nhưng cho đến giờ, Nabucco vẫn chỉ nằm trên giấy và chưa có bước tiến nào.
Bây giờ, các cổ đông Nabucco tin rằng, chỉ có phiên bản nhỏ hơn của dự án này là thực tế. “Nabucco West” (Tây Nabucco) – chính là dự án phiên bản này, sẽ chỉ dài 1.300km và kết nối từ biên giới Thổ Nhĩ Kỳ – Bulgaria tới Áo. Để đi xa hơn về phía đông, khí đốt sẽ được vận chuyển thông qua đường ống Trans-Anatolian (TANAP), một dự án do Socar dẫn đầu và cũng vẫn còn trong giai đoạn lập kế hoạch. Nhưng ngay cả khi phiên bản này được thực hiện, châu Âu vẫn chưa thực hiện được mục tiêu kiểm soát tuyến đường cung cấp riêng cho mình và của mình.
Trong khi đó, Nga đang đẩy mạnh việc mở rộng các tuyến vận chuyển khí đốt ở phía bắc. Vài tuần trước, Nga đã thông báo cho các nhà lãnh đạo tất cả quốc gia bị ảnh hưởng, bao gồm Ba Lan, Phần Lan và Đức về kế hoạch này. Hiện chưa có nước nào có phản ứng.

Chiến lược rủi ro của Gazprom

Hai tuần trước, cổ đông Nord Stream đã nhất trí về chi tiết cuối cùng của kế hoạch xây dựng một đường ống kép thứ 2 tại Frankfurt. Giám đốc điều hành của Nord Stream Matthias Warnig cho biết, họ muốn trình bày một nghiên cứu khả thi, trong đó, tất cả các vấn đề chính như môi trường, hiệu quả chi phí và lộ trình sẽ được chi tiết. Nếu không có trở ngại nào thì đầu năm 2013, đường ống thứ 2 này sẽ được xây dựng.
Cùng với các đối tác hiện có của Nord Stream, nhiều đối tác mới cũng bày tỏ sự quan tâm đến dự án mới này, bao gồm cả các nhà đầu tư tài chính cũng như các “đại gia” năng lượng như BP của Anh. Và một khi như vậy, triển vọng của Nabucco rõ ràng là rất xấu, bởi BP vốn được hy vọng là nhà cung cấp khí đốt cho đường ống này.
Việc xây dựng đường ống dẫn khí đốt vượt biển Baltic thứ 2 sẽ là một chiến thắng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin ở nhiệm kỳ thứ 3 này của ông trên con đường đưa nước Nga trở lại vị thế cường quốc năng lượng vốn có từ thời Liên Xô (cũ). Tuy nhiên, chiến lược tham vọng này không phải không có rủi ro khi Gazprom đang tìm cách mở rộng cơ sở hạ tầng kinh doanh của mình trong thời điểm thị trường khí đốt thế giới đang có những thay đổi triệt để và không còn khan hiếm với sự xuất hiện của một nhân tố mới: khí đá phiến từ Mỹ.

Cạnh tranh và cạnh tranh

Sự cạnh tranh mới này đe dọa mô hình kinh doanh truyền thống của Nga. Họ đã quen với việc duy trì cân bằng giữa giá khí đốt và giá dầu. Các hợp đồng giao hàng đôi khi kéo dài hàng thập niên và mặc dù nếu cần ít hơn, khách hàng vẫn phải trả giá theo hợp đồng đầy đủ. Nguyên tắc này gọi là “nhận trực tiếp hay trả lại”, đã đem lại rất nhiều lợi nhuận cho người Nga. Ngoài ra, bây giờ, khách hàng có thể mua khí đốt tự nhiên ở các thị trường tại chỗ như Sàn giao dịch Năng lượng châu Âu ở Leipzig, Đức. Khối lượng giao dịch tại đây đã tăng lên hơn 50% vào năm ngoái.
Trong môi trường xuất hiện nhiều yếu tố cạnh tranh mới như vậy, Giám đốc Nord Stream Warnig vẫn tin rằng, một đường ống qua biển Baltic sẽ mang lại chiến thắng cho Gazprom. Ông nói, khí đá phiến sẽ không có được tầm quan trọng ở châu Âu như ở Hoa Kỳ và trên thực tế, trong khoảng 20 năm nữa, các nhà cung cấp thậm chí còn không đáp ứng đủ nhu cầu của châu Âu. Ông cũng cho rằng, nhu cầu khí đốt tự nhiên ở Tây Bắc Âu cho đến năm 2030 sẽ duy trì khá ổn định ở mức 300 tỉ m3 khí mỗi năm. Tuy nhiên, cùng thời gian đó, các nguồn cung cấp khí đốt ở Anh và Hà Lan sẽ sụt giảm, từ 150 tỉ m3/năm xuống còn 50 tỉ m3 khí/năm vào năm 2030.
Bên cạnh đó, có một thực tế rằng, sự quyết tâm xóa bỏ năng lượng hạt nhân của Đức đã làm cho khí đốt tự nhiên trở nên quan trọng hơn nhiều. Nhà máy điện khí hiện đại rất thích hợp để bù đắp sự biến động mạnh trong lưới điện do sự tham gia của các nguồn điện từ năng lượng tái tạo. Nếu gió không thổi, mặt trời không chiếu sáng, nhà máy điện khí ngay lập tức có thể “tiếp tế” ngay cho lưới điện và do đó giữ cho lưới điện ổn định, nhanh hơn rất nhiều so với nhà máy điện than.
Tương lai khí đá phiến của Mỹ tràn ngập trên thị trường khí đốt thế giới sẽ buộc Nga phải nhượng bộ trong các hợp đồng bán khí đốt trong tương lai. Nhưng cuối cùng, an ninh năng lượng của châu Âu có nằm trong tay người châu Âu hay không, vẫn phụ thuộc vào việc quyết định xây dựng đường ống Nabucco.
Phương Anh

dongdoi_f2
06-06-2012, 09:02 AM
Dòng chảy phương Bắc có thể tăng gấp đôi công suất (http://www.petrotimes.vn/dau-tien-quyen-luc/2012/06/dong-chay-phuong-bac-co-the-tang-gap-doi-cong-suat)


(Petrotimes) – Tổng thống Nga Putin và Thủ tướng Đức Angela Merkel trong cuộc gặp tại Berlin tuần trước đã thảo luận về khả năng tăng gấp đôi công suất của hệ thống đường ống dẫn khí North Stream (Dòng chảy phương Bắc), với thêm 2 đường ống chạy dưới biển Baltic.


http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/Nord-Stream_1996458b-477x298.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/dau-tien-quyen-luc/2012/06/dong-chay-phuong-bac-co-the-tang-gap-doi-cong-suat/attachment/nord-stream_1996458b)
Theo thiết kế, Dòng chảy phương Bắc dài 1.220 km và có công suất 55 tỷ m3/năm

Tổng giám đốc Tập đoàn khí đốt Gazprom và cũng là chủ sở hữu chính của North Stream đã khẳng định rằng nhu cầu khí đốt tự nhiên châu Âu là cơ sở để thúc đẩy việc xây dựng các nhánh đường ống mới, mà qua đó, sẽ giúp tăng công suất của North Stream lên hơn 110 tỷ m3/năm.
Trước đó, tại Hội nghị thượng đỉnh của các quốc gia Biển Baltic ở Stralsund, Đức, phe đối lập tại Đức đã tỏ thái độ lo ngại trước sự gia tăng phụ thuộc vào nguồn cung cấp khí đốt từ Nga – vốn đang suy yếu. Theo thiết kế, hệ thống đường ống dẫn khí kép Dòng chảy phương Bắc dài 1.220 km và có công suất 55 tỷ m3/năm, bắt nguồn từ cảng Vyborg của Nga tới khu vực Greifswald của Đức, sẽ cung cấp khí đốt cho Đức, Anh, Hà Lan, Pháp và Đan Mạch. Đoạn đầu tiên của đường ống với công suất 27,5 tỷ m3/năm đã được đưa hoạt động hồi tháng 11/2011.

Linh Anh (Theo UPI)

Nga xuất khẩu khí đốt quá khủng! một năm bán 55 tỉ m3 khí cho Đức và châu Âu, so với mỏ Nam Côn sơn VN, trữ lượng 50 tỷ m3, khai thác trong 25-30 năm! Mỏ khí Nam Côn sơn là nguồn cấp khí cho các nhà máy điện tua bin khí ở Bà rịa, Phú Mỹ, Nhơn trạch...

dksaigon
09-06-2012, 05:10 PM
Trung Quốc cuống cuồng trong cơn khát năng lượng (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/75702/trung-quoc-cuong-cuong-trong-con-khat-nang-luong.html)
http://img.vietnamnet.vn/logo/tuanvn.pngMỹ và Trung Quốc, hai quốc gia tiêu thụ năng lượng đứng đầu thế giới, đang hướng về hai phía đối lập nhau. Đây là một xu hướng sẽ mang nhiều ý nghĩa về mặt địa chiến lược đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Mỹ đang dần lấy lại sự tự tin rằng phần lớn dầu và khí gas của nước này sẽ được sản xuất trong nước. Mỹ đang từng bước hạn chế phụ thuộc vào dầu và khí tự nhiên nhập khẩu khi sản lượng trong nước được nâng lên trong khi sức tiêu thụ nhiên liệu hóa lỏng giảm sút do nhu cầu giảm và những tiến bộ về tiết kiệm năng lượng, đặc biệt trong giao thông và công nghiệp.
Trong khi đó, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào dầu và khí vận chuyển qua đường biển hay đường ống về nước này, chủ yếu từ những nguồn cung cấp ở rất xa, nơi thương là những khu vực bất ổn chính trị trên thế giới, bao gồm Trung Đông, châu Phi và Trung Á. Kết quả là, Bắc Kinh mỗi ngày lại cảm thấy mất an ninh về các nguồn cung năng lượng này trong tương lai hơn.
Trung Quốc đang hiện đại hóa các lực lượng vũ trang không chỉ để nhằm đòi lại Đài Loan bằng các phương tiện quân sự khi cần thiết. Trung Quốc còn muốn bảo về các tuyến đường vận tải biển và khả năng tiếp cận an toàn các nguồn năng lượng, khoáng sản và ngư trường ở ngoài khơi trong các vùng biển xung quanh, bao gồm biển Hoa Đông - nơi Trung Quốc đang có những tuyên bố chủ quyền xung đột với Nhật Bản - và Biển Đông, nơi tuyên bố quyền tài phán bị nhiều nước trong khu vực như Philippine, Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Brunei phản đối.
Trung Quốc cũng muốn củng cố an ninh thông qua thành lập một vùng ảnh hưởng ngoài khơi mà nước này có thể chi phối, thay cho Mỹ và các đồng minh khu vực.
Mặc dù Mỹ mới đây tuyên bố "xoay trục" trọng tâm chiến lược sang châu Á, nhưng sức mạnh và ảnh hưởng tương đối của nước này có vẻ lại đang giảm đi. Điều này ít có khả năng thay đổi ngay cả khi tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc tụt lùi đi phần nào.
Khi Mỹ đạt được an ninh năng lượng trong thời kỳ cắt giảm chi phí, nước này cũng có ít động cơ tiếp tục hoạt động bảo vệ quân sự tốn kém cho những tuyến vận tải hàng hải tại các khu vực ngày càng tranh cãi gay gắt như các vùng biển ngoài khơi Trung Quốc, khu vực Vịnh Ba Tư giàu dầu mỏ và khí đốt, và xung quanh Trung Đông và châu Phi. Do đó, điều này khuyến khích Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng quân sự sang tận Ấn Độ Dương, nơi mà khối lượng dầu và khí khổng lồ hằng ngày vẫn được vận chuyển lưu thông qua lại.
Như thế, Trung Quốc cũng đang gây gia tăng căng thẳng với Ấn Độ. Stephen Walt, giáo sư quan hệ quốc tế tại Trường Chính phủ Kennedy, ĐH Harvard, đã dự báo kết quả xu hướng kinh tế, quân sự và năng lượng giữa Trung Quốc và Mỹ như sau: "Nếu Trung Quốc giống như tất cả các cường quốc khác, bao gồm cả Mỹ, thì định nghĩa lợi ích "quan trọng" cũng sẽ lớn dần khi sức mạnh của nó được tăng lên - và nó sẽ cố gắng sử dụng uy lực mới đó để bảo vệ một phạm vi ảnh hưởng không ngừng mở rộng.
Nhìn vào mức độ phụ thuộc nguyên liệu thô (đặc biệt là năng lượng) nhập khẩu và mô hình tăng trưởng nhờ vào xuất khẩu Trung Quốc, rõ ràng các nhà lãnh đạo thận trọng của nước này sẽ muốn chắc chắn rằng không ai được ở vào vị trí có thể cản trở Trung Quốc tiếp cận tài nguyên và thị trường mà sự thịnh vượng và ổn định chính trị của họ phụ thuộc rất lớn vào đó.
Tình huống này sẽ khuyến khích Bắc Kinh thách thức vai trò hiện nay của Mỹ ở châu Á. Dần dần, Bắc Kinh sẽ cố gắng thuyết phục các quốc gia châu Á khác từ bỏ quan hệ với Mỹ, và Washington gần như chắc chắn sẽ chống lại những nỗ lực này. Và sau đó sẽ là một cuộc cạnh tranh an ninh căng thẳng giữa hai nước".
Dấu hiệu gần đây nhất của cuộc đấu tranh giành ưu thế tuyệt đối trong khu vực là tại Biển Đông, nơi Trung Quốc và Philippine, một đồng minh của Mỹ, đang trong mối bất hòa đã gần 2 tháng xung quanh vấn đề quyền sở hữu và kiểm soát bãi Scarborough, một khu vực bao gồm một chuỗi các rặng san hô và ngư trường gần với Philippine hơn nhiều Trung Quốc.
Những tranh chấp như vậy có thể kiểm soát được. Nhưng chúng cũng có thể dẫn tới việc Trung Quốc thắng thế trước các đối thủ yếu và ít quyết tâm hơn. Hay chúng cũng có thể dẫn tới xung đột vũ trang. Nếu Mỹ hay đồng minh Nhật Bản can dự vào, thì kết quả có thể sẽ là một cuộc chiến tranh rộng hơn, cả nguy cơ gây bất ổn cho cả châu Á.
Liệu có cách nào Trung Quốc có thể cạnh tranh với Mỹ và trở nên ít phục thuộc hơn vào dầu khí bên ngoài?
Cho tới trước năm 1993 Trung Quốc vẫn có thể sản xuất đủ dầu thô phục phụ nhu cầu trong nước. Nhưng khi tăng trưởng duy trì cao, nhập khẩu dầu mỏ cũng lớn hơn. Trung Quốc hiện nay nhập khẩu 55% nhu cầu tiêu thụ dầu trong nước, và tỷ lệ này vẫn đang có xu hướng tăng lên.
Khí tự nhiên, loại nhiên liệu hóa thạch ít gây ô nhiễm nhất, cũng đang có xu hướng tương tự. Đến năm 2020, nhập khẩu khí gas của Trung Quốc qua đường ống và đường biển sẽ chiếm 33% nhu cầu, tăng so với mức 20% hiện nay và 0% vào đầu năm 2006, khi Trung Quốc chấm dứt giai đoạn tự chủ về khí gas.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc gọi sự phụ thuộc vào bên ngoài này là "thế lưỡng nan Malacca". Khoảng 85% dầu nhập khẩu, và tỷ lệ ngày càng lớn khí gas nhập khẩu của Trung Quốc, vận chuyển bằng đường biển, qua Ấn Độ Dương, Eo biển Malacca, Singapore ở Đông Nam Á, và Biển Đông. Hầu hết nguồn cung năng lượng quan trọng này ở khu vực Vịnh Ba Tư. Cách duy nhất để ra vào vịnh này bằng đường biển là đi qua eo biển hẹp Hormuz. Các kênh vận chuyển ở đây và ở eo biển Malacca và Singapore có thể bị chặn hoặc làm gián đoạn khi xảy ra khủng hoảng. Nhập khẩu năng lượng của Nhật Bản thậm chí còn phụ thuộc vào "động mạch" hàng hải này hơn cả Trung Quốc.
Ngược lại, phần lớn sự gia tăng sản lượng dầu khí của Mỹ nhờ khai thác các trự lượng phát hiện ở sâu dưới các lớp đá phiến tại địa lục Mỹ. Tiến bộ công nghệ, bao gồm công nghệ phân tách thủy lực, trong đó nước, cát và hóa chất được bơm áp lực cao vào lớp đá phiến để phá vỡ cấu trúc đá và giải phóng dầu và khí, cho phép "mở khóa" các trữ lượng này.
Trung Quốc có trữ lượng khí đá phiến được phát hiện lớn nhất thế giới, lớn hơn nhiều các trữ lượng lớn thứ hai thế giới của Mỹ. Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc ước tính, trữ lượng khí đá phiến có thể khai thác của Trung Quốc lên đến 25 nghìn tỷ m³. Tuy nhiên, báo cáo mới đây của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) nhận định, con số trên có thể lên đến 36 nghìn tỷ m³, lớn gấp 12 lần trữ lượng khí thông thương của Trung Quốc và đủ để đáp ứng tiêu dùng trong hơn 100 năm.
Trung Quốc chỉ mới bắt đầu khai thác nguồn tài nguyên khí đá phiến trong nước. Nước này đặt mục tiêu bơm lên khoảng 100 tỷ m³ vào năm 2020, tương đương tốc độ sản lượng khai thác các trữ lượng khí thông thường hằng năm hiện nay vốn dễ khai thác hơn.
Tuy nhiên, IEA cho biết, dựa trên những thông tin địa lý hiện nay của Trung Quốc, tài nguyên khí đá phiến có thể khó khai thác và tốn kém hơn nhiều ở Bắc Mỹ.
Trữ lượng khí đá phiến tiềm năng nhất ở khu vực khô cằn phía bắc và phía tây Trung Quốc. Có quan ngại rằng khai thác khí đá phiến quy mô lớn tại các khu vực trên sẽ gây ô nhiễm môi trường và làm cạn kiệt nguồn nước vốn đã rất khan hiếm.
Ngay cả khi Trung Quốc thành công trong việc quản lý và khai thác khí đá phiến và phân phối ra cả nước bằng đường ống, IEA kết luận, thì nhu cầu năng lượng của Trung Quốc vẫn sẽ lớn đến mức, giải pháp tốt nhất cần tiến hành nhất là hạn chế sự phụ thuộc vào khí nhập khẩu xuống còn 24% vào năm 2020, thay vì mức 51% nếu kịch bản sản lượng sản xuất khí trong nước của Trung Quốc đạt thấp diễn ra.
Michael Richardson là nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore.

dongdoi_f2
14-06-2012, 12:05 PM
Trung Quốc: Chính sách Quyền lực mềm phá sản… (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/06/trung-quoc-chinh-sach-quyen-luc-mem-pha-san)



(Petrotimes) - Hoàn cầu thời báo (5/6/2012) một lần nữa đã lên giọng dạy đời khi luận về mối quan hệ Việt Nam với Mỹ. Những thái độ thiếu kiềm chế tương tự trong giới truyền thông Trung Quốc (TQ) xảy ra với tần suất ngày một thường xuyên đã chẳng còn là sự lạ với thế giới. Và nó cho thấy Bắc Kinh đã không còn kiên nhẫn trong sách lược thu chiếm Biển Đông. Hậu quả là gì?

Là chính sách quyền lực mềm hoàn toàn phá sản!

Có lẽ cũng cần nhắc lại một sự kiện từng gây ồn ào. Trung tuần tháng 5/2012, viết trên trang Weibo riêng, Dương Nhuệ – được giới truyền thông nước này tôn xưng như một “Larry King” của TQ – nói rằng: “Những kẻ không thể tìm được việc làm ở Mỹ và châu Âu bây giờ phải đến TQ để cướp tiền của chúng ta, tham gia vào các vụ buôn người và tung ra những lời dối trá bỉ ổi để khuyến khích di cư (đến TQ)”. Họ Dương còn nói: “Bọn tình báo nước ngoài chuyên kiếm gái TQ để che đậy hành vi gián điệp và cải trang làm du khách trong khi cố thu thập bản đồ và dữ liệu GPS để cung cấp cho Nhật, Hàn Quốc và phương Tây. Chúng ta đã đá đít con chó cái nước ngoài đó (ám chỉ việc Bắc Kinh không gia hạn visa cho phóng viên Melissa Chan của Đài Al Jazeera)…”.http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/TQ-2.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/TQ-2.jpg?fd2eae)
Cuộc biểu tình của người Myanmar đòi ngưng Dự án Thủy điện Myitsone mà TQ đầu tư

Khỏi cần phải nói, phát biểu của Dương Nhuệ đã gây “bức xúc” nhiều như thế nào (ngày 22/5, tờ Global Times cho đăng lời cải chính của Dương, khi đương sự không hề xin lỗi, mà chỉ nói rõ hơn rằng, thật ra từ “bát phụ” phải nên dịch là “shrew” – người đàn bà đanh đá, chứ không phải “bitch” – chó cái, như cách viết của báo chí Mỹ). Tất nhiên “tinh thần” của sự việc không phải ở chuyện chữ nghĩa hay trình độ dịch dọt mà ở ngữ cảnh cụ thể của nội dung toàn bộ thông điệp. E rằng cái tinh thần đó lại đang thể hiện như một chi tiết trong bản tổng phổ của đối sách ngoại giao, với việc đoạn tuyệt “triết lý” kinh điển “Thao quang dưỡng hối” (Ẩn mình chờ thời) của Đặng Tiểu Bình và đi theo khuynh hướng cứng rắn “Thuận ngã giả xương, nghịch ngã giả vong” (Theo lời ta thì được tốt đẹp, chống lại ta thì ta cho chết)!
Trong số báo 11/3/2010, tờ Nhân Dân nhật báo đã “khoe” rằng, ảnh hưởng văn hóa của TQ hiện xếp thứ bảy trong 131 quốc gia; và đứng thứ nhất riêng tại châu Á (dựa theo “Báo cáo hiện đại hóa TQ 2009” của Viện Khoa học TQ – CAS). Nguồn trên còn dẫn lời ông Hà Truyền Khải, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu hiện đại hóa TQ (thuộc CAS), rằng: “Sự đi lên của ảnh hưởng văn hóa TQ đã cho thấy rõ sự phát triển của quyền lực mềm TQ”.
Sự trình diễn “nhuyễn lực” của TQ không chỉ ở việc mở cửa vô số trung tâm Khổng Tử khắp thế giới mà còn ở những hình ảnh cho thấy TQ ngày càng có trách nhiệm quốc tế hơn, với việc tăng cường hợp tác nhân đạo toàn cầu cũng như đóng góp đối với những vấn đề an ninh thế giới (chẳng hạn vấn đề hạt nhân Triều Tiên…) – bài báo (đại để) viết… Cần nhắc lại, chỉ trong một thập niên, TQ đã bơm hàng chục tỉ đôla “viện trợ” cho các nước Đông Nam Á lẫn châu Phi. Chỉ riêng Philippines – quốc gia đang trở thành kẻ đối đầu số một của Bắc Kinh tại khu vực, sự hào phóng TQ đã thể hiện ở khoảng 2,8 tỉ USD cho loạt dự án băng thông rộng và nhiều dự án khác (Wall Street Journal 7/6/2012).
Vở cải lương ve vãn Manila của Bắc Kinh bắt đầu được dựng cách đây gần 10 năm, khi Bắc Kinh phái hàng đoàn ngoại giao đến Manila với những cam kết thắt chặt hữu nghị. Tháng 4/2005, khi ông Hồ Cẩm Đào đến Philippines, Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo đã miêu tả mối quan hệ hai nước là đang bước vào “giai đoạn vàng son”, khi TQ cam kết nhiều chương trình cho vay mà không cần điều kiện gì, từ việc tài trợ xây một tuyến hỏa xa nối Manila tới khu vực sản xuất phía bắc đến việc trùng tu một con đập…
Chính sách tung đòn “nhuyễn lực” của TQ còn thể hiện ở việc đầu tư hàng tỉ đôla để phát triển hệ thống truyền thông ra toàn cầu (lập kênh CCTV-International năm 2004; kênh tiếng Arập phát 24/24 tại Trung Đông và châu Phi năm 2009; mua bảng điện quảng cáo dài hạn, với chi phí khoảng 400.000USD/tháng, tại quảng trường Times – New York cho Tân Hoa Xã năm 2010…). Còn nữa, hẳn không có nhiều người để ý chi tiết rằng, TQ là nước góp quân nhiều nhất cho lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc (hơn bất cứ thành viên thường trực nào trong Hội đồng bảo an) – như được viết trong bài báo của Michael Fullilove (Washington Quarterly, Summer 2011).
Chủ thuyết ngoại giao “hòa bình quật khởi” (phát triển trên tinh thần hòa bình) của giới lãnh đạo Bắc Kinh tất nhiên cũng nằm trong tinh thần của việc “mua tiếng thơm” cốt tạo dựng quyền lực mềm. Trong bài xã luận (không đề tên tác giả), Tân Hoa Xã (13/6/2011) bày tỏ: “Cuối năm ngoái, Ủy viên Bộ Chính trị đặc trách đối ngoại Đới Bỉnh Quốc đã dẫn giải chi tiết về chiến lược phát triển hòa bình của TQ. Trong bài viết dài mang tựa “Sự cam kết phát triển hòa bình”, Đới tiên sinh nói rằng, TQ cần hợp tác với các nước trên tinh thần tất cả cùng có lợi, thay vì đi theo con đường chủ nghĩa bá quyền nhằm phục vụ lợi ích riêng quốc gia. Theo ngôn ngữ diễn đạt của Đới tiên sinh, cam kết TQ đối với sự phát triển hòa bình “sẽ không thay đổi trong 100 năm hoặc thậm chí 1.000 năm”!

Khi niềm tin không còn…
TQ đang chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng khi con bồ câu quyền – lực – mềm đã bị con diều hâu bành – trướng – chủ – nghĩa của chính họ xơi tái. Tại châu Âu, Ủy viên EU đặc trách công nghiệp kiêm Phó chủ tịch Hội đồng châu Âu – Antonio Tajani (Italia) – cùng một số viên chức EU tại Tây Ban Nha, Italia và Pháp đã chẳng giấu giếm khi nói rằng, các công ty TQ mua doanh nghiệp châu Âu cốt để ăn cắp kỹ thuật. Bày tỏ việc muốn thành lập một tổ chức tương tự Ủy ban Giám sát đầu tư nước ngoài Hoa Kỳ, Antonio Tajani nói rằng, đã “đến lúc trang bị phòng cháy trước khi căn nhà bị thiêu”, rằng “chúng tôi muốn biết chắc ai đang đầu tư vào châu Âu và tại sao”…
http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/TQ-1.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/TQ-1.jpg?fd2eae)
Tần suất gây hấn với cường độ cao tại Biển Đông khiến TQ ngày càng bị cô lập tại Đông Nam Á

Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu từng cảnh báo: Việc TQ vuốt ve các nước nhỏ Đông Âu sẽ giúp họ xây dựng được quan hệ sâu và nhờ đó có thể đạt được những lợi ích đầu tư kinh tế lẫn chính trị, khi gián tiếp dùng và thông qua những quân cờ nhỏ tạo được sức ép ảnh hưởng đối với các nước lớn khác trong EU. Trong bài báo về sự hiện diện TQ tại châu Âu, tác giả Vivian Ni viết: “Người ta tin rằng nhiều thương vụ đầu tư của TQ không chỉ xuất phát từ lợi ích kinh tế mà còn là lợi ích ngoại giao và địa chính trị”…
Ngay cả một châu Phi từng mở rộng cửa đón chào giới đầu tư TQ cũng đang thận trọng với anh bạn bất khả tín này. Tại Zambia, Tổng thống Michael Sata bắt đầu “thách thức sự thống trị công nghiệp đồng của nước này” – theo cách viết Wall Street Journal (7/6/2012). Trong khi đó, cựu Tổng thống Nam Phi Thabo Mbeki đã cảnh báo hiện tượng thực dân hóa châu Phi của TQ. Tại châu Á, có lẽ cú đòn đau nhất đối với Bắc Kinh là việc Myanmar hoãn một dự án thủy điện 3,6 tỉ USD…
Thật khó để xây dựng quyền lực mềm thành công với tư cách “quốc gia số một châu Á” và “thứ bảy thế giới” về ảnh hưởng văn hóa mà song song đó lại là việc “xây dựng” hình ảnh (đang ngày càng trở thành) “quốc gia số một châu Á” về “điểm” ngạo mạn cũng như đứng đầu về “chỉ số” gây hấn. Việc bật đèn xanh, nếu có, để báo chí trong nước “tự kỷ ám thị” quốc gia họ là “số một” châu Á – Thái Bình Dương với đầy đủ quyền hạn tranh chiếm Biển Đông là một chính sách cực kỳ nguy hiểm. Cái lối “tự kỷ ám thị” như vậy không chỉ đang làm lở loét hình ảnh không đáng có của TQ mà còn làm phá sản toàn bộ công cuộc xây dựng quyền lực mềm mà Bắc Kinh đã bỏ hàng tỉ tỉ đôla để mua được, nếu cân đo bằng thang vật chất, hoặc hàng tỉ tỉ neuron tư duy, nếu đong đếm bằng thang tinh thần…
Vài năm gần đây, giới học giả và nghiên cứu chính trị TQ vẫn tranh luận gay gắt về sự chọn lựa giữa chủ thuyết “Thao quang dưỡng hối” và chủ trương “Hữu sở tác vi” (Hành động để chiếm hữu). Với những gì đang xảy ra, phe “tác vi” hẳn đã chiếm thượng phong so với phe “dưỡng hối”. Hậu quả, cái cách “anh” nhìn thế giới như thế nào sẽ được thế giới nhìn lại “anh” như thế. “Anh” đã tự đẩy mình ra vị trí trở thành kẻ đơn độc đối đầu với phần còn lại. Chẳng phải tự nhiên mà Giáo sư chính trị học Mỹ gốc Hoa Bùi Mẫn Hân đã gọi TQ là “siêu cường cô đơn nhất” (Foreign Policy 20/3/2012) và Joseph S. Nye (cha đẻ của khái niệm “quyền lực mềm”) nói rằng, quyền lực mềm TQ đang ngày càng bị “thâm hụt” (Wall Street Journal 8/5/2012).
M.Kim(Năng lượng Mới số 128, ra thứ Ba ngày 12/6/2012)

dongdoi_f2
20-06-2012, 01:51 PM
Có không một cuộc chiến tranh Trung-Nhật? (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/06/co-khong-mot-cuoc-chien-tranh-trung-nhat)


(Petrotimes) - Mỹ cho rằng so với tình hình Biển Đông, tình hình biển Hoa Đông hiện nay có nhiều khả năng nổ ra chiến tranh hơn. Mỹ quan tâm nhất là chiến tranh tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc với Nhật Bản liệu có dẫn tới sự tham chiến của Mỹ hay không vì cũng giống Philippines, Nhật là đồng minh của Mỹ?

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/hai-quan-nhat.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/06/co-khong-mot-cuoc-chien-tranh-trung-nhat/attachment/hai-quan-nhat)
Nhật Bản đang cân nhắc khả năng triển khai một loạt tàu khu trục Aegis tối tân của Lực lượng Phòng vệ Hàng hải đến vùng biển quốc tế ngoài khơi bán đảo Triều Tiên. Đây là khu vực nằm ngay cửa ngõ Trung Quốc.

Báo HongKong Văn Hối ra ngày 18/6, đăng một báo cáo của Trung tâm An ninh mới của Mỹ (CNAS) dẫn lời một chuyên gia bình luận quân sự Mỹ cho biết Lực lượng Phòng vệ trên biển của Nhật Bản đã trở thành lực lượng hải quân mạnh nhất ở bờ Tây Thái Bình Dương. Chính phủ Nhật Bản xưa nay chưa hề ngừng nỗ lực hiện đại hóa hải quân, không ngừng đưa chiến hạm loại mới, máy bay hải quân loại mới và hệ thống vũ khí hải quân vào hoạt động. Hành động này không thể không dẫn tới sự cảnh giác của các nước châu Á từng chịu sự xâm lược của Nhật Bản.
Một điều dễ nhận thấy là trong thời gian gần đây, có không ít báo chí đề cập tới khả năng nổ ra chiến tranh Trung-Nhật. Hai bên không chỉ có ân oán lịch sử sâu sắc, thù hằn dân tộc khó có thể rũ bỏ, mà tranh chấp biển đảo hiện nay giữa Trung Quốc và Nhật Bản đang ngày càng có xu thế leo thang. Điều quan trọng hơn, Nhật Bản từng giữ vị trí lãnh đạo châu Á và nay vị trí này đã phải “nhường” cho Trung Quốc. Với lòng tự hào dân tộc cao, cả hai bên đều quyết tâm giành được vị trí này. Với những lý do trên, không ít ý kiến cho rằng Trung Quốc và Nhật Bản chỉ có thể thông qua một cuộc chiến tranh, có thể là một cuộc quyết chiến, mới có thể giải quyết được các vấn đề trên.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/hd1.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/06/co-khong-mot-cuoc-chien-tranh-trung-nhat/attachment/hd1)
Tàu chiến Trung Quốc bắn tên lửa trong một cuộc tập trận ở biển Hoa Đông đầu năm nay.

Thiếu tướng Dương Nghị, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Đại học Quốc phòng (Trung Quốc), chỉ ra rằng Trung Quốc và Nhật Bản đang tích cực tạo dựng lực lượng quân sự tại khu vực biển Hoa Đông, “khi một bên ép bên kia vào góc chết, lúc đó khoảng cách chiến tranh (Trung-Nhật) không còn xa nữa”. Nhiều báo chí Trung Quốc và quốc tế mới đây dẫn lời nhiều chuyên gia đánh giá về vấn đề này, các ý kiến đều cho rằng hai bên có lực lượng quân sự tương đương, nếu nổ ra chiến tranh, cả hai sẽ đều là kẻ bại trận.
Chuyên gia bình luận quân sự Trung Quốc Quách Tuyên cho biết, căn cứ vào ý tưởng mới của Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản, lực lượng này cần có ít nhất 10 chi đội tàu khu trục, do vậy, Nhật Bản đã bắt đầu một kế hoạch đóng tàu mới. Theo đó, Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản đang chuẩn bị đóng thêm 4 tàu khu trục mang tên lửa Aegis lớp “Kim cương” nhằm nâng số tàu tác chiến chủ lực lên 40 chiếc. Nhật Bản ngoài hai tàu sân bay chuyên chở máy bay trực thăng, còn có kế hoạch tới trước năm 2015 đóng mới 2 tàu sân bay loại hạng nhẹ 40.000 tấn dùng để chở máy bay trực thăng và máy bay cảnh báo sớm E-2. Một khi các kế hoạch này hoàn tất, Nhật Bản sẽ có 4 cụm tàu sân bay, trở thành một nước lớn về quân sự trên biển chỉ sau Mỹ.
Theo Quách Tuyên, so sánh về điều này, hải quân và không quân Trung Quốc mấy năm gần đây cũng có bước phát triển rất lớn, số lượng máy bay chiến đấu hiện đại, tàu ngầm và tàu nổi loại lớn không ngừng gia tăng, năng lực tấn công vì thế cũng rất mạnh. Tuy nhiên, xét tổng thể trình độ mới cũ các chiến hạm của hải quân, hải quân Trung Quốc vẫn còn lạc hậu hơn so với lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản. Đặc biệt, trong lĩnh vực nắm bắt kỹ thuật tác chiến hải quân hiện đại, do thường xuyên tiến hành diễn tập quân sự với hải quân các nước tiên tiến như Mỹ, nên lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản trong lĩnh vực này cao hơn nhiều so với hải quân Trung Quốc. Mặc dù vậy, trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo, dù về số lượng hay về tính năng, Trung Quốc đều có ưu thế áp đảo so với Nhật Bản. Giả sử đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là Senkaku) nổ ra xung đột quân sự, quân đội Trung Quốc có thể phối hợp tấn công bằng cả tên lửa, máy bay và tàu chiến, năng lực tác chiến không thể xem nhẹ.

http://www.petrotimes.vn/wp-content/uploads/2012/06/map-Senkaku.jpg?fd2eae (http://www.petrotimes.vn/the-gioi-phang/2012/06/co-khong-mot-cuoc-chien-tranh-trung-nhat/attachment/map-senkaku)
Đảo Điếu Ngư/Senkaku đang là nguồn gây xung đột giữa Trung Quốc và Nhật Bản

Quách Tuyên cho biết điều quan trọng nhất là đảo Điếu Ngư cách Trung Quốc Đại lục 330 km, cách Okinawa của Nhật Bản 410 km, do vậy, đảo Điếu Ngư không chỉ nằm trong tầm bắn của các tên lửa đạn đạo tầm ngắn của Trung Quốc như Đông Phong 11 và Đông Phong 15, mà còn nằm trong bán kính tác chiến của lực lượng máy bay hải quân Trung Quốc, cộng với sự yểm hộ của tàu ngầm hạt nhân và tàu đổ bộ, các lực lượng quân sự của Trung Quốc có sức uy hiếp khá lớn đối với các hạm đội Nhật Bản. Tuy nhiên, do cả hai bên đều có lực lượng quân sự tương đương, nếu giữa hai bên nổ ra một cuộc chiến tranh quy mô lớn, sẽ không có bên nào giành chiến thắng.
Theo kiến nghị của Quách Tuyên, trước sự bức ép từng bước của Nhật Bản, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cần gấp rút tăng cường quân bị, ra sức phát triển các loại “ống sát thủ” (tên lửa đạn đạo Đông Phong) đầy uy lực, chỉ có vậy mới có thể khiến Nhật Bản bình tĩnh trở lại.
Th.Long (Tổng hợp)

dongdoi_f2
04-07-2012, 07:49 PM
Thật khủng khiếp về “Sự tuyệt vời của Điện Hạt Nhân” !



(Tamnhin.net) - Vấn đề liên quan đến việc xây dựng đề án tăng trưởng xanh. Taamnhin.net trân trọng giới thiệu bài phát biểu về điện hạt nhân của PGS. Koide Hiroaki,Phòng thí nghiệm lò phản ứng nguyên tử;Đại học Kyoto (Nhật Bản)để độc giả và các nhà khoa học tham khảo và đưa ra nhận định vấn đề "Điện hạt nhân" có nguy cơ ảnh hưởng đến phát triển tăng trưởng xanh hay không ?




http://tamnhin.net/Uploaded/thanhlongtn/Images/2012/thang%207-2012/1/japans-power-plant-explosion.jpg





Trong khi tôi chuẩn bị dẹp 3 chữ “Điện Hạt Nhân” sang một bên để bắt đầu một tuần mới tập trung hơn cho công việc của bản thân, một cơ duyên đã mang tôi đến với buổi nói chuyện của ông Koide Hiroaki, Phó giáo sư tại phòng thí nghiệm lò phản ứng nguyên tử, Đại học Kyoto và cũng là một trong những học giả dẫn dắt phong trào xóa bỏ Điện hạt nhân (ĐHN) tại Nhật.


Xin tóm tắt buổi nói chuyện dài 3 tiếng đồng hồ, trong một hội trường gần 1000 người chật kín này để mọi người tham khảo.

Điện hạt nhân: sự phung phí năng lượng hâm nóng đại dương?

Mở đầu bài phát biểu, giáo sư cho biết điện hạt nhân không khác gì so với nhiệt điện ở chỗ cả hai đều dùng nhiệt sinh ra từ nhiên liệu làm bốc hơi nước để quay tua-bin. Tuy nhiên, điện hạt nhân là nhà máy có hiệu suất nhiệt kém hơn, chỉ là 33% so với 50% của nhiệt điện.

Cụ thể hơn, để vận hành một nhà máy điện hạt nhân công suất 100 vạn kW thì lò hạt nhân phải sinh ra một lượng nhiệt là 300 vạn kW! Tức là 200 vạn kW năng lượng phải bị bỏ phí!!!

Khốn nạn hơn, lượng nhiệt thừa này đang được đưa ra ngoài bằng cách làm nóng nước đưa vào lò, và cứ thế thải thẳng ra biển!

Cách làm này ấn tượng ở chỗ nó có thể nâng nhiệt độ của 70 tấn nước lên 7 độ C trong vòng…1 giây!

Lượng nước này có thể làm nóng bờ biển quanh Nhật Bản, có thể giải thích cái thực tế rằng tốc độ nóng lên của biển Nhật Bản cao hơn mức trung bình của thế giới từ 2-3 lần!

Các sinh vật biển quanh nhà máy ĐHN không thể sống nổi nếu ngâm onshen (hot-spring) mỗi ngày như vậy! Và cũng đừng vội tin rằng C02 là nguyên nhân làm Trái Đất nóng lên!

Điện hạt nhân: một cách đứng lên từ thương đau chiến tranh?

Để sản sinh một lượng nhiệt như vậy, nhà máy DHN như trên phải phân hủy 3 kg uranium/ ngày.

Ba Kilogram có thể rất gọn nhỏ, nhưng hãy nhớ về thảm họa hạt nhân ở Nhật năm 1945: quả bom hạt nhân ở Hiroshima CHỈ chứa 800 gram uranium, và ở Nagasaki CHỈ chứa 1.1 kg plutonium!

Có nghĩa là, xây dựng một nhà máy ĐHN công suất 100 vạn kW có nghĩa là cho nổ 3-4 quả bom nguyên tử ở 2 thành phố kia hằng ngày!

Nhật Bản bắt đầu ĐHN từ năm 1966 và cho đến nay, Nhật Bản đã cho nổ tổng cộng hơn 1 triệu 1 trăm (1,100,000) quả bom nguyên tử như vậy trên khắp đất nước. Con số quá ấn tượng!

Điện hạt nhân: xây nhà không có cầu tiêu?

Rác thải phóng xạ từ các vụ nổ đó được quản lý như thế nào?

Rác có mức phóng xạ cao được chuyển sang Anh và Pháp để làm cô đặc lại thành một khối cứng rồi chở ngược về lại Nhật Bản để …chờ. Nên nhớ chờ đợi rất quan trọng, vì chúng ta không có phương pháp nào để làm mất độc tính của phóng xạ một cách tích cực.

Trong khi chúng ta (Nhật Bản) chưa có cách xử lý thì rác vẫn cứ ùn ùn tuồn ra.
Hiện tượng này tương đương với việc chúng ta sống vui vẻ trong một căn nhà hiện đại mà không có …Toilet!!

Điện hạt nhân: Ai chờ, chờ ai?

Những loại rác có mức phóng xạ cao phải CHỜ có khi cả 1 triệu năm. Những loại rác có mức phóng xạ thấp cần được chôn xuống đất sâu (300-1000m) và chờ ít nhất là 300 năm!
Ai sẽ một lòng trung kiên chờ đợi?

1. Nhà sản xuất = các công ty điện lực?

Cuộc sống có điện và sự phụ thuộc vào điện đã trở thành quá hiển nhiên trong suy nghĩ của chúng ta. Không ai nhớ một sự thật là chỉ mới 61 năm trôi qua kể từ ngày 9 công ty điện lực Nhật Bản được đi vào hoạt động. Có nghĩa là chúng ra đã quên sạch cái ký ức về việc sống không có điện cách đây chỉ vài thập kỷ! Độ dài của 1 công ty là bao so với 300 năm, và ai sẽ đảm bảo là một công ty không bị phá sản trong suốt thời gian đó?

2. Người cho phép = Quốc gia?

Chúng ta tự hào rằng Nhật Bản là một quốc gia hiện đại. Nhưng nên nhớ rằng cái mầm mống của quốc gia đó chỉ mới được tạo nên từ thời Minh Trị, cách đây 144 năm. Ngay cả Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cũng chỉ có tuổi đời là 236 năm, chả thấm vào đâu so với con số 300 năm của một đống rác “hạng ba”, và 1 triệu năm của một đống rác “chất lượng cao” cả!

3. Vậy thì chỉ có nhân dân chịu trách nhiệm!

Lấy thời gian bán hủy của Cesium137 là 30 năm, tôi (PGS) chắc chắn rằng 30 năm sau, tôi và 1 nửa số người trong căn phòng này sẽ chết hết. Các vị trong chính phủ cũng chết, các giám đốc công ty điện lực cũng chết. Vậy thì ai sẽ chịu trách nhiệm trông giữ khối rác khổng lồ đó? Chúng ta không thể biết được xã hội sẽ thay đổi như thế nào sau 30 năm; chúng ta không đảm bảo được một cái gì cả, nên đừng hùng hổ tuyên bố là nhận trách nhiệm gì cả!

Điện hạt nhân: vì sao chúng ta đồng ý?

Thế nhưng rõ ràng là các nhà máy ĐHN vẫn được xây dựng rất nhiều ở đất nước chúng ta với một tinh thần trách nhiệm vĩ đại. Ngay cả khi không có sự cố thì điều này đã rất phi lý và bất thường!

Chúng ta dễ dàng đồng ý với việc xây dựng nhà máy ĐHN bởi vì chúng ta đã bị lừa bằng câu chuyện thần thoại về tính an toàn gần như tuyệt đối của ĐHN, được tuyên truyền mạnh bạo và rộng khắp qua các phương tiện truyền thông với sự tham gia của những học giả vô lương tâm và vô trách nhiệm.

Chúng ta dễ dàng đồng ý với việc xây dựng nhà máy ĐHN cũng bởi vì chúng ta đã quá vô tư và vô tâm với các biện pháp mà chính phủ đưa ra để giải quyết bài toán an toàn.

Đúng vậy, chúng ta có luật nói rằng cơ sở ĐHN và cơ sở sản xuất nguyên liệu hạt nhân không được xây ở những khu đông dân và những thành phố lớn.

Chính vì thế người dân Tokyo hài lòng vì TEPCO (công ty điện lực Tokyo) đã xây nhà máy ĐHN ở ngoài Tokyo, tức là ở…Fukushima cách Tokyo đến hơn 200 km!

Trong khi các nhà máy nhiệt điện được xây san sát nhau quanh vịnh Tokyo cung cấp điện hiệu quả, các nhà máy ĐHN cần hệ thống dây dẫn hàng trăm, thậm chí hàng ngàn km để dẫn điện từ khắp nơi về “cung phụng” cho Tokyo, với hao tổn đường truyền không hề nhỏ.

Chúng ta chẳng thèm quan tâm, bởi sự sung túc, tiện nghi quan trọng hơn sự thiệt thòi âm thầm của bao kẻ lạ mặt khác. Chúng ta sẵn sàng sống thoải mái trong một ngôi nhà tươm tất, sạch sẽ mặc cho phân ...ứt hôi tanh đổ ra ngoài và đổ lên đầu muôn vạn sinh linh khác.

Hãy đừng chỉ quy tội cho Chính phủ và công ty điện lực Tokyo. Hãy tự xem bản thân chúng ta có liên quan như thế nào trong việc hình thành nên đống rác hạt nhân và tai họa hạt khủng khiếp ngày hôm nay tại Fukushima. Và người bị lừa cũng phải có trách nhiệm một phần vì đã quá ngây thơ để người ta lừa!!!

PGS. Koide Hiroaki, Phòng thí nghiệm lò phản ứng nguyên tử

Đại học Kyoto (Nhật Bản)

dongdoi_f2
23-07-2012, 08:45 PM
Chạy đua tranh giành tài nguyên Bắc Cực

http://img.vietnamnet.vn/logo/vef.pngCuộc chạy đua nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Bắc Cực đang nóng lên khi hiện tượng ấm lên toàn cầu khiến việc tiếp cận vào khu vực băng giá này trở nên dễ dàng hơn.


Chiếc bánh ngọt nhiều vị

Công ty khai thác năng lượng hàng đầu thế giới của Hà Lan Royal Duch Shell – vừa leo lên vị trí số 1 thế giới về doanh thu theo xếp hạng của tạp chí Fobres, đang lên kế hoạch khoan 5 giếng dầu tại bang Alaska của Mỹ vào tháng tới. Đây sẽ là những mũi khoan đầu tiên từ phía Mỹ ở khu vực Bắc Cực trong nhiều chục năm qua và đó cũng trở thành dấu mốc mới nhất cho cuộc chạy đua âm thầm nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên của khu vực lạnh giá này.
Từ lâu, sự phát triển và bành trướng của các công ty năng lượng luôn bị các quốc gia giàu tài nguyên dầu lửa như Ả-rập Xê-út, Venezuela, Mehico kìm hãm và đe dọa đóng cửa các cơ sở sản xuất. Chính vì vậy, các công ty này nhìn nguồn năng lượng tiềm năng ở Bắc Cực như là một nguồn sống và sự bảo đảm cho tương lai của mình. Shell là một trong những hãng đi đầu khi tiến hành nhiều hoạt động thăm dò tại Alaska và có nhiều bước đi nhằm tiếp cận tới khu vực đảo băng Greenland. Công ty dầu khí Na Uy (STO) hiện khai thác các mỏ dầu ở biển Barents cũng đang dần tiến sát vùng biển phía bắc địa cầu và cạnh tranh với Chevron, tập đoàn dầu khí khổng lồ của Mỹ.





http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/07/23/00/20120723003020_baccuc29065159-845-713.jpg






Khí đốt và dầu mỏ được đánh giá là nguồn tài nguyên quý giá và dồi dào nhất ở Bắc Cực. Theo thống kê của Cơ quan địa chất Mỹ, Bắc Cực chiếm khoảng 13% trữ lượng dầu mỏ và 30% lượng khí đốt của thế giới (tương đương với 1670 nghìn tỷ m3) chưa được khai thác. Đó là chưa kể lượng dầu và khí ga khác như hydrocacbon trong đá phiến dầu hoặc khí metan ở vùng thềm lục địa. Từ ba năm qua, các tập đoàn Shell, Maersk Oil, Statoil, Cairn Energy đã tiến hành nhiều hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng vịnh Baffin thuộc Greenland và đã có 30 tập đoàn của Trung Quốc, Anh, Canada, Úc và Greenland thăm dò khoáng sản trên đảo. Trong số các tập đoàn khai thác khoáng sản đang hoạt động tại khu vực này, 58% mang quốc tịch Canada hoặc Úc, khối EU chỉ chiếm 15% và hoạt động tích cực nhất hiện nay là Trung Quốc.
Theo chính quyền địa phương Greenland, các nhà đầu tư Trung Quốc sẵn sàng đổ hàng tỉ kroner đầu tư để tham gia cuộc đua khai thác khoáng sản dưới hình thức đầu tư trực tiếp hoặc liên doanh với các tập đoàn Anh, Úc đã có giấy phép khai thác. Các tập đoàn quốc doanh lớn như China Communication Construction Company và Sinosteel đã liên kết với London Mining (trụ sở chính đặt tại Toronto) để thành lập London Mining Greenland. Công ty này đã đầu tư 13 tỉ kroner (khoảng 2,28 tỉ USD) vào mỏ sắt tại Isua, phía tây bắc thủ phủ Nuuk của Greenland, dự kiến đi vào hoạt động năm 2015-2016.
Các tập đoàn Trung Quốc cũng đã thăm dò mỏ kẽm tại vịnh Citronfjord, gần Bắc cực, đầu tư 70 triệu USD vào mỏ đồng tại Ittoqqortoomit thuộc vùng duyên hải đông nam Greenland, xúc tiến các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sắt, sân bay tại Nuuk và đang đẩy mạnh kế hoạch khai thác đất hiếm.
Trên đây chỉ là một số trong nhiều thỏa thuận và kế hoạch khai thác dầu khí được công bố thời gian gần đây. Ở tầm quốc gia cuộc tranh giành lãnh thổ và tài nguyên Bắc Cực đã bắt đầu từ lâu giữa các nước Mỹ, Canada, Na Uy và Trung Quốc, Nga. Các nước này đã tích cực triển khai lực lượng hải, không, lục quân ở khu vực xung quanh Bắc Cực, nhằm giành được thế chủ động và nắm bắt trước thời cơ.
Người Nga là những người nhanh chân hơn cả. Ngay từ năm 2001, Nga đã tuyên bố với Liên Hợp Quốc chủ quyền biển hàng chục nghìn km² ở Bắc Cực. Năm 2001, Nga đã đệ trình lên Ủy ban Phân định ranh giới thềm lục địa của LHQ yêu cầu công nhận 1,2 triệu km2 dưới lòng biển từ đỉnh hai núi ngầm Lomonosov và Mendeleev đến Bắc cực. Diện tích này rộng bằng tổng diện tích ba nước Pháp, Đức và Ý. Với tư cách là hạm đội mạnh nhất của Hải quân Nga, các căn cứ triển khai của Hạm đội Biển Bắc đều bao quanh Bắc Cực, tổng cộng có hơn 30 tàu ngầm chiến lược, chiến thuật và đặc chủng, cộng với tàu ngầm hạt nhân.
Sau này, Na Uy, Đan Mạch và Canađa đưa ra những “yêu cầu lãnh thổ” tại Bắc Cực với Liên Hợp Quốc. Bộ tài nguyên và năng lượng Nga cho rằng, chỉ tính trong khu vực Bắc Băng Dương thuộc sở hữu của Nga thì đã có hơn 10 tỉ tấn dầu thô và khí gas, trị giá ước đạt 2000 tỉ USD. Phương tiện truyền thông của Đức tiết lộ chỉ tính riêng khu vực nhánh biển Ba-lon có thể khai thác được 580 tỉ thùng dầu thô, gấp 2 lần trữ lượng dầu thô của Ả rập Xê út.
Cùng với dầu mỏ và khí đốt, Bắc Cực cũng là một nơi rất giàu tiềm năng khoáng sản và cá. Bắc Cực có những mỏ quặng sắt, kẽm, niken, vàng, uranium và nhiều loại khoáng sản khác với trữ lượng thuộc loại lớn nhất thế giới. Hiện nay, mỏ kẽm lớn nhất thế giới hiện đang ở bang Alaska của Mỹ, trong khi đó một mỏ niken lớn nhất thế giới cũng được phát hiện ở vùng lãnh thổ Bắc cực của Nga. Cá cũng là một nguồn tài nguyên hết sức quan trọng và dồi dào ở Bắc Cực và trữ lượng khai thác có thể sẽ ngày càng lớn hơn khi nhiều diện tích mặt nước được giải phóng và thu hút nhiều loại các di cư từ phía Bắc xuống.
Miếng ngon nhưng khó nuốt
Tuy nhiên, trên thực tế việc khai thác dầu mỏ ở quy mô lớn tại Bắc Cực được dự đoán sẽ vẫn là một quá trình dài. Nguyên nhân chính là do khu vực này vẫn thiếu một cơ sở hạ tầng cần thiết để xây dựng giếng dầu, hút dầu thô lên khỏi lớp băng dày như hệ thống đường ống, cảng nước sâu, đường băng cho máy bay và nhà ở. Trong khi đó, việc phân định quốc gia nào sở hữu phần tài nguyên không lồ trên vẫn còn đang là vấn đề tranh cãi.
Một trong những thách thức lớn nhất đối với việc tiếp cận nguồn năng lượng tại Bắc Cực là xử lý những tảng băng trôi. Áp lực do những phiến băng khổng lồ gây nên có thể làm thiết bị khai thác thông thường gãy vỡ. Có khi lớp dưới bề mặt của các đường ống dẫn và miệng giếng dầu bị các tảng băng trôi ngầm bịt lại. Cần có những công nghệ vượt trội mới có thể khai thác được dầu ở Bắc Cực. Mặt khác, việc khai thác dầu và khí đốt tại đây hẳn sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể cho môi trường tự nhiên và nguồn kiếm sống của nhưng cư dân sống quanh vùng Bắc Cực.
Chính vì những lý do đó, tiến trình khai thác dầu tại Bắc Cực đang được triển khai song với tốc độ rất chậm chạp và thời điểm tốt nhất để khoan các giếng dầu chỉ là vài tháng trong mùa hè. Đó là lý do tại sao thời điểm này trong năm, các hãng năng lượng như Shell đang tập trung nguồn lực để triển khai các kế hoạch tham vọng của mình. Nhưng ngay cả khi Shell triển khai kế hoạch khai thác dầu đầu tiên tại Bắc Cực vào tháng tới, có thể tập đoàn này sẽ phải đợi hàng năm mới có thể lấy được những thùng dầu đầu tiên. Và chắc sẽ phải đợi tới 10 năm hoặc hơn nữa để hút được lượng lớn dầu khỏi đáy biển Bắc Cực.
Như vậy là quá trình tan chảy của Bắc Cực đã mở ra nhiều tiềm năng mà con người có thể khai thác nhưng liệu con người có thể chạm tới chúng mà không hủy hoại toàn diện môi trường ở đây và liệu nguồn tài nguyên ở Bắc Cực có thể bù đắp được thiệt hại do hiện tượng nóng lên toàn cầu là một vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.

A Vũ (Tổng hợp)

dongdoi_f2
25-07-2012, 01:34 PM
Hợp tác dầu khí Việt - Nga 'đơm hoa kết trái'

Nhà báo lão thành Nga từng nhiều năm theo dõi về Việt Nam, rành tiếng Việt và đang làm việc tại Đài phát thanh "Tiếng nói nước Nga", ông Alekssey Sjunnerberg, nhận xét: Việt Nam không chỉ là nước XHCN duy nhất đang trả món nợ tồn đọng từ thời Liên Xô cũ cho Nga thông qua việc cung cấp hàng tiêu dùng và lương thực - thực phẩm, mà còn là nước hữu nghị duy nhất đang mang lại cho Nga nguồn thu 800 triệu - 1 tỷ USD/năm từ sự hợp tác về dầu khí.

Nhà báo Nga vốn coi Việt Nam là tổ quốc thứ hai của mình khẳng định hợp tác dầu khí và năng lượng giữa Nga và Việt Nam đang "đơm hoa kết trái" và hứa hẹn sẽ giành nhiều thành tích lớn hơn nữa trong tương lai. Ông kể với chúng tôi ông từng chứng kiến lễ ký hiệp định thành lập Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsopetro năm 1980 cùng lễ ký hiệp định ngày 27/12/2010 tại Hà Nội nhằm gia hạn thời gian hoạt động của "đứa con cưng của hai nước" đến ngày 31/12/2030.






http://tintucimg.vnanet.vn/2012/07/25/09/13/Vietsopetro.jpg
Hai giàn khoan khai thác dầu khí của Vietsopetro ở thềm lục địa Việt Nam. Ảnh: TTXVN




Không ngẫu nhiên nhà báo Sjunnerberg ca ngợi thành tích to lớn của sự hợp tác dầu khí Nga - Việt. Qua 30 năm hoạt động, Vietsopetro đã khai thác gần 200 triệu tấn dầu mỏ, chiếm gần 60% tổng sản lượng dầu mỏ và gần 100% tổng sản lượng khí đốt của Việt Nam. Hiện Vietsopetro đã trở thành ngọn cờ đầu của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam và lọt vào nhóm 10 công ty khai thác dầu khí đạt hiệu quả kinh tế cao nhất thế giới.

Hai nước không chỉ có duy nhất "một con cưng" trong ngành thăm dò và khai thác dầu khí, mà nhiều liên doanh khác đã lần lượt ra đời trong thời gian qua. Theo thỏa thuận của chính phủ hai nước, tháng 7/2008, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PetroVietnam hay PVN) và Tập đoàn Zarubezneft của Nga đã thành lập Xí nghiệp liên doanh "RusVietPetro" (RVP) nhằm tham gia phát triển các mỏ dầu tại Nga và các nước thứ ba, trước hết là tại Cuba.

Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của vùng cực Bắc nước Nga, RVP và các nhà thầu đã thực hiện một khối lượng công việc rất lớn để đến ngày 30/9/2010 đón dòng dầu đầu tiên từ mỏ Bắc Khosedaiu và cũng là dòng dầu đầu tiên từ nước Nga. Ngày 29/7/2011, RVP đã đón dòng dầu đầu tiên từ mỏ Visovoje và đến cuối tháng 8/2011 đã khai thác được 1 triệu tấn "vàng đen". Vào ngày 29/7/2012, RVP sẽ đón dòng dầu đầu tiên từ mỏ Tây Khosedaiu với sự chứng kiến của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Năm 2012, sản lượng khai thác của RVP sẽ tăng lên hơn 2 triệu tấn và sẽ đạt mức 5 - 5,5 triệu tấn/năm vào năm 2018.

Ngoài Zarubezneft, một doanh nghiệp lớn khác của Nga tham gia liên doanh dầu khí với Việt Nam là Tập đoàn công nghiệp khí đốt Gazprom. Tháng 11/2006, Gazprom và PetroVietnam đã ký thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực khai thác, vận chuyển và chế biến dầu khí. Trên cơ sở đó, hai bên đã thành lập Xí nghiệp liên doanh VietGazprom tại Việt Nam và tháng 5/2008, hai bên tiếp tục ký thỏa thuận thành lập Xí nghiệp liên doanh GazpromViet để thăm dò, khai thác dầu khí ở Nga và các nước thứ ba với tỷ lệ góp vốn Gazprom 51% và PetroVietnam 49%.

Cũng theo thỏa thuận đã đạt được, PVN và Gazprom sẽ thành lập Liên doanh dầu khí Nga - Việt tại LB Nga (GazpromViet Oil and Gas Company - GazpromViet) để điều hành hoạt động thăm dò khai thác dầu khí tại mỏ Nagumanovsk ở Nga.

Hiện PVN và Tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga đang hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí rất hữu hiệu tại thềm lục địa Việt Nam cũng như trong khuôn khổ Liên doanh GazpromViet tại Nga. Ngoài ra, Tập đoàn dầu khí TNK-BP và Tập đoàn dầu mỏ Lukoil của Nga cũng đang tích cực tham gia vào các dự án dầu khí tại Việt Nam.

Cung cấp dầu thô cho nhau là một hướng hợp tác mới giữa Nga và Việt Nam. Ngày 29/9/2010, tại Mátxcơva, Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV OIL) thuộc PVN và Tập đoàn dầu mỏ TNK-BP của Nga đã ký hợp đồng về cung cấp dầu thô ESPO với lô đầu tiên gồm 100.000 tấn.

Đào tạo cán bộ và các chuyên gia dầu khí lành nghề cũng đang mở ra cho Việt Nam và LB Nga một triển vọng hợp tác mới. Tháng 4 vừa qua, trường Đại học dầu khí Việt Nam đã ký với trường Đại học Tổng hợp dầu khí Mátxcơva mang tên Gubkin thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn.

Các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo hai nước như chuyến thăm Việt Nam năm 2001 của Tổng thống Nga Vladimir Putin, chuyến thăm Nga năm 2007 và 2009 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chuyến thăm Nga năm 2010 của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cùng chuyến thăm lần này của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, đang góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác cùng có lợi và đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - LB Nga phát triển mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa.



Đình Lanh (P/v TTXVN tại Nga)

dongdoi_f2
01-08-2012, 03:51 PM
Xu hướng thị trường xuất khẩu khí đốt thế giới sắp tới (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/xu-huong-thi-truong-xuat-khau-khi-dot-the-gioi-sap-toi.html)

Theo đánh giá, Úc sẽ trở thành nước xuất khẩu khí đốt thiên nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới, vượt Qatar, nhờ nguồn tài nguyên khổng lồ ước tính cho phép nước này khai thác hơn một thế kỷ.



http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/duyhung/072012/31/23/LNG_Australia.jpg

Úc sẽ trở thành nước xuất khẩu khí đốt thiên nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới trong thời gian tới
Có 7/10 dự án LNG lớn nhất thế giới hiện nay đang được xây dựng tại Úc, đã thu hút vốn đầu tư hơn 176 tỷ đôla Úc (150 tỷ euro) kể từ năm 2007. Chris Graham, nhà phân tích của Wood Manckenzie, nói: "Các dự án trên hiện đang tiến triển và sẽ đưa chúng tôi vượt Qatar. Vấn đề chỉ là thời gian”. Qatar, nước xếp số 1 thế giới về sản xuất LNG (sản lượng 77 triệu tấn/năm trong năm 2011) hiện quản lý 3 mỏ khí có trữ lượng lớn nhất thế giới. Các nước xuất khẩu khí đốt hàng đầu khác gồm Indonesia (số 2), Malaysia (số 3) và Úc (số 4).

Chính phủ Úc cho rằng nước này sẽ vượt Qatar trước năm 2020, do nhu cầu nhập khẩu LNG từ Trung Quốc gia tăng (năm 2011 tăng 1/3 lượng LNG nhập khẩu). Tiếp đó là Ấn Độ, nước sẽ nhập khẩu LNG tăng gấp ba hiện nay vào năm 2015. Năm 2011, Úc đã xuất khẩu 18,9 triệu tấn LNG, đạt 11,1 tỷ đôla Úc. Nhờ vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác đã ký kết hay đang xây dựng, sản lượng LNG sẽ đạt 63 triệu tấn từ nay đến giai đoạn 2016/2017. Các dự án khác cũng có thể cung cấp tới 100 triệu tấn, tức biến Úc thành nước sản xuất số 1 thế giới từ nay đến cuối thập niên này.

Bộ trưởng Tài nguyên Úc Martin Ferguson đánh giá: "Từ nay đến năm 2017, dựa vào các dự án mới, sản lượng LNG của Úc sẽ tăng gấp 4 lần”. Việc gần các cường quốc mới nổi, như Trung Quốc và Ấn Độ đang khát nguyên liệu, sẽ tạo đà cho nền kinh tế Úc phát triển và nhanh chóng thoát khỏi giai đoạn suy thoái kinh tế 2008/2009. Theo các chuyên gia, LNG sẽ là nguồn năng lượng có nhu cầu gia tăng tại châu Á thời gian tới. Úc sẽ là nhà cung cấp hàng đầu cho các nước Đông Á bởi nước này ít có rủi ro về chính trị. Nhà phân tích Chris Graham nhấn mạnh: “Các nước sẽ có xu hướng gia tăng nhập khẩu LNG từ Úc. Các nước mới nổi đang từng bước giảm dần sự phụ thuộc vào than đá để chuyển sang sử dụng LNG, nguồn tài nguyên sạch phục vụ sản xuất điện”.

Bộ trưởng Ferguson mới đây nhận định khí thiên nhiên ngày càng được các nền kinh tế phát triển sử dụng bởi phục vụ nhiều mục đích và thải ra ít khí cácbon hơn các nguồn nguyên liệu hóa thạch khác. Adrian Wood, nhà phân tích của Macquarie Securities, cũng đánh giá Úc sẽ chiếm ngôi số 1 của Qatar từ nay đến 2020, song điều này còn phụ thuộc vào việc khai thác tại Mỹ hay nhiều khu vực khác tại châu Phi. Những khó khăn đối với lĩnh vực khai thác khí đốt của Úc là giá thành tăng cao do ở xa các mỏ khí ngoài khơi, phải mất một thời gian tương đối lâu để xây dựng cơ sở hạ tầng và đòi hỏi những nguồn đầu tư lớn.

Theo một báo cáo của Phòng tài nguyên năng lượng Úc, vốn đầu tư khai thác được đánh giá ở mức từ 3-4 tỷ đôla Úc/1 triệu tấn công suất, tức cao hơn nhiều so với giá thành đầu tư khai thác khí đốt tại Papua Niu Ghinê hay Ănggôla. Tại Ănggôla, vốn đầu tư khai thác chỉ ở mức 1,7 tỷ USD (1,4 tỷ euro)/1 triệu tấn công suất. Theo bản báo cáo, chi phí khai thác tại Úc được xếp ở mức đắt nhất thế giới, bên cạnh giá chi phí lao động và giá đồng đôla nước này cao. Đổi lại, Úc có hệ thống chính phủ ổn định, an ninh bảo đảm, quyền sở hữu tài sản được quy định rõ ràng… nên khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài.


Th.Long (Theo AFP)

dongdoi_f2
01-08-2012, 03:56 PM
Nghịch lý xăng dầu ở Venezuela (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/nghich-ly-xang-dau-o-venezuela.html)

Venezuela là một cường quốc dầu mỏ trên thế giới với trữ lượng được kiểm chứng lên tới gần 300 tỷ thùng, được coi là nhiều nhất thế giới. Venezuela cũng là quốc gia có giá xăng bán lẻ rẻ nhất trên thế giới với chỉ 0,03 USD/lít. Tuy nhiên, nghịch lý nằm ở chỗ phần lớn lượng xăng và các sản phẩm từ dầu mỏ khác tiêu thụ tại quốc gia Nam Mỹ này đều được nhập khẩu từ nước ngoài.



http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/duyhung/082012/01/00/chaves_oil.jpg

Tổng thống Hugo Chavez: “Tốt hơn là chúng ta nên cho không chứ bán xăng với giá như hiện nay thì thật là thô thiển”


Việc Venezuela không chú trọng đầu tư xây dựng các nhà máy lọc dầu mới cũng như bảo dưỡng và nâng cấp các nhà máy hiện có là những nguyên nhân chính khiến sản xuất trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, buộc chính phủ phải bỏ ra hàng tỷ USD để nhập khẩu các sản phẩm từ dầu mỏ.
Không có nơi nào trên thế giới có giá xăng rẻ như Venezuela (0,03 USD/lít), thậm chí còn rẻ hơn cả một chai nước lọc. Giá xăng ở Venezuela rẻ hơn Mexico 30 lần, rẻ hơn nước láng giềng Colombia 40 lần và với Brazil thì tỷ lệ này thậm chí còn lên tới 60 lần. Ngoài ra, nếu tính tới giá dầu diezen thì sự chênh lệch này còn lớn hơn rất nhiều. Đây là một phần của chính sách hỗ trợ giá được Venezuela áp dụng từ nhiều thập niên qua. Theo thống kê, hàng năm Công ty dầu khí quốc gia Venezuela (PDVSA) phải bỏ ra hơn 13 tỷ USD để trợ giá cho xăng và 8,5 tỷ USD cho dầu diezen, tương đương với khoảng 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này.
Giới chuyên gia tại Venezuela đều cho rằng chính phủ nước này cần phải đưa giá xăng lên một mức hợp lý hơn, tuy nhiên đến nay chưa một chính phủ nào tại quốc gia Nam Mỹ này dám đánh đổi lá phiếu bầu cho mình để đưa giá xăng trở lại quĩ đạo bình thường. Trước đây Chính phủ của Tổng thống Carlos Andres Perez đã từng ra sắc lệnh tăng gia xăng hồi năm 1989 nhưng ngay lập tức vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của dân chúng, gây ra một làn sóng biểu tình bạo lực trên cả nước với kết cục đen tối được nhớ tới dưới cái tên “Caracazo”, khiến hàng trăm người thiệt mạng. Trong nhiều năm qua, người dân Venezuela tự cho mình cái quyền được dùng xăng dầu với giá rẻ mạt và bất cứ ý định thay đổi nào đều không được chấp nhận.
Năm 2007, sau khi tái cử nhiệm kỳ 2, Tổng thống Hugo Chavez đã từng tuyên bố “tốt hơn là chúng ta nên cho không chứ bán xăng với giá như hiện nay thì thật là thô thiển”, đồng thời chỉ thị các cơ quan chức năng nghiên cứu về khả năng tăng giá xăng dầu bán lẻ. Tuy nhiên, từ đó đến nay Tổng thống Chavez cũng vẫn chưa thể thực hiện mong muốn thay đổi của mình và có lẽ điều này là bất khả thi ở thời điểm hiện tại khi mà cuộc bầu cử tổng thống đang đến gần.
Mặc dù giá xăng bán lẻ được hỗ trợ ở mức phi lý như vậy nhưng điều đáng ngạc nhiên là phần lớn lượng xăng tiêu thụ tại Venezuela lại được nhập khẩu và nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy lọc dầu đang bị xuống cấp, không được đầu tư bảo dưỡng, dẫn tới việc không thể khai thác được hết công suất. Với nhu cầu 320.000 thùng xăng/ngày và 240.000 thùng dầu diezen/ngày để đáp ứng tiêu thụ trong nước và hoàn thành cam kết với các đồng minh thân cận ở khu vực, các nhà máy lọc dầu ở Venezuela từ nhiều năm nay chưa bao giờ đáp ứng đủ vì nhiều lý do khác nhau, kể cả khách quan và chủ quan.
Ông Eddie Ramírez, một chuyên gia trong lĩnh vực dầu khí của Venezuela, cho biết nước này hiện có 3 nhà máy lọc dầu lớn mà từ cách đây vài năm người ta đã nói tới việc phải nâng cấp và mở rộng qui mô nhưng đến nay kế hoạch này vẫn chưa được triển khai. Trong khi đó, các dự án xây nhà máy lọc dầu mới ở các bang Barinas, Monagas và Guarico thậm chí vẫn chỉ nằm trên giấy tờ. Giới chuyên môn cho rằng để hoàn thành một nhà máy lọc dầu cần ít nhất phải từ 3 đến 4 năm, và với tốc độ như hiện nay thì có lẽ phải tới cuối thập niên này Venezuela mới có thêm được những nhà máy mới để tăng năng suất lọc dầu mà nước này khai thác được. Từ nay đến lúc đó, quốc gia Nam Mỹ này chắc chắn vẫn sẽ phải nhập khẩu xăng và dầu diezen với giá quốc tế để bán rẻ cho người dùng trong nước.

Nh.Thạch(Theo BBC)

dongdoi_f2
18-08-2012, 05:34 PM
Nguy cơ thiếu điện ở miền Nam (http://www.petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/nguy-co-thieu-dien-o-mien-nam.html)


(Petrotimes) - Với lượng điện tiêu thụ ngày càng tăng, trong khi nguồn điện mới bổ sung không đáng kể dẫn đến nguy cơ thiếu điện ở miền Nam trong những năm tiếp theo rất lớn. Đó là cảnh báo của ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó viện trưởng Viện Năng lượng tại Hội thảo quy hoạch phát triển điện quốc gia tổ chức tại TP HCM.

Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, từ nay đến năm 2013, không có nguồn điện mới nào đáng kể bổ sung cho miền Nam. Đến năm 2014, khả năng chỉ có thêm 600MW của nhiệt điện Vĩnh Tân II; năm 2015 có thể thêm nhiệt điện Vĩnh Tân II, nhiệt điện Duyên Hải I, nhiệt điện Long Phú I với tổng công suất khoảng 3000 MW.
Tổng công suất đặt của miền Nam khoảng 15.000MW, như vậy tỉ lệ dự phòng công suất miền Nam rất thấp: thiếu hụt hơn 1000MW năm 2014, hầu như không có công suất dự phòng năm 2015 và chỉ có khoảng 2000MW dự phòng vào năm 2016 (Nếu có khí cho nhiệt điện khí Ô Môn).
Hiện nay, các đường dây truyền tải và phân phối tuy được khẩn trương đầu tư nhưng gặp nhiều khó khăn, nhất là về vốn và giải phóng mặt bằng. Vì vậy, nguy cơ thiếu điện ở miền Nam rất cao trong các năm 2014 – 2016.

http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/lemaiphuong/082012/18/11/hinh.jpg


Nguy cơ thiếu điện ở miền Nam vì thiếu nguồn điện mới bổ sung.
Để tránh nguy cơ thiếu điện ở miền Nam, Bộ Công Thương chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh việc sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng theo chương trình mục tiêu quốc gia 2011 - 2015; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy điện và đường dây truyền tải; đảm bảo cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Duyên Hải, xúc tiến các dự án điện từ năng lượng tái tạo,…
Theo Bộ Công Thương, trong năm 2011, toàn quốc đã đưa hơn 2.900MW từ các nhà máy điện vào vận hành, trong đó niềm Nam đóng góp 650MW từ nhiệt điện khí Nhơn Trạch và nhiệt điện than Formosa.
Hiện nay, chúng ta phải nhập khẩu điện để đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước. Năm 2011, số lượng điện nhập khẩu chiếm khoảng 4,7% lượng điện tiêu thụ của cả nước, trong đó lượng nhập khẩu lớn nhất là từ Trung Quốc với số lượng khoảng 5 tỉ kWh/năm, chiếm từ 3 – 4%.
Theo chủ trương của Nhà nước về nhập khẩu điện thì thứ tự ưu tiên là nhập của Lào, Campuchia, sau đó mới đến Trung Quốc. Tuy nhiên, đối với nhập khẩu điện từ Lào, Campuchia, chúng ta phải sang đó đầu tư xây dựng nhà máy vì họ không có dư điện để bán cho ta nhưng việc thực hiện còn gặp một số vướng mắc nên nhiều dự án chưa thể triển khai.
Ông Nguyễn Anh Tuấn cho biết: Tháng 7 vừa qua, Chính phủ đã cho phép EVN hiệu chỉnh dự báo nhu cầu xuống 13% (theo quy hoạch điện VII là 14%). Điều này làm giảm áp lực đầu tư các dự án điện, tránh sơ sẩy khi triển khai gấp các dự án.
Mai Phương

P/S:
- Đầu tư làm thủy điện Stung treng và Sesan ở KPC cũng dừng lại rồi.
- Còn thủy điện Luang Phrabang ở Laos cũng dậm chân tại chỗ.
- vẫn chưa thấy điện của Bắc khê nhỉ?

dongdoi_f2
27-08-2012, 01:13 PM
TS Ngô Thường San - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam:
“Một triệu tấn dầu từng là mong ước của cả dân tộc” (http://www.petrotimes.vn/news/vn/dam-luan-doi-thoai/mot-trieu-tan-dau-tung-la-mong-uoc-cua-ca-dan-toc.html)

Từ năm 1982-1983, Việt Nam ao ước làm sao tìm kiếm và khai thác được 1 triệu tấn dầu/năm là thành công, nhưng việc phát hiện dầu trong đá móng của Vietsovpetro tại mỏ Bạch Hổ đã biến ước mơ này thành hiện thực và vượt rất xa mong đợi của cả dân tộc.

PV Báo Năng lượng Mới đã có cuộc phỏng vấn TS Ngô Thường San - Anh hùng Lao động, nguyên Tổng giám đốc Vietsovpetro, nguyên Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hiện là Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam. Ông là một trong những nhân chứng lịch sử đã chứng kiến những ngày tháng khó khăn, thăng trầm và cả những giây phút thăng hoa, hạnh phúc khi Việt Nam khai thác dòng dầu đầu tiên.

http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/chudiepquynh/082012/24/10/IMG_1884.jpg


Ông Ngô Thường San




PV: Thưa ông, bây giờ nhìn lại, những người sống trong thời bao cấp đều không khỏi ám ảnh về những khó khăn cùng cực của đất nước trong giai đoạn sau chiến tranh, nhất là vào thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước? Việt Nam gần như kiệt quệ về kinh tế. Có thể nói, đất nước bị khủng hoảng mọi mặt, tình thế hết sức nguy cấp. Trong đó việc đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia là một câu hỏi hóc búa nhất lúc bấy giờ?
TS Ngô Thường San: Phải nói thêm một khó khăn nữa, lúc này đồng minh của ta là Liên Xô rục rịch cải cách, trong đó việc cung cấp xăng dầu cho ta bắt đầu giảm. Xăng dầu ở nước ta bắt đầu khan hiếm. Vậy làm thế nào để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phục hồi nền kinh tế là một bài toán cực kỳ khó đối với Đảng và Nhà nước lúc này. Nên việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu, trong đó ngành Dầu khí đóng vai trò quyết định mà Vietsovpetro là nhân tố chính góp nên thành công.

PV: Nếu Việt Nam tìm thấy dầu thành công thì đó không chỉ là niềm vui của nhân dân Việt Nam mà còn là niềm vui của Chính phủ và nhân dân Liên Xô lúc này?
TS Ngô Thường San: Đúng vậy, lúc bấy giờ Liên Xô rất mong Việt Nam tìm thấy dầu và có thể tự lực cánh sinh về an ninh năng lượng. Trong giai đoạn 1982-1983, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một ao ước cháy bỏng mà có lẽ đó cũng là ao ước của cả dân tộc ta: “Làm sao chúng ta khai thác được 1 triệu tấn dầu/năm là thành công”.

PV: Thưa ông, có nhiều người sau này vẫn nhầm hiểu rằng, Vietsovpetro được thành lập thì phía Liên Xô đóng góp là chủ yếu chứ Việt Nam lúc này đang rất nghèo, ăn còn chưa đủ lấy gì mà đầu tư cho dầu khí?
TS Ngô Thường San: Đó là do họ chưa hiểu hết bối cảnh lúc bấy giờ. Hiệp định Vietsovpetro được ký là do hai bên cùng góp vốn chứ không phải ta nhờ hoàn toàn Liên Xô như nhiều người nhầm tưởng. Dù kinh tế ta đang suy kiệt, dân thì thiếu ăn, thiếu mặc nhưng Đảng và Nhà nước vẫn xác định đầu tư cho năng lượng là chiến lược lâu dài và cực kỳ quan trọng nên đã dồn hết tâm sức cho ngành Dầu khí. Có thể nói, đó là sự hy sinh lớn lao của cả dân tộc cho ngành Dầu khí nước nhà. Đây là áp lực và cũng là trách nhiệm cực kỳ lớn đặt lên vai những người làm công tác dầu khí lúc bấy giờ. Nên việc tìm ra dầu trong đá móng với trữ lượng lớn tại mỏ Bạch Hổ của Vietsovpetro sau đó như một phao cứu sinh cho cả dân tộc.

PV: Nếu như Vietsovpetro tìm không có dầu thì có lẽ ông là người chịu nhiều áp lực nhất phía Việt Nam trong Liên doanh?
TS Ngô Thường San: Vì tôi là người đứng đầu Liên doanh phía Việt Nam nên phải đứng mũi chịu sào nếu có những quyết định sai lầm. Lúc đó, trong “Báo cáo kinh tế kỹ thuật về phát triển và khai thác thử công nghiệp mỏ Bạch Hổ” được hình thành trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá lại các tài liệu có được lúc đó là tài liệu địa chấn của Geco thu nổ và xử lý mạng 1*1 km năm 1978 và tài liệu giếng khoan mỏ Bạch Hổ - 1X (BH-1X) của Công ty Mobil khoan năm 1974, với nội dung là sẽ khai thác sớm mỏ Bạch Hổ với 2 dàn khai thác cố định MSP-1, MSP-2 và 6 giếng thăm dò BH-1, 2, 3, 4, 5, 6.
Có nhiều người thắc mắc là Vietsovpetro có quá phiêu lưu mạo hiểm đến khó hiểu nếu chỉ dựa vào tài liệu địa chấn và một giếng khoan của Mobil mà đã đầu tư xây dựng khu cảng, dịch vụ trên bờ, khu nhà ở 5 tầng và quan trọng hơn là xúc tiến xây ngay 2 dàn MSP, là quá rủi ro?
Và giả thuyết, nếu không gặp dầu trong móng thì từ câu hỏi trên sẽ là đầu đề của một hậu quả lớn, một bài học quá đắt trong lịch sử dầu khí Việt Nam, khi một đất nước đang dè xẻn từng hạt gạo và dốc hết sức để hy vọng đổi lấy dầu sẽ trở thành ảo vọng. Tại sao không thuê khoan một giếng tìm kiếm trước để kiểm tra lại số liệu của Mobil? Những câu hỏi như thế luôn là nỗi trăn trở của Ban Lãnh đạo trong nhiều năm, gay gắt nhất vào năm 1987-1988, cho đến tháng 9/1988 khi khai thác được tấn dầu công nghiệp đầu tiên trong móng.

PV: Ông có thể nói rõ hơn về quá trình tìm dầu trong móng, một trong những kỳ tích của ngành Dầu khí Việt Nam?
TS Ngô Thường San: Có thể nói số cột mốc quan trọng. Ngày 25/12/1983, tàu khoan Mirchink khoan giếng BH-5 gần vị trí giếng BH-1X của Mobil. Giếng dự kiến sẽ khoan hết lát cắt trầm tích Đệ Tam với chiều sâu thiết kế 3.500m dựa theo cấu trúc giếng của BH-1X. Lúc này, cả nước đặt hy vọng vào kết quả của giếng khoan này.
Ngày 25-5-1984 thử vỉa, phát hiện dầu trong trầm tích Mioxen (tầng 23). Cả nước vui mừng vì lần đầu tiên Việt Nam tìm thấy dầu và dầu chắc chắn sẽ khai thác được trong tương lai gần. Lễ đốt đuốc mừng dòng dầu công nghiệp được tổ chức trong đất liền. Nhưng những người ngoài biển chúng tôi thì rất lo lắng. Tầng 23 được khẳng định là có dầu nhưng trữ lượng mỏ Bạch Hổ là bao nhiêu, vì đó là yếu tố quyết định đến tương lai phát triển của Vietsovpetro, cần phải nhanh chóng mở rộng diện tích thăm dò. Vietsovpetro cương quyết bảo vệ luận điểm của mình yêu cầu khoan giếng BH-4 ở phía bắc mỏ Bạch Hổ… may thay nỗi lo cũng qua nhanh khi càng ngày Vietsovpetro càng phát hiện nhiều vỉa dầu mới.
Ngày 7/3/1985, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đi tàu Gambursev ra thăm giàn Ekhabi và chứng kiến kết quả thử vỉa, tiếc là biển động mạnh, tàu quay vào bờ và hôm sau đồng chí Tố Hữu (nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) làm bài thơ về chàng hoàng tử đánh thức nàng tiên cá.

PV: Dù đã tìm thấy dầu nhưng chưa đánh giá được trữ lượng bao nhiêu và có giả thuyết lúc đó là nếu trữ lượng dầu ở mỏ Bạch Hổ không đủ để khai thác dòng dầu thương mại thì tương lai của Vietsovpetro lúc đó thật mong manh. Có lẽ, phía Liên Xô, trong ban lãnh đạo cũng chịu nhiều áp lực không ít.
TS Ngô Thường San: Đúng là có những thời điểm cực kỳ căng thẳng trong Vietsovpetro. Khi chúng ta tiếp tục thử tầng 24… không có dầu. Trong bờ điện cho tôi lúc đó đang ở MSP-1, là phải nhanh chóng kết thúc thử vỉa để chuyển sang khai thác tầng 23, không để tàu Krưm phải chờ đợi. Nhưng sau khi xong cầu xi măng ngăn cách, việc bắn vỉa và khai thác tầng 23 được thực hiện theo chương trình và dòng dầu đầu tiên được chuyển về UBN-1 ngày 26/6/1986 trong niềm hân hoan chung của đất nước, của tập thể cán bộ, công nhân viên Vietsovpetro và của những người tìm dầu nói chung. Nhưng đối với chúng tôi và các cán bộ ở Phòng Địa chất thì niềm vui ấy không trọn vẹn. Sản lượng chỉ hơn 100tấn/ngày, áp suất đầu giếng thấp, khoảng trên 20at, thể hiện năng lượng vỉa yếu, thấp hơn cả kết quả thử tầng 23 giếng BH-4 ở vòm Bắc.
Sự hoang mang cực độ bắt đầu lan dần từ Vietsovpetro ra Hà Nội, Tổng cục Dầu khí, lên cấp trên và đặc biệt ở Mátxcơva. Phản ứng đầu tiên của phía bạn là sự chuyển giao Vietsovpetro từ Bộ Công nghiệp Khí sang Bộ Công nghiệp Dầu. Nhiều đồng chí trong đoàn chuyên viên Liên Xô trước đó, kể cả Trưởng đoàn bị chuyển công tác. Sau này khi Vietsovpetro đã khai thác tấn dầu thứ 20 triệu tấn, tôi có dịp gặp lại đồng chí Belư - nguyên Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Bộ Khí lúc đó nói rằng: “Bây giờ Vietsovpetro đã đạt được những thành tích, nhưng thời gian qua chúng tôi bị hiểu không đúng, âu đó cũng là cuộc sống!”.


http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/chudiepquynh/082012/24/10/gian_khoan_mo_bach_ho.jpg


Giàn khoan trên mỏ Bạch Hổ (ảnh: Hoàng Chương)

PV: Trong tình huống khó khăn đó, có lẽ các ông hứng chịu nhiều chê bai chỉ trích hơn là khen, nhưng cũng phải có một số người đồng hành, thấu hiểu, chia sẻ và động viên chứ, thưa ông?
TS Ngô Thường San: Có thể nói là rất gay gắt. Nhiều chuyên gia Liên Xô từ Viện NIPI gặp tôi vừa muốn tìm hiểu người “sáng tạo” ra chủ trương xây dựng 2 dàn MSP-1, 2, đầu tư cơ sở hạ tầng, vừa tập trung phê phán gay gắt bước đi vừa qua là gây thiệt hại và không lối thoát. Về phía Việt Nam, tư tưởng bi quan cũng có tác động đến chủ trương của lãnh đạo, làm chậm lại việc đầu tư xây dựng cảng dầu khí, không tiếp tục xây dựng khu nhà ở 5 tầng, điều một số cán bộ chủ chốt ra Hà Nội. May mà lúc đó chúng tôi vẫn còn nhận được sự đồng cảm của một số vị lãnh đạo cao cấp của cả hai phía. Đích thân đồng chí Võ Nguyên Giáp có chuyến công tác tại Vietsovpetro yêu cầu tôi báo cáo thực trạng mỏ Bạch Hổ. Phía Nga thì Bộ Dầu có Thứ trưởng Philimonov dẫn đầu sang kiểm tra công việc… Tôi chờ đợi một sự phê phán và kết luận tiêu cực đối với mỏ Bạch Hổ thì ngược lại, các đồng chí chỉ tôi cách tổ chức kiểm tra khai thác sao cho tốt hơn, cần phải nhanh chóng tổ chức bơm ép nước và chuẩn bị khai thác thứ cấp bằng bơm li tâm…

PV: Bao lâu sau thì niềm tin quay trở lại, thưa ông?
TS Ngô Thường San: Trải qua bao vất vả, căng thẳng mà có những lúc tưởng chừng như không còn hy vọng thì ngày 11/5/1987 tàu Mirchink thử vỉa trong sự vui mừng và ngỡ ngàng khi phát hiện dòng có lưu lượng đạt trên 500 tấn/ngày ở vỉa đáy của giếng BH-6.
Tôi còn nhớ như in, vào khoảng 10 giờ sáng ngày 6/9/1988, đồng chí Vovk điện cho tôi thông báo, trong quá trình rửa giếng ở đoạn cuối thì dòng dầu lên mạnh, áp suất đầu giếng khoảng 110at, hiện đang đóng đối áp để chờ ý kiến trong bờ. Tin vui đến quá bất ngờ. Không thể đóng giếng lâu vì lo thiết bị đầu giếng với áp suất thiết kế không chịu nổi.

PV: Vậy là áp lực bao nhiêu lâu nay đè nặng trên vai những người Vietsovpetro đã phần nào được giải tỏa.
TS Ngô Thường San: Đúng vậy. Không thể diễn tả bằng lời. Giếng cho dòng lớn, lúc đó không đo được nhưng ước tính là khoảng 2.000tấn/ngày. Không những cán bộ, công nhân viên Vietsovpetro mà cả nước vui mừng. Nhiều đồng chí kể với tôi là có đồng chí lãnh đạo không nén nổi xúc động của mình.

PV: Quả là thành công ngoài mong đợi nhưng mãi đến sau này vẫn còn có nhiều người cho rằng, việc phát hiện dầu trong đá móng của Vietsovpetro là ngẫu nhiên.
TS Ngô Thường San: Không phải ngẫu nhiên mà đây là kết quả của cả quá trình diễn biến về nhận thức, có yếu tố khách quan và chủ quan, là công lao của một tập thể chịu biết bao thăng trầm, mà sự đóng góp của họ - những người đã chấp nhận rủi ro, thiệt thòi để đưa phương án khai thác sớm mỏ Bạch Hổ vào hiện thực cần được ghi nhận và trân trọng.

PV: Trải qua bao sóng gió thăng trầm trong nghề, từ những ngày đất nước thiếu dầu trầm trọng, rồi tìm ra dầu và xuất khẩu dầu… đến hôm nay có thể nói ngành Dầu khí đóng vai trò lớn nhất trong nền kinh tế đất nước. Là người chứng kiến bao đổi dời như thế, theo ông để ngành Dầu khí ngày càng vững mạnh, thành công hơn nữa thì chúng ta cần những nhân tố nào?
TS Ngô Thường San: Thế hệ chúng tôi là thế hệ đầu của ngành Dầu khí nước nhà với áp lực và trách nhiệm là tìm dầu và khai thác để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ cho nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Còn hiện nay, anh chị em trong ngành Dầu khí cũng áp lực không nhỏ, dù cuộc sống nay có khá hơn trước. Nhưng với trách nhiệm phải đảm bảo sản lượng khai thác, duy trì và tạo giá trị gia tăng, đồng thời phải phát triển ngành lọc hóa dầu của đất nước và dịch vụ kỹ thuật dầu khí có tỷ trọng khoa học công nghệ cao. Trách nhiệm càng tăng lên khi phải tăng hiệu quả đầu tư của công nghiệp dầu khí chứ không đơn thuần chỉ tìm kiếm, thăm dò và khai thác như trước đây. Phải đảm bảo sử dụng đồng vốn hiệu quả và quá trình luân chuyển đồng vốn có giá trị gia tăng. Điều đó cần rất nhiều sự đồng tâm hiệp lực của toàn ngành và không có gì là không làm được nếu chúng ta có sự đoàn kết cao để tạo nên sự phát triển.

PV: Ai cũng biết là ngành Dầu khí có những đóng góp cực kỳ lớn cho nền kinh tế của đất nước, tuy nhiên trong thời gian qua việc một số tập đoàn kinh tế lớn như Vinashin, Vinalines làm ăn không hiệu quả, gây thất thoát hàng nghìn tỉ đồng đã tạo nên dư âm không tốt về hình ảnh các tập đoàn kinh tế Nhà nước.
TS Ngô Thường San: Hiện nay có nhiều người hoài nghi các tập đoàn kinh tế Nhà nước nhưng thử hỏi nếu không có các tập đoàn này thì làm sao có quá trình tập trung vốn lớn để tạo động lực cho sự phát triển mạnh; chính đó là tiền đề để kinh tế nước ta tăng tốc và nhảy vọt trong tương lai. Vấn đề còn lại là quá trình quản lý và thanh tra của Nhà nước phải chặt chẽ và minh bạch hơn nữa để tạo lòng tin nơi nhân dân. Dĩ nhiên ngành Dầu khí cũng có những khuyết điểm, có người đúng - có người sai, nhưng xét trên toàn cục thì chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp lớn lao của ngành đối với đất nước. Bằng chứng là nhân dân, Đảng và Nhà nước vẫn tin tưởng vào vai trò đầu tàu nền kinh tế của ngành Dầu khí.

PV: Hiện nay, ông đang là Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, trước những khó khăn chung của ngành thì liệu Hội có những giải pháp hay sáng kiến nào để đồng hành cùng ngành?
TS Ngô Thường San: Có thể khẳng định Hội Dầu khí là những người đồng hành tháo gỡ khó khăn chung của ngành. Như trong tình hình căng thẳng trên Biển Đông hiện nay thì ngành cũng cần những bước đi cụ thể và quyết liệt hơn. Hội chúng tôi cũng có đề nghị nên đầu tư khai thác ở vùng biển sâu để bảo vệ tính hợp pháp vùng biển của ta ở Biển Đông. Điều này cần sự đầu tư rất lớn, trong đó quan trọng là sức mạnh của cả dân tộc mà ngành Dầu khí là một điểm tựa vững chắc.

PV: Nhưng đầu tư ở vùng nước sâu thì chi phí rất cao và rủi ro cũng rất nhiều, lỡ không thành công?
TS Ngô Thường San: Đó là vấn đề chiến lược của đất nước, có những cái đầu tư dù không đem lại lợi nhuận nhưng không phải là lãng phí. Ban đầu có thể nó chưa phát huy hiệu quả về mặt kinh tế nhưng về đảm bảo chủ quyền an ninh biển đảo của tổ quốc thì những giàn khai thác ở vùng biển sâu có vai trò cực kỳ lớn. Tôi cũng từng tâm sự với anh em trong ngành là, ta nên đầu tư xây dựng những dàn 2.000-3.000m nước, Trung Quốc có thể gây sức ép nhưng sẽ không dám tấn công những dàn khủng như thế. Vì nếu họ bắn chìm thì bản thân chính quyền Trung Quốc tạo nên scandal lớn trên thế giới, sẽ mất uy tín. Nên vấn đề ở đây không chỉ bản thân ngành Dầu khí mà còn là chiến lược của Đảng và Nhà nước, trong đó có sự đồng thuận và chia sẻ của toàn dân tộc ta thì vùng biển đảo của Việt Nam mãi mãi là của Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn này!
Thiên Thanh (thực hiện)

(Năng lượng Mới số 149, ra thứ Sáu ngày 24/8/2012)

VN đã khai thác tấn dầu thứ 200 triệu rồi!

dongdoi_f2
06-09-2012, 08:49 PM
Nga sẽ có nhà máy điện trong vũ trụ vào năm 2016 (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/the-gioi-phang/nga-se-co-nha-may-dien-trong-vu-tru-vao-nam-2016.html)


(Petrotimes) - Các nhà khoa học Nga khẳng định mô hình nhà máy năng lượng điện mặt trời trên không trung sẽ xuất hiện tại Nga vào năm 2016.


http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/duyhung/092012/05/15/nhamaydien.jpg


Mô hình nhà máy điện mặt trời trong không trung

Loại nhà máy điện này sẽ giúp Nga giữ vị trí hàng đầu trên thị trường năng lượng toàn cầu. Nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Chế tạo máy (TsNIIMash) Vitaly Melnikov cho biết, hình mẫu của nhà máy điện như vậy có thể xuất hiện trong nước vào năm 2016.
Mỗi giây, toàn châu Âu tiêu thụ 10 kW điện. Con số là lớn như vậy bởi vì ở đây tính toán năng lượng dành cho việc sản xuất xe hơi, quần áo, thiết bị kỹ thuật, nhà cửa, và tất cả những thứ mà chúng ta được hưởng. Nhu cầu của người dân ngày càng tăng lên, còn quá trình sản xuất điện năng cần thiết để đáp ứng các nhu cầu của con người thì trở nên phức tạp hơn, giáo sư Vitaly Melnikov nói: “Một mặt, nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất điện năng không phải vô tận. Mặt khác, tác động đến hệ sinh thái dẫn đến thực tế rằng, nhiệt độ trên hành tinh thường xuyên tăng lên. Người ta đốt cháy khoáng sản được tạo ra trong thời gian hàng triệu năm, đốt cháy rất nhanh. Các nguồn tài nguyên để sản xuất điện năng sắp hết, và tác động của chúng dẫn đến việc con người tự tiêu diệt mình”.
Có thể né tránh hiện tượng này nếu xem xét kỹ hơn các ngôi sao, hay đúng hơn, nếu xây dựng các nhà máy điện mặt trời trên không gian. Mỹ có kế hoạch sau một vài năm sẽ xây dựng những nhà máy như vậy. Nhờ các công nghệ tương tự, đến năm 2025, Nhật Bản dự kiến sẽ sản xuất điện lực với mức giá sáu lần thấp hơn so với các nhà máy trên mặt đất.
Nếu Nga không khẳng định mình trên thị trường này, thì có thể trở thành người ngoài cuộc và mất doanh thu cho ngân sách. Chuyên viên Melnikov nói tiếp: “Các nước đó sẽ cung cấp năng lượng đến những khu vực khác nhau với mức giá sáu lần thấp hơn. Mọi người sẽ mua, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng tôi - dầu mỏ và khí đốt - sẽ bắt đầu giảm giá. Việc bán tài nguyên thiên nhiên bảo đảm 18% ngân sách quốc gia của Nga, và có nguy cơ mất các khoản thu này”.
Nhà khoa học nói, Nga sẵn sàng giáng trả thách thức đó. Đất nước có tiềm năng to lớn trong lĩnh vực vũ trụ và có khả năng sớm thực hiện dự án mang tính đột phá. Để thực hiện kế hoạch này, cần phải sử dụng các công nghệ laser, mà nước Nga đã có truyền thống mạnh mẽ. Chuyên viên Melnikov nói: “Nga có cơ sở mạnh mẽ và tân tiến nhất trong lĩnh vực công nghệ laser. Về các công nghệ không gian thì khả năng của Nga là không giới hạn. Để chế tạo hình mẫu thử nghiệm, chúng tôi chỉ cần có 10 tỷ rúp (300 triệu USD). Đây là số tiền nhỏ nếu so sánh với giá thế giới. Chẳng hạn, Nhật Bản sẽ chi 24 tỷ USD. Hình mẫu thử nghiệm sẽ giới thiệu khả năng của nhà máy, và sẽ giúp giải quyết những thách thức mà chúng ta phải đối mặt trên không gian”.
Để thực hiện dự án này sẽ thành lập cụm hàng không vũ trụ - hiệp hội các cơ sở giáo dục đại học, các viện nghiên cứu của Viện Hàn lâm khoa học, các doanh nghiệp điện tử và không gian. Chuyên viên Nga nhấn mạnh, năng lượng mặt trời có tiềm năng to lớn. Nó cho phép bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nếu so sánh với năng lượng hạt nhân thì các nhà máy điện trên không gian không đòi hỏi xây dựng cơ sở hạ tầng và các biện pháp nghiêm trọng nhằm bảo đảm an toàn cho các nhà máy điện nguyên tử.

S.Phương (Theo RIA Novosti)

dongdoi_f2
12-09-2012, 08:38 PM
Brasil giảm giá điện để thúc đẩy kinh tế

Nhằm kích thích nền kinh tế đang chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới, ngày 11/9, Chính phủ Brasil (Braxin) công bố một loạt biện pháp, trong đó có kế hoạch chi khoảng 1,65 tỷ USD mỗi năm để bù mức giảm doanh thu của ngành điện, đồng thời giảm giá điện kể từ năm 2013.
Tổng thống Dilma Rousseff cho biết Chính phủ Brazil sẽ đặt điều kiện cho các nhà cung cấp điện muốn tiếp tục được nhận thầu thì phải chấp nhận giảm giá điện, theo đó giảm 16,2% cho khu vực dân sinh và 19-28% cho khu vực doanh nghiệp. Ngoài ra, chính phủ sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất, truyền tải và phân phối điện tiếp tục hoạt động, nhưng cũng phạt những doanh nghiệp không hoàn thành cam kết giảm giá điện.
Tổng thống Rousseff nhấn mạnh việc giảm giá điện sẽ giúp hạ giá lương thực và hàng hóa, góp phần nâng tính cạnh tranh của nền kinh tế. Đây được coi là một trong những biện pháp khuyến khích tăng trưởng, cùng với những giải pháp khác như giảm lãi suất, kiềm chế lạm phát, khuyến khích đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề...
Giá điện tại Brazil hiện vào khoảng 165 USD/MWh, bị Liên đoàn công nghiệp nước này đánh giá là đắt thứ tư thế giới, mặc dù thủy điện chiếm tới 70% tổng sản lượng điện của nước này.
Mức giá điện này chỉ thấp hơn ở Italia, Thổ Nhĩ Kỳ và CH Séc, nhưng đắt gấp ba lần so với mức giá mà các nhà sản xuất công nghiệp phải trả tại Mỹ và Canada, và đắt gấp đôi so với ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Pháp.

Brasil có giá điện cao quá, cỡ 16,5 US cent/kWh!, so với VN chưa đến 10 US cent/kWh

dongdoi_f2
17-09-2012, 03:23 PM
Vì sao Nga hợp tác khai thác khí đốt với Israel? (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/vi-sao-nga-hop-tac-khai-thac-khi-dot-voi-israel.html)


Việc Nga vừa ký thỏa thuận khai thác khí đốt ở biển Địa Trung Hải với Israel được cho là một nước cờ ngoại giao và kinh tế khôn ngoan của Matxcơva trong việc duy trì vị trí bá chủ thị trường khí đốt châu Âu.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/duyhung/092012/10/14/Netanyahu_Putin.jpg


Tổng thống Putin (trái) và Thủ tướng Israel Netanyahu trong một cuộc gặp “lịch sử” tháng 6/2012

Israel vừa có bước đột phá mới khi đạt được một thỏa thuận khí đốt với Nga. Theo thỏa thuận mới này, Israel chia cho Nga một phần sở hữu mỏ khí đốt đầy hứa hẹn ngoài khơi Địa Trung Hải của họ, đổi lại Nga phải giảm bớt hệ với Syria và Iran - hai kẻ thù của Israel.
Thỏa thuận mới này được cho là một nước cờ ngoại giao và kinh doanh khôn ngoan đối với cả Nga và Israel, đồng thời cho thấy vai trò quyết định của địa chính trị trong hoạt động kinh doanh năng lượng. Vậy tại sao Nga, quốc gia sản xuất năng lượng lớn nhất thế giới, lại cần thỏa thuận này? Sau khi Liên Xô tan vỡ, kinh tế Nga rơi vào tình trạng thiếu thốn và hỗn loạn. Giờ đây, nước Nga đang trở lại nhờ sự nổi lên là một siêu cường năng lượng. Nga đang tự hào có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất và lực lượng quân sự mạnh nhất châu Âu. Tất cả đều nhờ vào việc Nga kiểm soát được các nhu cầu năng lượng của châu Âu. Do không muốn mất cả ảnh hưởng lẫn việc bán khí đốt tại châu Âu, Nga đang tìm cách ngăn cản các đối thủ cạnh tranh, như họ đã làm hồi năm ngoái khi cản trở một nỗ lực của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm xây dựng một đường ống dẫn khí đốt cạnh tranh sang châu Âu.
Hiện nay, để giữ vững vị trí bá chủ thị trường dầu khí châu Âu, Nga đang phải đối mặt với hai nguy cơ mới. Một là, khả năng Israel xuất khẩu khí đốt từ mỏ khí có trữ lượng lớn mới được phát hiện tại Địa Trung Hải. Hai là, châu Âu có khả năng phát hiện được trữ lượng khí đốt đá phiến lớn. Hiện nay, những quan ngại về môi trường khiến khí đốt đá phiến gần như không được xem xét tại châu Âu, khiến châu lục này tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu khí đốt. Tuy nhiên, khí đốt Địa Trung Hải của Israel - cùng với khí đốt của Síp - có thể khiến Nga mất vị thế là nguồn cung cấp khí đốt chính của châu Âu. Đây cũng chính là lý do ra đời của công ty Gazprom Israel - chi nhánh của Gazprom, công ty quốc doanh sản xuất khí đốt lớn nhất thế giới của Nga.
Theo tin tức của các phương tiện truyền thông Nga và Israel, Chính phủ Israel đã đồng ý bán cho Nga một phần của mỏ khí đốt Địa Trung Hải và tăng lượng khí đốt được phép xuất khẩu. Israel có một lượng khí đốt dự trữ đủ dùng trong 25 năm đề phòng khả năng bị tẩy chay năng lượng trong tương lai. Với thỏa thuận này, Nga sẽ được tham gia vào bất kỳ thỏa thuận bán khí đốt nào của Israel với châu Âu, hoặc tốt hơn là Nga có thể thuyết phục Israel bán khí đốt của mỏ mới này cho các thị trường châu Á. Bất kể trường hợp nào thì Nga cũng sẽ duy trì được vai trò chi phối của họ tại châu Âu.
http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/duyhung/092012/10/14/Nga_israel2.jpg


Vị trí một số mỏ khí đốt mà Israel hợp tác với Nga ở biển Địa Trung Hải


Về phần Israel, lợi ích của việc gắn kết với những lợi ích kinh tế của Nga sẽ rất lớn. Hơn nửa thế kỷ qua, nước Nga và vũ khí Nga là một trụ cột của các nước Arập và những kẻ khủng bố Hồi giáo luôn tìm cách phá hủy Israel. Trong những năm gần đây, thái độ của Nga đối với Israel đã mang nhiều sắc thái hơn, một phần vì Nga mong muốn tình báo Israel chia sẻ thông tin về những kẻ khủng bố Hồi giáo nhằm vào Nga, một phần vì Nga muốn có những vũ khí hiện đại của Israel, như các loại máy bay không người lái. Hai năm trước đây, hai nước đã ký một hiệp định hợp tác quân sự, sau đó là một hợp đồng Israel bán máy bay không người lái cho Nga, đổi lại Nga từ chối bán vũ khí cho Syria và Iran, như hợp đồng bán hệ thống phòng không S-300 trị giá 1 tỷ USD cho Iran.
Với việc Israel đang trở thành một nước xuất khẩu năng lượng lớn, có khả năng làm đảo lộn vai trò bá chủ khí đốt ở châu Âu của Nga, Nga đang có xu hướng nghiêng hơn nữa sang phía Israel và tránh xa hơn các kẻ thù của Tel Aviv. Với việc Nga và Israel cùng khai thác các mỏ dầu khí ở ngoài khơi Israel, các mỏ khí đốt của Israel sẽ được lợi một phần từ "lá chắn Nga". Những thế lực muốn phá hủy giàn khoan và cơ sở hạ tầng năng lượng của Israel cũng như những kẻ khủng bố Hồi giáo từ những nước láng giềng sẽ phải suy nghĩ kỹ gấp đôi trước khi tiến hành một cuộc tấn công vì có thể khiến Nga tức giận.
Bằng việc cùng khai thác khí đốt Địa Trung Hải, Nga được lợi về mặt ngoại giao, Israel được lợi về mặt quân sự và cả hai nước đều được lợi về tài chính.
Th.Long (Theo AFP, AP)

dongdoi_f2
17-09-2012, 03:51 PM
Nga và Nhật Bản sẽ xây dựng nhà máy khí hóa lỏng tại Vladivostok (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/dau-tien-quyen-luc/nga-va-nhat-ban-se-xay-dung-nha-may-khi-hoa-long-tai-vladivostok.html)


Hôm 8/9, Nga và Nhật Bản đã ký kết biên bản ghi nhớ về hỗ trợ xây dựng một nhà máy chế biến khí hóa lỏng (LNG) trị giá 7 tỉ USD ở Vladivostok, nơi hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo APEC vừa khai mạc trong ngày.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/phuonganh/092012/09/06/1.jpg


Một tàu chở LNG từ Nga đến Nhật
Thỏa thuận được ký bởi Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Khí đốt OAO Gazprom Alexey Miller và lãnh đạo Cơ quan năng lượng và tài nguyên Nhật Bản Ichiro Takahara.
Theo thỏa thuận, phía Nhật Bản sẽ đóng góp đầu tư tài chính vào công trình và hỗ trợ tìm kiếm khách hàng tiềm năng mua khí hóa lỏng do nhà máy mới sản xuất.
Cơ sở công nghiệp sẽ bắt đầu thi công tại Vladivostok vào năm 2013 và dự kiến đi vào hoạt động từ năm 2017. Sản lượng hàng năm của nhà máy này được ước tính khoảng 10 triệu tấn khí hóa lỏng.
Theo New York Times, để đạt được thỏa thuận cuối cùng, hai bên cần giải quyết được các điểm mấu chốt về giá mà Nhật Bản sẽ trả để mua khí đốt tự nhiên. Tuy nhiên, biên bản ghi nhớ trên là một bước quan trọng thúc đẩy đa dạng hóa xuất khẩu năng lượng của Nga trong thời điểm Nhật Bản đang nỗ lực tìm các lựa chọn thay thế năng lượng hạt nhân.
Chủ tịch Gazprom Alexey Miller khẳng định, đây là dự án rất quan trọng cho sự phát triển phần phía Đông trong hệ thống cung cấp khí của Nga và tăng cường việc cung cấp khí đốt của Nga sang các thị trường khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đồng thời, Gazprom hi vọng khối lượng cung cấp khí đốt cho các thị trường trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương sẽ sớm vượt qua khối lượng cho châu Âu
Nhật Bản là nhà nhập khẩu khí hóa lỏng lớn nhất thế giới. Năm 2011, chi phí mua loại nhiên liệu này của Nhật đạt 78,5 triệu USD (có lẽ nhầm???).
Thời gian gần đây, nhu cầu nhiên liệu của Nhật Bản, đặc biệt là khí hóa lỏng, đã tăng lên đáng kể sau thảm họa ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima-1, kéo theo việc ngừng hoạt động hầu hết các lò phản ứng hạt nhân trong nước.
Việc mua nhiên liệu khí hóa lỏng từ Nga, hiện chiếm tỷ lệ gần 9% nhập khẩu khí đốt hàng năm của Nhật Bản, ngày càng có vai trò quan trọng đối với nước này.
Theo các nhà phân tích, công suất của cơ sở công nghiệp trong tương lai ở Vladivostok có khả năng đảm bảo đến 14% nhu cầu khí đốt hàng năm tại Nhật Bản.
Linh Phương

dongdoi_f2
24-09-2012, 01:44 PM
Tiết kiệm năng lượng quy mô lớn ở Pháp (http://www.petrotimes.vn/news/vn/nang-luong-xanh/tiet-kiem-nang-luong-quy-mo-lon-o-phap.html)


(Petrotimes) - Không chỉ là tắt cách nhật đèn đường, 5.000 địa phương của Pháp mà thành phố Ballancourt là trọng tâm thí điểm sẽ chìm vào bóng tối hoàn toàn sau nửa đêm. Một biện pháp được cho là vừa tiết kiệm vừa có lợi cho môi trường.

Anne-Marie Ducroux, Chủ tịch Hiệp hội Bảo vệ bầu trời và môi trường về đêm giải thích: “Việc chiếu sáng liên tục về đêm phá hủy quy luật ngày và đêm, sẽ tác động xấu tới thảm động thực vật và sức khỏe con người, như ảnh hưởng tới sự di chuyển và sinh sản của động vật hay tới giấc ngủ của con người và làm suy giảm khả năng phục hồi hệ miễn dịch”.
Thực tế thì việc chiếu sáng công cộng chiếm gần một nửa chi phí tiền điện của các đô thị, theo Cơ quan Môi trường và Quản lý năng lượng (Ademe) Pháp. Jacques Mione (Phó thị trưởng thành phố Ballancourt) giải thích: “Khi tắt đèn đường trong vòng 5 giờ, chúng ta có thể tiết kiệm được 30% chi phi năng lượng”. Một cách tiết kiệm đáng kể đối với các thị trấn nhỏ. Tuy nhiên, việc ngừng chiếu sáng công cộng vào ban đêm không nhận được sự ủng hộ của mọi người. Mấy tuần gần đây, những người phản đối đã tiến hành một chiến dịch nhằm yêu cầu thành phố Ballancourt tái lập việc chiếu sáng công cộng.
Ngày 2-7 vừa qua, họ đã trình một thỉnh nguyện thư với 700 chữ ký lên hội đồng thành phố. Lý do phản đối chính sách trên là cảm giác bất an khi tắt đèn đường. Phó thị trưởng kết luận: “Chúng tôi sẽ tổng kết tình hình vào tháng 10 tới, hạn chót của chiến dịch thử nghiệm này và chúng tôi sẽ xem xem người dân có quen với việc không có đèn vào ban đêm hay không”. Anne-Marie Ducroux cảnh báo: “Không nên đánh cược việc này bằng bất cứ giá nào. Tốt hơn là nên bật đèn ở một vài khu vực thích đáng. Thắp sáng một phần cũng là một giải pháp. Và điều này không cần bất kỳ đầu tư nào về tài chính”.
Các địa phương khác ở Pháp lựa chọn những hình thức tiết kiệm tinh tế hơn. Lyon là một ví dụ. Một vài khu phố ở đây đã phát triển hệ thống chiếu sáng từ xa và lắp đặt các máy cảm biến. Những thành phố khác như Préfailles (Loire-Atlantique) lại thử nghiệm nhiều hệ thống chiếu sáng theo ý muốn, như bỏ đi 2 trong số 3 cột đèn ở vài cụm nhà…
Nhưng tất cả những thử nghiệm trên đều có giá của nó, đặc biệt là đối với các thành phố nhỏ. Để ủng hộ cho nỗ lực của họ, vào tháng 2/2012, Ademe đã chi một khoản trợ cấp 20 triệu euro cho 32.000 địa phương dưới 2.000 dân có mong muốn giảm lượng tiêu thụ điện và ô nhiễm ánh sáng. Ademe giải thích: “Hiện có 9 triệu cây đèn, chiếm hơn nửa tổng số đèn ở Pháp, đã bị lỗi thời và tốn điện: 40% số đèn đang sử dụng đã có tuổi đời hơn 25 năm và 1/3 tổng số đèn còn dùng bóng thủy ngân, loại kém hiệu quả nhất trong chiếu sáng công cộng. Với chiến dịch lần này, lượng tiêu thụ năng lượng dự tính có thể giảm từ 50 đến 75%”.
Từ ngày 1/7, các bảng hiệu chiếu sáng ở những thành phố có ít hơn 800.000 dân, cũng phải tắt từ 1 giờ đến 6 giờ sáng. Quy định mới này trước hết áp dụng cho các bảng hiệu mới dựng, sử dụng đèn neon, các panô quảng cáo, sau đó sẽ được áp dụng dần cho 3,5 triệu bảng hiệu, bảng chỉ dẫn có chiếu sáng cũ từ đây đến năm 2018. Biện pháp này cho phép tiết kiệm 1 terawatt điện mỗi năm, tương đương mức tiêu thụ điện hàng năm của 370.000 hộ dân.
Quyết định thứ 2 của Chính phủ Pháp có thể được áp dụng từ nay cho đến cuối năm là tắt đèn văn phòng, các tủ kính và cửa hàng thương mại có chiếu sáng vào ban đêm. Theo Ademe, quyết định này có thể đem lại những khoản tiết kiệm mới, ước tính được 2 terawatt điện mỗi năm.
Song Phương


Năng lượng Mới số 157, ra ngày 21/9/2012




"Người Tây" có truyền thống quản lý tốt, họ tiết kiệm năng lượng bằng cách quản lý đến từng cột đèn đường của cả nước, kiểu đèn đang dùng và số giờ chiếu sáng. Cách làm này thật cụ thể, chi li mà vẫn khoa học.

dongdoi_f2
01-10-2012, 07:25 PM
Bán công nghệ hạt nhân cho Trung Quốc, Tập đoàn điện lực Pháp bị tố “cõng rắn cắn gà nhà” (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/ban-cong-nghe-hat-nhan-cho-trung-quoc-tap-doan-dien-luc-phap-bi-to-cong-ran-can-ga-nha.html)

Vì muốn tranh giành thị trường điện hạt nhân với chính một tập đoàn khác của Pháp, Tập đoàn điện lực Pháp (EDF) đã vi phạm các nguyên tắc “bí mật công nghiệp hạt nhân” khi quyết định rao bán cho Trung Quốc nhiều kỹ thuật công nghệ hạt nhân mũi nhọn. Hành động “cõng rắn cắn gà nhà” này đang bị truyền thông Pháp tố cáo.

http://petrotimesgate.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/duyhung/102012/01/17/edf.jpg

Tài liệu mật mà Le Nouvel Observateur có trong tay để tố cáo mối quan hệ nguy hiểm giữa EDF và Trung Quốc
Tờ tuần san Le Nouvel Observateur (của Pháp số ra tuần từ ngày 27/9 đến 3/10) đã đăng tải nguyên 1/4 tờ báo loạt phóng sự điều tra đặc biệt với tiêu đề: “EDF – Trung Quốc: Mối quan hệ nguy hiểm”. Theo nội dung của bản tài liệu mật mà Le Nouvel Observateur đang nắm giữ trong tay, những khoản chuyển nhượng ký kết giữa tập đoàn điện lực quốc gia Pháp và Tập đoàn năng lượng hạt nhân Quảng Đông (CGNPC) có tầm quan trọng rất lớn.
Theo đó, CGNPC có khả năng trở thành nhà cung cấp các “linh kiện lớn”, cũng như là các thiết bị có tính chất chiến lược như lò hơi hay các hệ thống điều khiển, “bảo trì” hay thiết kế tổng hợp … cho EDF, những lĩnh vực chủ chốt của ngành công nghiệp Pháp.
Theo điều tra của tờ tuần báo này, sự việc bắt đầu vào năm 2007. Khi đó, Areva (Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Pháp) quyết đinh liên kết với tập đoàn hạt nhân Mitsubishi (Nhật) để thiết kế một lò phản ứng hạt nhân có công suất 1000 MW, tên gọi là Atmea. Trong dự án này, không có phần tham gia của EDF.
Bên cạnh đó, thị trường điện hạt nhân tại Trung Quốc lại đang nở rộ. Bắc Kinh dự tính trong tương lai cần đến 200 lò phản ứng hạt nhân cỡ trung trong vòng 15 năm. Mà mỗi lò hạt nhân như thế trị giá ít nhất hơn 3 tỷ euro. Do vậy, EDF không có dự định để Areva độc chiếm thị trường béo bở đến như thế.
Thế là, vào tháng 4/2010, EDF đã ký kết với CGNPC “một thỏa thuận hợp tác chung” nhằm thiết kế một mô hình mới dựa theo kiểu mẫu CPR 1000 của Trung Quốc để cạnh tranh với Atmea, kiểu lò hạt nhân do Areva và Mitsubishi cùng xây dựng. Đối với CGNPC, đây là một cơ hội tốt để độc chiếm quyền sở hữu trí tuệ cho kiểu lò hạt nhân này, vốn được CGNPC phát triển vào những năm 1980, từ công nghệ của Areva, nhưng lại không được quyền xuất khẩu công nghệ. Tập đoàn năng lượng hạt nhân Quảng Đông còn làm cho EDF hoa cả mắt, khi nói rằng có thể cùng nhau tham gia các đấu thầu ở nước ngoài, nhất là tại Nam Phi.
Điều đáng nói là sau khi có sự can thiệp của Tổng thống tiền nhiệm Pháp, ông Nicolas Sarkozy, vào tháng 2/2011, những tưởng là Ban thanh tra năng lượng hạt nhân đã có thể hòa hợp được EDF và Areva, để có thể cùng với CGNPC thiết kế lò hạt nhân 1000 MW. Nhưng trên thực tế, EDF vẫn ngầm thương lượng song phương với CGNPC mà không thông qua CEA (Cơ quan nghiên cứu năng lượng hạt nhân và năng lượng thay thế-một tổ chức công) cũng như là Areva.
http://petrotimesgate.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/duyhung/102012/01/17/CGNPC.jpg

Một lò phản ứng hạt nhân đang xây dựng tại Trung Quốc tháng 4/2010
Theo một chuyên gia trong lĩnh vực này, thì rõ ràng “đây là một sự phản bội”. “Một người Pháp - ở đây lại là Tập đoàn điện lực quốc gia Pháp EDF – lại sẵn sàng giúp một tập đoàn quốc gia Trung Quốc – CGNPC – đến cạnh tranh với với một tập đoàn Pháp khác – Areva ngay trên chính thị trường nội địa của mình”.
Quả thật, theo nội dung bản “thỏa thuận khung” thứ hai, EDF và CGNPC sẽ hợp tác thiết kế một lò hạt nhân 1000 MW đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn tốt nhất. Điều kỳ lạ là EDF sẽ từ bỏ quyền sở hữu trí tuệ của tâm lò hạt nhân cho đối tác Trung Quốc. Bên cạnh đó, EDF còn cam kết mở cho CGNPC xem tài liệu và các cơ sở dữ liệu về cách khai thác các trung tâm hạt nhân của mình hiện nay. Cuối cùng là EDF tuyên bố sẵn sàng chia sẻ với Trung Quốc các nghiên cứu của mình trong lĩnh vực “các phần mềm tin học được phân loại”.
Giờ đây, chính Thủ tướng Pháp đang phải đích thân xử lý vụ việc cùng với sự tham gia của 8 vị Bộ trưởng (Năng lượng, Kinh tế, Công nghiệp, Ngoại giao, Quốc phòng…)
S.Phương (Tổng hợp)

huuthanh
03-10-2012, 03:01 PM
10 tuabin điện gió đầu tiên trên biển miền Tây (http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/10/10-tua-bin-dien-gio-dau-tien-tren-bien-mien-tay/)
Chiều ngày 2/10, Ban Quản lý dự án Điện gió Bạc Liêu lắp đặt thành công tua bin điện gió thứ 10 trên vùng biển thành phố Bạc Liêu. Đây là tua bin cuối cùng của giai đoạn 1 có công suất 16 MW được thi công trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt bởi gió to, sóng lớn và đặc biệt là phụ thuộc vào triều cường. Các kỹ sư và hàng trăm công nhân đã làm việc cả ngày lẫn đêm.

http://farm9.staticflickr.com/8182/8049759370_c1884401dd.jpg
Không biết đảo Lý Sơn có thuận gió để làm điện như này không nhỉ?

dongdoi_f2
04-10-2012, 10:50 AM
Tài nguyên tại Bắc Cực:
Khó 'xơi' hơn người ta tưởng (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/kho-xoi-hon-nguoi-ta-tuong.html)


Các lớp băng tại Bắc Cực đang tan nhanh chóng trước sự biến đổi khí hậu, mở ra một mảnh đất hứa hẹn với trữ lượng lớn và giá thành khai thác rẻ hơn những nơi khác trên thế giới cho các công ty dầu khí. Mọi sự chú ý tập trung vào khu vực này gia tăng kể từ năm 2008, thời điểm mà Viện địa chất Mỹ (USGS) đánh giá Bắc Cực nắm giữ khoảng 22% trữ lượng dầu khí của trái đất. Tuy vậy, niềm vui đang giảm dần.


http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/duyhung/102012/03/17/tau_fa_bang.jpg

Việc di chuyển ở Bắc Cực là một thách thức lớn cho các nhà khai thác dầu mỏ và khí đốt
Trong một nghiên cứu mới đây có nhan đề “Bắc Cực không phải là một mỏ vàng cho ngành công nghiệp dầu khí”, hai nhà khoa học Na Uy đánh giá tỷ lệ dầu khí được khai thác tại khu vực này sẽ không tăng trong những năm tới, mà ngược lại còn giảm xuống. Theo đó, sản lượng dầu lửa khai thác tại Bắc Cực vẫn sẽ ở mức ổn định khoảng 8-10% tổng sản lượng của thế giới và sản lượng khí đốt sẽ giảm từ tỷ trọng 22% hiện nay xuống còn khoảng 10%. Nguyên nhân do nhiều khu vực được phát hiện có trữ lượng tài nguyên lớn, nhất là khí đốt không theo quy ước như khí đá phiến, được đánh giá sẽ khởi nguồn cho một cuộc cách mạng năng lượng cho phép các nước như Mỹ đáp ứng đủ nhu cầu của quốc gia này.
Ông Patrice de Viviès, Giám đốc phụ trách khai thác tại Bắc Âu của tập đoàn năng lượng Total (Pháp), nói: “Đến một thời điểm, Bắc Cực trở thành Chén Thánh,… Ngày nay, chúng ta không còn ở trong tình trạng trên bởi có nhiều khu vực khác trên thế giới có tiềm năng. Tại sao phải đi tìm tài nguyên tại một khu vực có điều kiện môi trường khó khăn như vậy trong khi chúng ta có thể tiếp cận các khu vực khác dễ làm việc hơn nhiều”.
Tại Bắc Băng Dương, phần lớn các mỏ dầu khí đều nằm ngoài khơi xa các cơ sở hạ tầng và trong điều kiện hết sức khó khăn bởi thời gian đêm tối và các khối băng trôi gây khó khăn cho công tác khoan thăm dò.


http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/duyhung/102012/03/17/Chtokman.gif

Mỏ khí Chtokman của Nga ở Bắc Cực có trữ lượng khổng lồ nhưng vẫn chưa được khai thác từ gần 25 năm qua do chi phí cao
Total thận trọng với Bắc Cực và đến nay chỉ quan tâm tới các địa điểm trên đất liền hay vùng biển ít băng như biển Barents. Sau nhiều đợt thăm dò triển vọng kết hợp với đối tác Rosneft (Nga), công ty dầu khí Statoil (Na Uy) đang quan tâm nhiều hơn đến Bắc Cực, nhất là tại các khu vực trung gian, nơi lúc này các lớp băng đang tan. Giám đốc bộ phận khai thác tại Bắc Cực của Statoil, Runi Hansen, khẳng định: “Bắc Cực cách đây 20 năm là một thách thức song hiện dễ tiếp cận vùng này. Tôi tin rằng điều tương tự sẽ đến tại các khu vực trung gian ở Bắc Cực trong tương lai”.
Mặc dù đầu tư hàng trăm triệu euro, đến nay công ty Cairn Energy (Anh) và Shell (Anh - Hà Lan) vẫn đang trong cảnh “tay trắng” tại phía Tây đảo Groenland vì những rào cản môi trường. Hai công ty cũng đã phải chịu chi phí nhiều cho các hoạt động khoan thăm dò tại phía Bắc bang Alaska (Mỹ). Là dự án biểu tượng tại hải phận Nga ở biển Barents, mỏ khí Chtokman có trữ lượng khổng lồ vẫn chưa có quyết định khai thác từ gần 25 năm qua do chi phí cao.
Lo ngại hậu quả đối với hệ sinh thái Bắc Cực, thời gian qua các nhà bảo vệ môi trường thuộc tổ chức Hoà bình Xanh không ngừng chống lại các hoạt động khoan thăm dò. Quan chức của Hòa bình Xanh Truls Gulowsen đánh giá: “Bắc Cực rất dễ tổn thương nếu các giàn khoan hiện diện tại đây. Tuy vậy, rất khó chống lại những đợt thăm dò mới”.
H.Phan (Theo AFP)

dongdoi_f2
26-10-2012, 10:19 AM
Nga bắt đầu khai thác mỏ khí khổng lồ ở Bắc Cực (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/nga-bat-dau-khai-thac-mo-khi-khong-lo-o-bac-cuc.html)

(Petrotimes) - Mới đây, tập đoàn khí đốt Gazprom (Nga) đã đưa vào hoạt động một trong những mỏ khí lớn nhất thế giới – mỏ Bovanenkovo trên bán đảo Yamal ở vùng Bắc cực.


http://petrotimesbeta.mastercms.org/stores/news_dataimages/phuonganh/102012/25/17/Artic.jpg

Gazprom đã đưa siêu mỏ Bovanenkovo ở Bắc cực vào hoạt động
Mỏ Bovanenkovo trên bán đảo Yamal tại mỏm cực Tây Bắc Siberia được Gazprom ước tính có trữ lượng 4,9 nghìn tỷ m3 khí đốt và là 1 trong 3 mỏ khí đốt lớn nhất thế giới.
Giới chuyên gia đánh giá đây không chỉ là một sự kiện lịch sử đối với Gazprom mà còn là bước tiến mới trong sự phát triển ngành công nghiệp khí đốt của Nga. Theo ước tính, trong ngắn hạn, khối lượng khai thác khí đốt tại mỏ này sẽ vượt quá 100 tỷ m3/năm. Và quan trọng hơn, đề án quy mô lớn này sẽ xúc tiến qúa trình khai thác các nguồn tài nguyên phong phú của khu vực Bắc Cực.
Việc thăm dò khí đốt trên bán đảo Yamal bắt đầu cách đây hơn 50 năm và từ đó đến nay liên tục có những tiến triển, mặc dù điều kiện khí hậu ở khu vực này rất khắc nghiệt. Bonavenkovo được phát hiện từ những năm 1970 nhưng đến năm 2006, Gazprom mới bắt đầu thăm dò đánh giá trữ lượng mỏ khí đốt này.
Gazprom có kế hoạch đưa mỏ Bovanenkovo đi vào hoạt động từ tháng 6/2012 nhưng việc này đã bị hoãn lại cho đến nay. Trong thời gian trì hoãn, Gazprom đã quyết định thực hiện một chiến lược nhiều rủi ro khi không phát triển các mỏ mới mà mua khí đốt từ các nước khác để đợi Bovanenkovo đi vào hoạt động.
Về lâu dài, Gazprom có kế hoạch khai thác 150 tỷ m3 khí đốt mỗi năm ở mỏ Bovanenkovo, chiếm gần nửa tổng sản lượng khí đốt dự kiến khai thác trên bán đảo Yamal của hãng (khoảng 350 tỷ m3 khí).
Bên cạnh đó, tập đoàn khí đốt khổng lồ nước Nga còn lên kế hoạch xây dựng một nhà máy hóa lỏng khí LNG trên bán đảo Yamal. Trong vòng 25 năm tới, khu vực giàu tài nguyên này cũng sẽ được chính phủ “rót” khoảng 250 tỷ USD để đầu tư phát triển công nghiệp năng lượng. Về phía Gazprom, hãng cũng đang xây dựng một đường ống dẫn khí đốt dài 2.500m nối mỏ Bovanenkovo với hệ thống cung cấp khí đốt quốc gia.
Theo Giám đốc Quỹ Phát triển Năng lượng Sergey Pikin, khai thác năng lượng ở khu vực Yamal và vùng Bắc Cực nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Nga.
“Đây là một trong những dự án quyết định, cốt yếu của Nga sau năm 2020. Hiện nay, cơ sở tài nguyên của Nga là đủ lớn, nhưng các mỏ dầu khí được khai thác từ thế kỷ trước đều đang dần cạn. Vì vậy, nhiệm vụ là duy trì và gia tăng sản lượng khai thác hiện nay. Thềm lục địa Bắc Cực là khu vực đầy hứa hẹn về thăm dò địa chất để sản xuất nhiên liệu hydrocarbon. Gazprom đang tích cực hoạt động theo hướng này, có nghĩa là, chúng ta sở hữu các công nghệ để tiếp tục tiến lên trên con đường này”.
Rõ ràng là, để tiếp tục phát triển vùng Bắc Cực, Nga phải có đối tác nước ngoài: lượng đầu tư vào việc khai thác các mỏ dầu khí trị giá hàng trăm tỷ USD. Tuy nhiên, điều này sẽ mang lại lợi ích cho các khách hàng nước ngoài của Nga – những người cần sự cung cấp năng lượng ổn định và cũng sẽ có lợi cho cả Nga – khi kinh tế của đất nước này phụ thuộc rất lớn vào lĩnh vực dầu khí.
Nga hiện cung cấp khoảng 30% lượng khí đốt nhập khẩu của châu Âu và là nhà xuất khẩu năng lượng lớn nhất thế giới.
Linh Phương (Theo VOR)
P/S: Tại VN một vài công ty Nga đang chào bán LNG cho VN, hiện chưa có hợp đồng nào được ký, nhưng khả năng rất cao. Nguồn cung cấp LNG cho VN đến từ 2 hướng: từ Nga qua tàu chuyên chở LNG xuất cảng ở Viễn đông và nguồn từ Quatar/UAE cũng tàu chở LNG. Hiện tại cũng chỉ nhập LNG số lượng nhỏ.

dongdoi_f2
27-10-2012, 10:36 AM
Các công ty Anh sẽ đồng loạt tăng giá điện và gas


http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=169374&at=0&ts=300&lm=634869264529070000 Ảnh minh họa. (Nguồn: Getty)


Công ty năng lượng EDF vừa tuyên bố sẽ nâng giá điện và gas cung cấp cho các hộ gia đình ở Anh thêm 10,8% - gấp gần năm lần so với tỷ lệ lạm phát hiện nay - bắt đầu từ ngày 7/12 tới đây.

EDF là công ty thứ năm trong số sáu công ty năng lượng lớn nhất ở Anh quyết định tăng giá điện và gas trước mùa Đông năm nay.

Theo các ông ty này, giá điện và gas cung cấp cho các hộ gia đình tăng là do giá bán buôn cũng như chi phí điều hành đều tăng, đặc biệt là chi phí để đưa gas và điện đến người tiêu dùng và chi phí dành cho chương trình hiệu quả năng lượng.

Ông Martin Lawrence, Giám đốc điều hành phụ trách các nguồn năng lượng và cung cấp cho khách hàng của EDF, cho biết giá điện và gas của công ty này hiện nay vẫn thấp nhất trong số các nhà cung cấp mới công bố tăng giá trong hai tháng qua.

Công ty sẽ tiếp tục giúp đỡ các khách hàng giảm các khoản chi cho điện và gas bằng việc cung cấp cho họ những giải pháp hiệu quả năng lượng.

EDF thuộc quyền sở hữu của Pháp và hiện có khoảng 3,1 triệu khách hàng ở Anh. Lợi nhuận của EDF đạt 1,6 tỷ bảng (khoảng 2,5 tỷ USD) trong năm 2011.

Trước đó, bốn "đại gia" năng lượng khác ở Anh là British Gas, NPower, Scottish Power và SSE cũng đã tuyên bố tăng giá điện và gas, với mức tăng trung bình từ 6-9,1%.

E.ON là công ty duy nhất trong nhóm sáu công ty năng lượng lớn nhất ở Anh chưa tăng giá điện và gas sau khi công ty này cam kết giữ nguyên giá trong năm nay. Sáu công ty này hiện chiếm tới 99% thị trường năng lượng của "xứ sở sương mù."./.


Huy Hiệp/London (Vietnam+)

P/S: EDF là công ty quốc doanh của Pháp, hoạt động toàn thế giới. Ở VN, EDF là 1 trong các Nhà đầu tư BOT vào Nhà máy điện Phú Mỹ 2.2, là nhà máy dùng khí đốt mỏ Nam Côn sơn để chạy 2 máy tua bin khí chu trình hỗn hợp (gas turbine combined cycle), tổng công suất 750MW. Liên danh BOT Phú mỹ 2.2 gồm EDF Pháp, BP Anh và General Electric Mỹ.
Thành trì cuả CNTB cũng tăng giá điện và gas?

dongdoi_f2
27-10-2012, 12:41 PM
Pháp cam kết giao lò hạt nhân an toàn nhất cho Việt Nam

Có cơ hội hợp tác với Nhật trong dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2, Pháp cho biết sẽ cung cấp công nghệ lò phản ứng tiên tiến nhất và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm phát triển điện hạt nhân với Việt Nam.


Ông Bernard Bigot, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về năng lượng nguyên tử và Năng lượng thay thế (CEA) trao đổi hôm qua với báo chí nhân chuyến sang thăm Việt Nam và tham gia Triển lãm quốc tế điện hạt nhân tổ chức tại Hà Nội.
- Trong dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Việt Nam đã công bố hai đối tác là Nga xây dựng lò phản ứng số 1 và Nhật giúp Việt Nam xây dựng lò phản ứng số 2, còn Pháp tìm kiếm cơ hội nào?
- Pháp sẽ tham gia trên tinhthần liên kết với đối tác Nhật Bản ở lò phản ứng thứ hai. Điều này có sự thỏa thuận giữa hai Chính phủ Nhật và Pháp. Chúng tôi sẽ cung cấp lò phản ứng hạt nhân cho nhà máy điện Ninh Thuận 2, đồng thời tham gia chuyển tải điện từ khu vực hạt nhân ra khu vực tua-bin. Pháp cùng Nhật sẽ tham gia vào đào tạo nhân lực cũng như chuyển giao kinh nghiệm cho Việt Nam.
Pháp sẽ trao cho Việt Nam kinh nghiệm có một không hai mà chúng tôi tích ũy ít nhất hơn 35 năm qua trong chính sách phát triển điện hạt nhân. Nhờ chính sách đó mà đến nay, điện hạt nhân nước Pháp chiếm 75% điện tiêu thụ cả nước.
Điều quan trọng khi lựa chọn phát triển điện hạt nhân là phải thực hiện cam kết lâu dài. Quãng thời gian cho một nhà máy từ khi xây dựng và kết thúc kéo dài ít nhất 100 năm. Bởi chúng ta cần 7 đến 10 năm cho giai đoạn xây dựng và thiết kế nhà máy, tuổi thọ 60 đến 70 năm cho thế hệ lò mới, khoảng 30 năm còn lại cho việc tháo dỡ lò phản ứng hết hạn, thu dọn và làm sạch môi trường.
Vì thời gian kéo dài như vậy nên phải tính đến nhiều yếu tố như lựa chọn địa điểm, công nghệ lò phản ứng và đặc biệt là công tác đào tạo nguồn nhân lực để bảo đảm an toàn cho nhà máy. Tất cả điều này Pháp đều sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm cho Việt Nam và các đối tác của các bạn.
Chúng tôi cam kết sẽ cung cấp Việt Nam thế hệ lò phản ứng an toàn ngay cả trong tình huống cực đoan nhất cũng sẽ không có nguy cơ phát tán phóng xạ ra ngoài địa điểm xây dựng nhà máy.

- Pháp sẽ cung cấp công nghệ nào cho nhà máy Ninh Thuận 2?
- Chúng tôi sẽ đưa lò phản ứng Atmea-1, thuộc thế hệ 3+, với công suất 1100 MW. Đây là sản phẩm liên doanh giữa Pháp và Nhật. Thế hệ lò phản ứng Atmea-1 tích hợp công nghệ mới nhất, đảm bảo tuân thủ các tiêu chí an toàn khắt khe.
Lò phản ứng đã được kiểm nghiệm, chống lại cả sự cố như ở Fukushima vừa xảy ra. Atmea-1 được chứng nhận về an toàn bởi Cơ quan an toàn về năng lượng hạt nhân Pháp đầu năm 2012 sau 18 tháng kiểm nghiệm. Khoảng thời gian kiểm thử công nghệ mới cũng là lúc xảy ra sự cố Fukushima. Vì thế, Cơ quan an toàn năng lượng hạt nhân Pháp kiểm tra lò phản ứng này có chống chọi lại sự cố xảy ra như ở Fukushima hay không, Atmea-1 đã vượt qua.



http://media12.baodatviet.vn:/2012/10/27/C145094_Atmea12.jpg


Mô hình lò phản ứng Atmea-1. Ảnh: Hương Thu.


- Nhiều nước trên thế giới có xu hướng thu hẹp dần điện hạt nhân như Đức và Nhật. Pháp thì sao?

Công nghệ cho năng lượng hạt nhân rất phức tạp, nhưng nếu chúng ta làm chủ được và đảm bảo mức an toàn, chắn chắn sẽ không có sự cố hay thảm họa xảy ra.

Ở Pháp, từ những năm 70, chúng tôi đã có tầm nhìn rõ ràng là đến cuối thế kỷ 20 trữ lượng nguồn năng lượng hóa thạch của Pháp sẽ hạn chế nên quyết định sẽ sử dụng năng lượng hạt nhân thay thế. Nếu không có quyết định này và thực hiện xây 58 lò phản ứng, chắc chắn đến nay, Pháp sẽ phụ thuộc 92% nguồn nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch từ bên ngoài, trong khi dầu, than đá, gas càng ngày càng trở nên đắt đỏ, hiệu ứng chất thải vào môi trường rất lớn nên sẽ ảnh hưởng tới con người.
Tôi chắc rằng, không nước nào trên thế giới sử dụng điện hạt nhân nếu người ta không có nhu cầu. Tôi vẫn thường nói nước nào sử dụng điện hạt nhân trước khi xảy ra sự cố Fukushima, thì sau khi xảy ra sự cố đó, họ vẫn cần. Tuy nhiên, có điều thay đổi căn bản là vấn đề an toàn đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết sau khủng hoảng hạt nhân ở Nhật.
Nước nào tin tưởng vào khả năng đảm bảo điều kiện an toàn năng lượng hạt nhân thì không có lý do gì từ bỏ. Còn các quốc gia khác có quyền tạm nghỉ chương trình hạt nhân nếu họ không thấy tin tưởng. Ở nước Nhật, sau thảm họa Fukushima, Nhật Bản gặp khó khăn vì làn sóng phản ứng của người dân cho rằng nên xóa bỏ chương trình điện hạt nhân, nước Nhật đã cố gắng nỗ lực giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn điện hạt nhân. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu, họ lại quyết xây thêm 3 nhà máy điện hạt nhân mới. Rõ ràng, giữa mong muốn và thực tế có khoảng cách rất xa.
Nước Pháp không lý do nào từ bỏ năng lượng hạt nhân nếu phát triển một cách hợp lý và an toàn. Trong chính sách năng lượng hạt nhân, Pháp tăng thêm quy định về an toàn để đạt mục tiêu duy nhất là dù có sự cố xảy ra sẽ không có nguy cơ phát tán phóng xạ ra ngoài nhà máy, để người dân không có bất kỳ nguy hiểm nào.
Theo chúng tôi, điện sản xuất từ nguồn điện hạt nhân hiệu quả và gần như ổn định nhất về lâu dài, vì có tới 90% giá điện đó đầu tư vào thiết bị xây dựng ban đầu, chỉ 10% cho chi phí vận hành và quản lý.
- Các ông làm thế nào để người dân ủng hộ chương trình xây dựng điện hạt nhân?
- Khi chúng ta lựa chọn xây dựng nhà máy cần có sự tin tưởng của tất cả các bên liên quan tới dự án điện hạt nhân đó. Người ta phải hiểu được dự án mang lại lợi ích gì và nguy cơ nào. Vì thế Pháp cố gắng đạt sự tin tưởng công chúng, đặt minh bạch lên hàng đầu. Tất cả người dân bình thường nước Pháp đều có quyền biết, đặt câu hỏi và nhận giải đáp từ cơ quan chức năng liên quan đến điện hạt nhân.
Để làm điều đó, nước Pháp thiết lập hệ thống các tổ chức cơ quan phục vụ thông tin tới công chúng như Cơ quan an toàn hạt nhân hoạt động độc lập, Cơ quan cấp độ địa phương ở khu vực có nhà máy điện hạt nhân, Ủy ban cấp cao về minh bạch và an toàn hạt nhân, gồm viên gồm các đại biểu nghị viện, đại biểu của các hội đồng địa phương, nhà khoa học, đại diện của các nhà vận hành và đại diện tổ chức xã hội dân sự của người dân và cả tổ chức hoạt động phản đối năng lượng hạt nhân.
-Xin cảm ơn ông.

Theo Vnexpress

dongdoi_f2
06-11-2012, 12:04 PM
Dòng chảy phương Nam: Quân bài địa chính trị của Kremlin (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/dong-chay-phuong-nam-quan-bai-dia-chinh-tri-cua-kremlin.html)


- Việc đạt được thỏa thuận với các nước Balkan cho phép Gazprom lắp đặt hệ thống đường ống dẫn khí đốt tới châu Âu trong dự án Dòng chảy phương Nam (South Stream) đánh dấu sự thắng lợi của Nga trong ván bài năng lượng với châu Âu.
Nga đang khẩn trương hoàn tất đàm phán với các nước Balkan cũng như một số nước Trung và Đông Âu để có thể bắt tay xây dựng đường ống dẫn khí South Stream trước thời điểm cuối năm. Ngày 29/10 vừa qua, Serbia đã trở thành đối tác đầu tiên ở Balkan của Gazprom ký kết thỏa thuận đầu tư hoàn tất xây dựng dự án này. Với Bulgaria, Hungary và Slovenia, vấn đề cũng có vẻ như chỉ còn là một chuyến bay của Tổng giám đốc Gazprom Alexei Miller tới các nước này và đặt bút ký vào các thỏa thuận cuối cùng trong khoảng 2 tuần tới.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/chudiepquynh/112012/06/10/South_Stream.jpg


Đường đi của dòng chảy phương Nam

Như vậy, từ sau khi ký được thỏa thuận với Thổ Nhĩ Kỳ tháng 12/2011 cho phép Nga đặt đường ống chạy qua vùng lãnh hải của nước này trên Biển Đen, điện Kremlin có vẻ tiến gần hơn để đạt được hai mục tiêu chính trị lớn: Tránh phải đi qua Ukraine trong cung cấp nhiên liệu cho châu Âu trong tương lai và vượt trước dự án đường ống dẫn khí Nabucco - dự án “con cưng” của Mỹ và Liên minh châu Âu được thiết kế để dẫn khí đốt từ Caspian sang châu Âu qua Thổ Nhĩ Kỳ và tránh sự phụ thuộc năng lượng vào Nga.
Riêng ở Serbia, không giống các thỏa thuận song phương khác tại Balkan, khi các bên tham dự đều chiếm tỷ lệ nắm giữ là 50/50, Serbijagas - đối tác của Gazprom tại Serbia chấp nhận chỉ nắm giữ 49% và phần còn lại (51%) do Gazprom sở hữu, điều này cho phép Nga đóng vai trò quyết định đối với dự án. Những lợi nhuận mà Nga dành cho Serbia có vẻ hấp dẫn hơn nhiều chiếc vé gia nhập Liên minh EU bởi khối này không chấp nhận một nước ngoài EU (ở đây là Nga), nắm quyền quyết định với một dự án năng lượng thiết yếu nằm ngay trên lãnh thổ EU. Đương nhiên tư cách gia nhập EU của Serbia sẽ phải được EU cân nhắc và đương nhiên, châu Âu sẽ càng thêm lo ngại trước những nỗ lực duy trì quyền kiểm soát với toàn bộ dự án của Gazprom. Cao ủy châu Âu phụ trách về năng lượng Guenter Oettinger kêu gọi một cuộc họp cấp bộ trưởng về vấn đề Dòng chảy phương Nam tại Brussels hôm 29-10 với sự tham dự của quan chức từ Bulgaria, Croatia, Hy Lạp, Hungary, Italy, Slovalia, Áo và Romania. Cuộc họp xoay quanh vấn đề liệu các nước có Dòng chảy phương Nam đi qua có đồng ý chấp nhận để Ủy ban châu Âu tham gia hợp tác trong việc thỏa thuận với Nga hay không. EU mong muốn các thỏa thuận song phương được ký bởi thành viên hiện tại của EU phải phù hợp hoàn toàn theo các quy định của EU.
Trong khi đó, Moscow đang gấp rút bắt đầu xây dựng đường ống trước khi chương trình mang tên Gói năng lượng thứ 3 của EU có hiệu lực từ tháng 3/2013. Những quy định mới từ chương trình này yêu cầu các nước ngoài EU, giống như Nga, cần có sự cho phép của các nhà cung cấp EU khi xây dựng đường ống dẫn dầu và khí đốt tại châu Âu. Tất nhiên là, theo như các nguồn tin từ Cao ủy EU thì nỗ lực thúc đẩy hoàn thành South Stream sẽ không làm hỏng các quy định của EU về môi trường và chống độc quyền. Tuy nhiên, EU sẽ kiểm soát chặt chẽ các nước hợp tác với Nga trong vấn đề năng lượng, buộc các nước này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của khối.
Mặc dù không công khai phản đối Dòng chảy phương Nam nhưng ưu tiên của EU vẫn là đường ống dẫn khí đốt Nabucco (thuộc Hành lang năng lượng phía nam) dẫn khí từ biển Caspian qua Thổ Nhĩ Kỳ tới châu Âu. Theo như tiết lộ mới đây của Ủy ban châu Âu, Bulgaria phải cam kết triệt để hơn trong việc phát triển Hành lang năng lượng phía Nam do EU bảo trợ nhằm đa dạng hóa nguồn cung khí đốt tự nhiên cho châu Âu.
Tuy nhiên, việc Nga ký thỏa thuận thành công với các nước Balkan cho phép xây dựng đường ống qua lãnh thổ các nước này thâm nhập thẳng vào trung tâm châu Âu, nơi tập trung các nền kinh tế trọng tâm của EU có ý nghĩa quan trọng về địa chính trị với Nga, bởi kết quả này giúp Nga ngày càng độc lập hơn với Ukraine, Belarus và Ba Lan trong vấn đề vận chuyển năng lượng. Đồng thời, việc South Stream đi vào hoạt động sớm sẽ giúp Nga giành được ưu thế trước dự án Nabucco, dẫn khí đốt từ Trung Đông sang châu Âu, làm tăng sức mặc cả của Nga với châu Âu trong vấn đề năng lượng. Ước mơ đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng với châu Âu vẫn còn là xa vời và trong tương lai, châu Âu vẫn tiếp tục phụ thuộc vào Nga về vấn đề năng lượng.



Hệ thống đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Nam được thiết kế để vận chuyển đến 63 tỉ m3 khí đốt tự nhiên từ Nga tới miền Trung và miền Nam châu Âu mà không đi qua Ukraine. Các cổ đông chính của hệ thống đường ống dẫn khí đốt Dòng chảy phương Nam (South Stream) bao gồm Gazprom với 50%, Eni của Italia với 20%, Wintershall của Đức với 15% và GDF của Pháp với 15% còn lại. South Stream dự kiến bắt đầu khởi công vào tháng 12-2012. Đến năm 2015, phần đầu tiên của hệ thống đường ống sẽ được đưa vào hoạt động và đến năm 2016, trong quý đầu tiên, sẽ bắt đầu cung cấp khí đốt cho các khách hàng Trung và Nam Âu.




Khôi Nguyên

dksaigon
06-11-2012, 02:11 PM
Ngành điện lỗ ngập đầu (http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/95515/nganh-dien-lo-ngap-dau.html) Không chỉ lỗ lã, thất thu, hàng loạt dự án điện còn không thể khởi công theo kế hoạch hay hoàn thành đúng tiến độ.
Trong báo cáo mới đây gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) đã chỉ ra nhiều bất cập trong phát triển các ngành năng lượng và đề xuất những giải pháp tháo gỡ.

Lỗ hàng ngàn tỉ đồng

Theo khảo sát của VEA, nhiều nhà máy điện đang lỗ cả ngàn tỉ đồng. Cụ thể, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương, Cao Ngạn của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chỉ bán được điện với giá 800 đồng/KWh nên tính cả trượt giá về ngoại tệ và than bán dưới giá thành thì lỗ tới hàng ngàn tỉ đồng.

Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I hiện đang hoạt động tổ máy 1 có công nghệ tuabin ngưng hơi truyền thống. Do chưa có nguồn khí, nhà máy này phải chạy dầu FO để cung cấp điện cho khu vực Cần Thơ và miền Tây Nam Bộ với giá thành 3.500 đồng - 4.500 đồng/KWh trong khi giá bán chỉ chưa bằng 1/3, không thể tham gia thị trường phát điện cạnh tranh.

Ngoài ra, một số nhà máy điện chu trình hỗn hợp tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Phú Mỹ, Nhơn Trạch của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng phải chạy dầu DO khi không có khí nên phải chịu lỗ tới hàng chục ngàn tỉ đồng.
Một yếu tố khác khiến EVN thất thu hàng chục ngàn tỉ đồng là nền kinh tế suy thoái, điện bán cho khối doanh nghiệp (chiếm 70% sản lượng điện thương phẩm của EVN) bị hạn chế.

Những bất cập trong vận hành thị trường điện cạnh tranh từ ngày 1-7 cũng là nguyên nhân làm nhiều nhà máy giảm doanh thu. Kết quả khảo sát của VEA cho thấy nguồn điện chạy than được huy động qua thị trường phát điện cạnh tranh với giá thấp hơn giá thành sản xuất, lại không được huy động hết công suất. Đặc biệt, các nhà máy nhiệt điện thuộc TKV chỉ huy động được khoảng 30% công suất, nhiều tổ máy phải dừng hoạt động. Việc ngừng máy và khởi động máy diễn ra liên tục, mỗi lần tốn kém 3-4 tỉ đồng. Khá nhiều nhà máy điện bị lỗ, lãng phí nguồn phát và doanh thu thấp, không đủ trả lương cho cán bộ, nhân viên.

Bệnh kinh niên: Chậm tiến độ

Theo Quy hoạch điện VII, giai đoạn từ nay đến năm 2015 sẽ phải hoàn thành gần 110 công trình nguồn điện, hơn 300 công trình lưới và các trạm biến áp. Nhưng đến nay, nhiều dự án đều chậm tiến độ, có nguy cơ ảnh hưởng đến việc cung cấp điện từ năm 2013. Trong Quy hoạch điện VII, khối lượng công việc chủ yếu vẫn thuộc về EVN.

Báo cáo của Ban Chỉ đạo Nhà nước về quy hoạch phát triển điện lực quốc gia cho thấy dự kiến năm nay, chỉ có 2/15 dự án đưa vào vận hành đạt tiến độ đúng kế hoạch. Trong năm 2013, 3/8 dự án sẽ không thể khởi công đúng kế hoạch. Các dự án còn lại đều bị chậm tiến độ từ 3 tháng đến một năm.

Đáng lưu ý là các dự án chậm tiến độ năm sau đều là dự án trọng điểm cung cấp điện cho miền Nam và miền Trung nên nguy cơ thiếu điện ở khu vực này từ mùa khô năm 2013 là rất cao. Nguyên nhân chính gây chậm tiến độ của các dự án điện là thiếu vốn đầu tư, giải phóng mặt bằng và năng lực nhà thầu hạn chế.


_______

Chuẩn bị tăng giá?! :-$

dksaigon
12-11-2012, 04:23 PM
Ngừng dự án thủy điện vì dân (http://phapluattp.vn/201211121202268p0c1112/ngung-du-an-thuy-dien-vi-dan.htm)

Myanmar dừng dự án thủy điện lớn thứ 15 thế giới. Bốn đập thủy điện bị phá ở Mỹ để bảo vệ cá hồi.

Đập Tam Hiệp tại Trung Quốc đang gây lo ngại động đất. Nhiều nước không mong muốn xây đập bằng bất kỳ giá nào.

Tháng 12-2006, dự án đập thủy điện Myitsone được khởi động tại Myanmar sau khi Bộ Điện lực số 1 của Myanmar và Tổng Công ty Đầu tư điện lực Trung Quốc (CPIC) ký kết văn bản ghi nhớ.
Báo cáo gian dối của đập thủy điện
Đập Myitsone trên sông Irrawaddy cách TP Myitkyina (thủ phủ bang Kachin) 37 km. Lễ động thổ diễn ra vào cuối năm 2009. Theo thiết kế, đập dài 1.310 m, cao 139 m, hồ chứa rộng 766 km2 , sâu 290 m. Dự kiến khi hoàn thành vào năm 2019, đập Myitsone sẽ trở thành đập thủy điện lớn thứ 15 thế giới với công suất 6.000 megawatt/năm. Tổ chức Sông ngòi quốc tế (Mỹ) ghi nhận có 47 làng bị ngập và 10.000 dân sẽ bị xáo trộn chỗ ở.
Để thực hiện dự án, một liên doanh đã được thiết lập giữa CPIC cùng với các công ty Asia World Myanmar và Suntac Technologies của Myanmar, Công ty Điện lực Myanmar và Công ty Điện lực Kansai của Nhật. Chính phủ Myanmar được chia 10% sản lượng điện hằng năm và nắm giữ 15% cổ phần. 90% lượng điện sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc. Sau 50 năm, chính phủ Myanmar sẽ sở hữu hoàn toàn dự án. Tổng chi phí khoảng 3,6 tỉ USD, trong đó phần chủ yếu do CPIC gánh.
CPIC đã giao cho Viện Khảo sát, quy hoạch, thiết kế và nghiên cứu Trường Giang kết hợp với Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Myanmar (BANCA) thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (gọi tắt là báo cáo). Tháng 3-2010, CPIC có trong tay báo cáo và tháng 9-2011 công bố. Tuy nhiên, báo cáo có dấu hiệu gian dối vì có nhiều điểm trái ngược với kết luận của BANCA.

http://phapluattp.vcmedia.vn/zmFXaMf02iyYngijCf8krGuUCNG8J4/Image/2012/11/12-11/6-chot-fe240.jpg

Các nhà hoạt động môi trường biểu tình phản đối dự án đập thủy điện Myitsone ở Yangoon (Myanmar) hồi tháng 9-2011. Ảnh: EPA
Tiến sĩ Htin Hla, Chủ tịch BANCA, cho biết thời gian khảo sát để thực hiện báo cáo như trên thông thường phải mất bảy tháng, tuy nhiên theo yêu cầu từ các chuyên gia Trung Quốc, báo cáo hoàn thành chỉ trong năm tháng.
BANCA đề nghị xây dựng hai đập thủy điện nhỏ thay thế đập Myitsone và xây dựng hai công viên quốc gia cùng nhiều biện pháp bổ sung khác để bảo đảm dự án không tác động xấu và hủy hoại rừng. BANCA cũng nhận định dự án sẽ ảnh hưởng đến ngư dân do một số loài thủy sản sẽ bị giảm vì điều kiện thủy văn thay đổi.
Nội dung báo cáo hoàn toàn không đề cập gì đến các đề nghị này. Hơn nữa, từ cuối năm 2009, CPIC tiến hành xây dựng đập không đợi hoàn tất báo cáo.
Tôn trọng dân, ngừng dự án
Đập thủy điện Myitsone chỉ cách điểm đứt gãy địa chất Sagaing chưa đầy 100 km. Người dân trong khu vực dự án lo ngại nếu động đất xảy ra, đập có thể bị vỡ đe dọa hàng trăm ngàn người sống ở hạ lưu tại TP Myityina mặc dù chính phủ Myanmar nói đập sẽ chịu được động đất mạnh 8 độ Richter.
Ngay từ khi dự án mới được đề xuất vào năm 2001, dân địa phương đã lên tiếng phản đối. Năm 2007, 12 lãnh đạo địa phương ở bang Kachin đã gửi thư đến Thống tướng Than Shwe yêu cầu hủy bỏ dự án. Ba năm sau, Tổ chức Mạng lưới sông ngòi Myanmar cũng gửi thư yêu cầu chính phủ Trung Quốc buộc các công ty Trung Quốc xây dựng dự án phải thực hiện báo cáo đánh giá môi trường và xã hội, trong đó phải xem xét ý kiến của dân sống trong khu vực dự án.
Tháng 2-2010, Tổ chức Quốc gia Kachin (Anh) đã tổ chức biểu tình phản đối dự án trước các đại sứ quán Myanmar ở Anh, Nhật, Úc và Mỹ. Báo chí Myanmar công khai chỉ trích dự án thiếu minh bạch.
Ngày 17-9-2011, tại thủ đô Naypyidaw, chính phủ Myanmar đã tổ chức cuộc hội thảo đánh giá lại dự án có các bộ trưởng, các nhà đầu tư Trung Quốc và các tổ chức phi chính phủ tham dự. Tại hội thảo, nhiều ý kiến kêu gọi xem xét lại các điều khoản của hợp đồng xây dựng dự án đồng thời cân nhắc dự án từ các khía cạnh kinh tế, xã hội và quốc phòng.
Trước áp lực phản đối ngày càng gia tăng, cuối tháng 11-2011, Tổng thống Thein Sein tuyên bố dự án sẽ bị ngưng lại trong nhiệm kỳ của ông (đến năm 2015). Một trong những lý do ngưng dự án là chính phủ tôn trọng ý kiến người dân và có trách nhiệm giải quyết các mối lo ngại của dân đối với dự án.

http://phapluattp.vcmedia.vn/zmFXaMf02iyYngijCf8krGuUCNG8J4/Image/2012/11/12-11/6-box-fe240.jpg

Đập thủy điện Myitsone ở bang Kachin (Myanmar) thi công dở dang phải ngưng. Ảnh: ASIAN NEWS
Phá bốn đập để bảo vệ cá hồi
Tại Mỹ vào tháng 2-2010, trong một thỏa thuận lịch sử với 45 tổ chức gồm các cơ quan liên bang, các hiệp hội nghề cá, hiệp hội bảo tồn tự nhiên, các bộ tộc da đỏ ở hai bang California và Oregon, Công ty PacifiCorp đã đồng ý phá bỏ bốn đập thủy điện Iron Gate, J.C. Boyle, Copco 1 và Copco 2 trên sông Klamath ở Bắc California giáp bang Oregon. Thời hạn phá đập bắt đầu từ năm 2020. Bốn đập nêu trên được xây dựng lần lượt trong các thập niên 1920, 1930, 1950 và 1960.
Mạng klamathriverrestoration.org (Mỹ) ghi nhận Klamath là con sông lớn thứ ba ở bang California và là sông có sản lượng cá hồi dồi dào thứ ba ở Mỹ. Năm 2006, Hiệp hội Câu cá thể thao Mỹ và 11 tổ chức bảo tồn thiên nhiên đã yêu cầu Công ty PacifiCorp phải phá bỏ bốn đập khi công ty xin Ủy ban Quản lý năng lượng liên bang gia hạn hoạt động của bốn đập thêm 50 năm nữa.
Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên nhận định bốn đập thủy điện trên sông Klamath đã ngăn chặn cá hồi bơi ngược về thượng nguồn để sinh sản. Ngoài ra, bốn đập cũng ngăn cản dòng chảy ở một số khu vực hạ nguồn khiến nước tù đọng, làm nhiều loài tảo độc sinh sôi mạnh ảnh hưởng đến môi trường sống của cá hồi vốn là nguồn thức ăn chính của các bộ tộc da đỏ trong khu vực.
Sau đó, nhiều cơ quan liên bang và cơ quan ban ngành liên quan cùng các bộ tộc da đỏ ở hai bang California và Oregon cùng góp thêm tiếng nói đòi phá hủy bốn đập. Hai năm sau, Công ty PacifiCorp đồng ý thảo luận để phá bỏ bốn đập. Chi phí phá bỏ khoảng 450 triệu USD, trong đó PacifiCorp chịu 200 triệu USD và chính quyền bang California đóng góp 250 triệu USD còn lại.

Đập Tam Hiệp làm động đất tăng gấp 30 lần
Tại Trung Quốc, đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử ở thị trấn Tam Đẩu Bình thuộc TP Nghi Xương (tỉnh Hồ Bắc) là đập thủy điện lớn nhất thế giới và cũng là đập mang tai tiếng nhất thế giới. Đập hoàn thành vào tháng 7-2012. Đập cao 181 m, dài 2.335 m, có tổng vốn đầu tư gần 39 tỉ USD. Dự kiến đập sản xuất 22.500 megawatt/năm.
Đập được xây dựng từ năm 1994. Khoảng 2 triệu dân phải di dời. Hồ chứa nước dài 600 km của đập Tam Hiệp làm ngập khoảng 1.300 địa chỉ khảo cổ và tiêu diệt vẻ đẹp huyền thoại của khu vực Tam Hiệp.
Tổ chức Sông ngòi quốc tế cho biết hồi tháng 5-2011, Cục Địa chấn Trung Quốc đưa công bố báo cáo nghiên cứu xác nhận đập Tam Hiệp làm gia tăng hoạt động địa chấn. Có 3.429 cơn động đất xảy ra ở khu vực quanh hồ chứa nước và tỉnh Hồ Bắc từ tháng 6-2003 đến tháng 12-2009, tăng gấp 30 lần so với trước khi xây đập. Hầu hết các vụ động đất dưới 2,9 độ Richter nhưng có một vụ đạt 4,1 độ Richter. Tháng 5-2011, lần đầu tiên Quốc vụ viện thừa nhận các yêu cầu khẩn cấp của đập Tam Hiệp bao gồm bảo vệ môi trường, ngăn ngừa thảm họa địa chấn và bảo vệ đời sống người dân.

dongdoi_f2
12-11-2012, 07:41 PM
Ngừng dự án thủy điện vì dân (http://phapluattp.vn/201211121202268p0c1112/ngung-du-an-thuy-dien-vi-dan.htm)

Myanmar dừng dự án thủy điện lớn thứ 15 thế giới. Bốn đập thủy điện bị phá ở Mỹ để bảo vệ cá hồi.

Đập Tam Hiệp tại Trung Quốc đang gây lo ngại động đất. Nhiều nước không mong muốn xây đập bằng bất kỳ giá nào.

Tháng 12-2006, dự án đập thủy điện Myitsone được khởi động tại Myanmar sau khi Bộ Điện lực số 1 của Myanmar và Tổng Công ty Đầu tư điện lực Trung Quốc (CPIC) ký kết văn bản ghi nhớ.
Báo cáo gian dối của đập thủy điện
Đập Myitsone trên sông Irrawaddy cách TP Myitkyina (thủ phủ bang Kachin) 37 km. Lễ động thổ diễn ra vào cuối năm 2009. Theo thiết kế, đập dài 1.310 m, cao 139 m, hồ chứa rộng 766 km2 , sâu 290 m. Dự kiến khi hoàn thành vào năm 2019, đập Myitsone sẽ trở thành đập thủy điện lớn thứ 15 thế giới với công suất 6.000 megawatt/năm. Tổ chức Sông ngòi quốc tế (Mỹ) ghi nhận có 47 làng bị ngập và 10.000 dân sẽ bị xáo trộn chỗ ở.
Để thực hiện dự án, một liên doanh đã được thiết lập giữa CPIC cùng với các công ty Asia World Myanmar và Suntac Technologies của Myanmar, Công ty Điện lực Myanmar và Công ty Điện lực Kansai của Nhật. Chính phủ Myanmar được chia 10% sản lượng điện hằng năm và nắm giữ 15% cổ phần. 90% lượng điện sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc. Sau 50 năm, chính phủ Myanmar sẽ sở hữu hoàn toàn dự án. Tổng chi phí khoảng 3,6 tỉ USD, trong đó phần chủ yếu do CPIC gánh.
CPIC đã giao cho Viện Khảo sát, quy hoạch, thiết kế và nghiên cứu Trường Giang kết hợp với Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Myanmar (BANCA) thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (gọi tắt là báo cáo). Tháng 3-2010, CPIC có trong tay báo cáo và tháng 9-2011 công bố. Tuy nhiên, báo cáo có dấu hiệu gian dối vì có nhiều điểm trái ngược với kết luận của BANCA.




.... Dự kiến đập sản xuất 22.500 megawatt/năm.
.
- Tại VN, các dự án năng lượng quốc tế sẽ áp dụng theo hướng dẫn của WB/ADB về các dự án năng lượng trên toàn thế giới. Với VN, chỉ sau khi ký Hợp đồng/Thỏa tuận Hợp đồng (Contract/Contract Agreement) thì các bên mới được triển khai dự án. Ký bản ghi nhớ (MOU) không có giá trị pháp lý ràng buộc gì hết.
- báo cáo đánh giá tác động môi trường (gọi tắt là báo cáo): VN gọi tắt là Báo cáo DTM.

- Dự kiến đập sản xuất 22.500 megawatt/năm.: Trong ngành điện không có đơn vị đo này (MW/năm), không hiểu tác giả bài báo nói gì?

dongdoi_f2
13-11-2012, 06:53 PM
Myanmar: Chiến trường năng lượng Đông - Tây mới (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/myanmar-chien-truong-nang-luong-dong-tay-moi.html)


Thế giới đang chú ý đến Myanmar không chỉ đây là một trong những điểm đến đầu tiên của Tổng thống Mỹ Barack Obama sau khi tái cử mà còn bởi quốc gia này sở hữu nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt dồi dào, cùng vị trí địa chính trị quan trọng đang trở thành một nhân tố quan trọng trong chiến lược “trọng tâm châu Á” của Mỹ và chính sách năng lượng của Trung Quốc…

Những biến chuyển trên chính trường Myanmar và sự chú ý đặc biệt của Mỹ tới “mảnh đất màu mỡ cuối cùng của châu Á” gần đây đã khiến quốc gia này trở thành “một trọng tâm mới” trong chính sách năng lượng của các cường quốc nói riêng của công ty dầu mỏ thế giới nói chung, từ Đông sang Tây, từ phương Tây cho đến châu Á.

Bí ẩn tiềm năng dầu khí

Trải qua gần nửa thế kỷ dưới sự cai trị của chính quyền quân sự, bị phương Tây trừng phạt và chìm đắm trong những mâu thuẫn sắc tộc, xung đột phe phái và gần như chỉ có Trung Quốc “chơi” với, Myanmar là một nước “hơi khép kín, biệt lập và khó hiểu” trong mắt cộng đồng quốc tế. Thậm chí, trữ lượng dầu khí của nước này dù được coi là tiềm năng nhưng con số chính xác cũng vẫn là một bí ẩn. Phát hiện dầu mỏ đầu tiên của Myanmar là vào năm 1853, sớm hơn Mỹ đến 6 năm. Nhưng con số trữ lượng công bố trong những dữ liệu trước đây thu thập với các thiết bị cũ là không đáng tin cậy. Và ngoài ra, tài liệu của mỗi một tổ chức, cơ quan khác nhau lại có những đánh giá khác nhau.
Cuối năm 2010, thống kê của BP xác định trữ lượng khí đốt xác minh của Myanmar ở mức 334,14 tỉ m3, chiếm 0,2% trữ lượng toàn thế giới. Trong khi đó, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), cũng vào năm 2010, liệt Myanmar vào vị trí thứ 37 thế giới về trữ lượng khí đốt tự nhiên với 283,2 tỉ m3. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Năng lượng Myanmar Than Htay, tiềm năng khí đốt tự nhiên của Myanmar còn triển vọng hơn nhiều với trữ lượng ước tính đạt 637,1 tỉ m3.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/chudiepquynh/112012/13/09/drilling_rig.jpg


Myanmar có nguồn tài nguyên dầu khí và khoáng sản dồi dào chưa được khai thác

Bên cạnh đó, cũng theo Bộ Năng lượng Myanmar, trữ lượng dầu mỏ chứng minh của Myanmar ở trên bờ là 104 triệu thùng và ngoài bờ là 35 triệu thùng, trữ lượng dầu mỏ hồi phục thậm chí còn có thể lên tới hơn 200 triệu thùng. Ngoài ra, với sản lượng khai thác 19.600 thùng dầu thô và gần 42 nghìn m3 khí mỗi ngày, Myanmar đứng thứ 75 về sản lượng khai thác dầu thô và 36 về sản lượng khai thác khí đốt toàn cầu trong năm 2010.
Căn cứ vào những con số đó, có thể thấy Myanmar không phải là nước giàu có tài nguyên dầu khí cho lắm nhưng sức hấp dẫn thì không thể phủ nhận. Thực tế, nhiều năm bị phương Tây cấm vận khiến công tác thăm dò đánh giá trữ lượng dầu khí của Myanmar vẫn còn nhiều thiếu sót, đồng nghĩa với việc vẫn còn có những phát hiện dầu khí mới đã, đang và sẽ được tìm ra. Ví dụ, Công ty Dầu lửa Miến Điện, một liên doanh với Công ty Dầu khí Quốc gia Myanmar (MOGE) và Sinopec (Trung Quốc) hồi tháng 1/2012 đã công bố một phát hiện khí đốt khổng lồ ở khu mỏ Pahtolon, miền Trung Myanmar mà theo truyền thông nước này, có trữ lượng ước tính 25,74 tỉ m3 khí và 7,16 triệu thùng condensate.

Khi Trung Quốc không còn là “người chơi chính”

Trong quá khứ, Trung Quốc có thể “yên vị” là đối tác hàng đầu của Myanmar và sự thực, siêu cường này đã tranh thủ tạo dựng được cho mình một hệ thống cơ sở cung cấp năng lượng quan trọng cho mình ở Myanmar. Ở khu vực vịnh Bengal - nơi được cho là cực kỳ giàu tài nguyên dầu khí, Trung Quốc đã rót hàng tỉ USD đầu tư khai thác dầu khí và hiện tại đang xây dựng hai đường ống, một dẫn dầu thô, một dẫn khí đốt tại nơi này. Ngoài ra, Bắc Kinh còn đang nuôi kế hoạch xây dựng hệ thống đường ống dẫn dầu từ Myanmar sang Trung Quốc sao cho đáp ứng 20% nhu cầu tiêu thụ dầu khí của quốc gia này.
Có thể nói, Myanmar chính là một trong những chìa khoá năng lượng của Trung Quốc không chỉ bởi nguồn tài nguyên dầu khí, khoáng sản tiềm năng mà còn bởi hơn 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua eo biển Malacca - vùng biển vốn nổi tiếng bởi nạn cướp biển. Nếu Trung Quốc có thể xây dựng một hệ thống dẫn dầu từ Myanmar đủ mạnh sang Trung Quốc, thì quốc gia này sẽ không phải lo chuyện tàu bè đi qua eo biển Malacca nữa. Thêm vào đó, dầu khí được vận chuyển thẳng từ Myanmar sang Trung Quốc, sẽ tiết kiệm được chi phí vận chuyển đáng kể do khoảng cách địa lý gần hơn.
Tuy nhiên, kể từ khi các cường quốc phương Tây nới lỏng các lệnh cấm vận với Myanmar, tình hình đã khác - Naypyidaw đã mở cửa và sẵn sàng cho các cuộc đàm phán, kêu gọi đầu tư nước ngoài, đặc biệt vào lĩnh vực dầu khí. Vòng đấu thầu thăm dò 18 lô dầu khí trong tháng 7/2011, trước khi được Hoa Kỳ nới lỏng các biện pháp trừng phạt, là vòng đấu thầu chính thức đầu tiên được tổ chức trong 5 năm trở lại đây của Myanmar. Và cho tới nay, qua một số lần mở thầu nữa, bên cạnh các công ty dầu khí Trung Quốc, đã có rất nhiều công ty năng lượng quốc tế đang đầu tư hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư vào nước này, trong đó có Total (Pháp), Petronas (Malaysia), PTT (Thái Lan), Jubilant (Ấn Độ) và sắp tới có thể là Shell (Hà Lan), Chevron (Mỹ)…
Hy vọng phất lên, đổi đời nhờ ngành công nghiệp năng lượng của Myanmar là có cơ sở, tuy nhiên, không phải không có những trở ngại. Ngành công nghiệp này đang vấp phải rào cản “lòng tin” từ phía các nhà đầu tư nước ngoài. Các công ty dầu khí Mỹ và châu Âu luôn bày tỏ lo ngại về vấn đề về tính minh bạch và độ khả tin của ngành công nghiệp năng lượng Myanmar, cũng như là những liên hệ của ngành này với giới quân sự. Gần đây nhất, bà Aung San Suu Kyi, chủ nhân của giải thưởng Nobel Hòa Bình khuyến cáo các doanh nghiệp không nên làm ăn với Công ty Dầu khí Quốc gia Myanmar (MOGE) do thiếu tính minh bạch và trách nhiệm.
Thêm vào đó, Mỹ mặc dù đã xóa bỏ lệnh cấm vận với Myanmar nhưng Washington yêu cầu các công ty phải công bố toàn bộ thông tin khi “bắt tay làm ăn” với nước này. Thực tế, mới đây, Myanmar đã phải trì hoãn một cuộc đầu thầu khai thác dầu và khí đốt tại Myanmar dự kiến diễn ra trong tháng 9 sau khi các công ty dầu mỏ châu Âu như: ConocoPhillips, Hess Corp, Royal Dutch Shell, BP , BG Group và Tập đoàn Woodside Petroleum của Australia ngỏ ý muốn tham gia đấu thầu. Giải thích lý do cho động thái này của chính phủ Myanmar, một quan chức trong ngành Dầu khí Myanmar tiết lộ, các tập đoàn dầu khí châu Âu thường đặt ra những tiêu chuẩn ngặt nghèo về tính minh bạch, môi trường, xã hội và các tác động đến hệ sinh thái. Vì vậy, Myanmar cần thêm thời gian để hoàn thiện các quy định nhằm hợp lý hóa các tiêu chuẩn trên.
Khẳng khái nhìn nhận các hạn chế của mình và tích cực hoàn thiện các cơ chế luật pháp hỗ trợ đầu tư nước ngoài, với sự nới lỏng cấm vận của Mỹ và cải cách chính trị, kinh tế ngày càng quyết liệt ở Myanmar, ngành công nghiệp dầu khí của Myanmar chắc chắn sẽ thu hút được sự quan tâm của nhiều công ty năng lượng quốc tế với dòng vốn đầu tư khổng lồ.



Đến năm 2011, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dầu khí của Myanmar đạt 13,8 tỉ USD với 104 dự án, chiếm 31,48% và đứng thứ 2 trong cơ cấu đầu tư nước ngoài vào Myanmar, sau ngành điện.




Linh Phương (tổng hợp)

dongdoi_f2
13-11-2012, 06:56 PM
Mỹ sẽ trở thành nước khai thác dầu lớn nhất thế giới (http://www.petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/my-se-tro-thanh-nuoc-khai-thac-dau-lon-nhat-the-gioi.html)


Việc bùng nổ khai thác khí đá phiến ở Mỹ sẽ đưa nước này vượt qua Arab Saudi và Nga để trở thành nước khai thác dầu mỏ lớn nhất toàn cầu vào nửa cuối thập kỷ này, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo trong bản báo cáo hàng năm của mình World Energy Outlook.



http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/phuonganh/112012/13/09/Oil_Platform_drilling_rig_007.jpg


Khai thác dầu mỏ và khí đốt từ đá phiến sét ở Hoa Kỳ có thể giúp nước này tự túc được năng lượng trong tương lai
Báo cáo mới nhất của IEA cho biết Mỹ có thể gần như tự túc được về năng lượng vào năm 2035, đánh dấu một sự đảo ngược đáng kể của các xu hướng nhìn thấy ở hầu hết các nước nhập khẩu năng lượng.
Chỉ mới một năm trước, IEA đã dự kiến là đến cuối thập kỷ này sẽ chỉ có Nga và Arab Saudi tham gia vào cuộc đấu tranh giành ngôi vị thủ lĩnh.
“Theo dự kiến, cho đến khoảng năm 2020, Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà khai thác dầu lớn nhất trên thế giới. Kết quả là nhập khẩu dầu của Hoa Kỳ (hiện đang cung cấp 20% cho nhu cầu cả nước) sẽ tiếp tục suy giảm, và vào khoảng năm 2030, Hoa Kỳ sẽ trở thành nước xuất khẩu ròng về dầu mỏ”, IEA nhận định.
Vào năm 2035 Mỹ sẽ mua ở nước ngoài không quá 2 triệu thùng dầu mỗi ngày, ít hơn 75% so với thời điểm hiện tại. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, so với dự báo trước đó của IEA, sản lượng khai thác dầu trong nước đã tăng 7% - trung bình là 10,76 triệu thùng/ngày.
Bên cạnh đó, theo báo cáo này, Mỹ sẽ vượt qua Nga và trở thành nhà khai thác khí đốt lớn nhất vào năm 2015.
Theo IEA, chính sự phát triển của công nghệ khai thác mới – đáng chú ý nhất là kỹ thuật fracking (bẻ gãy thủy lực) và khoan ngang đã mở khóa nguồn tài nguyên hydrocarbon ẩn trong những cấu tạo đá phiến sét mà trong suy nghĩ của con người trước đây là không thể khai thác, phục hồi được. Sự bùng nổ, bắt đầu từ khai thác khí đốt và sau là khai thác dầu mỏ từ đá phiến sét đã làm nên cuộc cách mạng năng lượng ở Hoa Kỳ.
Và sự hồi sinh trong khai thác dầu mỏ và khí đốt của Mỹ đang thúc đẩy hoạt động kinh tế “bằng giá điện và giá khí đốt rẻ hơn, đem lại lợi thế cạnh tranh cho các ngành công nghiệp của Mỹ”.
Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà phân tích khác đã cảnh báo sự bùng nổ dầu mỏ của Mỹ vẫn còn đang ở giai đoạn trứng nước và không thể đảm bảo rằng nó sẽ tiếp tục tăng trưởng. Fatih Birol, nhà kinh tế trưởng của IEA, lưu ý rằng sự sụt giảm giá dầu toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến việc khai thác dầu, nhất là khi chi phí cho việc khai thác dầu từ đá phiến đòi hỏi một mức giá thị trường cao. Trong khi đó, chi phí khai thác dầu ở Arab Saudi lại rẻ hơn nhiều.
Báo cáo của IEA cũng đưa ra nhận định việc tăng vị thế của Mỹ trên thị trường dầu mỏ hoàn toàn không có nghĩa làm giảm vai trò của OPEC, mà trái lại, IEA đang mong đợi thị phần của OPEC trong sản lượng khai thác dầu toàn thế giới sẽ tăng từ 42% hiện nay lên 50% vào năm 2035.
Nhìn chung, nhiên liệu hóa thạch vẫn sẽ giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng thế giới vào những thập kỷ tới, IEA dự kiến.
Theo đánh giá của cơ quan này, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu đến năm 2020 sẽ tăng 7 triệu thùng/ngày từ mức 87,4 triệu thùng/ngày trong năm 2011, và đến năm 2035 sẽ vượt quá 99 triệu thùng/ngày.
Giá dầu trung bình vào năm 2035 so với giá hiện hành sẽ tăng lên 125USD/thùng, nghĩa là vào khoảng 215USD/thùng.
Người tiêu dùng năng lượng lớn nhất trong những năm tới sẽ là Trung Quốc, vào năm 2035, nhu cầu nước này sẽ tăng 60%, trong khi ở các nước phát triển, bao gồm cả OECD, tiêu thụ năng lượng cho giai đoạn này chỉ tăng 3%.
Tiêu thụ khí đốt tự nhiên trên thế giới đến năm 2035 sẽ tăng thêm 50%, lên 5 nghìn tỷ m3, IEA dự đoán. Gần một nửa số lượng sản xuất khí đến thời điểm này sẽ được cung cấp từ các mỏ phi truyền thống, chủ yếu nằm tại Mỹ, Australia và Trung Quốc.
Theo dự kiến, nhu cầu than trong 23 năm tới sẽ tăng 21%, những quốc gia chính tiêu thụ than sẽ là Trung Quốc và Ấn Độ.
Linh Phương (Theo VOR, FP)

dongdoi_f2
24-11-2012, 04:59 PM
Lưới điện ASEAN: Cơ hội và thách thức (http://www.petrotimes.vn/news/vn/nang-luong-xanh/luoi-dien-asean-co-hoi-va-thach-thuc.html)


Một lưới điện xuyên ASEAN vì một mục tiêu an ninh năng lượng cho toàn Đông Nam Á đang dần hình thành nhưng giá cả, thuế và các vấn đề kỹ thuật là những trở ngại không dễ dàng giải quyết.

Mục tiêu lớn...
Ý tưởng phát triển hệ thống lưới điện xuyên quốc gia của ASEAN đã có từ năm 1978 nhưng đến năm 1997 mới được chính phủ các nước thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) chính thức thông qua trong Tầm nhìn ASEAN 2020. Mục tiêu là nhằm tạo ra một hệ thống an ninh năng lượng cho toàn khu vực bằng cách kết nối vào một mạng lưới điện chung mà thông qua đó, các thành viên có thể chia sẻ khả năng cung cấp, truyền tải điện, nước dư thừa điện sẽ có thể bán cho các nước có nhu cầu khác một cách dễ dàng, thuận lợi.
Việc kết nối 10 nước trong ASEAN vào một hệ thống mạng lưới điện chung được các nước đánh giá sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn không chỉ cho nhà đầu tư, mà cho cả người sử dụng điện, tạo cơ hội mở rộng thị trường bán điện, kích thích đầu tư, đặc biệt là bảo đảm an ninh năng lượng cho mỗi nước. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong quá trình đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa ASEAN khi mà nhu cầu năng lượng sơ cấp của khu vực này được dự đoán sẽ tăng gấp 3 lần trong khoảng từ năm 2005 đến 2030 với 1.252 triệu tấn dầu quy đổi. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 4%, cao hơn so với mức trung bình của thế giới là 1,8%. Bên cạnh đó, với 15 dự án tổng trị giá 5,9 tỉ US, chương trình Kết nối lưới điện ASEAN (APG) được dự báo sẽ giúp tiết kiệm 662 triệu USD đầu tư mới và chi phí vận hành nếu các thành viên ASEAN có thể chia sẻ khả năng cung cấp, truyền tải điện.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/lethutrang/112012/23/08/luoi_dien.jpg


Lưới điện ASEAN từ ý tưởng đến hiện thực là cả một chặng đường dài khó khăn.

...Vướng mắc cũng không nhỏ
Tuy nhiên, từ ý tưởng đến thực tế là cả một quãng đường dài khó khăn. Việc thực hiện kết nối vào một lưới điện xuyên quốc gia như APG không phải là dễ dàng, nhất là khi xử lý các vấn đề vượt qua biên giới các quốc gia. Hiệu quả năng lượng là mục tiêu chính nhưng hợp tác năng lượng cũng rất quan trọng trong sự thành công của chương trình Kết nối lưới điện ASEAN.
Theo ông Shiva Susarla Prasad, một chuyên gia từ Viện Nghiên cứu Năng lượng thuộc Đại học Quốc gia Singapore, tới nay chương trình APG đã đạt được một số bước tiến. Ví dụ, Thái Lan đã ký kết thỏa thuận truyền tải điện với Lào và Malaysia, đồng thời, giữa Malaysia và Singapore cũng có một thỏa thuận tương tự. Tuy nhiên, các nước khác như Việt Nam và Myanmar, chưa ghi nhận tiến triển nào đáng kể trong quá trình kết nối vào APG, ông Prasad đánh giá bên lề Tuần lễ Năng lượng Quốc tế tổ chức gần đây tại Singapore.
Mặc dù đánh giá cao các nỗ lực hợp tác của các nước ASEAN trong việc hoàn thành các dự án APG nhưng ông Prasad cũng cho rằng, việc triển khai APG còn gặp nhiều khó khăn phụ thuộc vào năng lực tài chính của mỗi nước, sự không hợp nhất về kỹ thuật hệ thống điện, khoảng cách các nước xa nhau. Mỗi quốc gia lại có thị trường điện, cấu trúc thuế quan và thiết kế thị trường khác nhau. Bên cạnh đó, sự không hợp nhất về tiêu chuẩn hệ thống kỹ thuật điện giữa các quốc gia với nhau cũng là một rào cản. Sự khác nhau này được thể hiện khá rõ giữa Lào và Singapore. Do đó, cần phải xác định và thống nhất một tiêu chuẩn kết nối duy nhất.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/lethutrang/112012/23/08/ket_noi_luoi_dien_ASEAN.jpg


Nguồn: Ban Tư vấn Đấu nối lưới điện ASEAN

Một trở ngại nữa là cấu trúc thuế. Các quốc gia ASEAN phải thảo luận và thống nhất một mức thuế suất mua bán điện qua biên giới rất rõ ràng. Ngoài ra các vấn đề liên quan đến giá điện cũng là một hạn chế. Mỗi quốc gia có một thiết kế thị trường khác nhau. Một số quốc gia có những nhà khai thác điện độc lập nhưng ở một số nước thì lĩnh vực điện năng vẫn còn dựa vào trợ cấp dẫn đến việc giá điện ở các quốc gia này không phản ánh giá thực tế. Do đó, một số quốc gia phải điều chỉnh giá điện về đúng giá thực tế trước khi kết nối thực sự vào lưới điện toàn khu vực. Đây là một vấn đề lớn. Trừ Singapore là nước giàu có ra, các nước khác trong ASEAN đều đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau và đều không muốn tính phí bán điện quá cao cho người tiêu dùng, cho dù là hộ gia đình hay doanh nghiệp. “Tôi nghĩ rằng sẽ mất hơn một thập kỷ nữa để ASEAN có một mạng lưới điện kết nối toàn khu vực thực sự. Các thành viên có thể phải chờ đợi cho đến khi các quốc gia trong khối có sự phát triển đồng đều hơn. Họ sẽ phải phát triển kinh tế cho đến khi có thể sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn để mua điện từ các nước thành viên ASEAN khác”, ông Prasad nhận định.
Bên cạnh đó, mâu thuẫn của một số ít quốc gia trong khu vực ASEAN với nhau như xung đột biên giới Thái Lan – Campuchia,… cũng là một cản trở thiết lập đàm phán hợp tác giữa các nước này, theo quan điểm của ông Prasad, tuy rằng, nếu nhìn vào bức tranh tổng thể, ông không nghĩ rằng những xung đột này sẽ làm trì hoãn toàn bộ quá trình hình thành lưới điện ASEAN.
Không chỉ thu hút sự quan tâm chú ý của các chuyên gia năng lượng trong khu vực, chương trình Kết nối Lưới điện ASEAN còn được các tổ chức quốc tế rất quan tâm. Bà Maria van der Hoeven, Giám đốc Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng, các nhà hoạch định chính sách của khu vực cần phải xây dựng một chiến lược dựa trên một đánh giá tổng thể hệ thống điện. Việc hình thành các mạng lưới điện thông minh và mạng lưới điện ASEAN là một cơ hội cho khu vực và quá trình này cần phải tiếp thu kinh nghiệm từ những sai lầm khi xây dựng mạng lưới điện khu vực của các khu vực khác trên thế giới như châu Âu. Tây Ban Nha là một ví dụ về một quốc gia có công suất năng lượng tái tạo lớn nhưng thất bại vì không có đủ cơ sở hạ tầng lưới điện để hỗ trợ. Vì vậy, ASEAN cần phải học hỏi từ những thất bại của quá khứ và rút ra những bài học để xây dựng thành công lưới điện toàn khu vực.
Linh Phương

dksaigon
24-11-2012, 10:13 PM
LỄ ĐỘNG THỔ ĐẬP XAYABURI MỘT NGÀY ẢM ĐẠM TRÊN SÔNG MEKONG VÀ ĐBSCL (http://nguyenvantuan.net/news/6-news/1596-le-dong-tho-xay-dap-xayaburi-mot-ngay-am-dam-tren-song-mekong-)

“Thông thường, theo tập tục nhà Phật, trước khi bắt đầu khai phá một con sông, chúng tôi cầu nguyện thần linh trong vùng tha thứ cho chúng tôi là đã gây rối loạn dòng sông.” Viraphonh Viravong, Thứ trưởng Bộ Năng Lượng và Hầm Mỏ Lào, Kỹ sư trưởng Kỹ thuật Dự án.


“Pak Beng, là con đập dòng chính thứ hai, sau đập Xayaburi vùng hạ lưu Mekong. Các nhà xây đập Trung Quốc cho biết họ đã hoàn tất phần thiết kế và lượng giá ảnh hưởng môi sinh / EIA của con đập, và nay chỉ còn chờ đèn xanh của chánh phủ Lào chuẩn thuận và sẽ khởi công xây dựng.”



XAYABURI: CON DOMINO ĐÃ ĐỔ XUỐNG

Thứ Tư ngày 7 tháng 11, 2012, Rewat Suwanakitti, Phó Giám Đốc dự án công trình thủy điện Xayaburi cho biết Lào đã làm lễ động thổ để khởi công xây con đập thủy điện Xayaburi. “ Chánh quyền Lào bảo chúng tôi có thể bắt đầu xây dựng công trình.” Trước đó một ngày [thứ Ba 6/11/12], Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong đã lại nói với phóng viên Wall Street Journal rằng dự án đang tạm ngưng để chờ thêm khảo sát. (11)

Rõ ràng đây là một động thái một thách đố với thỏa thuận vùng và với các quốc gia Mekong lân bang. Viraphonh Viravong, Thứ trưởng Bộ Năng Lượng và Hầm Mỏ Lào nói với nhóm phóng viên một ngày trước đó, “Con đập ấy đã được lượng giá, đã được tranh cãi suốt hai năm qua. Chúng tôi đã đáp ứng hầu hết những mối quan tâm.” Sau lễ động thổ, các chuyên gia xây đập bắt đầu xây “con đập tạm / coffer dam” nhằm đổi dòng con sông Mekong, dự trù hoàn tất vào tháng 5, 2013 và “con đập cố định / permanent dam” được xây tiếp theo.

Lễ động thổ chỉ là hình thức “công khai hóa” những vi phạm cam kết của chánh phủ Lào với các quốc gia Mekong sau Hội nghị Siem Reap ngày 8 tháng 12, 2011. Giới báo chí ghi nhận, trong lễ động thổ ấy, ngoài các viên chức cao cấp chánh phủ Lào còn có sự hiện diện của các nhà ngoại giao Việt Nam và Cam Bốt. Sự hiện diện của giới chức Việt Nam và Cam Bốt rất khó hiểu vì đó là hai quốc gia chống đối mạnh mẽ dự án đập Xayaburi và nay chỉ có thể giải thích là “gió đã đổi chiều” từ chống đối nay đã chuyển sang thỏa hiệp hay đồng thuận.
Xayaburi là con đập đầu tiên trong chuỗi 11 con đập dòng chính hạ lưu [Hình IV), và dự án đã được âm thầm triển khai trước đó giữa ngổn ngang những mối quan tâm của các tổ chức bảo vệ môi sinh do ảnh hưởng tác hại lâu dài và vĩnh viễn trên toàn hệ sinh thái sông Mekong, trên nguồn phù sa, nguồn cá và ngư nghiệp, cũng là nguồn protein chính của ngót 70 triệu cư dân ven sông Mekong.

Điện sản xuất từ Xayaburi sẽ được xuất cảng sang Thái Lan, và giới chức Lào cho rằng con đập sẽ mang về hàng tỉ lợi nhuận cho đất nước Lào.
Giới quan sát theo dõi đã có ghi nhận trước đó từ nhiều tháng, các công trình xây cất cơ sở hạ tầng nơi hiện trường xây đập Xayaburi đã tiến những bước rất xa. Công ty Thái Lan CH. Karnchang đã mở những con đường vào các khu rừng sâu đem tới các trang thiết bị nặng. Trong khi các nhà hoạt động môi sinh thì vẫn tiếp tục lên án chánh phủ Lào đã bất chấp những quan tâm về tác hại của con đập và vẫn cứ tiến hành công trình xây đập.

Ame Trandem, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á của Mạng Lưới Sông Quốc Tế phát biểu: “Cộng đồng quốc tế sẽ không thể để cho chánh phủ Lào tránh né một vi phạm trắng trợn đối với luật pháp quốc tế. Chúng ta sẽ kêu gọi các chánh phủ tài trợ / donor governments, và các quốc gia Thái Lan, Việt Nam và Cam Bốt có một lập trường kiên định đối với chánh phủ Lào. Xayaburi là con đập đầu tiên trong chuỗi đập dòng chính sẽ gây tác hại nghiêm trọng đối với những nỗ lực phát triển vùng. An ninh lương thực và công ăn việc làm của hàng triệu người trong vùng đang bị đe dọa.” (10)

Pianporn Deetes, điều hợp viên Thái Lan cũng từ Mạng Lưới Sông Quốc tế phát biểu: “Lào đang chơi trò roulette với con sông Mekong, biến con sông như một nơi thử nghiệm những kỹ thuật mới. Khi mà Ủy Hội Sông Mekong tiếp tục im lặng và chấp nhận cho một quốc gia hy sinh sự bền vững của con sông Mekong và cả tương lai hợp tác vùng, thì phải nói đây là một sai lầm trầm trọng.” Cô Pianporn tiếp: “Chính phủ Thái Lan phải có trách nhiệm kêu gọi ngưng ngay xây đập và hủy bỏ hợp đồng mua điện cho tới khi đạt được một thỏa thuận toàn vùng về công trình xây đập. Hành động của Lào đã đưa tới một tiền lệ nguy hiểm. Nếu Lào được phép tiến hành mà không bị ngăn cản thì trong tương lai mọi chánh phủ thành viên khác cũng sẽ đơn phương tiến hành các dự án trên sông Mekong. Hiệp định sông Mekong 1995 sẽ trở thành một mớ giấy lộn vô dụng.” (10)

XAYABURI MỘT TIẾN TRÌNH LIÊN TỤC

Nhiều tháng trước ngày lễ động thổ, công trường đập Xayaburi đã hoạt động ồn ào với hàng ngàn nhân công, hàng chục cỗ xe ủi liên tục hoạt động ngày đêm để hoàn tất công trình đúng thời hạn 2018. Với các con đường mới dẫn tới vùng xây đập, các khu nhà công nhân, và các trụ dẫn điện được tạo dựng. Một số dân làng trong vùng đã phải di tản và tái định cư. Một khúc sông được mở rộng ra, và nơi một khúc khác con đê cắt sâu vào lòng sông. Kỹ sư trưởng của dự án, thuộc tập đoàn Poyry, đã thông báo cho đoàn ngoại giao thăm viếng là công trình “đập tạm / coffer dam” để đổi dòng con sông – sẽ được hoàn tất vào tháng 5 năm 2013, sau đó đập cố định / permanent dam” sẽ được xây. Và rồi rất sớm, cấu trúc và hình hài con đập Xayaburi sẽ bắt đầu xuất hiện. [9]

http://media.tinmoi.vn//2011/04/19/15_8_1303198302_19_vnm_2011_342405.JPG
Hình I. Hình hài con Đập Xayaburi 1,260 MW kinh phí 3.5 tỉ MK, dự trù hoàn tất và hoạt động phát điện vào tháng 3 năm 2018. Sơ đồ con đập: [1] Kênh Giao Thông_ Navigation locks, [2] Đường Thoát Nước_ Spillway, [3] Trạm Phát Điện_ Power House, [4] Thang Cá_ Fish Passage.(Nguồn: trình bày của Tập đoàn Poyry ngày 16-07-2012 về các bước xây dựng Đập Xayaburi, July 16, 2012)

Tiến trình xây đập rất nhanh của Lào đã gây lo ngại cho các quốc gia lân bang. Sông Mekong là nguồn tài nguyên chung, và điều gì xảy ra trên thượng nguồn ở Lào có thể ảnh hưởng tới nước láng giềng như Thái Lan và nhất là 2 quốc gia hạ nguồn như Cam Bốt và Việt Nam. Theo thỏa ước 1995 về điều hợp xử dụng Sông Mekong, các chánh phủ Cam Bốt, Lào, Thái Lan và Việt Nam phải cùng nhau quyết định xem con đập Xayaburi sẽ tiến hành hay không. Lào vẫn tiến hành công trình cho dù chưa có một quyết định chung nào đạt được.

[Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây là Việt Nam một quốc gia cuối nguồn nhưng đã vi phạm một sai lầm chiến lược các đây 17 năm (1995) tại Chiang Rai Thái Lan, khi Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đã đặt bút ký tên trên bản “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Hạ Lưu Sông Mekong” với một danh xưng mới là Ủy Hội Sông Mekong / Mekong River Commission thay vì Ủy Ban / Mekong River Committee như trước đây. Một điều lệ thay đổi cơ bản là không một quốc gia nào có “quyền phủ quyết / veto power” như quy định của Ủy Ban Sông Mekong trước kia. Người viết đã đưa ra nhận định cách đây hơn một thập niên trong một Hội nghị ở Nam California là Ủy Hội Sông Mekong đã là một “biến thể và xuống cấp”so với Ủy Ban Sông Mekong_ The 1999 Conference on the Mekong River at Risk: The Impact of Development on the River, her Delta, and her People.] (7)

Cả hai nước Cam Bốt và Việt Nam đều yêu cầu Lào thực hiện những cuộc nghiên cứu ảnh hưởng xuyên quốc gia / transboundary của con đập, nhưng Lào đã trả lời là sẽ không có thêm những cuộc khảo sát nào nữa.

DIỄN TIẾN TRIỂN KHAI DỰ ÁN ĐÂP XAYABURI:



Tháng 05, 2007 chánh phủ Lào ký kết với công ty Ch. Karchang Thái Lan để thực hiện dự án đập Xayaburi.
Tháng 11, 2008 công ty AF Calenco Thụy Sĩ kết hợp với toán tham vấn Thái khảo sát tính khả thi của con đập.
Tháng 02, 2010 bản tường trình EIA / Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh được đệ trình cho Chánh phủ Lào.
Tháng 07, 2010 Chánh phủ Lào chính thức ký kết hợp đồng bán điện từ đập Xayaburi cho Thái Lan qua công ty EGAT / Electricity Generating Authority of Thailand.
Tháng 04, 2011 Ủy Ban Liên Hợp Ủy Hội Sông Mekong / MRC Joint Committee ra thông cáo báo chí là các thành viên chưa đạt được một thỏa thuận để tiến hành dự án Xayaburi.
Tháng Tư, 2011 hai chánh phủ Cam Bốt và Việt Nam yêu cầu chánh phủ Lào khảo sát thêm về những ảnh hưởng xuyên biên giới của dự án.
Tháng 06, 2011 chánh phủ Lào đơn phương “bật đèn xanh”cho công ty Thái Lan Ch.Karnchang triển khai dự án.
Tháng 12, 2011 tại Hội nghị Siem Reap cả 4 nước thành viên Ủy Hội Sông Mekong cùng thỏa thuận là cần thêm những cuộc nghiên cứu về ảnh hưởng con đập Xayaburi và 10 con đập dòng chính hạ lưu.
Tháng 8, 2012 nhóm cư dân Thái chống lại con đập Xayaburi đã nộp đơn khiếu kiện chánh phủ Thái yêu cầu không mua điện từ con đập cho tới khi có thêm những cuộc khảo sát, nhưng đã không được hồi đáp.
Tháng 9, 2012 Bộ trưởng Năng lượng Soulivong Daravong cho biết chánh phủ Lào không hoãn kế hoạch xây con đập Xayaburi 3.5 tỉ MK. Nhưng hai tháng trước đó 07, 2012 Ngoại Trưởng Lào thông báo trong Hội nghị ASEAN là dự án Xayaburi sẽ được hoãn lại để có thêm những cuộc khảo sát.
Giới truyền thông chánh thức của Lào lại được thông báo chánh phủ cho phép công ty Ch. Karnchang được phép tiến hành các hoạt động theo kế hoạch, bao gồm cả việc tái định cư dân làng khu xây đập. [13]
Tháng 10, 2012 Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Việt Nam Nguyễn Minh Quang đã gặp Thủ tướng Lào với yêu cầu là mọi công trình xây đập Xayaburi cần hoãn lại cho tới khi thực hiện được các cuộc khảo sát lượng giá cần thiết về ảnh hưởng con đập trên sông Mekong.
Cho đến nay chưa có một thỏa thuận cấp vùng nào về thời điểm khởi công xây con đập Xayaburi, cho dù tinh thần thỏa ước 1995 của Ủy Hội Sông Mekong có quy định như vậy.


Lào tuyên bố là sẽ hợp tác với các quốc gia láng giềng, nhưng điều ấy không có thực. Thực vậy, dự án được liên tục tiến hành theo lịch trình và không hề bị trì hoãn. Những mối quan tâm về môi trường và xã hội của Cam Bốt và Việt Nam đã không được nghiêm túc quan tâm tới. Lào cũng không bao giờ thu thập những thông tin cơ bản về mối phụ thuộc của người dân đối với con sông, như vậy thì làm sao nói được rằng con đập sẽ không có ảnh hưởng?

Lào tiếp tục phủ nhận ảnh hưởng xuyên biên giới của con đập do áp dụng những biện pháp giảm thiểu tác hại của hai công tham vấn Phần Lan Poyry và Pháp Công ty Quốc gia Rhône (Compagnie Nationale du Rhône / CNR) , trong khi thực chất thì không hề có các cuộc khảo sát ảnh hưởng xuyên biên giới. Hai chánh phủ Cam Bốt Việt Nam và các nhà khoa học trong vùng đều không đồng ý với việc làm của cả hai công ty này.

Cho dù theo nội dung của Hiệp Định 1995 của Ủy Hội Sông Mekong / MRC tuy không một quốc gia thành viên nào còn có quyền phủ quyết nhưng các dự án trên sông Mekong cũng phải trải qua ba giai đoạn PNPCA như: (1) Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, (2) Tham vấn trước / Prior Consultation, (3) Chuẩn thuận / Agreement. Có thể nói, Xayaburi thực sự là dự án đầu tiên phải trải qua tiến trình quyết định PNPCA trên quy mô vùng / a regional decision-making process.

Tưởng cũng nên nói thêm về những quy định và khung thời gian / time frame cho từng bước trong tiến tình PNCPA theo tinh thần Hiệp Định Ủy Hội Sông Mekong 1995: khi có một dự án Sông Mekong, quốc gia thành viên sẽ phải đệ nạp và thông báo cho Ủy Hội Sông Mekong để khởi đầu tiến trình PNPCA;
Với Con Đập Xayaburi (a) Ủy Hội Sông Mekong đã được chánh phủ Lào Thông Báo chính thức về dự án Xayaburi / Procedures for Notification từ tháng 09, 2010. (b) Bước thứ hai là Tham-Vấn- Trước / Prior Consultation, và thời gian dành cho Tham Vấn Trước là 6 tháng kể từ ngày nhận được Thông Báo. Nhưng cũng có thêm một điều khoản khác là nếu các nước thành viên chưa đạt được sự đồng thuận thì khung thời gian 6 tháng này có thể được Ủy Ban Liên Hợp Ủy Hội Sông Mekong gia hạn thêm.

Chánh phủ Lào thì cho rằng các tác động xuyên biên giới / transboundary impacts của đập Xayaburi đối với các quốc gia hạ lưu là “không chắc sẽ xảy ra” nên cũng không thực tế và cần thiết khi yêu cầu kéo dài thời gian Tham-Khảo-Trước và cho dù có thêm thời gian lâu hơn nữa, thì cũng không thể nào thỏa mãn hết các mối quan tâm của mỗi thành viên.

Cảnh “đồng sàng dị mộng” với những tranh cãi và chia rẽ, khởi đầu một khủng khoảng niềm tin trong nỗ lực hợp tác vùng giữa các thành viên để bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mekong. Một câu hỏi nữa được đặt ra với Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong là thực sự có hay không chức năng điều hợp cũng là lý do hiện hữu rất tốn kém của tổ chức này?

NHỮNG TÁC HẠI TRƯỚC MẮT

Mekong là một con sông quốc tế, công pháp quốc tế sẽ phải được áp dụng giữa các nước, khi mà ảnh hưởng tác hại có tính cách xuyên quốc gia, như trường hợp Xayaburi. Thỏa ước Mekong 1995 không có sự phân biệt giữa xây dựng vĩnh viễn/ permanent và tạm thời / temporary khi mà các hoạt động này đều có thể gây “hậu quả tác hại” đối với hệ sinh thái con sông Mekong. (9)
Theo ghi nhận của Ủy Hội Sông Mekong trong phần Kiểm Tra Kỹ Thuật 2011 về dự án đập Xayaburi “những ảnh hưởng trong suốt giai đoạn xây dựng / construction phase cũng nghiêm trọng như giai đoạn vận hành của con đập.”

Dựa trên kinh nghiệm của những con đập khác, sau đây là một số những ảnh hưởng mà chúng ta có thể thấy trong vòng 12 tháng tới nếu các công trình xây dựng tiến hành: (9)
1/ Với con “đập tạm / coffer dam” và những cấu trúc nhằm đổi dòng con sông Mekong sẽ ngăn chặn các đoàn di ngư qua vùng xây đập và ngăn phù sa chảy xuống hạ nguồn. Sự xáo trộn dòng chảy có thể tác hại trên các loại rong tảo và vi sinh vật vốn có một vai trò quan trọng trong sự ổn định của hệ sinh thái con sông.
2/ Do thêm những chất lắng từ khu xây đập đổ xuống dòng sông làm thay đổi phẩm chất nước, giảm lượng O2 trong nước, biến đổi hệ sinh thái với hậu qủa là gây tổn hại cho ngư nghiệp / sút giảm nguồn cá và nông nghiệp / do mất nguồn phù sa dưới nguồn.
3/ Việc các cộng đồng địa phương phải di tản và tái định cư xáo trộn nếp sống và gây ra vấn nạn kinh tế xã hội và an toàn lương thực trong lưu vực.
Rõ ràng là các hoạt động xây dựng “con đập tạm” hiện nay đã bắt đầu gây ảnh hưởng tác hại trên sông Mekong. Những gì xảy ra trên đất Lào trong những tháng tới sẽ không chỉ khu trú tại địa phương. Giai đoạn xây dựng ban đầu này hầu như có hậu quả ngay và đáng kể nơi các quốc gia hạ nguồn.

VIRAPHONH VIRAVONG ĐỨA CON TRÍ TUỆ CỦA LÀO

Wendy Chamberlin, nguyên đại sứ Mỹ ở Lào [1996-1999], đã nhận định: “Sau bao năm tự giam hãm trong bức màn tre, nhìn sang các nước láng giềng phát triển thịnh vượng, họ cũng muốn trở thành một thành viên trong đó.” Họ đây là giới lãnh đạo Nhà Nước Lào, với điều mà họ gọi là Chin Thanakhaan Mai có nghĩa là Tư Duy Mới; với ước mong sao xứ sở họ thoát ra khỏi danh sách 25 nước nghèo nhất thế giới. Nam Viyaketh, Bộ trưởng Công Thương của chánh phủ Lào tuyên bố: “Nếu mọi nguồn năng lượng [ Sông Mekong ] được khai thác, Lào trở thành Bình Phát Điện của Đông Nam Á – Battery of Southeast Asia, chúng tôi sẽ bán nguồn điện ấy cho các nước láng giềng và sẽ trở nên giàu có.” (8)

Những ai có theo dõi các bước khai thác năng lượng thủy điện của Lào sẽ nhận ra ngay rằng không phải Tổng Thống, Thủ Tướng hay Ngoại trưởng Lào, nhưng là một tên tuổi khác Viraphonh Viravong nổi bật và trí tuệ của đất nước Lào. Viraphonh Viravong trong suốt hơn ba thập niên qua đã có những nỗ lực bền bỉ và kiên định với giấc mơ canh tân, biến đất nước Lào trở thành một xứ “Kuwait về thủy điện ” của Đông Nam Á.

Theo World Economic Forum, Viraphonh Viravong có một tiểu sử rất dày trong lãnh vực năng lượng. Tốt nghiệp Kỹ sư Cơ khí / Mechanical Engineering, Viện Khoa học Kỹ thuật Footscray, Đại học Victoria, Úc (1976); Văn bằng Cao học Chánh trị, Học viện Quốc gia Chánh trị Hành chánh Lào (2009); chuyên gia Bộ Điện lực Lào / Electricité du Laos (1978-1995); Giám đốc Quản trị Bộ Điện lực Lào (1995-2006); Thành viên Hội đồng Quốc gia Năng lượng Lào (1995-2006); Thành viên Ban Giám Đốc đập Thủy điện Theun Hinboun (1995-2012); Thành viên Ban Giám Đốc đập Thủy điện Nam Theun-2 (2001-2005); Thành viên Phòng Thương mại và Kỹ nghệ Quốc gia Lào (2002-2005); Tổng Giám Đốc Bộ Năng lượng và Hầm Mỏ Lào (2006-2011); Thứ Trưởng Bộ Năng lượng và Hầm Mỏ Lào từ 11/ 2011 tới nay. [ Hình II ]

http://i165.photobucket.com/albums/u74/thoidaianhhung/Lobby Vietnam Club/493960.jpg


Hình II. Viraphonp Viravong, Thứ Trưởng Bộ Năng Lượng và Hầm Mỏ chánh phủ Lào PDR, khuôn mặt “trí tuệ” đứng sau mọi dự án phát triển thủy điện của quốc gia Lào



-- Viraphonp Viravong thường xuyên thăm viếng con sông Mekong tìm tới những nơi có thể xây thêm đập thủy điện, với hy vọng đem lại sự giàu có mau chóng cho đất nước Lào, với thuyết phục người dân Lào nơi các khu xây đập về những lợi lộc do các con đập đem lại: họ sẽ có điện quanh năm, có thêm đường xá, nhà thương, trường học do lợi tức từ nguồn điện đem về. Viraphonp Viravong qua kinh nghiệm với các con đập phụ lưu lớn của Lào như Theun Hinboun, Nam Theun-2 … và nay với con đập dòng chính đầu tiên Xayaburi, cho dù gặp sự chống đối mạnh mẽ từ mọi phía nhưng khi nhu khi cương, Viraphonp Viravong lần lượt hóa giải những mũi dùi chống đối ấy và không ngừng tiến hành triển khai con đập.

Khi kết thúc Hội nghị Siem Reap 12/ 08/ 2011, với quyết định của 4 quốc gia Mekong là hoãn xây con đập Xayaburi, nhưng Lào đã không chính thức đưa ra một cam kết nào. Viraphonh Viravong, trưởng phái đoàn Lào chỉ phát biểu: “Chúng tôi ghi nhận mọi ý kiến đóng góp, chúng tôi sẽ xem xét nhằm có thể đáp ứng tất cả những mối quan ngại.” Và Lào hứa sẽ tuân thủ những hướng dẫn thiết kế sơ khởi của Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong – MRC Secretariat, và sẽ thực hiện tối ưu theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tác động trên mọi khía cạnh như thủy lộ giao thông, các đoàn di ngư, lượng phù sa, phẩm chất nước, hệ sinh thái nước và cả mức an toàn của con đập ở mức độ có thể chấp nhận được.

Sau Hội nghị Siem Reap, khi có tường trình trên báo chí là Lào vẫn tiếp tục xây dựng các cơ sở hạ tầng nơi khu xây đập, như vậy là vi phạm thỏa ước thì Viraponh Viravong giải thích với Bangkok Post là đừng có lo. “Chúng tôi chưa bắt đầu xây những công trình nào có tính cách vĩnh viễn trên sông Mekong.” Về các con đường mới dẫn tới khu xây đập, cũng vẫn Viraponh Viravong nói bào chữa: “Dĩ nhiên là chỉ khi nào công trình đập Xayaburi được khởi động, các con đường dẫn mới được sử dụng. Bằng không thì mọi tiện nghi sẽ thuộc về chánh quyền sở tại, giúp họ có đường xá đi tới những làng mạc thôn bản.”

Viraponh Viravong không chỉ có trình độ kỹ thuật, còn có khả năng ngoại ngữ và có niềm xác tín, nên đã có cả những vận động thuyết phục giới truyền thông Tây phương. Trong một email gửi cho báo The Times, ông viết: “Thật đáng buồn và cũng rất là không công bằng / not very fair khi không để cho Lào khai triển dự án Xayaburi vì đây là cơ hội hiếm hoi cho Lào thu hút nguồn đầu tư từ nước ngoài. Chúng tôi chẳng thể hãnh diện cứ tiếp tục phải đi xin viện trợ để phát triển.” Viraphonh Viravong, cũng đã bày tỏ sự bất mãn: “Nếu phải cần một thỏa thuận đặc biệt trước khi làm điều gì, thì điều đó đã chẳng xảy ra. Tốt hay xấu thì tôi chưa biết nhưng sẽ không có sự phát triển.”

Khi bị chống đối gay gắt là cuộc khảo sát 2011 của công ty tham vấn Poyry là thiếu sót, Lào đã lại thuê ngay một công ty tham vấn Pháp để duyệt xét lại và tái thiết khế dự án, đó là Công ty Quốc gia Rhône. Viraphonh Viravong phát biểu với Đài Á Châu Tự Do RFA : “Khởi đầu, chúng tôi thuê công ty tham vấn Poyry thực hiện cuộc khảo sát, nhưng mọi người đã không hài lòng. Và bây giờ thì chúng tôi lại thuê một công ty Pháp; chánh phủ Lào muốn con đập được tái thiết kế để không có ảnh hưởng tác hại nào trên môi trường.” Với dự án Xayaburi tái thiết kế sẽ không ngăn chặn phù sa chảy xuống hạ nguồn và như vậy là giải quyết được những mối quan tâm về môi trường.



http://203.159.12.32:8082/AIT/news-and-events/2012/news/1lao1.jpg

Hình III. Ngày 15-10-2012 Viraphonp Viravong tới Viện Kỹ Thuật Á châu / AIT, Bangkok để duyệt xét thử nghiệm mô hình Dự án Thủy điện Xayaburi, tại đây, ông khẳng định: “Phát triển tiềm năng thủy điện của Lào là chuyện đương nhiên. Chỉ có vấn đề làm sao để thực hiện bền vững.” (14)

Cho dù với dự án tái thiết kế giải quyết được nguồn phù sa, nhưng cũng như công ty Poyry, Công ty Quốc gia Rhône cũng vẫn thiếu sót về khảo sát bảo vệ nguồn cá; nhưng Lào thì đã đủ tự tin để chính thức làm lễ động thổ xây con đập Xayaburi vào ngày thứ Tư 07/11/2012.

Viraphonh Viravong, nói với nhóm phóng viên một ngày trước đó, “Con đập ấy đã được lượng giá, đã được tranh cãi suốt hai năm qua. Chúng tôi đã đáp ứng hầu hết những mối quan tâm.” Sau lễ động thổ, các chuyên gia xây đập bắt đầu xây con đập tạm / coffer dam nhằm đổi dòng con sông Mekong, và con đập cố định / permanent dam được xây. Con đập tạm này dự trù hoàn tất vào tháng 5, 2013. (10) Và con đập Xayaburi sẽ hoàn tất và hoạt động phát điện đúng thời hạn vào tháng 3 năm 2018.

PAK BENG CON ĐẬP MEKONG THỨ HAI CHỜ KHỞI CÔNG

Pak Beng, là con đập dòng chính thứ hai, sau đập Xayaburi vùng hạ lưu Mekong. Các nhà xây đập Trung Quốc cho biết họ đã hoàn tất phần thiết kế / Design và lượng giá ảnh hưởng môi sinh / EIA của con đập, và nay chỉ còn chờ “đèn xanh” của chánh phủ Lào chuẩn thuận và sẽ khởi công xây con đập.
Đập Pak Beng nằm về phía bắc cố đô Luang Prabang, thuộc tỉnh Oudomxay bắc Lào, được thiết kế bởi công ty Trung Quốc Datang Overseas Investment Co., Ltd. qua một thỏa thuận ký kết giữa Lào và Trung Quốc tháng 8, 2007.
Đập Pak Beng trị giá 1.88 tỉ MK, công xuất 1,300 MW, dự trù hoàn tất vào năm 2018 [ghi chú người viết: sẽ cùng năm hoàn tất con đập Xayaburi] . Đây sẽ là con đập dòng chính thứ hai của Lào sau con đập Xayaburi.
Cũng theo nguồn tin từ Bộ Năng Lượng và Hầm Mỏ Lào gửi cho ban Lào ngữ đài RFA với điều kiện ẩn danh. “Phần thiết kế mà mọi khía cạnh khác đã hoàn tất. Chúng tôi chỉ còn chờ chánh phủ Lào chấp thuận là cho tiến hành.” [13]

Cho dù theo khuyến cáo của nhóm chuyên gia Ủy Hội Sông Mekong là nên “hoãn lại 10 năm mọi con đập dòng chính hạ lưu sông Mekong” để có thêm những cuộc khảo sát về các ảnh hưởng tác hại trên môi trường và kinh tế xã hội. Nhưng xem ra Lào đã không mấy quan tâm tới lời khuyến cáo này. Tưởng cũng nên một lần nữa ghi lại đây, trong bài viết này danh sách chuỗi 11 con đập dòng chính Mekong Hạ Lưu, có thể xem như một thứ “vòng kim cô định mệnh” đối với đối với con Sông Mekong, đặc biệt là với Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long trong vòng hai thập niên tới. [Hình IV]

CHUỖI NHỮNG CON ĐẬP MEKONG HẠ LƯU

1/ Đập Pak Beng, Lào 1,320 MW; bảo trợ dự án: công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co. và chánh phủ Lào.
2/ Đập Luang Prabang, Lào 1,410 MW; bảo trợ bởi PetroVietnam Power Co. và chánh phủ Lào.
3/ Đập Xayaburi, 1.260 MW, tỉnh Xayaburi, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Ch. Karnchang và chánh phủ Lào.
4/ Đập Pak Lay, Lào, 1,320 MW tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Sinohydro Co. tháng 6, 2007 để khảo sát của dự án.

5/ Đập Xanakham, Lào, 1,000MW; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co.
6/ Đập Pak Chom, biên giới Lào Thái, 1,079 MW
7/ Đập Ban Koum, biên giới Lào Thái, 2,230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani; bảo trợ bởi Italian-Thai Development Co., Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. và chánh phủ Lào.




http://www.globalwaterforum.org/wp-content/uploads/2012/04/Dams-Map_4_18_12.jpg?9d7bd4



Hình IV. Những Con Đập Thủy Điện Dòng chính Sông Mekong



[nguồn: Stimson, Mekong Tipping Point, April 07, 2010]



8/ Đập Lat Sua, Lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd. /Thái Lan và chánh phủ Lào.

9/ Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: được bảo trợ bởi công ty Mã Lai Mega First Berhad Co.

10/ Đập Stung Treng, Cam Bốt, 980 MW; bảo trợ bởi chánh phủ Nga

11/ Đập Sambor, Cam Bốt; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc”/ China Southern Power Grid Co./ CSGP.

Trung Quốc đã sở hữu 14 con đập bậc thềm Vân Nam thuộc Lưu Vực Trên, các quốc gia hạ nguồn thì tiếp tục chia rẽ và tranh cãi, trong khi Bắc Kinh vẫn âm thầm hoàn tất con đập khổng lồ Nọa Trác Độ / Nuozhadu 5,800 MW, cao ngất ngưởng trên thượng nguồn. Trên toàn cảnh, Trung Quốc đã khống chế hoàn toàn nửa khúc trên của con sông Mekong với những tác hại môi sinh không thể đảo nghịch và nay thì họ đã rảnh tay để thực hiện thêm 4 dự án đập thủy diện dòng chính Mekong Hạ Lưu. Dự án Đập Pak Beng đang nằm trong tay của họ. (13) Sẽ thêm con đập dòng chính thứ ba Don Sahong cũng đang được chánh phủ Lào quan tâm và triển khai. (15)

Riêng Việt Nam là quốc gia ở cuối nguồn nhưng vì lợi lộc, cũng bảo trợ cho dự án đập Luang Prabang 1,410 MW lớn hơn con đập Xayaburi.

THAY LỜI KẾT

-- Xayaburi, quân cờ Domino đầu tiên ấy đã nghiêng đổ, và đã có ngay hiệu ứng kéo một con đập Mekong thứ hai Pak Beng sắp triển khai, mở ra những bước khai thác ồ ạt những con đập hạ lưu khác và hậu quả ra sao trên hệ sinh thái sông Mekong và nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long phải nói là không lường trước được.
-- Không một quốc gia Mekong nào, nhất là Việt Nam muốn phải chứng kiến tái diễn cảnh hỗn loạn như tiến trình xây con đập Xayburi, báo hiệu một viễn cảnh không sáng sủa trong những bước thực hiện 10 dự án đập dòng chính kế tiếp trong một tương lai không xa.
-- Ý thức được tầm nghiêm trọng của “trận chiến môi sinh” trên Sông Mekong, với tương lai là vựa lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, Xayaburi phải được xem là một cứ điểm chiến lược nhưng nhanh chóng bị thất thủ, đã mở ra những thách đố mới cho tương lai hợp tác toàn vùng Sông Mekong.
-- Cần mạng lưới Tùy Viên Môi Sinh và các đặc phái viên Việt Nam đặc trách theo dõi diễn tiến với tường trình từng bước và tiến trình xây dựng không chỉ con đập Xayaburi, và cũng không thể thụ động trông đợi nguồn thông tin nhiễu loạn và hỏa mù như hiện nay.
-- Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam cùng với các đồng sự cần có một lập trường kiên định với Tinh Thần Sông Mekong để có một tiếng nói đoàn kết bền bỉ và liên tục không chỉ trước Ban Thư Ký của Ủy Hội Sông Mekong của 4 quốc gia mà cả trên các diễn đàn quốc tế.
-- Trên cấp bậc chánh phủ, Hà Nội có thể triệu Đại Sứ Lào tới Bộ Ngoại Giao, để có câu trả lời về sự cam kết “ngưng xây đập Xayaburi” của Thủ tướng Lào nhưng đã không được tôn trọng.
-- Tinh thần của Điều 7 trong Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995: “Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” Điều ấy vẫn phải được các Chánh phủ Mekong tôn trọng.

NGÔ THẾ VINH, M.D.
http://nguyenvantuan.net/news/6-news/1596-le-dong-tho-xay-dap-xayaburi-mot-ngay-am-dam-tren-song-mekong-

dongdoi_f2
25-11-2012, 09:07 AM
Các công ty liên quan ở bài trên:
Poyry là một công ty tư vấn đa quốc gia (gốc Anh), có văn phònng ĐNA tại Bangkok, Thái lan. Poyry chuyên hoạt động tư vấn về các dự án năng lượng tại ĐNA. Tại VN, Poyry tư vấn cho các dự án nhiệt điện Cà mau 1, Cà mau 2, Nhơn trạch 2.
AF Colenco là công ty tư vấn Thụy sĩ, chuyên về năng lượng, có văn phòng tại Baden Thụy sĩ (tôi đã đến đây). Colenco là công ty uy tín hoạt động trong ngành năng lượng, nhất là thủy điện. Tại VN, Colenco tư vấn cho các dự án như đuôi hơi Phú mỹ 2.1MR, Hải phòng,..., hiện đang được mời tham gia tư vấn đánh giá về an toàn đập thủy điện Sông Tranh 2!
Dự án Thủy điện Luang Phrabang, do PVPower của VN làm chủ đầu tư, từ 2007, hiện đã tạm ngưng, đóng băng.

dongdoi_f2
25-11-2012, 01:54 PM
http://khucquanhanh.vn/diendan/images/misc/unknown.gif


dksaigon (http://khucquanhanh.vn/diendan/member.php?42-dksaigon)

3 Giờ trước #12412 Đập Sambor nghe đâu trước có cty của VN tham gia nhưng nay chỉ còn cty TQ?



Bác DK có thể coi đoạn này:

"Khả năng nhập khẩu điện từ các nước trong khu vực

Trong chương VI đã nêu tổng quát và cập nhật các thông tin về tiềm năng các nguồn thuỷ điện trong khu vực, nhất là tại Lào và Campuchia.
Nhập khẩu từ Lào: Theo những nghiên cứu cập nhật gần đây, cùng với biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công nghiệp và Khai mỏ Lào và Bộ Công Thương Việt Nam năm 2007, và tham khảo quy hoạch phát triển Điện lực Lào (năm 2007), dự kiến có 14 công trình thuỷ điện với tổng công suất khoảng 3700MW được dự kiến xây dựng để đưa điện về Việt Nam, trong đó có khoảng 1500MW nằm ở vùng Nam Lào. Tiến độ cụ thể một số công trình như sau:


TĐ Sê Kaman 3 do khó khăn trong thi công tại Lào nên tiến độ phát điện lùi từ năm 2009 sang 2011.
TĐ Nậm Mô 105MW do công ty tư nhân đầu tư, nhưng đến nay chưa khởi công, dự kiến phải ít nhất năm 2014 mới vào
TĐ Se Kaman 1- 488MW, sau khi khảo sát chi tiết đã giảm xuống 290MW. Hiện công trình đang phải chậm khởi công vì đường dây 500kV Bản Sok – Pleiku chưa được quyết định đầu tư, chưa có phương án đưa điện về Việt Nam
TĐ Sê Kông 4 - 450MW và Sê Kông 5 - 250 MW thuộc quyền phát triển của công ty Region Oil của Liên Bang Nga, hiện chưa có những thương thảo cụ thể gì về dự án này. Trong QHĐ VII tạm thời chưa đưa vào cân đối.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) hiện đang xúc tiến đầu tư một NMTĐ lớn trên dòng chính sông Mê Kông, nằm trên đất Lào: TĐ Luông Pra Bang – 1100MW. Đây là NMTĐ dòng sông, không hồ chứa, là một trong 7 dự án thuỷ điện lớn trên dòng chính Mê Kông mà gần đây nước Lào cho phép nhiều nhà đầu tư nước ngoài nghiên cứu phát triển dự án theo dạng BOT. Còn nhiều vấn đề về tác động môi trường sinh thái, ảnh hưởng tới kinh tế và cuộc sống người dân ở hạ lưu sông Mê Kông cần có biện pháp giảm thiểu. Dự kiến phải sau năm 2020 mới có thể hoàn chỉnh phát điện đưa về Việt Nam


Nhập khẩu từ Campuchia: Khu vực Đông Bắc Campuchia có 4 công trình thuỷ điện được dự kiến phát triển vào khoảng sau năm 2015 để xuất khẩu điện cho Việt Nam với tổng công suất trên 1.200MW. Cụ thể tình hình một số công trình như sau:


TĐ Hạ Sê San 2- 207MW và Hạ Srêpok 2-220MW sau những khảo sát chi tiết đã được kết hợp thành công trình Hạ Sê San 2 với quy mô 400MW, do Cty cổ phần EVN Quốc tế phát triển.. Phía Campuchia đề nghị mua 50% điện năng của nhà máy này. Sớm nhất công trình đi vào hoạt động từ 2016. TĐ Hạ Sê san 2 sẽ cấp cho bên Campuchia 50% điện năng.
TĐ Sam Bor có 2 mức công suất dự kiến là 467 và 2800MW. Tuy nhiên mức công suất cao sẽ khó phát triển vì sẽ làm ngập lớn.


Ngoài ra có một dự án TĐ trên dòng chính Mê Kông cũng đang được nhà đầu tư Việt Nam nghiên cứu – TĐ Strungtreng với mức công suất từ 400-:-700MW. Với quy mô lớn công trình này sẽ làm ngập chân đập TĐ Hạ Sê San 2.
Các TĐ Hạ Sê san 1, 2 và 3 dự kiến đưa về trạm 500kV Kon Tum bằng đường dây 220kV, còn TĐ Sam Bor sẽ được đưa về khu vực Tây Ninh cũng bằng đường dây 220kV. Tổng công suất dự kiến nhập khẩu từ Campuchia là khoảng 1200MW. TĐ Strungtreng chưa được xem xét trong QHĐ VII."

"Tiềm năng thủy điện của Campuchia
Tổng tiềm năng lý thuyết thủy điện của Campuchia khá lớn, khoảng 15000MW, nhưng hiện nay mới có một vμi công trình được nghiên cứu đánh giá ở mức độ tiền khả thi, được thực hiện trong giai đoạn 1960-1970, còn các công trình khác mới nghiên cứu ở mức độ văn phòng do ủy ban sông Mê Kông thực hiện. Trong các công trình đã được nghiên cứu khả thi có công trình Sambor do chuyên gia Nhật Bản nghiên cứu từ năm 1969, công suất đặt đề nghị là 970MW. Sau đó thư ký sông Mê Kông có nghiên cứu và đề nghị đưa công suất lên 3200MW, trong Nghiên cứu tổng quan sông Mê Kông năm 1988.
Việc đánh giá tiềm năng thủy điện của Campuchia phụ thuộc vμo quy mô phát triển của 2 công trình chính là Stungtreng và Sambor. Theo những đánh giá gần đây của Uỷ hội sông Mê Kông, dự án TĐ Stungtreng nằm trên dòng chính sông Mê Kông có tính khả thi thấp do hồ chứa chiếm một vùng rộng lớn, thậm chí ngập qua khu vực biên giới Lào và Campuchia, số người phải di dân tái định cư lớn. Hiện dự án này đã dừng lại.
Đối với công trình Sambor, đã có nghiên cứu với quy mô hạ thấp công suất xuống 465MW để giảm bớt ảnh hưởng môi trường xã hội. Tuy nhiên dự án này hiện cũng chưa được nghiên cứu tiếp với một số lý do tương tự như công trình Stungtreng.
Ngoài ra, còn có một số công trình nhỏ hơn trên dòng nhánh của sông Mê Kông (thuộc hạ lưu nhánh Srepok, nhánh Sê San) với tổng công suất khoảng dưới 1000MW, và một số công trình nằm phía Tây Nam Campuchia, gần vịnh Thái lan."

dksaigon
02-12-2012, 04:39 PM
Bản đồ năng lượng toàn cầu thay đổi (http://sgtt.vn/Quoc-te/172883/Ban-do-nang-luong-toan-cau-thay-doi.html)

SGTT.VN - Báo cáo hàng năm “Triển vọng Năng lượng Thế giới” của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) gần đây dự báo những thay đổi lớn trên các thị trường năng lượng thế giới cho đến năm 2030, do khu vực Tây Bán cầu đang phát triển nguồn cung nhờ đổi mới công nghệ trích xuất khí đốt và dầu đá phiến. Cũng như trong bất cứ thay đổi quan trọng nào của kinh tế thế giới, bao giờ cũng có những bên thắng lớn và những bên thua lớn.



http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=187413 (http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=187413)
Một dàn khai thác khí tự nhiên trên biển Caspian thuộc tập đoàn SOCAR của Ajerbaijan.


Mỹ có lẽ là bên hưởng lợi chính từ hướng phát triển này, nhờ các hình thức sản xuất khí đốt tự nhiên rẻ nhất thế giới và chi phí vận chuyển thấp do cơ sở hạ tầng phát triển. Kết hợp giữa tăng sản lượng trong nước với giảm mức cầu do hiệu suất năng lượng cao hơn, Mỹ không chỉ sẽ có khả năng tự cung tự cấp, mà còn là nước xuất khẩu năng lượng lớn trong tương lai.

Không nên coi thường lợi ích kinh tế mà Mỹ tích lũy từ hướng phát triển này. Sản lượng cao hơn tăng thu nhập chính phủ, giảm tỉ lệ thất nghiệp, và dẫn đến cán cân thương mại cân đối hơn, và Mỹ có thể tăng nhập khẩu nhiều hơn, kể cả từ châu Á. Mặt khác, chi phí năng lượng trong nước rẻ hơn kết hợp với những tiến bộ công nghệ khác mà Mỹ dẫn đầu như là in 3D, trong khi chi phí nhân công cao ở một số trung tâm gia công hiện nay như Trung Quốc, giúp Mỹ chiếm lợi thế thu hút sản phẩm nước ngoài.

Cho dù nhiều nước tiếp tục khám phá và khai thác những nguồn dự trữ đặc biệt, phần lớn vẫn đi sau Mỹ về khả năng trích xuất, cơ sở hạ tầng vận chuyển,... Úc nổi tiếng với nguồn methane trong vỉa than, vừa rẻ vừa dễ trích xuất, có khả năng cạnh tranh hơn nguồn khí đốt đá phiến của Mỹ. Ngoài ra, Úc còn có lợi thế xuất khẩu do ở cạnh các thị trường châu Á, nơi dự kiến sẽ chiếm tỉ trọng lớn trong mức tăng nhu cầu năng lượng vài thập niên tới.

Trung Quốc có các nguồn dự trữ khí đốt đá phiến lớn, nhưng khó tiếp cận hơn Mỹ và đang thiếu công nghệ trích xuất cần thiết để đưa lượng khí đốt này ra thị trường. Có dự đoán là các công ty Trung Quốc như Sinopec và tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) gần đây đầu tư vào thị trường năng lượng nước ngoài có thể là, hay ít nhất là một phần, nỗ lực có được công nghệ để khai thác nguồn dự trữ trong nước.

Trong khi giải quyết những hạn chế về công nghệ, các yếu tố địa chính trị cũng ngăn cản tiềm năng của Trung Quốc. Một điểm yếu đáng chú ý là nguồn cung nước không đủ sẽ hạn chế năng suất trích xuất khí đá phiến do qui trình này cần lượng nước rất lớn.

Nước Nga vốn lệ thuộc xuất khẩu năng lượng để thúc đẩy kinh tế và tạo ảnh hưởng ở các nước tiêu dùng đói năng lượng ở châu Âu và châu Á. Những thay đổi trên thị trường năng lượng thế giới sẽ ngày càng gây khó cho Nga. Sản lượng khí đốt của Nga đã chịu chi phí sản xuất cao hơn và Moscow sẽ khó thu nhiều lợi nhuận trong những năm tới, khi mà giá có thể giảm đi ở châu Âu nhờ nhập từ Mỹ và châu Á có nguồn cung từ Úc.

Những thay đổi địa chính trị đi kèm thay đổi trên thị trường năng lượng có thể mang nhiều sắc thái. Nếu các xu hướng khai thác và trích xuất năng lượng tiếp diễn, Mỹ sẽ chọn ít dính líu đến Trung Đông. Tuy nhiên, do phần lớn năng lượng được giao dịch trên thị trường mở, các nhà làm chính sách của Mỹ không thể bảo vệ dân Mỹ tránh giá năng lượng cao hơn sau những can thiệp vào nguồn cung ở vịnh Ba Tư. Vả lại, khí đốt tự nhiên tuy đầy dẫy ở Mỹ nhưng không thể thay thế hoàn toàn dầu mỏ. Washington có lẽ vẫn can thiệp vào Trung Đông trong chừng mức nào đó, trong khi nước Nga có thể ít nhu cầu can thiệp vào Trung Á hơn, cho dù Nga hiện đang mua nhiều khí đốt với giá rẻ từ Trung Á và xuất khẩu sang châu Âu với giá cao.

Cũng cần ghi nhận rằng sự thay đổi nguồn cung năng lượng có khả năng hủy hoại an ninh của châu Á-Thái Bình Dương, nhất là nếu Mỹ giảm hiện diện ở Trung Đông. Theo IEA, nhu cầu tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc sẽ tăng lện khoảng 60% vào 2035. Ấn Độ hiện là nước tiêu thụ năng lượng lớn thứ năm thế giới, và nhu cầu sẽ tăng gấp đôi trong cùng kỳ. Và nếu Nhật tiếp tục hạn chế năng lượng hạt nhân, Nhật cũng sẽ phải lệ thuộc nguồn năng lượng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu.

Khả năng thiếu nguồn năng lượng của Nhật, Trung Quốc và Ấn Độ có thể buộc họ tìm những biện pháp mạnh mẽ hơn để bảo đảm nguồn cung từ Trung Đông, hứa hẹn đẩy căng thẳng tăng lên ở khu vực này. Ngoài ra, căng thẳng và cạnh tranh trong khai thác và quyền khai thác năng lượng ở Biển Đông và Biển Hoa Đông có thể giảm đi, một khi giá năng lượng thế giới rẻ đi, và hoạt động khai thác ở đây trở nên phi kinh tế và ít giá trị.

Võ Phương (DIPLOMAT)
_______

"Cũng cần ghi nhận rằng sự thay đổi nguồn cung năng lượng có khả năng hủy hoại an ninh của châu Á-Thái Bình Dương, nhất là nếu Mỹ giảm hiện diện ở Trung Đông"
.......

Nhận định này cho rằng Mỹ rảnh tay ở Trung đông thì sẽ vung tay "hủy hoại an ninh của châu Á- TBD"?!#-o

Và như vậy ở Trung đông thì Nhật, TQ, Ấn "đẩy căng thẳng tăng lên ở khu vực này" làm đối sách! Từ đó "giảm căng thẳng" ở biển Đông và biển Hoa Đông?!
:">
Nghe thì có vẻ khách quan nhưng ghép Nhật và Ấn vào một phe với TQ thì lạ thật! Với cơn khát năng lượng của TQ do tiêu hao quá lớn với kỹ nghệ kém các nước phát triển xa, thì nguồn năng lượng ở biển Đông và biển Hoa Đông là gần trong tầm tay thâu tóm đâu dễ nhả ra! Vậy có nên tin vào lập luận như "chuyên gia" của bài này, là khu vực này sẽ giảm căng thẳng không vì "phi kinh tế và ít giá trị"? 3:-O

dongdoi_f2
03-12-2012, 03:26 PM
Vốn trong ngành Điện và bài toán giá (http://www.petrotimes.vn/news/vn/kinh-te/von-trong-nganh-dien-va-bai-toan-gia.html)


PGS.TS Đàm Xuân Hiệp, Tổng thư ký Hội Điện lực Việt Nam cho biết, theo quy hoạch phát triển điện từ nay đến 2025, lượng công suất đặt tăng thêm chừng 30.000 MW vào năm 2015 và đến năm 2020 công suất hệ thống phải tăng thêm 50.000 - 60.000 MW. Để có lượng công suất trên, tổng vốn đầu tư cho ngành điện từ nay đến 2020 ước chừng khoảng 50 tỷ USD.
Tính trung bình mỗi năm ngành điện phải bỏ ra từ 5-6 tỷ USD để phát triển nguồn, chưa tính đến phát triển lưới điện. Nhu cầu đầu tư lưới cho phát triển đang khiến ngành điện gặp rất nhiều khó khăn.

Về nguyên tắc, vốn cho phát triển ngành điện có thể huy động từ tích lũy của ngành điện, vay vốn trong và ngoài nước, từ các ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu; đầu tư tư nhân hoặc phát hành cổ phiếu và đầu tư bằng vốn ngân sách.

Hầu hết các nước áp dụng 3 cách đầu tiên, cách thứ 4 chỉ tồn tại trước đây dưới thời nền kinh tế kế hoạch tập trung và bao cấp. Thực tế ở Việt Nam, cả ba cách đầu đều được áp dụng nhưng ngành điện vẫn phát triển một cách nhọc nhằn và luôn trong tình trạng đói vốn.
http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/ducchinh/122012/03/08/1s.jpg


Tổng vốn đầu tư cho ngành Điện từ nay đến 2020 ước chừng khoảng 50 tỷ USD
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là do giá điện ở nước ta còn thấp.

Theo ông Hiệp, giá điện ở ta mới chỉ đạt xấp xỉ 60%-70% chi phí biên dài hạn. Giá điện trung bình cho sinh hoạt hiện tăng lên mức 6,5 cent/kWh trong khi chi phí biên dài hạn là 8 – 9 cents/kWh. Điều này khiến giá điện bị nén quá mức kéo theo thị trường điện bị méo mó.

Các số liệu khảo sát cho thấy, Việt Nam hiện nằm trong số ít các nước có giá điện thấp trên thế giới. Như ở khu vực châu Á, tính theo giá năm 2008, nước có giá điện bán cho sinh hoạt cao nhất là Nhật Bản với 20 cents/kWh, tiếp đến là Singapore và Hàn Quốc (14,3 cents và 10,2 cents/kWh).

Nước có giá điện dân dụng thấp là Ấn Độ và Kazakhstan (4,7 cents và 4,3 cents/kWh). Thái Lan và Indonesia cũng có giá điện sinh hoạt cao hơn Việt Nam từ 20%-30%.

Do giá điện thấp nên lợi nhuận của ngành điện không thể tích lũy hoặc tích lũy không đủ cho tái đầu tư và phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn khấu hao. Cũng do giá thấp nên thời gian trả nợ vốn vay ngân hàng thường kéo dài.

Do đó, nhiều ngân hàng khó có thể chấp nhận giải ngân, chưa kể hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam về lực rất yếu trong khi các ngân hàng nước ngoài gần như chưa vào cuộc.

Nếu có vào cuộc thì họ cũng tìm cách tạo sức ép theo một số cách khác nhau. Những yếu tố trên khiến nhà đầu tư nước ngoài thấy thị trường điện ở Việt Nam không hấp dẫn kéo theo hạn chế đầu tư vào ngành điện. Chính vì vậy, để có vốn cho đầu tư phát triển điện, chỉ còn mỗi cách là tăng giá điện.

Cải tổ trước khi tăng giá

Một khía cạnh khác đáng suy nghĩ, theo ông Hiệp, giá điện thấp khiến người tiêu dùng không có động lực để tiết kiệm. Để hóa giải việc người tiêu dùng cảm thấy ấm ức vì việc tăng giá, ngành điện cần thay đổi lại biểu giá điện hiện nay và định giá theo thời gian sử dụng.

“Trong biểu giá điện đang áp dụng ở các nước, giá điện sinh hoạt bao giờ cũng cao nhất, tiếp đến là giá điện cho dịch vụ và thương mại, sau cùng là giá bán điện cho công nghiệp. Ở rất nhiều nước, giá điện cho công nghiệp chỉ bằng 50%-60% so với giá bán điện cho dân dụng. Giá cho dịch vụ và thương mại xấp xỉ giá cho dân dụng. Trong khi đó, ở nước ta mức chênh lệch này chưa nhiều”- Ông nói.

Cũng theo ông Hiệp, sắp tới ở nước ta, biểu giá điện nên thay đổi theo trình tự: Dân dụng và thương mại cao nhất, tiếp đến là công nghiệp và sau cùng là nông nghiệp và các hộ nghèo. Tuy nhiên, điều này cũng phải hết sức lưu ý vì nó đi ngược với nguyên lý bù chéo giá điện mà nhiều người đang muốn xóa bỏ.

Một cách buộc sử dụng tiết kiệm điện khác nữa là việc định giá điện theo thời gian sử dụng do đây là cách nhiều nước tiên tiến đã áp dụng từ lâu nay.

Việc định giá theo thời gian sử dụng buộc người dùng phải luôn quan tâm đến cách sử dụng điện, quan tâm đến chế độ tối ưu của các thiết bị điện.

Ngoài ra, cũng có thể có quy định về cơ chế tự động điều chỉnh giá hàng năm theo mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số lạm phát của năm trước đó.

Cùng với việc tăng giá, cần tính tới tái cấu trúc và cải tổ ngành điện. Với cách làm hiện nay, tăng giá điện bao giờ cũng tạo những phản ứng tiêu cực từ dư luận.

Đây là tình trạng không chỉ ở riêng Việt Nam mà đã từng xảy ra ở nhiều nước chưa thị trường hóa ngành điện.

“Khi cơ chế độc quyền bị bãi bỏ, tự thị trường sẽ định đoạt giá cả và đó là dấu hiệu tốt cho nhà sản xuất, nhà đầu tư cũng như người tiêu dùng. Nhưng cách làm này phải thực hiện từng bước và có lộ trình”- Ông Hiệp cho biết.

Theo Tiền phong

P/S: "Giá rổ" bán điện của các nước quanh VN để tham khảo, để biết VN ở mức nào nhé các bác

dksaigon
03-12-2012, 06:28 PM
Bài ca muôn thuở để tăng giá điện của EVN là giá điện ở VN thấp hơn...Nhật, Mỹ!!! lờ đi mức thu nhập GDP và bao thứ kém cỏi mà nhiều người đã chỉ ra!

Buồn cười khi nghe EVN nói đến..."em chả muốn độc quyền"!
NH nước ngoài cho vay lấy lãi nhưng tại sao không hứng thú? đâu phải vì nó thấy giá điện ở VN thấp! cũng vậy đầu tư nước ngoài vào ngành điện không hấp dẫn thì chắc hẳn EVN biết rõ không chỉ là vì...giá!

Tóm lại muốn tăng giá thì...cứ tăng, độc quyền mà! ai dám...không xài điện vì giá tăng!?

dksaigon
05-12-2012, 03:10 PM
Việt Nam bước đầu phát triển điện gió (http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/99651/viet-nam-buoc-dau-phat-trien-dien-gio.html)


http://img.vietnamnet.vn/logo.gif- Các nhà máy điện gió đầu tiên, một ở Bình Thuận và một ở Bạc Liêu, có thể xem là các điểm đột phá mở đường xây dựng nền công nghiệp phong điện non trẻ, nhưng được kỳ vọng là một nguồn điện trụ cột trong tương lai ở Việt Nam.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/12/04/15/20121204154915_DiengioTuyPhong.jpg


Các trụ điện gió thuộc Nhà máy điện gió Tuy Phong (Bình Thuận).




Phong điện: nguồn điện tương lai

Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, thuỷ điện và phong điện hay điện gió được xem là nguồn điện sạch; ít gây ô nhiễm khí “nhà kính”.

Nhưng, nếu thuỷ điện ẩn chứa những hiểm hoạ đối với các cộng đồng dân cư, thì điện gió thân thiện và hiền hoà đối với con người. Nếu xem thuỷ điện là nguồn điện “già”, thì phong điện hay điện gió được gọi là nguồn điện trẻ. Vì trong khi thuỷ điện đã và đang đóng vai trò lớn trong nền công nghiệp điện nhiều nước, điện gió chỉ mới được chú ý đầu tư và khai thác khoảng 5 - 10 năm trở lại đây.

Riêng ở Việt Nam, tại thời điểm cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 này, thuỷ điện đã đóng góp đến 1/3 nhu cầu sử dụng điện của cả nước, nhưng điện gió hầu như chỉ mới ở mức xuất phát. Vì vậy, sự xuất hiện trong năm 2012 này các nhà máy điện gió, một ở tỉnh Bình Thuận thuộc miền nam Trung Bộ và một ở tỉnh Bạc Liêu thuộc miền tây Nam Bộ có thể xem như những điểm sáng hay các điểm đột phá ấn tượng mở đường xây dựng nền công nghiệp phong điện của nước ta.

Việt Nam: Bình Thuận đi đầu

Với điều kiện địa lý thuận lợi của một địa phương có bờ biển dài, lượng gió nhiều và phân bổ khá đều quanh năm, tính đến cuối tháng 1 năm 2012 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã xây dựng 16 dự án điện gió với tổng công suất dự tính khoảng 1.300 MW. Trong đó có 5 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, 9 dự án đã hoàn thành báo cáo đầu tư trình xin cấp giấy chứng nhận, 2 dự án đang trong giai đoạn khảo sát lập hồ sơ dự án đầu tư.

Trong số 16 dự án nói trên, Dự án Nhà máy điện gió Tuy Phong, đặt tại xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận do Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN) đầu tư được triển khai đầu tiên.
Toàn bộ dự án, khi hoàn thành, sẽ có 80 tuabin với tổng công suất 120 MW, sử dụng công nghệ hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức.

Giai đoạn 1 của dự án gồm 20 trụ điện gió (tuabin) chiều cao cột 85 m, đường kính cánh quạt 77 m, công suất 1,5 MW/tuabin; tức tổng công suất của giai đoạn này là 30 MW. Và mỗi năm dự tính sản xuất khoảng gần 100 triệu kWh điện. Đến cuối quý 1 năm nay, giai đoạn 1 đã hoàn thành cơ bản; bao gồm các khâu lắp đặt, đưa vào vận hành và đấu nối với lưới điện quốc gia. Và Nhà máy điện gió Tuy Phong 1 đã chính thức được khánh thành, đi vào hoạt động từ ngày 18/4/2012. Đây cũng là nhà máy điện gió đầu tiên của cả nước chính thức đi vào hoạt động.

Theo kế hoạch, giai đoạn 2 của dự án chuẩn bị khởi công xây dựng và lắp đặt 60 trụ điện gió (hay tuabin), nâng tổng công suất của toàn bộ Nhà máy Phong điện Tuy Phong lên 120 MW.

Ở tỉnh Bình Thuận, sau Dự án Tuy Phong đã hòa mạng lưới điện quốc gia giai đoạn 1 và chuẩn bị thi công giai đoạn 2, dự án điện gió ở đảo Phú Quý với 3 tuabin, tổng công suất 6 MW đã lắp đặt xong và thử vận hành an toàn, bình thường. Nguồn điện gió Phú Quý, khi chính thức hòa vào dòng điện của nhà máy điện Diesel hiện có tại đảo, thì đảo Phú Quý sẽ có điện 24/24 giờ.

Ngoài ra, cũng ở Bình Thuận, một dự án điện gió tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình cũng trong giai đoạn thi công và một số dự án khác đang chuẩn bị triển khai.

Với các dự án nói trên, rõ ràng, tỉnh Bình Thuận đang đi đầu trên con đường phát triển điện gió ở Việt Nam.



http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/12/04/15/20121204155049_DiengioBaclieu.jpg


Các cột điện gió trên biển thuộc Nhà máy điện gió Bạc Liêu



Nam Bộ: Bạc Liêu đi tiên phong

Dự án điện gió trên biển đầu tiên nước ta ở tỉnh Bạc Liêu đã hoàn thành giai đoạn 1 với tuabin thứ 10 lắp đặt thành công vào chiều ngày 2/10/2012.
Toàn bộ Nhà máy điện gió Bạc Liêu được đặt dọc theo đê biển Đông, kéo dài từ phường Nhà Mát đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng và chiểm tổng diện tích gần 500 ha.
Ở đây, các tuabin gió được sản xuất tại Mỹ, làm bằng thép đặc biệt không gỉ, cao 80m, đường kính 4m, mỗi tuabin có 3 cánh quạt, mỗi cánh dài 42 m, làm bằng nhựa đặc biệt, có hệ thống điều khiển giúp cánh quạt tự gập lại khi gặp thời tiết xấu, bão lớn.

Dự án có vốn đầu tư khoảng 5.200 tỷ đồng do Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại và Du lịch Công Lý (Cà Mau) làm chủ đầu tư. Dự án được khởi công năm 2010 và dự kiến hoàn thành vào năm 2013.
Trong giai đoạn 1 đã hoàn thành lắp đặt 10 cột (hay tuabin), công suất tổng cộng của giai đoạn này là 16 MW và điện năng sản xuất dự tính khoảng 56 triệu kWh/năm.
Giai đoạn 2 của dự án sẽ xây lắp tiếp 52 tuabin gió còn lại. Sau khi hoàn thành, Nhà máy điện gió Bạc Liêu sẽ có tổng số 62 tuabin với tổng công suất trên 99 MW và điện năng sản xuất ra khoảng 320 triệu kWh/năm.

Nhà máy điện gió Bạc Liêu là một điển hình về việc thu hút doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào ngành điện nói chung và đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo nói riêng.
Từ kinh nghiệm này, mới đây UBND tỉnh Trà Vinh, Tập đoàn EAB (Đức) và Công ty CP Thương mại Sản xuất và Dịch vụ tổng hợp Trasesco đã phối hợp thực hiện dự án đầu tư năng lượng gió tại Duyên Hải – Trà Vinh với 20 tổ máy, tổng công suất 30 MW, sản xuất bình quân 75 triệu kWh/năm. Một số địa phương khác ở Nam Bộ cũng đang xây dựng dự án điện gió cho địa phương mình.

Như vậy, Bạc Liêu, với dự án điện gió ven biểu đầu tiên hoàn thành giai đoạn 1, trở thành tỉnh tiên phong ở Nam bộ hay vùng đồng bằng sông Cửu Long trên con đường phát triển loại điện năng tái tạo mới này.

Cần những biện pháp đòn bẩy

Cùng với sự phát triển nền kinh tế đất nước, nhu cầu cung cấp điện năng ngày càng lớn. Và điện gió đang được kỳ vọng như là một trong những nguồn điện của tương lai, xếp hàng sau điện hạt nhân nhưng đứng trước các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện sinh khối v.v. ...
Chính phủ, trong Tổng sơ đồ điện VII, đã đưa ra mục tiêu nâng tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 1.000 MW (tương đương công suất 1 lò phản ứng hạt nhân) vào năm 2020, và khoảng 6.200 MW (tương đương công suất 6 lò phản ứng hạt nhân) vào năm 2030; tức điện năng sản xuất từ nguồn điện gió sẽ chiếm tỷ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.

Mục tiêu đó so với nhu cầu còn khiêm tốn, nhưng thực hiện cũng hoàn toàn không dễ, nếu tính đến những yếu điểm về công nghệ, về tính kinh tế và cả về mặt tác động môi trường của loại điện năng này. Để đạt các chỉ tiêu trong Tổng sơ đồ điện VII không thể thiếu những biện pháp đòn bẫy, trước hết là một loạt chính sách đầu tư và khuyến khích của nhà nước.
Trần Minh

dksaigon
16-01-2013, 09:34 PM
K (http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20130115-khi-hoa-ky-tu-luc-ve-nang-luong)HI HOA KỲ TỰ LỰC VỀ NĂNG LƯỢNG (http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20130115-khi-hoa-ky-tu-luc-ve-nang-luong)

http://www.viet.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/37/686/512/344/257/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/Forage%20de%20Gaz%20de%20schiste_0.jpg
Dàn khoan đá phiến tại bang Pennsylvania, Hoa KỳRuhrfisch/wikimedia.org

Đến năm 2020 Mỹ sẽ trở thành nguồn sản xuất dầu hỏa số 1 thế giới. Trung Quốc theo chân Hoa Kỳ khai thác dầu và khí đá phiến. Địa lý chiến lược thế giới sẽ thay đổi khi Mỹ không còn lệ thuộc vào dầu hỏa của các nước vùng Vịnh và không cần bảo đảm an ninh cho các tuyến trung chuyển năng lượng của thế giới về Hoa Kỳ.

Là một trong những quốc gia tiêu thụ dầu hỏa và khí đốt hàng đầu của thế giới, để đáp ứng nhu cầu nội địa Hoa Kỳ nhập khẩu đến 20 % năng lượng. Nhưng từ nhiều thập niên qua, cường quốc kinh tế và công nghiệp số 1 này đã âm thầm tiến hành một cuộc cách mạng.

Đầu tháng 11/2012 báo cáo thường niên của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (AIE) đã gây bất ngờ khi dự phóng là vào năm 2017 nước Mỹ sẽ trở thành nguồn sản xuất dầu hỏa lớn nhất thế giới, đứng trước cả Ả Rập Xê Út và chỉ một thập niên sau thì Hoa Kỳ sẽ trở thành quốc gia xuất khẩu số 1 toàn cầu. Đối với khí đốt, chỉ trong hai năm nữa thôi sản lượng của Mỹ sẽ vượt quá mức cung cấp của Nga.

Cuộc cách mạng năng lượng

Thành quả này có được nhờ vào chiến lược mà các chính quyền Washington liên tiếp và các đại gia dầu khí của Hoa Kỳ đã kiên trì theo đuổi trong nhiều thập niên : đó là dựa và công nghệ phát triển khí và dầu từ đá phiến. Trong 11 tháng đầu năm 2012 Hoa Kỳ sản xuất khoảng 6,2 triệu thùng dầu mỗi ngày nhờ vào công nghệ khai thác đá phiến. Đây là một mức nhảy vọt đến 28 % so với khả năng cung cấp của năm 2008.

AIE khẳng định : « Với đà này, nhập khẩu dầu thô vào Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng giảm sút vào khoảng năm 2030 » và kịch bản một nước Mỹ tự lực về năng lượng không còn là điều viển vông. Đương nhiên, trật tự năng lượng quốc tế sẽ bị đảo lộn khi Hoa Kỳ không còn lệ thuộc vào dầu khí của thế giới. Châu Á sẽ trở thành trọng tâm của bản đồ thương mại dầu hỏa trong tương lai với những thay đổi quan trọng về mặt chiến lược.

Trả lời trên đài RFI Pháp ngữ, giáo sư địa lý bà Françoise Ardillier-Carras tác giả cuốn « Hydrocarbures et conflits dans le monde - dầu khí và các vụ xung đột trên thế giới », Nhà xuất bản Technip cùng giáo sư Samuele Furfari giảng dậy tại Đại học Tự do Bruxelles lần lượt phân tích về những tác động đối với ngành công nghiệp dầu khí với cuộc cách mạng về năng lượng đang hình thành.

Theo giáo sư Samuele Furfari đá phiến là vũ khí năng lượng mới của Hoa Kỳ nhưng ông thận trọng cho rằng dù có trở thành một nguồn cung cấp dầu khí hàng đầu thế giới, Mỹ ít có khả năng cung cấp dầu khí của mình cho phần còn lại của thế giới để bảo toàn vị thế siêu cường công nghiệp và kinh tế của mình :

« Mọi người ý thức được là giá năng lượng tăng nhanh và đã tác động đến các hoạt động kinh tế của toàn cầu. Giá năng lượng tăng mạnh từ 2004 và vấn đề năng lượng bị coi là một trong những yếu tố dẫn tới khủng hoảng kinh tế ngày nay. Từ đó các nhà lãnh đạo và các tập đoàn phải tìm ra những giải pháp.
2004 được coi là một bước ngoặt quan trọng đối với ngành năng lượng. Khác với các lĩnh vực kinh tế khác, để chuyển hướng, ngành công nghiệp năng lượng cần nhiều năm để thay đổi chiến lược. Trong trường hợp của Hoa Kỳ : nước Mỹ đang lệ thuộc vào dầu hỏa vào năng lượng của thế giới, nhưng trong một tương lai không xa cường quốc kinh tế số 1 này sẽ ‘độc lập’ về mặt năng lượng.

Công nghệ là chìa khóa giúp cho Hoa Kỳ đảo ngược tình huống trên bàn cờ năng lượng. Hoa Kỳ làm thay đổi cục diện ngành năng lượng thế giới với kỹ thuật khai thác khí đã phiến. Phải mất nhiều năm các chuyên gia mới biết khai thác khí đá phiến.
Đến khoảng 2008 ngành năng lượng đã trải qua một cuộc cách mạng : kỹ thuật khai thác khí đã phiến sẽ đẩy giá thành xuống thấp đến một mức độ mà ở Mỹ, người ta sẽ chỉ tập trung khai thác những vùng vừa có dầu hỏa vừa có khí đốt. Hoa Kỳ sẽ trong thế dư thừa dầu khí. Tôi không nghĩ là Mỹ sẽ trở thành một nguồn cung cấp dầu khí cho thế giới. Nhưng Hoa Kỳ, Canada và Mêhicô sẽ tự túc được về mặt năng lượng và điều đó sẽ làm đảo lộn trật tự năng lượng của thể giới »

Nhưng nói như vậy phải chăng quốc tế không còn lo sợ trước kịch bản khan hiếm vàng đen ? Giáo sư Furfari cho rằng đại đa số trong chúng ta vẫn bị ám ảnh trước mối đe dọa các nguồn dầu hỏa của thế giới bị cạn kiệt :

« Có thể nói như vậy nhưng đại đa số chúng ta và nhất là các phương tiện truyền thông vẫn cho rằng dầu hỏa đang ngày càng khan hiến. Từ năm 1924 người ta đã nói đế đe dọa thiếu hụt dầu hỏa. Người ta quên mất một điều : giá dầu hỏa tùy thuộc vào các kỹ thuật khai thác và tùy thuộc vào giá mà người tiêu thụ sẵn sàng trả để đổi lấy vàng đen.

Ở đây tôi cũng muốn nhắc lại với thính giả một điều quan trọng đó là vào năm 1982 quốc tế đã thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Văn bản này chính thức có hiệu lực từ năm 1994. Diện tích khai thác của mỗi quốc gia được mở rộng thêm.
Bên cạnh đó công nghệ khai thác tài nguyên ngày càng tối tân, thành thử khối lượng dầu cung cấp cho nhân loại ngày càng lớn. Tôi đơn cử trường hợp của Israel : với Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển, Israel làm chủ một kho dự trữ khí đốt có thể bảo đảm nhu cầu của quốc gia này trong vòng 120 năm » !

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển

Bà Françoise Ardillier-Carras chuyên gia về địa lý gắn liền vấn đề năng lượng và địa lý chiến lược. Bà đặc biệt lưu ý đến những ý đồ của Trung Quốc tại Biển Đông :

« Với Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển, chiến lược năng lượng chuyển hướng và trở thành một vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia. Chính vì thế Biển Đông đang trở thành một khu vực vô cùng nhạy cảm. Tương tự như vậy, các vùng eo biển tức là các cửa ngõ trung chuyển dầu khí cũng trở thành những điểm nóng. Tranh chấp chủ quyền trên biển, một là để khẳng định quyền sở hữu các nguồn tài nguyên, và hai là để kiểm soát các chặng trung chuyển năng lượng … »

Vậy thì đâu là chiến lược năng lượng của Trung Quốc ? Giáo sư Samuele Furfari không ngần ngại cho rằng Trung Quốc sẽ đẩy mạnh công nghệ khai thác khí đá phiến tương tự như Hoa Kỳ. Duy Trung Quốc sẽ vấp phải một trở ngại : các mỏ đá phiến dầu của Trung Quốc thường nằm sâu trong lòng đất do vậy các cơ sở khai thác của quốc gia này phức tạp hơn so với tại Mỹ :

« Trung Quốc ngày càng tiêu thụ nhiều năng lượng của thế giới để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Hàng sản xuất đó thực ra cũng chỉ là để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ chung của toàn cầu- trong đó có cả Mỹ và châu Âu. Từ nhiều năm qua, chính sách ngoại giao của Trung Quốc chủ yếu nhằm hướng tới các nguồn dự trữ năng lượng của thế giới. Bắc Kinh đã đặc biệt chú ý tới châu Phi.

Giờ đây với công nghệ khai thác khí đá phiến, Trung Quốc cũng bắt đầu tham gia vào các chương trình này. Có khả năng một khi thành công trong việc khai thác khí đã phiến thì Bắc Kinh sẽ quan tâm ít hơn đến các nước sản xuất dầu hỏa như Tchad hay Soudan. Nhưng phải nói là Trung Quốc đang chạy đua để tìm kiếm dầu hỏa và khí đốt ».

Trong cuộc chạy đua tìm kiếm năng lượng đó tới nay Trung Quốc đã mở rộng tầm ảnh hưởng của mình với các nước sản xuất dầu hỏa từ Nam Mỹ đến Châu Phi, và đương nhiên là ở cả Trung Á. Giáo sư Françoise Ardillier-Carras cho biết :

« Đương nhiên tất cả hãy còn mới lạ đối với Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc phải trực diện với nhu cầu năng lượng lớn như hiện nay. Cũng chưa bao giờ Trung Quốc lại có nhiều xe hơi như những năm gần đây. Trung Quốc sản xuất than đá nhưng bên cạnh đó quốc gia này cần dầu khí của nước ngoài.

Để chen chân vào được một số khu vực sản xuất dầu khí, đặc biệt là đối với các nước Trung Á (Ouzbekistan, Turkmenistan, Kazackhstan …) , chính quyền Bắc Kinh đã phải đề ra hẳn một chiến lược. Chẳng hạn như là Trung Quốc đã phải tăng cường an ninh tại các khu vực biên giới để bảo đảm là hàng bán được trao đến tay người tiêu thụ một cách an toàn.

Vào khoảng năm 1998 Trung Quốc chi ra khoảng 1 tỷ đô la để mua dầu khí của các nước Trung Á. Đến năm 2010 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc chỉ riêng với khu vực này lên tới 24 tỷ đô la. Hiện tượng Trung Quốc bị khát dầu hỏa và mở rộng ảnh hưởng với các nước Trung Á đôi khi đặt Bắc Kinh trong thế khó xử đối với Matxcơva bởi đấy là những quốc gia chư hầu của Liên Xô cũ ».

Nghịch lý của Châu Âu

Châu Âu lệ thuộc 53 % vào năng lượng ngoài khu vực cho nên từ đầu những năm 1970 châu lục này đã phát triển năng lượng điện hạt nhân để khắc phục nhược điểm này. Riêng đối với công nghệ khai thác khí đá phiến, Châu Âu đã bỏ lỡ một chuyến tàu và bị coi là chậm chân hơn so với Hoa Kỳ. Một phần lớn sự chậm trễ đó là do châu Âu phải đối phó với các hội đoàn bảo vệ môi trường.

Tại sao Mỹ khai thác được khí đá phiến mà châu Âu không làm được ? Giáo sư Samuele Furfari giải thích về khác biệt cơ bản giữa Hoa Kỳ và châu Âu :

« Ở Hoa Kỳ, chủ sở hữu đất làm chủ luôn cả phần ngầm. Nếu có dầu hỏa hay khí đốt, quặng mỏ … thì họ có quyền khai thác các tài nguyên đó. Tại Châu Âu, chúng ta không thể làm như vậy. Cái gì cũng phải qua cơ quan hành chính của nhà nước và phải giải trình với các nhóm bảo vệ môi trường có thế lực. Tuy vậy luật lệ của Mỹ cũng rất rõ ràng thành thử để khai thác dầu hỏa hay khí đốt tư nhân không thể gây ô nhiễm bừa bãi.

Tôi nghĩ là trong tương lai Trung Quốc cũng sẽ theo chân Hoa Kỳ để khai thác khí đã phiến, vì tại đây, tất cả thuộc sở hữu của Nhà nước, chính quyền quyết định tất cả cho nên một quyết định khai thác loại năng lượng này, Trung Quốc sẽ không gặp phải một trở ngại nào hết.

Châu Âu không thể làm như Trung Quốc. Một khi Mỹ không còn lệ thuộc vào năng lượng quốc tế, Washington sẽ xét lại chính sách chiến lược của mình đối với phần còn lại của thế giới. Thêm vào đó là khí đốt sản xuất tại Mỹ sẽ rẻ vô cùng. Điều đó sẽ mở đường cho ngành công nghiệp xe hơi Mỹ chuyển hướng, chuyển từ xăng, dầu sang khí đốt. Khi đó, giá dầu thô trên thị trường quốc tế sẽ giảm mạnh, các loại năng lượng tái tạo như năng lượng gió hay mặt trời sẽ trở nên vô cùng đắt đỏ. Cả một mảng của ngành công nghiệp năng lượng sẽ sụp đổ.

Hiện nay khí đốt ở Mỹ rẻ đến nỗi Hoa Kỳ không còn sử dụng than đá và họ xuất khẩu than đã qua châu Âu. Hậu quả trực tiếp là Mỹ giảm lượng thái khí CO2 làm hâm nóng trái đất. Trong khi đó thì châu Âu ngày càng sử dụng nhiều than đá của Mỹ và qua đó làm tiêu tan những nỗ lực giảm khí carbon ».

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu hỏa, OPEP cho rằng giá 1 thùng dàu 80 đô la là hợp lý. Nhưng với công nghệ khai thác dầu và khí đá phiến, nhiều chuyên gia chờ đợi trong tương lai gần, giá dầu hỏa sẽ giảm mạnh. Hậu quả đối với các quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu hỏa ?

Giáo sư Samuele Furfari trả lời : « Vấn đề sẽ không đặt ra đối với các nước vùng Vịnh, do họ có một nguồn dự trữ rất lớn và dù giá dầu hỏa có thấp đến mấy, thu nhập của các quốc gia này vẫn được bảo đảm. Đối với các thành viên khác của OPEC thì khác khi đấy là những nước không có nguồn dự trữ dầu hỏa hùng hậu như các quốc gia vùng Vịnh.

Cách nay 11 năm giá dầu trên thế giới là 9,80 đô la một thùng. Nhưng trong một thập niên, giá dầu hỏa đã tăng từ 9,80 đô la lên thành 110 đô/thùng. Giá dầu tăng cao như vậy đã đè nặng lên kinh tế toàn cầu, gây trở ngại cho tăng trưởng »

Từ năng lượng đến địa lý chiến lược

Cân bằng về địa lý chiến lược thế giới sẽ thay đổi ra sao khi Hoa Kỳ không còn phải triển khai các phương tiện quân sự để bảo đảm an ninh cho các nguồn cung cấp dầu hỏa và khí đốt ? Françoise Ardillier-Carras cho rằng an ninh của một số các nước xuất khẩu dầu hỏa trên thế giới hiện nay có nguy cơ bị đe dọa khi Mỹ rút bớt các lực lượng an ninh :

« Nhu cầu về năng lượng thế giới, từ nay đến năm 2035 tăng thêm 36 %. Trong đó khí đốt sẽ tăng 46 %. Mỹ ngày nay đang trở thành một nhà sản xuất khí đốt hàng đầu của thế giới, điều sẽ làm thay đổi tương quan giữa Washington với nhiều các quốc gia, đặc biệt là các nước đang trỗi dậy. Đừng quên rằng hiện nay các nền kinh tế đang vươn lên hút nhiều năng lượng của thế giới hơn cả.

Tôi cũng xin lưu ý là khi không còn phải ráo riết tìm kiếm dầu khí của thế giới Hoa Kỳ sẽ xét lại chính sách an ninh và chiến lược của mình. Mỹ sẽ không còn gắn bó với một số các đồng minh thân cận ở vùng Trung Cận Đông, ở khu vực vùng Vịnh chẳng hạn. Hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong vùng sẽ không còn hùng hậu như hiện nay. Câu hỏi đặt ra là liệu các bên liên quan có đủ phương tiện tự vệ hay không » ?

Đương nhiên là Hoa Kỳ sẽ ít quan tâm hơn đến vùng Trung Cận Đông. Ông Furfari, thuộc đại học Bruxelles hoàn toàn đồng ý về điểm này, nhưng ông coi là còn quá sớm để có thể nói rằng dầu hỏa đã thuộc vào quá khứ : « Như vừa trình bày, có nhiều khả năng kịch bản đó sẽ xảy tới. Mỹ cũng đã chuyển mối quan tâm từ Đại Tây dương sang Thái Bình Dương. Hoa Kỳ không còn chú ý đến châu Âu như trước nữa. Canada cũng đang theo chân Hoa Kỳ trong lĩnh vực này và ngày càng chú trọng đến đối tác Trung Quốc.

Tôi muốn nói đến dự án dây dựng đường ống dẫn dầu nối liền bang Alberta của Canada với Trung Quốc. Trong khi đó châu Âu lại cho rằng sẽ không còn cần đến dầu hỏa trong tương lai. Tôi nghĩ rằng, hiện tại, chưa có một giải pháp thực tế nào cho phép chúng ta nghĩ tới điều đó. 95 % nhu cầu năng lượng của ngành giao thông vẫn lệ thuộc vào dầu hỏa ».

dongdoi_f2
04-03-2013, 03:04 PM
M1, Ủy ban 300 và Tài khoản tài sản ký quỹ có giá trị nghìn tỷ dollars

1/18/2013 10:17:00 PM Trong thế giới tài chính tiền tệ mà sự tăng giảm bất thường của nó trong những năm qua đã gây ảnh hưởng nặng nề đến quốc phòng an ninh nhiều khu vực trên thể giới. Ai là kẻ độc tài. Những nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế sẽ cho chúng ta một bức tranh mờ trên đỉnh Kim tự tháp của tài chính thế giới

Nguồn: Thomas Kramer

Ít người hiểu được đỉnh của kim tự tháp tài chính toàn cầu là gì, vì thế, sau đây tác giả bài viết xin đưa ra một số hiểu biết của mình dựa trên những nghiên cứu của mình đã sưu tầm những năm qua.

Đầu tiên, các bạn phải hiểu những “tài sản” yêu cầu “quyền sở hữu” và với quyền sở hữu thứ đó trở thành một “tài sản thế chấp” hoặc một tài sản của chủ sở hữu, và do đó là một thứ có giá trị “tiền tệ”.

Thứ hai, những người ở trên đỉnh của Kim tự tháp tài chính yêu cầu quyền sở hữu với một lượng kếch xù “những tài sản”. Những người này được gọi chung là những người có quyền lực tối cao, Người được ủy thác hoặc người có quyền thừa hưởng hợp pháp giá trị của những tài sản. Hầu hết những tài sản thế chấp này thu được qua chiến tranh, trộm cắp, gian lận, tham nhũng và qua những Điều ước quốc tế và Thỏa thuận giữa những nhà lãnh đạo với mục đích duy trì sự giàu có của những của cải, tài sản phi nghĩa.

Hiện nay, ở trên đỉnh của Kim tự tháp tài chính, mọi người có thể biết được là Nữ hoàng Anh, Nữ hoàng Beatrix, Đức giáo hoàng, Gia tộc Rothschilds, Gia tộc Rockefeller, Gia tộc DeBeers, Gia tộc Al-Saud, các trưởng lão người Trung Quốc, những triệu phú được công nhận khác và những người thừa kế chưa được công nhận. Trong Kim Tự Tháp tài chính Phương Tây là được gọi Ủy Ban 300 thành viên, những đại diện giành được và thừa hưởng sự giàu có vô tận.

Ở phía Đông, sự giàu có được kiểm soát bởi những trưởng lão người Trung Quốc (những người Trung Hoa hiện nay và những người Đài Loan đương nhiệm), Gia tộc Nhật Hoàng (Các gia tộc của bao gồm cả hai miền Nam, Bắc Triều Tiên), các tỷ phú Philippine, Thái Lan, Ấ Độ, Indonesia. Nhóm này sở hữu khoảng 85% lượng vàng và những kim loại quý hiếm được dự trữ, những thứ có thể coi là phương thức để bảo quản tài sản và dùng để thế chấp tốt nhất.

Cùng với sự đồng thuận và một thỏa ước, nhiều năm trước đây, những chủ sở hữu tài chính đã quyết định đưa những tài sản phi nghĩa của họ vào trong tài khoản ký quỹ toàn cầu, và sử dụng tài khoản này để tạo ra tiền (tiền giấy – Fiat money) qua hệ thống các ngân hàng trung ương và các ngân hàng Thương mại được cấp giấy phép và các tổ chức tài chính đang sử dụng hệ thống phân dạng nghiệp vụ ngân hàng.

Nhưng để một Ngân hàng Trung ương có thể phát hành loại tiền tệ mới, đòi hỏi phải có một “tài sản thế chấp bảo mật” đằng sau nó. Tài sản thế chấp này được vay mượn từ Tài khoản tài sản thế chấp Thế giới trong "sổ cái riêng - off ledger" điều thường được gọi là “Quyển sổ cái bí mật Bìa đen hoặc Bìa xám”. Một trong những hoạt động rõ nét gần đây nhất là vụ chuyển 15 ngàn tỷ US dollars sang HSBC London là một ví dụ của việc này, đây là một tài sản ký quỹ được dựa trên việc chuyển nhượng ngoài bảng cân đối kế toán được dùng để cứu trợ các tổ chức tài chính có thanh khoản kém và do đó mất thanh khoản. Đó là nền tảng của việc quay vòng các con số quanh đỉnh cao của kim tự tháp tài chính.

Việc dịch chuyển của các quỹ do Ủy ban 300 thông qua Tài khoản tài sản ký quỹ tại Ngân hàng thanh toán quốc tế ở Thụy Sỹ đã được hạch toán, kiểm toán và xác nhận bởi Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Liên hợp quốc UN.

Những tài khoản tài sản ký quỹ này có số lượng đáng kinh ngạc không thể tin nổi, và đã tăng trưởng vô cùng lơn qua nhiều thế kỷ bằng cách sử dụng lãi suất danh nghĩa. Chúng được giữ trong những tài khoản không chính thức tại các ngân hàng Trung Ương và ngân hàng Thương mại lớn khắp thế giới. Một số ví dụ về các số dư tài khoản này đã được tiết lộ gần đây khi thực hiện tìm kiếm với từ khóa "Spiritual White Boy" (Người da trắng thần thánh) và được trích dẫn dưới đây. Chỉ cần đếm số 0 từ một vài trong số các tài khoản này!

Dữ liệu tài khoản Ngân hàng (Bank Account Data Sheet)
SWIFT Code: ASBLPAM12000
ISIN Code: ASBLPAM99900
Euroclear: EUASBLP12000

Tài khoản đặc biệt của Federal Reserve Board no. 5525525424AM với tên tài khoản “Spiritual Wonder Boy” có số dư thường trực là
US$ 2,178,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000, 000,000,000,000,000,000,000
được kiểm toán khẳng định lại, thẩm định chính xác, được lập ngày 01/12/2008, được bảo đảm và tái khẳng định đã kiếm được số tiền US$ 410, 000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,00 0,000,000,000,000
từ tháng 10 đến tháng kiểm toán, nâng số dư trong tài khoản lên tới
US$ 2,588,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000, 000,000,000,000,000,000.
Tài khoản ở Bank of America số 58453 02221 1 có tên White Spiritual Boy và có số dư thường trực là
US$ 1, 356, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000 được kiểm toán tái khẳng định và thẩm định chính xác, được lập ngày 01/12/2008, được khẳng định đã kiếm được khoảng lợi nhuận danh nghĩa là
US$ 256, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000 từ tháng Mười đến tháng kiểm toán,
nâng số dư tài khoản lên US$ 1, 612, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000.

3. Tài khoản Citibank số 998552411 2212 có tên Morning Star,
có số dư thường trực US$ 1, 356, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000 được kiểm toán tái khẳng định và thẩm định chính xác, được lập ngày 01/12/2008,
bảo đảm và khẳng định đã thu được khoảng US$ 256, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000 từ tháng Mười đến tháng kiểm toán, nâng số dư tài khoản lên US$ 1, 612, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000, 000.
Có 391 tài khoản đã được kiểm toán số dư được liệt kê trong danh sách tìm kiếm và 917 tài khoản khác không được kiểm toán được xác định trong bảng tổng kết.Và đây chính là dữ liệu thô từ năm 2008.

Người đứng đầu "những người thụ hưởng toàn quyền" "Leading Signtory” (người toàn quyền ký) cho các tài khoản này là Nữ hoàng Anh Elisabeth Tutor, tuy vậy, đằng trước điều này là một Người được ủy thác, đôi khi được gọi bằng cái tên “M1”. Địa vị của “M1” dựa trên nguyên tắc “Ai sở hữu vàng”, và trong trường hợp này, đại diện đứng đầu là một người châu Á.

Thật dễ dàng để kiểm tra lại, từ Chủ tịch Indonesia Soekarno, rồi đến Ferdinand Marcos, rồi đến Dr. Ray Dam (Campuchia) và gần đây nhất là Anthony Benjamin Martin (Là con của một người Úc và một phụ nữ Philippine), người được Marcos bổ nhiệm là người thừa kế duy nhất và là người chịu trách nhiệm quản lý và cất giấu vàng ở Philippine. Tất cả những người "M1" có được "quyền" của những người đứng đầu trong Ủy ban 300 và sau đó bị thay thế bởi các M1 mới nổi khác hoặc bị một M1 mới lật đổ. Các M1 chỉ đơn thuần cần một chữ ký và thư ủy nhiệm của họ để di chuyển các nguồn tài sản ký quỹ đến bất cứ nơi nào họ muốn và nếu những M1 từ chối thì sẽ được thay thế bằng một M1 khác...

Tôi tin rằng, M1 hiện tại là một người Philippine, chú của Anthony Martin, được biết đến với cái tên Wilfredo Saurin. Ông ta có liên quan trực tiếp đến việc chuyển khoản 15 ngàn tỷ USD, tờ tổng Bonds 1 ngàn tỷ USD năm 1938 ở Nhật Bản đã bị mất trộm và một số các hoạt động mờ ám khác mà sự lan tỏa của những hoạt động đó đã biến ông ta là một kẻ gian lận (một sự tuyên truyền có chủ ý).

Tuy vậy, Một cộng tác viên của tôi, đã nhìn thấy thực tế các bản kiểm toán các tài khoản tiền ký quỹ của ông Saurin của năm 2011 trong sổ cái (off-the-book) tài khoản Ngân hàng quốc tế WB và nó là đứng hàng thứ 4 như xác nhận và chứng thực của Ngân hàng Thế giới, Liên Hiệp Quốc và Ủy ban 300. Đồng thời, ông ta có một hộ chiếu của Liên Hợp Quốc.

Những thí dụ tiểu biểu trên đây của các cơ quan có thẩm quyền về Anthony Martin (White Spiritual Boy) cho thấy rằng ông (Sir) Saurin và ông (Sir) Martin đều được đề cập đến như một thành viên quan trọng và có được một tỷ lệ đáng kể trong hiệp ước và Nữ hoàng Elisabeth là "Chủ tịch của Ủy ban 300 ". Và tất cả các chữ ký trong các văn bản, chứng thư, chứng từ cũng đã được kiểm tra và xác nhận.

Điều đó nên được hiểu rằng, không phải tất cả thành viên của Ủy Ban 300 là người xấu, những người đội mũ đen, những người được Chúa khai sáng, là thành viên của câu lạc bộ BilerBerg, vv…, nhưng những điều đó trong “sự kiểm soát” để chắc rằng “những kẻ đam mê kiểm soát” mà không hề quan tâm đến sự tồn tại cũng như phát triển của nhân loại trên hành tinh xinh đẹp của chúng ta. Họ được điều khiển bởi quyền lực và tham vọng, họ luôn nghĩ rằng họ có thể mua hoặc có được tất cả mọi thứ ..... và họ khá đông để có thể làm được điều này ... nếu chúng ta để cho họ làm...... nhưng nếu chúng ta không cho phép họ, chúng ta sẽ đi tới tương lai dù những gì đang xảy ra phía trước!

Ben Fulford (một nhà báo hoạt động độc lập) gần đây đã đề cập rằng nhóm Rồng Trắng (White Dragons) đã bảo mật quyền kiểm soát mật mã và các bản ghi của các Tài khoản ký quỹ, thứ mà Những người Mũ đen (Black Hats) (Nữ Hoàng, Nhà RothChilds, Nhà Rockefeller, Nhà Bushes, FED, và những cá nhân, tổ chức khác) đã đang cố gắng xâm nhập và rút tiền bất hợp pháp từ những tài khoản này. Đặt một vòng kiềm tỏa vào những hoạt động này đã hạn chế được những hoạt động tài trợ của họ sinh lợi nhuận danh nghĩa và vạch trần họ trước ánh sáng pháp luật những vụ gian lận, phá sản trên những khoản vay trong quá khứ, những tài sản mà họ không định hoàn trả lại cho đến tận BÂY GIỜ!

Về căn bản, các cánh cửa tín dụng đã bị đóng, do đó Những người Mũ đen, trong cố gắng để cứu những lợi ích sống còn của họ, đã phải in ngày càng nhiều tiền tệ bằng giấy (falsely backed). Những yêu sách của họ để “sở hữu thế giới” đang sụp đổ như ở IceLand, IreLand, và Hy Lạp, người dân đã nói “KHÔNG! Các người không sở hữu chúng tôi!” Và lời kêu gọi đó đang lan khắp toàn cầu khi mọi người nhận ra rằng họ đã và đang trở thành “nô lệ của nợ công” để Tập đoàn giả tạo FICTICIOUS CORPORATIONS và những kẻ thống trị có quyền lực tối cao, không thể sở hữu phi chính thức cho những tài sản đích thực của thế giới này.

Đây là những dòng cảnh tỉnh cho chúng ta !

dongdoi_f2
04-03-2013, 03:14 PM
Hội đồng 300 và những thành viên châu Âu

Sau những cuốn sổ cái off book là những tài khoản, những cái tên mà quyền lực tài chính của họ đóng vai trò quan trọng trong nền tài chính thế giới, họ là ai, từ đâu có được những nguồn tài chính như vậy, chúng ta sẽ lần lượt xem xét. Trước hết, đó là những cái tên (name).

Trên đỉnh cao của Kim tự tháp tài chính thế giới, hội đồng 300 có những quyền lực rất lớn, có khả năng làm thay đổi nhiều điều trong hệ thống tài chính tiền tệ thế giới. Họ là ai, chúng ta sẽ có một danh sách những thành viên trong khu vực tiền tệ chung châu Âu, mà tên họ trong các ngân hàng lớn thường đứng ở vị trí hàng đầu.



DANH SÁCH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG 300






1



Abdullah II, King of Jordan

151


Kissinger, Henry




2


Abramovich, Roman

152


Knight, Malcolm



3


Ackermann, Josef

153


Koon, William H. II



4


Adeane, Edward

154


Krugman, Paul



5


Agius, Marcus

155


Kufuor, John



6


Ahtisaari, Martti

156


Lajolo, Giovanni



7


Akerson, Daniel

157


Lake, Anthony



8


Albert II, King of Belgium

158


Lambert, Richard



9


Alexander, Crown Prince of Yugoslavia

159


Lamy, Pascal



10


Amato, Giuliano

160


Landau, Jean-Pierre



11


Anderson, Carl A.

161


Laurence, Timothy



12


Andreotti, Giulio

162


Leigh-Pemberton, James



13


Andrew, Duke of York

163


Leka, Crown Prince of Albania



14


Anne, Princess Royal

164


Leonard, Mark



15


Anstee, Nick

165


Levene, Peter



16


Ash, Timothy Garton

166


Leviev, Lev



17


Astor, William Waldorf

167


Levitt, Arthur



18


Aven, Pyotr

168


Levy, Michael



19


Balkenende, Jan Peter

169


Lieberman, Joe



20


Ballmer, Steve

170


Livingston, Ian



21


Balls, Ed

171


Loong, Lee Hsien



22


Barroso, José Manuel

172


Lorenz of Belgium, Archduke of Austria-Este



23


Beatrix, Queen of the Netherlands

173


Louis Alphonse, Duke of Anjou



24


Belka, Marek

174


Louis-Dreyfus, Gérard



25


Bergsten, C. Fred

175


Mabel, Princess of Orange-Nassau



26


Berlusconi, Silvio

176


Mandelson, Peter



27


Bernake, Ben

177


Manning, Sir David



28


Bernstein, Nils

178


Margherita, Archduchess of Austria-Este



29


Berwick, Donald

179


Margrethe II, Queen of Denmark



30


Bildt, Carl

180


Martínez, Guillermo Ortiz



31


Bischoff, Sir Winfried

181


Mashkevitch, Alexander



32


Blair, Tony

182


Massimo, Stefano, Prince of Roccasecca dei Volsci



33


Blankfein, Lloyd

183


Massimo-Brancaccio, Fabrizio Prince of Arsoli and Triggiano



34


Blavatnik, Leonard

184


McDonough, William Joseph



35


Bloomberg, Michael

185


McLarty, Mack



36


Bolkestein, Frits

186


Mersch, Yves



37


Bolkiah, Hassanal

187


Michael, Prince of Kent



38


Bonello, Michael C

188


Michael, King of Romania



39


Bonino, Emma

189


Miliband, David



40


Boren, David L.

190


Miliband, Ed



41


Borwin, Duke of Mecklenburg

191


Mittal, Lakshmi



42


Bronfman, Charles

192


Moreno, Glen



43


Bronfman, Edgar Jr.

193


Moritz, Prince and Landgrave of Hesse-Kassel



44


Bruton, John

194


Murdoch, Rupert



45


Brzezinski, Zbigniew

195


Napoléon, Charles



46


Budenberg, Robin

196


Nasser, Jacques



47


Buffet, Warren

197


Niblett, Robin



48


Bush, George HW

198


Nichols, Vincent



49


Cameron, David

199


Nicolás, Adolfo



50


Camilla, Duchess of Cornwall

200


Noyer, Christian



51


Cardoso, Fernando Henrique

201


Ofer, Sammy



52


Carington, Peter

202


Ogilvy, Alexandra, Lady Ogilvy



53


Carl XVI Gustaf, King of Sweden

203


Ogilvy, David, 13th Earl of Airlie



54


Carlos, Duke of Parma

204


Ollila, Jorma



55


Carney, Mark

205


Oppenheimer, Nicky



56


Carroll, Cynthia

206


Osborne, George



57


Caruana, Jaime

207


Oudea, Frederic



58


Castell, Sir William

208


Parker, Sir John



59


Chan, Anson

209


Patten, Chris



60


Chan, Margaret

210


Pébereau, Michel



61


Chan, Norman

211


Penny, Gareth



62


Charles, Prince of Wales

212


Peres, Shimon



63


Chartres, Richard

213


Philip, Duke of Edinburgh



64


Chiaie, Stefano Delle

214


Pio, Dom Duarte, Duke of Braganza



65


Chipman, Dr John

215


Pöhl, Karl Otto



66


Chodiev, Patokh

216


Powell, Colin



67


Christoph, Prince of Schleswig-Holstein

217


Prokhorov, Mikhail



68


Cicchitto, Fabrizio

218


Quaden, Guy



69


Clark, Wesley

219


Rasmussen, Anders Fogh



70


Clarke, Kenneth

220


Ratzinger, Joseph Alois (Pope Benedict XVI)



71


Clegg, Nick

221


Reuben, David



72


Clinton, Bill

222


Reuben, Simon



73


Cohen, Abby Joseph

223


Rhodes, William R.



74


Cohen, Ronald

224


Rice, Susan



75


Cohn, Gary

225


Richard, Duke of Gloucester



76


Colonna di Paliano, Marcantonio, Duke of Paliano

226


Rifkind, Sir Malcolm



77


Constantijn, Prince of the Netherlands

227


Ritblat, Sir John



78


Constantine II, King of Greece

228


Roach, Stephen S.



79


Cooksey, David

229


Robinson, Mary



80


Cowen, Brian

230


Rockefeller, David Jr.



81


Craven, Sir John

231


Rockefeller, David Sr.



82


Crockett, Andrew

232


Rockefeller, Nicholas



83


Dadush, Uri

233


Rodríguez, Javier Echevarría



84


D'Aloisio, Tony

234


Rogoff, Kenneth



85


Darling, Alistair

235


Roth, Jean-Pierre



86


Davies, Sir Howard

236


Rothschild, Jacob



87


Davignon, Étienne

237


Rubenstein, David



88


Davis, David

238


Rubin, Robert



89


de Rothschild, Benjamin

239


Ruspoli, Francesco, 10th Prince of Cerveteri



90


de Rothschild, David René

240


Safra, Joseph



91


de Rothschild, Evelyn

241


Safra, Moises



92


de Rothschild, Leopold

242


Sands, Peter



93


Deiss, Joseph

243


Sarkozy, Nicolas



94


Deripaska, Oleg

244


Sassoon, Isaac



95


Dobson, Michael

245


Sassoon, James



96


Draghi, Mario

246


Sawers, Sir Robert John



97


Du Plessis, Jan

247


Scardino, Marjorie



98


Dudley, William C.

248


Schwab, Klaus



99


Duisenberg, Wim

249


Schwarzenberg, Karel



100


Edward, Duke of Kent

250


Schwarzman, Stephen A.



101


Edward, Earl of Wessex

251


Shapiro, Sidney



102


Elizabeth II, Queen of the United Kingdom

252


Sheinwald, Nigel



103


Elkann, John

253


Sigismund, Grand Duke of Tuscany, Archduke of Austria



104


Emanuele, Vittorio, Prince of Naples

254


Simeon of Saxe-Coburg and Gotha



105


Ernst August, Prince of Hanover

255


Snowe, Olympia



106


Feldstein, Martin

256


Sofía, Queen of Spain



107


Festing, Matthew

257


Soros, George



108


Fillon, François

258


Specter, Arlen



109


Fischer, Heinz

259


Stern, Ernest



110


Fischer, Joschka

260


Stevenson, Dennis



111


Fischer, Stanley

261


Steyer, Tom



112


FitzGerald, Niall

262


Stiglitz, Joseph



113


Franz, Duke of Bavaria

263


Strauss-Kahn, Dominique



114


Fridman, Mikhail

264


Straw, Jack



115


Friso, Prince of Orange-Nassau

265


Sutherland, Peter



116


Gates, Bill

266


Tanner, Mary



117


Geidt, Christopher

267


Tedeschi, Ettore Gotti



118


Geithner, Timothy

268


Thompson, Mark



119


Georg Friedrich, Prince of Prussia

269


Thomson, Dr. James



120


Gibson-Smith, Dr Chris

270


Tietmeyer, Hans



121


Gorbachev, Mikhail

271


Trichet, Jean-Claude



122


Gore, Al

272


Tucker, Paul



123


Gotlieb, Allan

273


Van Rompuy, Herman



124


Green, Stephen

274


Vélez, Álvaro Uribe



125


Greenspan, Alan

275


Verplaetse, Alfons



126


Grosvenor, Gerald, 6th Duke of Westminster

276


Villiger, Kaspar



127


Gurría, José Ángel

277


Vladimirovna, Maria, Grand Duchess of Russia



128


Hague, William

278


Volcker, Paul



129


Hampton, Sir Philip

279


von Habsburg, Otto



130


Hans-Adam II, Prince of Liechtenstein

280


Waddaulah, Hassanal Bolkiah Mu'izzaddin, Sultan of Brunei



131


Harald V, King of Norway

281


Walker, Sir David



132


Harper, Stephen

282


Wallenberg, Jacob



133


Heisbourg, François

283


Walsh, John



134


Henri, Grand Duke of Luxembourg

284


Warburg, Max



135


Hildebrand, Philipp

285


Weber, Axel Alfred



136


Hills, Carla Anderson

286


Weill, Michael David



137


Holbrooke, Richard

287


Wellink, Nout



138


Honohan, Patrick

288


Whitman, Marina von Neumann



139


Howard, Alan

289


Willem-Alexander, Prince of Orange



140


Ibragimov, Alijan

290


William Prince of Wales



141


Ingves, Stefan

291


Williams, Dr Rowan



142


Isaacson, Walter

292


Williams, Shirley



143


Juan Carlos, King of Spain

293


Wilson, David



144


Jacobs, Kenneth M.

294


Wolfensohn, James



145


Julius, DeAnne

295


Wolin, Neal S.



146


Juncker, Jean-Claude

296


Woolf, Harry



147


Kenen, Peter

297


Woolsey, R. James Jr.




148


Kerry, John

298


Worcester, Sir Robert



149


King, Mervyn

299


Wu, Sarah



150


Kinnock, Glenys

300


Zoellick, Robert





http://www.quocphonganninh.edu.vn/Portals/0/Pictures/Gallery/Anninhnhandan/almighty_god.jpg

"Three hundred men, all of whom know one another, direct the economic destiny of Europe and choose their successors from among themselves." --Walter Rathenau, 1909, founder of the mammoth German General Electric Corporation
“300 người đàn ông, tất cả đều biết nhau, trực tiếp quyết định vận mệnh kinh tế của Châu Âu, và chọn người thừa kế là một trong những thành viên của hội.” – Walter Rathenau, 1909, Nhà sáng lập Tập đoàn điện lực chủ đạo của Đức.

dksaigon
04-03-2013, 10:14 PM
Nói về tiền xem bài này để rộng tầm nhìn!

***

“Bóng ma” chiến tranh tiền tệ đang trở lại? (http://vneconomy.vn/20130304081125556P0C99/bong-ma-chien-tranh-tien-te-dang-tro-lai.htm)

Trung Quốc vừa lên tiếng cảnh báo nước này sẽ "phản công" nếu như bùng phát một cuộc chiến tranh tiền tệ giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới, mà dẫn đầu là Mỹ và Nhật Bản, trang tin The Australian cho biết.

Theo The Australian, cuối tuần trước, Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Dịch Cương đã nói rằng, Trung Quốc sẽ phản công nếu cần nhằm bảo vệ đồng Nhân dân tệ của họ và lợi thế thương mại mà họ có được. Phát biểu này đã gây ra những đồn đoán rằng, một cuộc chiến tiền tệ sẽ bùng nổ, trong bối cảnh đồng Yên của Nhật Bản đang được định giá thấp ít nhất là 20%, kể từ khi Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền.

Ông Abe từng nói rằng, chính sách tiền tệ của Nhật Bản sẽ được nới lỏng để chấm dứt tình trạng giảm phát hiện nay của quốc gia này. Một số ý kiến nhận định, chính sách của chính phủ mới ở Nhật Bản đã thao túng tỷ giá đồng Yên nhằm nâng kim ngạch xuất khẩu và hỗ trợ cho nền kinh tế Nhật Bản đang dậm chân tại chỗ. Nhiều nhà phân tích tin rằng, Nhật có thể sẽ đưa ra những hỗ trợ tài chính lớn hơn trong giai đoạn sắp tới.

Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Dịch Cương nói, nước này tin rằng, các nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tôn trọng thỏa thuận đã đạt được tại một hội nghị của Nhóm 20 nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20) gần đây về việc không cắt giảm lãi suất cơ bản nhằm nâng cao vị trí thương mại. Tuy nhiên, một số quốc gia có biểu hiện không thu hẹp quy mô các gói hỗ trợ tài chính, chương trình nới lỏng định lượng.

Trước đó, hôm 16/2, các bộ trưởng bộ tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương các nước G20 đã cam kết không tự giảm giá nội tệ để cạnh tranh tại hội nghị ở Moscow (Nga). Trước khi hội nghị diễn ra, các nhà đầu tư và chính trị gia lo ngại một số nước có thể làm chệch hướng sự phục hồi kinh tế toàn cầu còn mong manh khi nỗ lực giảm giá nội tệ để mang lại lợi ích về kinh tế.

Kết thúc hội nghị, Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Christine Lagarde nói: “Chúng ta từng nghe đến những lo ngại về việc phá giá tiền tệ nhưng không phải chiến tranh tiền tệ. Hội nghị G20 lần này có đối thoại, tranh cãi, thảo luận nhưng rõ ràng có ích và xây dựng rất nhiều”.

"Một cuộc chiến tranh tiền tệ có thể tránh được, nếu các nhà hoạch định chính sách ở những nền kinh tế lớn tôn trọng ý kiến nhất trí rằng, chính sách tiền tệ nên được dùng như một công cụ hỗ trợ kinh tế nội địa", ông Dịch Cương tuyên bố cuối tuần qua. Ông cũng cho biết, Trung Quốc đã chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến về cả các điều kiện chính sách tiền tệ cũng như những cơ chế khác.

Cũng theo vị Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới này sẽ xem xét kỹ các chính sách nới lỏng định lượng của ngân hàng trung ương các nước.

The Australian bình luận, những phát biểu trên đây của ông Dịch Cương có thể sẽ làm xói mòn hơn nữa mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản, vốn dĩ đã căng như dây đàn trong suốt vài tháng qua, kể từ sau khi Tokyo tiến hành quốc hữu hóa một số đảo thuộc quần đảo tranh chấp trên biển Hoa Đông mà nước này gọi là Senkaku, còn phía Trung Quốc gọi là Điếu Ngư.

Khái niệm "chiến tranh tiền tệ" được nhắc đến lần đầu tiên trong bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài chính Brazil, ông Guido Mantega, tại Sao Paulo hôm 27/9/2010. "Thực sự chúng ta đang rơi vào cuộc chiến tranh tiền tệ thế giới, nơi mà các bên tham chiến đua nhau làm yếu đồng tiền của mình. Điều này đe dọa chúng tôi, bởi nó tước đi năng lực cạnh tranh của chúng tôi", ông nói.

Về nguyên tắc, đồng tiền yếu sẽ giúp hàng hóa xuất khẩu của nước đó rẻ hơn và cạnh tranh hơn so với các đối thủ khác. Nhưng khi mà tất cả các nước đều chọn giải pháp này, sẽ tạo xung đột trong các diễn đàn kinh tế quốc tế và các bên khó lòng giải quyết được những vấn đề chung.

Vào thời điểm đó, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã ra tay can thiệp vào tỷ giá hối đoái. Trung Quốc, một cường quốc về xuất khẩu cũng không từ bỏ kế hoạch tiếp tục làm yếu đồng nhân dân tệ, bất chấp áp lực từ Mỹ. Trong khi đó, các quan chức cấp cao từ Singapore cho tới Colombia cũng bóng gió nói về nguy cơ khi mà đồng tiền của họ vẫn duy trì tình trạng như hiện nay.

Tuy nhiên, "cuộc chiến tiền tệ" mà ông Mantega nói tới đã bị lãng quên, hoặc bị hạn chế nói tới, khi sau đó chính phủ các nước tập trung vào việc giải quyết bài toán lạm phát. Hàng loạt nền kinh tế mới nổi trên thế giới đang lần lượt tiếp bước nhau tăng lãi suất, từ bỏ những chính sách nhằm ngăn chặn các loại tiền tệ của họ tăng giá để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu.

Cuối năm ngoái, tờ Financial Post của Canada số ra ngày 26/12/2012 đã dẫn dự báo của Ngân hàng Deutsche Bank (Đức) về những diễn biến có thể “biến đổi” các thị trường thế giới trong năm 2013. Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo các nền kinh tế hàng đầu thế giới còn có nguy cơ rơi vào cuộc chiến tranh tiền tệ mới trong năm 2013 khi nhiều nước tìm cách giải quyết vấn đề kinh tế bằng cách thao túng tiền tệ.

Giới phân tích kinh tế nhận định, các ngân hàng trung ương thuộc nhóm 10 quốc gia thành viên của Hiệp ước những dàn xếp chung về cho vay (G-10) cũng nỗ lực hơn nhằm kìm giá nội tệ. Các thành viên G-10 gồm các nước: Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ đã phát ra những tín hiệu rằng họ sẽ can thiệp thị trường nhằm ghìm giá nội tệ trước làn sóng nới lỏng định lượng toàn cầu.

Hai nhà kinh tế Adam Cole và Elsa Lignos thuộc Ngân hàng Hoàng gia Canada (CIBC) cho biết có nhiều bằng chứng cho thấy tỷ giá hối đoái đóng vai trò lớn hơn trong quyết định chính sách của các ngân hàng trung ương. G-10 nhiều khả năng sẽ theo chân các nước mới nổi tăng cường can thiệp thị trường tiền tệ hoặc ít nhất điều chỉnh chính sách hối đoái.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), lượng dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương trên toàn cầu đã tăng từ 6.700 tỷ USD trong năm 2007 lên 10.500 tỷ USD vào giữa năm 2012, tăng 57% trong vòng chưa đến 5 năm. Trong đó, Thụy Sĩ là nước có mức tăng mạnh nhất. Đây chính là dấu hiệu cho thấy các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới đang tích cực dự trữ ngoại tệ để ngăn chặn xu hướng tăng giá của đồng nội tệ.

dongdoi_f2
19-06-2013, 12:11 PM
Nga chuyển dàn khoan dầu khí từ Cuba đến Việt Nam

Truyền thông nhà nước Cuba ngày 18/6 đưa tin trong tuần này, tập đoàn Zarubezhneft sẽ cho chuyển dàn khoan dầu khí Songa Mercur từ Cuba đến Việt Nam sau 6 tháng thăm dò không có kết quả.

Hãng thông tấn nhà nước AIN của Cuba cho biết hoạt động thăm dò dầu khí tại Cuba sẽ ngừng lại vì "những khó khăn về địa chất" chưa thể xác định và mùa bão đã bắt đầu tại đảo quốc Caribe này, kéo dài tới cuối tháng 11.

AIN cho biết thêm, dàn khoan thuộc sở hữu của Na Uy, vốn được tập đoàn Zarubezhneft của Nga sử dụng để thăm dò dầu khí ngoài khơi bờ biển Cuba, sẽ lên đường tới Việt Nam trong ngày 20/6.

Theo TTXVN


Có nhiều cái để coi xem Công ty Nga (cùng Tập đoàn Dầu khí VN) khoan thăm dò dầu/khí cho Việt nam trên biển Đông đây

dksaigon
21-06-2013, 11:14 AM
Vì sao Mỹ không màng Trung Quốc mua gần trọn dầu Iraq? (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130621/tai-sao-my-khong-mang-viec-trung-quoc-la-nguoi-mua-dau-lon-nhat-iraq.aspx)

(TNO) Việc Trung Quốc (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130620/trung-quoc-nga-noi-gian-voi-bao-cao-cua-my.aspx) trở thành nhà nhập khẩu dầu lớn nhất của Iraq đã khiến một số nhà tài phiệt Mỹ lo lắng, nhưng Washington thì lại tỏ ra bàng quan với việc này.

Trang tin Business Insider (Mỹ) đầu tuần này đưa tin tỉ phú Donald Trump rất bức xúc với việc Trung Quốc mạnh tay mua dầu của Iraq, nơi mà My (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130618/trung-quoc-co-sieu-may-tinh-manh-hon-my.aspx)̃ đã phải tiêu tốn nhiều sinh mạng và tiền bạc để gây ảnh hưởng.


http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20136/HoangUy/IraqBasraD.jpg
Một mỏ dầu tại thành phố Basra, một trong những nơi có trữ lượng dầu lớn nhất Iraq - Ảnh: Reuters


“Chúng ta đã chi ra 1.500 tỉ USD, chúng ta mất đi hàng ngàn sinh mạng (trong cuộc chiến Iraq),… nhưng giờ thì Trung Quốc lại đang lấy hết dầu mỏ ở đó, mà chúng ta thì chẳng được gì…”, ông Trump nói với kênh Fox News (Mỹ).

Tuy nhiên, Business Insider đã đưa ra những lý do vì sao các nhà hoạch định chính sách Mỹ chẳng màng đến vấn đề mà tỉ phú Trump đang lo lắng:

1. Ngay cả khi các tập đoàn dầu Trung Quốc chiếm đa số sản lượng dầu tại Iraq, thì bốn tập đoàn dầu mỏ hàng đầu thế giới của Mỹ (gồm Halliburton, Baker Hughes, Weatherford International và Schlumberger) hiện đã thắng được phần lớn nhất trong toàn bộ các gói thầu phát triển ngành dầu mỏ Iraq.
Các gói thầu này bao gồm việc khoan mỏ dầu, xây dựng các giếng dầu và tái tạo các thiết bị cũ hoặc hư hỏng.

Tờ New York Times (Mỹ) dẫn đánh giá của giới phân tích Mỹ ước tính khoảng phân nửa tổng nguồn đầu tư trị giá 150 tỉ USD mà các tập đoàn quốc tế dự kiến đổ vào ngành dầu mỏ (http://www.thanhnien.com.vn/pages/tags.aspx?tag=dau-mo) Iraq trong 10 năm tới đã rơi vào tay bốn tập đoàn nói trên.

2. Trung Quốc trở thành nhà nhập khẩu dầu lớn nhất tại Iraq là vì họ không màng đến lợi nhuận. Bắc Kinh chỉ hối hả mua năng lượng để đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế đang phát triển chóng mặt, còn các tập đoàn Mỹ thì tập trung nhiều hơn vào lợi nhuận, theo New York Times.

Để có được dầu của Iraq, các tập đoàn nhà nước Trung Quốc đã phải "hy sinh" nhiều lợi ích.

Bắc Kinh đã chi hơn 2 tỉ USD/năm và gửi hàng trăm nhân công đến Iraq để phát triển cơ sở hạ tầng tại đây, đồng thời chấp nhận tất cả các quy định và điều kiện nghiêm ngặt về khai thác dầu của chính phủ Iraq mà không than phiền gì, theo New York Times.

3. Từ trước khi Trung Quốc xuất hiện tại Iraq, các tập đoàn dầu mỏ Mỹ đã trúng thầu xây dựng và khai thác dầu tại các khu vực thuận lợi ở Iraq, chẳng hạn tập đoàn Exxon đã thắng thầu khai thác mỏ dầu Qurna, một trong những nơi có trữ lượng dầu lớn nhất Iraq (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130121/iraq-tim-thay-mo-dau-co-tru-luong-khoang-1-ti-thung.aspx), tại thành phố Basra.

4. Mỹ sẽ qua mặt Ả Rập Xê Út để trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới vào năm 2017 và là nhà xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới vào năm 2020, theo báo cáo nghiên cứu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA).

Giới phân tích nhận định việc Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới sẽ mang lại một lợi thế chiến lược cho Washington, theo Business Insider.

Hoàng Uy

dongdoi_f2
21-06-2013, 09:54 PM
TQ giờ là con nghiện dầu mới nổi, sau con nghiện dầu Mỹ! TQ đang khát dầu Trung đông giờ có thêm nguồn dầu Nga ở Viễn đông:

Nga-Trung ký hợp đồng dầu mỏ trị giá 270 tỷ USD

Tập đoàn dầu khí Rosneft của Nga và Tổng Công ty Dầu mỏ Quốc gia (CNPC) của Trung Quốc ngày 21/6 đã ký một thỏa thuận trị giá 270 tỷ USD nhằm cung cấp 365 triệu tấn dầu mỏ cho Trung Quốc trong thời hạn 25 năm.

Thỏa thuận này được Tổng thống Nga Vladimir Putin ca ngợi là mở ra một kỷ nguyên mới về hợp tác năng lượng giữa hai nước.

Thỏa thuận được hai lãnh đạo cấp cao của Rosneft và CNPC ký trước sự chứng kiến của Tổng thống Putin và Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ đang ở thăm Nga dự Diễn đàn kinh tế thế giới St. Petersburg.

Phát biểu sau khi chứng kiến lễ ký bản hợp đồng khổng lồ này, Tổng thống Nga Putin nhấn mạnh đây là một chương mới về hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, đánh dầu việc chuyển hướng xuất khẩu dầu mỏ của Nga từ Tây Âu sang châu Á.

Ông Putin tuyên bố Nga coi trọng và ưu tiên phát triển mối quan hệ hợp tác với nước láng giềng Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa Nga và phương Tây còn nhiều vấn đề khó giải quyết.

Nga cũng muốn đa dạng các khách hàng năng lượng ngoài khu vực châu Âu, đồng thời nhận thức rõ tiềm năng khổng lồ của thị trường Trung Quốc.

Theo thỏa thuận vừa ký kết, tập đoàn Rosneft sẽ cung cấp cho Trung Quốc dầu mỏ thông qua đường ống dẫn dầu có sẵn chạy từ Đông Siberia đến Thái Bình Dương (gọi tắt là ESPO).

Nga hiện là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới, khoảng hơn 10 triệu thùng/ngày, nhiều hơn Arập Xêút./.


(TTXVN)

dongdoi_f2
24-06-2013, 12:22 PM
Sau khi ký hợp đồng (trị giá 270 Billion USD) bán dầu cho TQ trong 25 năm;
Nga có tiếp dự án bán khí tự nhiên hóa lỏng (Liquided Nature Gas/LNG) công suất 15 Million T/năm bán cho Nhật (chưa rõ là chuyển bằng đường ống xuyên biển hay tàu chở LNG/LPG).
Tiếp theo sẽ là dự án đường ống khí (xuyên Triều tiên) bán khí đốt cho Hàn quốc!

Nhật Bản đạt thỏa thuận về khí hóa lỏng với Nga


Tập đoàn khí đốt nhà nước Nga (Gazprom) và một công ty liên doanh của Nhật Bản ngày 23/6 đã ký kết bản ghi nhớ xây dựng cơ sở sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) ở ngoại ô Vladivostok và cùng bán LNG ở Nhật Bản.

Gazprom đang có ý định mở rộng kinh doanh ở châu Á trong bối cảnh nhu cầu ở châu Âu đang suy giảm trong khi Công ty Khí đốt Viễn Đông Nhật Bản hy vọng sẽ giảm chi phí LNG bằng cách tham gia xây dựng cơ sở sản xuất với đối tác Nga.

Công ty liên doanh này được thành lập vào tháng 12/2012 dựa trên thỏa thuận của các doanh nghiệp lớn của Nhật như Tập đoàn Itochu, Tập đoàn khai thác dầu khí Nhật Bản, Tập đoàn Marubeni, Tập đoàn INPEX và Công ty khai thác dầu mỏ Itochu.

Trong dự án LNG Nga-Nhật này, việc sản xuất dự kiến bắt đầu từ năm 2018 với công suất khoảng 15 triệu tấn/năm./.


Hữu Thắng/Tokyo (Vietnam+)

dongdoi_f2
26-06-2013, 02:31 PM
Nước Đức nổi lên làm làm lãnh đạo Châu Âu!


Đức- Cường quốc bất đắc dĩ ở châu Âu

Theo biên tập viên Zanny Beddoes của tạp chí "Nhà Kinh tế", mặc dù đang là cường quốc ở châu Âu, nhưng nước Đức cần phải thay đổi lăng kính mà họ nhìn nhận chính mình cũng như thế giới. Dường như chưa sẵn sàng với vai trò nước lớn vào thời điểm hiện nay, Đức đang tìm cách thiết lập một trật tự do Đức lập ra ở lục địa già và thuyết phục các quốc gia khác tuân theo. Quá trình thai nghén một châu Âu mới sẽ tạo điều kiện để nước Đức tái định hình đường hướng phát triển, từ đó gánh vác thêm trách nhiệm mà họ không thể thoái thác.






http://media.baotintuc.vn/2013/06/25/22/27/2506-Tham-khao.jpg
Đức chưa có kinh nghiệm vào vai lãnh đạo thế giới.



Xem xét vấn đề dưới góc độ chính trị và kinh tế, rõ ràng Đức đã trở thành một cường quốc mạnh nhất ở lục địa già. Đó hẳn là sự trỗi dậy thần kỳ bởi năm 1999 cũng chính tạp chí trên đã miêu tả nước Đức như một người ốm yếu. Giờ đây nền kinh tế Đức chiếm 1/5 tổng sản lượng của cả châu Âu, và 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu. Từ Volkswagen đến SAP, các tập đoàn lớn của Đức đã phủ ảnh hưởng lên toàn cầu trong khi nhiều hãng nhỏ hơn vẫn tìm mọi cách len lỏi vào từng phân khúc của thị trường thế giới. Tỷ lệ thất nghiệp của Đức hiện là 5,4%, thấp hơn một nửa so với mức trung bình ở châu Âu. Chi tiêu ngân sách không bị thâm hụt, nợ công giảm và lãi suất trái phiếu dài hạn ở mức thấp nhất châu Âu.

Những gam màu tươi sáng này là nền tảng vững chắc giúp Đức trở thành chủ nợ lớn nhất châu Âu và có tiếng nói quyết định đối với tương lai khu vực đồng tiền chung euro. Anh mất dần ảnh hưởng và đang phải chật vật giải bài toán tư cách thành viên Liên minh châu Âu (EU), trong khi nền kinh tế Pháp lâm vào trì trệ, cần được cải tổ kịp thời. Thực tế cho thấy những khó khăn mà cả Anh và Pháp đang vấp phải vô hình trung đã tạo thời cơ để Đức gia tăng ảnh hưởng và vị thế của mình. Trọng tâm quyền lực của châu Âu đã chuyển dịch về phía Béclin và Thủ tướng Angela Merkel được coi là chính trị gia quan trọng nhất ở châu lục. Vì thế, hãy trả lời câu hỏi: "Người Đức muốn gì?", thì sẽ biết "Châu Âu đi về đâu?".

Tuy nhiên, giới chính trị gia Nam Âu cáo buộc rằng Đức quá ích kỷ khi áp đặt chính sách khắc khổ về tài chính như điều kiện tiên quyết cho những gói cứu trợ. Suy đến cùng, họ chỉ biết bảo vệ người đóng thuế ở Đức. Một số người khác thì lại lo ngại về tình trạng mà họ gọi là sự thụ động và trì trệ của Đức. Theo Ngoại trưởng Ba Lan Radek Sikorski, nước Đức trì trệ còn đáng lo hơn là nước Đức thể hiện sức mạnh.

Xét ở góc độ nào đó, Đức quả là không muốn, mà thực tế là không thể, thực thi vai trò lãnh đạo của một cường quốc nổi trội nhất châu Âu. Nói theo ngôn ngữ của các nhà chính trị, Đức thiếu khả năng trở thành bá chủ ở châu Âu, một quốc gia hàng đầu có thể đảm nhận trách nhiệm duy trì sự ổn định của tất cả các thể chế trên phạm vi toàn cầu. William Paterson thuộc trường Đại học Aston ở Birmingham (Anh) gọi Đức là "cường quốc bất đắc dĩ". Thực tế này khó có thể thay đổi trong một sớm, một chiều. Ngay tại Đức, các cuộc tranh luận về vai trò của nước này đối với châu Âu ngày càng thưa thớt. Và cuộc tổng tuyển cử vào ngày 22/9 sắp tới mà bà Merkel dự kiến sẽ giành chiến thắng nhiệm kỳ ba là dịp quan trọng để kiểm chứng mức độ ảnh hưởng của Đức.

Thực tế cho thấy Đức chưa có kinh nghiệm vào vai lãnh đạo thế giới. Cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực đồng tiền chung euro đã thử thách các chính khách Đức, và thật dễ hiểu khi họ miễn cưỡng "đứng mũi chịu sào" cho những nỗ lực khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, châu Âu vẫn cần đến vai trò của Đức vào thời điểm hiện nay. Như vậy, Đức khó có thể thoái thác trách nhiệm đối với châu lục, và sẽ phải đảm nhận vai trò nước lớn, dù rằng họ chẳng mấy thích thú. Để tìm ra lối thoát cho tình thế bế tắc này, có lẽ Đức cần điều chỉnh chính sách theo hướng cân bằng giữa lợi ích quốc gia và khu vực.

Lê Phương (P/v TTXVN tại Anh)

dongdoi_f2
27-06-2013, 01:38 PM
Báo Nga luận về thị trường năng lượng mới, về giá dầu và khí, HĐ giữa các công ty dầu khí Nga và TQ:

Đằng sau thỏa thuận dầu khí “khủng” giữa Nga và Trung Quốc (http://petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/dang-sau-thoa-thuan-dau-khi-khung-giua-nga-va-trung-quoc.html)

(Petrotimes) - Nga - nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới sẽ cung cấp 365 triệu tấn dầu mỏ cho Trung Quốc - nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới trong thời hạn 25 năm theo một thỏa thuận trị giá tới 270 tỉ USD. Thông tin này lập tức đã gây nên một “cơn sốt” trong giới bình luận quốc tế tuần qua. Không ít nhà quan sát dự báo bức tranh năng lượng thế giới có thể sẽ thay đổi từ thỏa thuận “khủng” này với sự hình thành một liên minh mới trên bàn cờ năng lượng toàn cầu và sự củng cố quyền lực của một “đế chế” dầu khí mới - Rosneft.

Thỏa thuận “khủng” nói trên được ký kết ngày 21/6 giữa Tập đoàn Dầu mỏ Quốc gia Rosneft (Nga) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC), dưới sự chứng kiến của Tổng thống Nga Vladimir Putin và Phó thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ nhân chuyến thăm Moskva tham dự Diễn đàn kinh tế thế giới St.Petersburg của ông này. Tuy nhiên, đây là kết quả một quá trình đàm phán lâu dài.

Bản hiệp định bắt đầu được thương lượng từ chuyến thăm Moskva đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và một bản hiệp định sơ bộ đã được ký kết vào tháng 3 năm nay. Theo thỏa thuận, việc giao hàng có thể sẽ được bắt đầu ngay trong năm nay. Dầu mỏ sẽ được chuyển giao cho Trung Quốc thông qua hệ thống đường ống có sẵn, chạy từ Siberia - Thái Bình Dương (ESPO), được thiết kế để bơm dầu trực tiếp đến khu Mohe, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/chudiepquynh/062013/25/09/1_tr_14.jpg (http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/chudiepquynh/062013/25/09/1_tr_14.jpg)


Tổng thống Nga Putin bắt tay Phó thủ tướng Trung Quốc Trương Cao Lệ

Với thỏa thuận này, quyền lực của Rosneft - “đế chế” dầu khí mới của thế giới, thủ lĩnh trong số các công ty đại chúng về lượng khai thác dầu mỏ, với khoảng hơn 4,5 triệu thùng dầu/ngày, “trên cơ” cả PetroChina (Trung Quốc), ExxonMobil (Mỹ) và ngang hàng với sản lượng khai thác dầu thô của Iran sau phi vụ thâu tóm liên doanh dầu khí Anh - Nga TNK-BP càng được củng cố thêm, khi “vừa có dầu, vừa có tiền”. Bên cạnh đó, nguồn tài chính “rủng rỉnh” từ thỏa thuận trên cũng có thể sẽ cho phép Chính phủ Nga trì hoãn kế hoạch tư nhân hóa 19% cổ phần của Rosneft, tạo ra mối quan hệ tài chính chặt chẽ hơn với Trung Quốc, giúp Nga vượt suy thoái kinh tế hiện nay.

Trong những năm gần đây, Nga đã từng bước mở nguồn dầu xuất sang Trung Quốc. Thỏa thuận Rosneft là thỏa thuận mới nhất trong một loạt các giao dịch tài chính giữa các công ty năng lượng của Moskva và Bắc Kinh. Ngay từ năm 2005, Rosneft đã phải vay 6 tỉ USD từ các ngân hàng nhà nước Trung Quốc như một khoản tiền trả trước cho xuất khẩu dầu. Rosneft đã sử dụng khoản tiền này để thâu tóm một đơn vị sản xuất lớn nhất của Công ty dầu Yukos. Năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc cũng cho Rosneft vay 25 tỉ USD để hoàn thành đường ống dẫn dầu ESPO. Theo các điều khoản của thỏa thuận, các ngân hàng này sẽ được hoàn trả 2,5 tỉ thùng dầu trong 20 năm từ năm 2010 đến năm 2030.

Nga hiện đang cung cấp cho Bắc Kinh 15 triệu tấn dầu/năm (300.000 thùng/ngày) qua hệ thống đường ống này. Theo dữ liệu mà Reuters thu được từ lịch trình vận chuyển, từ 3 tháng trước, Moskva đã dự định tăng lượng dầu xuất khẩu sang Trung Quốc lên khoảng 13% trong khoảng từ tháng 7 đến tháng 9. Bên cạnh đó, Rosneft cũng đã đồng ý tăng gấp 3 lần lượng dầu mỏ cung cấp cho Trung Quốc hồi tháng 3. Dù không rõ là việc giao hàng sẽ bắt đầu ở thời điểm nào nhưng “đại gia” dầu mỏ nước Nga có kế hoạch tăng lượng dầu cung cấp cho Trung Quốc trong năm nay lên thêm 800.000 tấn nữa. Giới thương nhân dự đoán, lượng dầu thô xuất sang Trung Quốc của Nga sẽ tăng lên 17 triệu tấn vào năm 2014 và đến năm 2015, con số này có thể lên tới khoảng 20 triệu tấn - ngang bằng với lượng dầu thô của Nga xuất sang Đức - khách hàng cá nhân lớn nhất của Nga cho đến nay.

Rõ ràng, thỏa thuận với Trung Quốc là một dấu hiệu cho thấy sự chuyển hướng nhỏ trong xuất khẩu dầu của Nga từ Tây Âu sang châu Á, thể hiện sự tăng tốc thực hiện chính sách Hướng Đông của Moskva. Điều này cũng được Tổng thống Putin khẳng định sau lễ ký. Ông chủ Điện Kremlin ca ngợi thỏa thuận đã mở ra một kỷ nguyên mới về hợp tác năng lượng giữa hai nước, đồng thời tuyên bố Nga coi trọng và ưu tiên phát triển mối quan hệ hợp tác với nước láng giềng Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa Nga và phương Tây còn nhiều vấn đề khó giải quyết. Nga cũng muốn đa dạng các khách hàng năng lượng ngoài khu vực châu Âu, đồng thời nhận thức rõ tiềm năng khổng lồ của thị trường Trung Quốc.

Không chỉ dầu mỏ, chưa bao giờ Nga lại nóng lòng muốn tấn công vào thị trường khí đốt Trung Quốc với những giao dịch “khủng” tương tự thỏa thuận của Rosneft như bây giờ. “Một trong những chướng ngại cản trở tiến trình đi đến ký kết thỏa thuận khí đốt giữa Nga và Trung Quốc đã được loại bỏ. Việc cung cấp khí đốt của Nga sang Trung Quốc sẽ được thực hiện mà không cần tham chiếu đến mức giá của Trung tâm Kinh doanh khí đốt tự nhiên Henry Hub ở Mỹ”, người đứng đầu tập đoàn khí đốt khổng lồ Gazprom Alexey Miller hồ hởi tuyên bố sau buổi làm việc với Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc Tưởng Khiết Mẫn hôm 20/6. Việc ký hợp đồng khí đốt giữa hai bên lâu nay bị cản trở bởi vấn đề giá xăng. Trong quá trình đàm phán, Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng giá khí đốt của Nga không được vượt quá chi phí than đá được sử dụng để sản xuất điện. Tuy nhiên, rõ ràng khí đốt theo các đường ống dẫn từ Nga sang Trung Quốc không thể rẻ hơn so với than khai thác tại các mỏ của Trung Quốc.

Bên cạnh đó, sau “cuộc cách mạng khí đá phiến sét” tại Mỹ, cuộc đàm phán Nga - Trung Quốc có thêm trở ngại mới. Khí đá phiến sét đã làm giảm giá khí đốt tự nhiên, được xác lập ở Trung tâm Kinh doanh khí đốt tự nhiên ở bang Louisiana, tại nhà máy có tên gọi là Henry Hub. Tại đây có điểm giao nhau của 13 đường ống dẫn khí. Chỉ số giá Henry Hub được dùng để so sánh giá cả trên sàn New York Mercantile Exchange. Trung Quốc khăng khăng đòi dùng mức giá này. Trong khi đó, ở châu Âu, phần lớn các nguồn cung cấp khí đốt, kể cả theo đường Gazprom, mức giá được thực hiện theo hợp đồng dài hạn gắn với giá dầu. Có vẻ như là các nhà đàm phán của Nga đã thuyết phục được đối tác Trung Quốc là trong thực tế giá khí đốt được hình thành trên lục địa châu Mỹ không thể là tiêu chuẩn tham khảo cho việc xuất khẩu khí đốt của Nga sang Trung Quốc. Nếu mọi việc tiến triển tốt thì đến trước cuối năm, Moskva và Bắc Kinh có thể lại công bố một “siêu hợp đồng” khí đốt cho thế giới ngỡ ngàng.

Tất nhiên, không chỉ Nga mà Trung Quốc cũng được hưởng lợi. Không chỉ được đảm bảo về nguồn cung dầu khí ổn định, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, giải tỏa phần nào cơn khát năng lượng, Bắc Kinh cũng khó tìm ai ngoài Nga, cung cấp cho Trung Quốc nhiên liệu giá cả phải chăng và rẻ hơn, theo nhà phân tích của Trường Kinh tế cao cấp Leonid Polyakov. “Thiên đường khí đốt” giá rẻ cho Trung Quốc không còn nữa. Gần đây, cơ quan giá quốc tế Argus Media, nơi tập trung tất cả báo giá của thế giới cho biết, Turkmenistan sẽ tăng giá khí đốt bán cho Trung Quốc. Bây giờ, Trung Quốc đang phải trả giá tương tự như khách hàng châu Âu của Gazprom. Trong khi đó, Trung Quốc cũng đã phải tăng mua khí đốt tự nhiên hóa lỏng. Giá khí đốt ít nhất là không thấp hơn và thường cao hơn so với giá mà khách hàng châu Âu mua khí đốt của Gazprom. Việc đòi hỏi mua khí đốt rẻ hơn của Trung Quốc đã kết thúc, vì bây giờ không ai bán khí đốt giá rẻ cho họ nữa.
Linh Linh
(theo Moscow Times, Reuters, Ruvr)

dksaigon
31-07-2013, 10:55 PM
Dầu từ đá phiến sét Mỹ sẽ hủy diệt kinh tế Ả Rập Xê Út ? (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130731/dau-tu-da-phien-set-my-se-huy-diet-kinh-te-a-rap-xe-ut.aspx)

(TNO) Hoàng tử Alwaleed bin Talal của Ả Rập Xê Út (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130711/a-rap-xe-ut-bi-to-chia-ten-lua-dan-dao-vao-iran-va-israel.aspx) cảnh báo sự phát triển mạnh mẽ của ngành khai thác dầu từ đá phiến sét và khí đốt ở Mỹ có thể hủy diệt nền kinh tế (http://www.thanhnien.com.vn/pages/kinh-te.aspx) của Ả Rập Xê Út.

“Với tất cả lòng tôn kính của tôi dành cho quan điểm của ngài về dầu từ đá phiến sét (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120427/chien-luoc-nang-luong-da-phien-cua-trung-quoc.aspx) và về nhận định mà ngài cho rằng loại dầu này không đe dọa nền kinh tế Ả Rập Xê Út ‘trong thời điểm hiện tại’, tôi hi vọng rằng ngài sẽ tập trung xem xét mối hiểm họa từ loại dầu này “trong một tương lai không xa’”, tờ Wall Street Journal (Mỹ) hôm 30.7 dẫn nội dung bức thư ông Alwaleed gửi Bộ trưởng Dầu Ả Rập Xê Út và những quan chức khác.



http://www.thanhnien.com.vn/Pictures20137/HoangUy/ArP.jpg
Hoàng tử Ả Rập Xê Út Alwaleed bin Talal - Ảnh: Reuters


“Đặc biệt là khi Mỹ và một số nước châu Á đã có những khám phá lớn về cách thức khai thác dầu từ đá phiến sét, ngành dầu mỏ (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130121/iraq-tim-thay-mo-dau-co-tru-luong-khoang-1-ti-thung.aspx) của toàn thế giới nói chung và của Ả Rập Xê Út nói riêng sẽ bị ảnh hưởng”, ông Alwaleed nhận định trong thư.

Vị hoàng thân sở hữu khối tài sản lên đến 20 tỉ USD cảnh báo rằng nền kinh tế Ả Rập Xê Út, vốn gần như dựa hẳn vào việc xuất bán dầu, sẽ rất dễ bị tổn thương khi sức tiêu thụ giảm.

“Đất nước chúng ta đang phải đối mặt với một mối đe dọa khi mà chúng ta tiếp tục phải lệ thuộc gần như hoàn toàn vào dầu, đặc biệt là khi 92% ngân sách trong năm 2013 đến từ việc bán dầu”, ông Alwaleed nói.

“Chúng ta cần phải đa dạng hóa nguồn thu ngân sách, lên kế hoạch rõ ràng cho việc này và bắt đầu thực hiện nó ngay lập tức”, vị hoàng thân này nói thêm.
Bức thư nói trên được công bố sau khi một báo cáo mới đây của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu (OPEC) cho thấy doanh thu xuất khẩu của tổ chức này đạt mức cao kỷ lục (1.260 tỉ USD) trong năm 2012.

Giới phân tích đang hoài nghi rằng liệu mức doanh thu lạc quan này có thể tiếp tục được duy trì trong bối cảnh các khách hàng của OPEC đang đua tranh phát triển công nghệ khai thác dầu từ đá phiến sét?



Năng lượng từ đá phiến
Có hai loại đá phiến đang được khai thác để tạo ra năng lượng là: đá phiến sét và đá phiến dầu. Đá phiến sét đen hoặc nâu vốn là đá trầm tích giàu chất hữu cơ. Các công nghệ khoan ngang sẽ giúp giải phóng khí đốt tích tụ bên trong loại đá này. Sau đó, thông qua một số kỹ thuật xử lý, loại khí đốt được giải phóng sẽ trở thành năng lượng thành phẩm.

Đá phiến dầu là loại đá trầm tích hạt mịn giàu chất hữu cơ có thể chiết tách thành các loại hydro-cacbon lỏng. Từ đây, thông qua quá trình nhiệt phân hóa học sẽ tạo ra dầu thô tổng hợp. Ngoài ra, nung đá phiến dầu ở nhiệt độ đủ cao sẽ tạo ra hơi rồi chưng cất có thể tạo ra sản phẩm giống dầu mỏ hoặc khí đốt.
Lucy Nguyễn





Hoàng Uy


***

Mỹ xưa nay bị vu là "đểu", có nhiều dầu nhưng để dành rồi đi chiếm dầu của Trung Đông(?)
Nay mà Mỹ sản xuất được dầu từ đá phiến không phải nhập dầu nữa thì khối anh chết dở!~o)

dongdoi_f2
01-08-2013, 10:14 AM
Trong họp báo Việt-Mỹ mới đây, tiến độ kết thúc đàm phán TPP là cuối năm 2013! (http://petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/hiep-dinh-doi-tac-kinh-te-xuyen-thai-binh-duong-la-gi.html)

Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương là gì? (http://petrotimes.vn/news/vn/quoc-te/hiep-dinh-doi-tac-kinh-te-xuyen-thai-binh-duong-la-gi.html)


(PetroTimes) - Một trong những kết quả trong chuyến thăm Mỹ vừa qua của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang là hai nước bày tỏ sự quyết tâm hoàn tất Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) trước cuối năm nay. Thời gian gần đây, hiệp định này được nhắc nhiều trên truyền thông bởi Mỹ đang rốt ráo thúc giục các nước nhanh chóng tham gia đàm phán ký kết. Vậy TPP là gì và Việt Nam được lợi gì khi gia nhập liên minh này?

Sau cuộc hội đàm với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng ngày 25/7, Tổng thống Obama phát biểu: “Chúng tôi cam kết hoàn tất hiệp định này trước cuối năm nay vì chúng tôi biết rằng, nó có thể tạo thêm công ăn việc làm và tăng đầu tư trong khu vực cũng như cho cả hai quốc gia”.
Mỹ và Việt Nam là hai trong số 11 nước hiện đang tham gia đàm phán TPP trong vòng 3 năm qua. Nhật Bản cũng vừa trở thành thành viên thứ 12 vào ngày 23/7 vừa qua.
Đây là hiệp định của thế kỷ XXI, giúp tăng cường hội nhập kinh tế khu vực, thúc đẩy các mục tiêu phát triển và giúp tạo việc làm ở Việt Nam, Mỹ và các nước thành viên TPP khác, trong khi tính đến sự đa dạng về trình độ phát triển của các thành viên trong khuôn khổ một thỏa thuận cân bằng và toàn diện.


http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/chudiepquynh/072013/30/14/viet_my.jpg (http://www.petrotimes.vn/stores/news_dataimages/chudiepquynh/072013/30/14/viet_my.jpg)


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hội đàm với Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Nhà Trắng ngày 25/7


Tại diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tháng 11/2011, lãnh đạo các nước Mỹ, Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam đã công bố phác thảo chung của TPP mà các bên mong muốn hoàn thành trong năm 2012. Khi có hiệu lực, TPP sẽ loại bỏ 11.000 dòng thuế của các bên, 26 chương đang đàm phán và có khả năng sẽ đóng vai trò như một khuôn mẫu cho các điều ước mậu dịch trong tương lai của các nước thuộc APEC. Trong cuộc gặp, lãnh đạo các nước Nhật, Canada và Mexico đã bày tò mong muốn thảo luận với các nước đối tác hướng tới việc tham gia vào các cuộc đàm phán.
TTP (TPP chứ?) do Singapore, New Zealand và Chile xây dựng lần đầu vào năm 2003 như một lộ trình tự do hóa thương mại trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Brunei tham gia đàm phán năm 2005 và TTP (TPP chứ?) có hiệu lực từ năm 2006. Tháng 3/2008, Mỹ tham gia đàm phán nhằm ban hành các quy định về đầu tư và dịch vụ tài chính. Mỹ đã ký kết các hiệp định thương mại tự do với các thành viên TPP là Singapore, Chile và với các bên tham gia đàm phán TPP là Australia và Peru. Tổng thống Bush đã thông báo với Quốc hội Mỹ ý định đàm phán với các thành viên TPP hiện hữu vào ngày 22/9/2008 và với các thành viên tiềm năng khác là Australia, Peru và Việt Nam ngày 30/12/2008. Nhóm 8 nước này đã trải qua 3 cuộc đàm phán trong năm 2010. Malaysia là đối tác đàm phán thứ 9 được gia nhập năm 2010 và nước này đã tham gia vòng đàm phán thứ tư vào tháng 12/2010 tại New Zealand.
Ngày 14/11/2009, Tổng thống Obama cam kết cho Mỹ tham gia với các nước thuộc TPP “với mục tiêu định hình một thỏa thuận khu vực rộng mở với tiêu chuẩn xứng tầm một hiệp định thương mại của thế kỷ XXI”.
Các nhà phân tích tin rằng, việc kết nạp Mỹ có vai trò thúc đẩy sự gia nhập của các nước Châu Á - Thái Bình Dương khác. Bằng cách này, TPP được xem như một nền tảng để xây dựng một khu vực mậu dịch tự do Châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP) lớn hơn. Bước đi có nhiều ý nghĩa ở chỗ nó sẽ được xem như một chính sách của Mỹ đáp lại sự tiến triển nhanh chóng các liên kết chiến lược và kinh tế giữa các nước châu Á, một vài nước trong số đó đã loại bỏ Mỹ và các nước châu Mỹ những năm gần đây. Tại phiên đàm phán đầu tiên, Bộ trưởng Thương mại New Zealand, Tim Groser lập luận rằng, Mỹ sẽ dùng TTP “như một phương tiện chủ yếu để đưa Mỹ vào cuộc chơi của khối Châu Á - Thái Bình Dương”. Ông cũng nói thêm rằng, giá trị gia tăng của TPP với Mỹ là nhằm mở rộng với các nước khác “nên điều đó chỉ có ý nghĩa về phương diện của siêu cường kinh tế số một thế giới nếu nó thực sự là một nền tảng tạo một cái gì đó to lớn hơn”.
Một số quan sát viên tin tưởng việc gia nhập TTP sẽ mở rộng thương mại của Mỹ với châu Á đồng thời củng cố các mối quan hệ của Mỹ trong khu vực. Mỹ vẫn là đối tác thương mại hàng đầu của hầu hết các nước châu Á. Dù vậy, vai trò của Mỹ với tư cách là đối tác thương mại của nhiều nước châu Á đang giảm sút. Sự lo lắng trong các chính sách của Mỹ và của các nhà phân tích thương mại là Mỹ có nguy cơ bị cô lập vì không có phản ứng với sự gia tăng đột biến về số lượng các hiệp định thương mại phát sinh ở châu Á những năm gần đây, đóng vai trò như một nhân tố then chốt đằng sau các quyết định nhằm thu hút thêm nhiều sự chú ý của các mô hình thuộc khu vực châu Á, trong đó có TPP. Nhờ tham gia TPP mà Mỹ đã bắt đầu thay đổi cơ cấu hoạt động này bằng cách cố gắng gia nhập khối thương mại mới này, đồng thời định hình nó phù hợp với nước Mỹ hiện tại.
Một bức tranh tương đối toàn diện về “được, mất” của Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP đã được thể hiện tại hội thảo ngày 26/3/2013 tại Hà Nội do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Mỹ (USAID) và Bộ Công Thương tổ chức. Trong đó, ý kiến của GS Peter Petri, Đại học Brandeis cho rằng, Việt Nam có thể là nước hưởng lợi nhiều nhất trong số 12 đối tác đàm phán TPP dường như không lấn át được những rủi ro mà các chuyên gia Việt Nam nêu lên tại hội thảo.
Ông Petri tới Việt Nam với tư cách là cố vấn cao cấp của Dự án Hỗ trợ Thi hành Pháp luật về Hội nhập Kinh tế (USAID/STAR Project), tính toán khi TPP đi vào hiện thực, Việt Nam sẽ tăng thu GDP thêm khoảng 26,2 tỉ USD nếu chưa tính Nhật Bản và là 25,7 tỉ nếu gồm cả thành viên thứ 12 này.
Tuy nhiên, “miếng bánh” TPP theo ý kiến các chuyên gia Việt Nam lại không ngọt ngào như vậy. Bà Phùng Thị Lan Phương, Ban Thư ký Trung tâm WTO (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho biết, cộng đồng doanh nghiệp quan ngại về yêu cầu nguồn gốc xuất xứ trong TPP cao và phức tạp trong khi nguyên liệu hàng xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt những ngành như may mặc, giày dép, lại chủ yếu phải nhập từ các nước ngoài TPP. Tính bảo hộ sở hữu trí tuệ cao mà Mỹ đặc biệt nhấn mạnh cũng gây ra những lo ngại tới khả năng tiếp cận thuốc chữa bệnh cho người dân Việt Nam cũng như cơ hội tiếp cận tri thức, khoa học, tài sản văn hóa, tinh thần…
Ông Ngô Chung Khanh, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cũng lo ngại nguyên tắc “chỉ tiến không lùi”, hay “bước chân đi cấm kỳ trở lại” trong TPP là một nguyên tắc khó cho Việt Nam. Ông Khanh lấy ví dụ: Nếu cơ quan hoạch định chính sách thử cho nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 51% cổ phần nhưng sau một thời gian thấy chính sách đó không ổn thì không thể quay đầu lại nữa, đòi hỏi cơ quan quản lý và hoạch định chính sách phải có trách nhiệm và thận trọng hơn.
Ông Khanh cho biết, bên cạnh một số lo ngại thì Việt Nam cũng kỳ vọng TPP sẽ là cú hích cho xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cải cách.



Giải thích lý do vắng mặt của Trung Quốc trong sân chơi TPP, học giả Trung Quốc Zhu Wenhui cho rằng TPP như một “mạng lưới quyền lực mềm mà Mỹ đang phủ quanh Trung Quốc”.
Theo học giả này, với vị thế là đối tác lớn nhất trong hiệp định, Mỹ đang phát triển TPP thành một tổ chức có sức ảnh hưởng cao trong khu vực; đồng thời chịu sự chi phối lớn từ phía Mỹ. Qua đó, học giả này đưa ra lời cảnh báo, những áp lực trong tương lai về hợp tác kinh tế khu vực sẽ khiến Trung Quốc phải tham gia vào TPP và sẽ bị kìm hãm trên nhiều lĩnh vực thông qua những khuôn khổ ràng buộc và luật chơi do Mỹ đặt ra.




H.Phan (Tổng hợp)

dksaigon
05-10-2013, 05:16 PM
Lào lại xây đập trên sông Mê-kông (http://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/ghinhan/103654/Lao-lai-xay-dap-tren-song-Me-kong.html)







(TBKTSG Online) - Ủy ban sông Mê-kông (MRC) cho biết, Chính phủ Lào vừa thông báo cho MRC quyết định xúc tiến việc xây dựng đập thủy điện Don Sahong tại khu vực thác Khone trên dòng chính sông Mê-kông thuộc tỉnh Champasak miền Nam nước Lào.

Theo thông cáo báo chí của MRC, đây là công trình thủy điện thứ hai mà Lào xây dựng trên dòng chính của sông Mê-kông, sau dự án thủy điện Xayaburi gây nhiều tranh cãi.
Công trình thủy điện Don Sahong, cách biên giới Lào-Campuchia khoảng 2 ki lô mét về phía thượng lưu, sẽ sử dụng công nghệ đập tràn (run-of-the-river dam) với độ dài thân đập khoảng 100 mét, cao 30 mét, hoạt động quanh năm với công suất phát điện khoảng 260 megawatt; toàn bộ sản lượng điện được cung cấp cho công ty điện lực quốc gia Lào.

Được biết việc chuẩn bị cho dự án Don Sahong đã bắt đầu từ cuối năm ngoái.
Trong thông báo gửi tới Ban Thư ký MRC ngày 30-9 vừa qua, Chính phủ Lào đã đính kèm hồ sơ nghiên cứu khả thi, bản đánh giá tác động môi trường và xã hội của dự án. Những tài liệu này cũng sẽ được chia sẻ với các chính phủ Việt Nam, Thái Lan và Campuchia nhưng chưa rõ các quốc gia liên quan ở hạ nguồn con sông sẽ có phản ứng như thế nào.

Trước mắt, ngày 3-10 vừa qua tổ chức Các dòng sông quốc tế (International Rivers) có trụ sở tại Bangkok, Thái Lan đã cùng nhiều tổ chức quốc tế về môi sinh, phát hành thông báo yêu cầu Chính phủ Lào hủy bỏ dự án trước khi quá muộn vì việc xây đập nước trên dòng chính sông Mê-kông có nguy cơ làm cạn kiệt nguồn cá và “đẩy Campuchia và Việt Nam tiến gần tới một cuộc khủng hoảng thực phẩm”, thông báo viết.




__________

"Nguy cơ cạn kiệt nguồn cá..." thì đã hiện hữu! và sự nổi giận của thiên nhiên cũng sẽ không chừa nước Lào!
Cũng là cái tầm chỉ có thế, moi tài nguyên mà ăn! ~o)

dksaigon
26-10-2014, 02:03 PM
Giá dầu biến động - do đâu?


Nguyễn Vạn Phú











(TBKTSG) - Giá dầu đang giảm mạnh, tính từ giữa tháng 6-2014 đến giữa tháng 10-2014 đã giảm trên 25 đô la/thùng.


Chỉ đến khi giá dầu xuống mức xấp xỉ 80 đô la Mỹ/thùng, người ta mới sực nghĩ đến cuộc cách mạng dầu đá phiến đang diễn ra, có tiềm năng thay đổi tận gốc rễ tình hình địa chính trị, kinh tế cũng như cán cân quyền lực trên toàn thế giới.
Thế nhưng cuộc cách mạng dầu khí đá phiến là gì? Và nó có ảnh hưởng thế nào đến giá dầu thô trên thế giới?

Một chút lịch sử

Xưa nay nói đến dầu, người ta chỉ nghĩ đến dầu thô khai thác từ những giếng dầu truyền thống trên đất liền hay ngoài biển. Và nói đến dầu thô, nhiều người cũng nhớ ngay đến dự báo của King Hubbert từ năm 1956 rằng lượng dầu khai thác được sẽ đạt đỉnh vào thập niên 1970 rồi giảm dần đến chỗ cạn kiệt. Trong nhiều năm người ta tin vào tiên đoán này, nhất là khi giá dầu ngày càng tăng vì chi phí khai thác cao, xung đột tranh giành ảnh hưởng lên các vùng nhiều dầu làm dầu mang tính địa chính trị đậm nét. Chỉ mới cách đây một thập niên, người Mỹ cũng nghĩ rằng nguồn cung dầu thô của họ sẽ cạn kiệt dần nên mọi chính sách đối ngoại dường như tập trung vào “lợi ích của Hoa Kỳ” mà nói trắng ra là các giếng dầu ở Trung Đông.

Thế rồi mọi chuyện thay đổi khi Mỹ hoàn thiện công nghệ khai thác dầu khí đá phiến trong đầu thập niên 2000. Nói ngắn gọn, nhờ vào sự phát triển của hai công nghệ ép vỉa thủy lực (hydraulic fracturing, còn được dịch thành nứt vỡ thủy lực) và khoan ngang, Mỹ đã vượt qua các nước khác, đi tiên phong trong lĩnh vực khai thác dầu khí đá phiến. (Xem thêm bài Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến).

Trong khi trữ lượng dầu thô truyền thống của Mỹ là 164 tỉ thùng thì trữ lượng dầu đá phiến cũng lên đến 58 tỉ thùng, nâng tổng trữ lượng dầu thô của Mỹ vào khoảng 222 tỉ thùng. Để so sánh, các con số này của toàn thế giới lần lượt là 3.012 tỉ thùng dầu truyền thống, 345 tỉ thùng dầu đá phiến và tổng trữ lượng là 3.357 tỉ thùng. Tính ra thì trữ lượng dầu đá phiến của Mỹ chiếm đến một phần tư tổng trữ lượng dầu mỏ của nước này; trong khi trên thế giới, dầu đá phiến chỉ chiếm một phần mười tổng trữ lượng.

Từ năm 2005-2013, sản lượng khai thác dầu và khí đá phiến ở Mỹ tăng từ 5% lên đến 35% tổng lượng dầu khí khai thác ở nước này. Hiện Mỹ đã vượt Nga, trở thành nước sản xuất khí đốt lớn nhất thế giới. Còn dầu thì từ năm 2008 đến nay, sản lượng Mỹ khai thác đã tăng đến 70%, lên mức 8,7 triệu thùng/ngày. Theo nhiều dự đoán đáng tin cậy, trong vòng vài năm tới lượng dầu thô khai thác ở Mỹ sẽ vượt mức đỉnh 10 triệu thùng/ngày từng đạt được vào thập niên 1970, và tiếp tục có cơ qua mặt cả Nga và Ảrập Saudi thành nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới. Còn nếu tính tổng sản lượng dầu thô quy đổi - bao gồm dầu thô và các loại khí thiên nhiên dạng lỏng (natural gas liquids - NGL) - thì Mỹ đã đạt mức 11,5 triệu thùng/ngày và đã vượt qua cả Nga lẫn Ảrập Saudi lên hàng đầu thế giới vào tháng 7-2014 vừa qua, theo thống kê chính thức của Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA.

Tại sao giá dầu thô giảm mạnh

Gần như ngay tức thì khi cuộc cách mạng dầu khí đá phiến bùng nổ, nhu cầu nhập khẩu dầu thô của Mỹ giảm xuống rõ rệt. Nên nhớ cách đây khoảng 10 năm Mỹ còn phải nhập gần 11 triệu thùng dầu thô mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu trong nước và chỉ xuất khẩu khoảng 1,5 triệu thùng dầu thành phẩm (mà ta có thể gọi nôm na là xăng dầu). Nhưng tính đến cuối năm 2013, Mỹ chỉ còn phải nhập 7 triệu thùng dầu thô mỗi ngày và xuất khẩu đến gần 4 triệu thùng dầu thành phẩm. Ở quốc gia tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới mà cầu giảm trong khi cung lại tăng nên chẳng lạ gì giá dầu thế giới có thể coi là bình ổn trong vài năm gần đây và giảm mạnh trong thời gian mấy tháng vừa qua. Bất kể các cuộc khủng hoảng xung đột xảy ra tại các khu vực xuất khẩu dầu thô như Libya (vụ chính quyền Tổng thống Gaddafi bị lật đổ), tại Trung Đông (với việc Nhà nước Hồi giáo (IS) tuyên bố thành lập), hay vụ xung đột giữa Nga và Ukraine, giá dầu thô trên thế giới không hề tăng như xưa nữa.

Khi giá dầu giảm dưới mức 80 đô la/thùng, nhiều nước sản xuất dầu thô nếu tính toán không khéo sẽ bị lỗ nặng. Thế nhưng chi phí sản xuất dầu đá phiến thì ngày càng giảm. Nhờ liên tục cải tiến công nghệ và sự cạnh tranh giữa các công ty cung cấp dịch vụ khoan, chi phí khai thác mỗi thùng dầu đá phiến ở nhiều nơi trên nước Mỹ chỉ còn khoảng 30 đô la/thùng từ năm 2012, theo một báo cáo của Morgan Stanley. Như vậy nhiều nhà sản xuất dầu ở Mỹ còn có thể chịu được dù giá rớt xuống mức 50 đô la/thùng.
Tất cả những yếu tố đề cập trên đang được đặt lên bàn cân của các nước trong một ván cờ hoàn toàn mới lạ so với trước.

Kẻ cười người khóc

Hiện tượng giá dầu giảm lần này không phải do biến động chính trị mà do cung tăng bền vững, đều đặn nên chắc chắn mức giá giảm sẽ còn tiếp tục cho đến chừng nào các nước sản xuất dầu thô truyền thống như Ảrập Saudi (đại diện tiêu biểu của khối OPEC) hay Nga chịu không nổi phải giảm sản lượng để giữ giá dầu, tránh sự thâm hụt ngân sách thêm trầm trọng. Có vẻ như Ảrập Saudi và cả Nga đang muốn chơi trò “cù cưa” với Mỹ nhằm đo lường xem Mỹ trụ lại được bao lâu khi giá dầu giảm. Tuy nhiên, có thể thấy ngay là “trò chơi nguy hiểm” này cũng sẽ chẳng làm Mỹ suy yếu đi bao nhiêu mà ngược lại, có thể rơi vào trường hợp “gậy ông đập lưng ông”.

Lý do dự đoán Mỹ không suy yếu bao nhiêu là vì: Mỹ vẫn chưa bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu thô cho nên sản lượng dầu đá phiến tăng đều đặn hoàn toàn được cung cấp cho thị trường nội địa. Giá dầu giảm có chăng sẽ làm giảm mức tăng sản lượng dầu thô của quốc gia này (vì nguồn đầu tư vào hoạt động khai thác dầu sẽ giảm) chứ không thể ảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế đa dạng và đang trên đà hồi phục. Đó là chưa kể nguồn cung khí đốt khai thác từ đá phiến dồi dào dẫn đến giá khí đốt tại Mỹ vẫn rất rẻ so với bình diện chung kéo theo hàng loạt ngành công nghiệp khác phát triển và thu hút nhiều đầu tư từ nước ngoài. Giá khí đốt tại Mỹ hiện nay vào khoảng 4 đô la trên một đơn vị năng lượng BTU so với 11-12 đô la ở thị trường châu Âu và 16-17 đô la tại thị trường châu Á.

Một vấn đề nữa cần chú ý là loại dầu khai thác từ đá phiến là dầu ngọt và nhẹ trong khi dầu của Ảrập Saudi là loại nặng và chua (vì chứa nhiều lưu huỳnh) nên dù Ảrập Saudi có “đổi ý” muốn giảm sản lượng hòng bình ổn giá dầu cũng không thay đổi được mức cung ngày càng tăng cao của loại dầu ngọt và nhẹ. Nghĩa là họ cũng chẳng còn khả năng xoay chuyển, thao túng tình hình như những thập kỷ trước.

Nền kinh tế thế giới cũng chưa có biến chuyển gì mới nên phía cầu xem như sẽ không tăng mạnh như những năm trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008.
Trước mắt những nước nhập khẩu dầu nhiều như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ có lợi; các nước xuất khẩu dầu mạnh như Nga và Trung Đông thì đang rầu thúi ruột bởi những khía cạnh vừa được phân tích. Chính vì giá dầu giảm mạnh đã đẩy nền kinh tế Nga rơi vào khó khăn, đồng rúp mất giá chứ chưa hẳn là kết quả của lệnh cấm vận do Mỹ và châu Âu áp đặt. Và chính giá dầu làm xung đột ở Trung Đông, bất kể các tít báo IS chặt đầu, đốt phá khắp nơi, đã không bùng phát lên dữ dội như ngày xưa. Vai trò Trung Đông như một nguồn cung dầu quan trọng cho thế giới vẫn còn đó nhưng một khi giá dầu không còn bị giữ làm con tin để mặc cả nữa thì nơi này không còn là điểm nóng địa chính trị.

Nếu giá dầu Brent rơi xuống mức 80 đô la/thùng thì theo tính toán của tờ Financial Times, các nước OPEC sẽ hụt mất 200 tỉ đô la trong 1.000 tỉ đô la doanh thu từ dầu thô.

Trên bình diện cả thế giới thì giá dầu giảm như hiện nay là một cú hích theo dạng kích cầu quan trọng, trị giá chừng 1,8 tỉ đô la mỗi ngày, hay 600 tỉ đô la tính theo năm. Ví dụ, mỗi gia đình Mỹ hiện đang xài bình quân 2.900 đô la/năm tiền xăng dầu và khí đốt thì mức giảm tương đương khoản tiền tiết kiệm chừng 600 đô la để chi tiêu vào việc khác.

Tóm lại, nhờ vào cuộc cách mạng dầu khí đá phiến đang diễn ra mạnh mẽ tại Hoa Kỳ mà các nước OPEC không còn có thể thao túng thị trường dầu mỏ của thế giới như trước đây. Cuộc diện địa chính trị thế giới có thể còn nhiều biến đổi trong thời gian tới.








******
Các fan Nga-Pu thì đưa ra thuyết âm mưu là Mỹ ép Ả rập Saudi không giảm nguồn cung để kéo giá xuống nhằm chơi Nga?!
Cũng có thể Mỹ cố tình chơi Nga bằng cách thay vì thong thả khai thác mức độ dầu từ đá phiến và chưa giảm mạnh nhập dầu từ trung đông để các đồng minh Ả rập khỏi sốc vì mất nguồn thu nhưng bởi Nga Hoa liên minh mưu đồ đánh đổ đế quốc Mỹ bằng ngón đòn dầu khí qua biến động Ukraine nên Mỹ phải tiếp chiêu mà đồng minh Ả rập đành bấm bụng chịu vạ lây (nhưng cũng ngấm ngầm với chiêu IS để mặc cả?)!

Đúng là bàn cờ thế giới không còn trong tay các nước lắm dầu như Nga, Ả rập thao túng thích thì quậy rồi… đổ thừa cho đế quốc Mỹ “can thiệp”!
Nước Mỹ thì luôn đi trước thiên hạ, càng khó khăn thì càng sáng tạo, dù ai thù ghét đế quốc Mỹ đến đâu cũng phải công nhận “nó” giỏi, đủ tư cách siêu cường số 1, mong... nó quỵ thì mình cũng tiêu trước nó! :9:

Nga-Pu có vẻ ngấm đòn gậy ông đập lưng ông mà Mỹ âm thầm sử chiêu rồi! giờ có lẽ chỉ mong Mỹ đừng kéo tụt giá dầu xuống nữa (dự báo sẽ chỉ còn 50$/thùng) bằng lời trách móc, giận dỗi Mỹ không đếm xỉa đến lợi ích của Nga (Mỹ lờ tịt Nga đang "cao cờ" qua vụ Ukraine, có thương thảo chia chác gì ở Ukraine thì Nga nói chuyện với Đức). Liên minh Nga Hoa vừa tung hứng với nhau qua thỏa thuận mua bán dầu giá cao cho "bọn" EU lác mắt, không chừng cũng làm anh Tập hố nặng!

Khổ là ta cũng nhờ dầu giá cao mà mấy năm qua cũng kiếm khá (nhưng vung tay xài quá mạng, nợ nần chồng chất!), nay giá tụt thảm hại thì lấy gì đắp đổi đây?! Mà "bạn" thì "hứa thì không hứa" không cắm hút dầu ở BĐ, đã nghèo còn mắc eo! :19: